Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Vận dụng phương pháp dạy học khám phá trong dạy học phép biến hình lớp 11 trung học phổ thông ( ban nâng cao)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (622.83 KB, 97 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

-----------------------------------

NGUYỄN THỊ HẠNH THÚY

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KHÁM PHÁ
TRONG DẠY HỌC PHÉP BIẾN HÌNH LỚP 11 TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG (BAN NÂNG CAO)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN

HÀNỘI - 2011

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

-----------------------------------

NGUYỄN THỊ HẠNH THÚY

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KHÁM PHÁ
TRONG DẠY HỌC PHÉP BIẾN HÌNH LỚP 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (BAN NÂNG CAO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN


Chuyên ngành: LÝ

LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
( BỘ MÔN TOÁN)

Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn klhoa học:

PGS.TS. BÙI VĂN NGHỊ

HÀNỘI - 2011

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đã bước vào thế kỷ XXI – thế kỷ của sự bùng nổ thông tin. Các
nhà khoa học đã thống kê cứ 5 – 7 năm, lượng thông tin khoa học trên thế giới
lại tăng lên gấp đôi. Các thông tin phong phú và đa dạng đã và đang can thiệp
vào mọi mặt của đời sống xã hội. Để làm chủ được thiên nhiên, xã hội và chính
bản thân mình, con người phải nắm bắt được thông tin. Đây là một vấn đề bức
xúc trong công tác giáo dục và đào tạo. Chúng ta không thể tăng thời gian học
tập trong một ngày, không thể kéo dài thời gian học tập của HS để truyền đạt
thông tin cho họ. Vấn đề đặt ra là, cần phải có sự cải tiến, đổi mới nội dung,
chương trình, PPDH sao cho trong một thời gian hữu hạn HS có thể lĩnh hội
được những thông tin cơ bản nhất, thiết thực nhất để có thể đáp ứng được yêu
cầu của xã hội và thời đại.
Hiện nay, xuất hiện rất nhiều các PPDH tích cực (methods of active
teaching and learning). Đây là những PPDH nhằm phát huy tính chủ động, tích

cực, độc lập, sáng tạo của người học. Ví dụ như: PPDH khám phá; PPDH nêu
vấn đề; PPDH hợp tác;….
DHKP đã được nhiều nhà khoa học giáo dục đề cập như:
J. Piaget (1896 – 1980), J. Bruner, H. Freudenthal (1905 – 1990). DHKP đã được
du nhập vào nước ta từ nhiều năm qua, và được nhiều GV nghiên cứu, áp dụng.
PPDH khám phá là một trong những PPDH tích cực có hiệu quả và dễ vận
dụng trong nhà trường phổ thông. Với phương pháp này, con đường đi tới kiến
thức mới được xây dựng trên cơ sở kiến thức sẵn có của người học, thông qua
các hoạt động tích cực của người học, dưới sự định hướng giúp đỡ của người dạy

3


sẽ được tìm ra. Điều đó sẽ làm cho người học cảm thấy hứng thú và sẽ kích thích
được sự tìm tòi kiến thức mới của người học. Hơn nữa, với phương pháp này thì
trong bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào cũng áp dụng được một cách linh hoạt
và có hiệu quả.
Gần đây có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề vận dụng PPDH
khám phá trong dạy học Toán như các luận văn của các tác giả:
+ Nguyễn Mạnh Chung, Vận dụng PPDH khám phá có hướng dẫn trong dạy học
những chương đầu của Hình học không gian lớp 11, K2 ĐHGD ĐHQGHN, 8/2009.
+ Trần Thị Hạnh, Vận dụng phương pháp dạy học khám phá có hướng dẫn trong
dạy học phần tọa độ trong không gian – Hình học 12 THPT hiện hành -Ban nâng
cao), luận văn Thạc sĩ, K4, ĐHGD-ĐHQGHN, 2001.
+ Lại Thị Hằng, Vận dụng PPDH khám phá trong dạy học chứng minh bất đẳng
thức cho HS khá giỏi ở trường THPT, K17 ĐHSP HN.
+ Nguyễn Thị Thu Hương, Vận dụng PPDH khám phá có hướng dẫn trong dạy học
các tình huống điển hình Hình học không gian lớp 11, K2 ĐHGD ĐHQGHN,
8/2009.
+ Đặng Khắc Quang, Vận dụng PPDH khám phá có hướng dẫn vào giảng dạy

bất đẳng thức ở trường THPT, K15 ĐHSP ĐHTN, 2009.
+ Nguyễn Thị Thơ, Dạy học tích phân lớp 12 THPT bằng phương pháp khám
phá có hướng dẫn, K2 ĐHQGHN, 4/2009.
Điều đó chứng tỏ vấn đề DHKP đã được khá nhiều thầy, cô giáo quan
tâm. Tuy nhiên, việc khai thác lí luận này vào thực tế giảng dạy thì còn hạn chế.
Bên cạnh đó, “Phép biến hình trong mặt phẳng” là một phần khó trong
chương trình hình học 11. Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy HS
thường gặp nhiều khó khăn khi giải quyết các bài tập về phép biến hình.

4


Là một GV THPT, với niềm say mê nghề nghiệp và lại rất tâm đắc với
PPDH khám phá, nên tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp
DHKP trong dạy học phép biến hình lớp 11 THPT (Ban nâng cao)”.
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lí luận về DHKP để xây dựng một số giáo án trong việc dạy học
phép biến hình lớp 11 nâng cao - THPT nhằm phát huy tính tích cực chủ động
của HS và nâng cao hiệu quả giảng dạy nội dung này .
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về các PPDH tích cực, đặc biệt là PPDH khám phá.
- Nghiên cứu chương trình, mục đích yêu cầu trong việc dạy học phép biến
hình lớp 11 nâng cao – THPT.
- Khảo sát thực trạng giảng dạy và học tập về phép biến hình lớp 11 tại
trường THPT chuyên Nguyễn Huệ - Hà Đông – Hà Nội.
- Thiết kế một số giáo án dạy học về phép biến hình lớp 11 nâng cao – THPT
vận dụng PPDH khám phá.
- TNSP: sử dụng các giáo án đã soạn theo PPDH khám phá dạy học thực
nghiệm tại trường THPT chuyên Nguyễn Huệ - Hà Đông – Hà Nội, so sánh đối
chứng với việc dạy bằng phương pháp thông thường để kiểm nghiệm tính hiệu

quả và tính khả thi của đề tài.
4. Phạm vi nghiên cứu
Quá trình dạy học phép biến hình trong chương trình Hình Học 11 nâng cao –
THPT có vận dụng PPDH khám phá.
5. Mẫu khảo sát

5


HS lớp 11 trường THPT chuyên Nguyễn Huệ - Hà Đông – Hà Nội.
6. Vấn đề nghiên cứu
Thế nào là PPDH khám phá?
Vận dụng PPDH khám phá trong dạy học phép biến hình lớp 11 THPT (Ban
nâng cao) như thế nào để mang lại hiệu quả cao?
7. Giả thuyết khoa học
Nếu khai thác và vận dụng PPDH khám phá trong dạy học phép biến hình lớp
11 nâng cao – THPT thì HS sẽ tích cực chủ động hơn trong học tập, nắm vững
được hơn các kiến thức về phép biến hình, góp phần đổi mới và nâng cao hiệu
quả trong dạy học chủ phép biến hình lớp 11 nâng cao – THPT.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu về PPDH tích cực nói chung
và PPDH khám phá nói riêng.
- Phương pháp điều tra: Điều tra về tình hình dạy học phép biến hình lớp
11NC trong thực tiễn tại trường THPT chuyên Nguyễn Huệ để nắm bắt được
những khó khăn trong việc dạy và học về phép biến hình.
- Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức dạy thực nghiệm các giáo án có sử
dụng PPDH khám phá nhằm kiểm nghiệm hiệu quả và tính khả thi của đề tài.
9. Những đóng góp của đề tài
- Tổng quan về lý luận của PPDH khám phá, minh họa cho lý luận bởi một số
ví dụ trong dạy học phép biến hình lớp 11 nâng cao – THPT.

- Khai thác và vận dụng được PPDH khám phá trong dạy học phép biến hình
lớp 11, được thể hiện qua các giáo án cụ thể.

6


- Các giáo án được kiểm nghiệm qua TNSP, chứng tỏ tính khả thi của đề tài.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Thiết kế một số giáo án về phép biến hình lớp 11 nâng cao –
THPT có sử dụng PPDH khám phá.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Phương pháp dạy học tích cực
1.1.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Ủy ban giáo dục UNESCO đã đề ra bốn trụ cột của giáo dục trong thế kỉ
thứ XXI là: Học để biết (learning to know); học để làm (learning to do); học để
cùng chung sống (learning to live together); học để tự khẳng định mình
(learning to be). Tương ứng với bốn trụ cột này, chủ trương quan tâm, đầu tư
phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta cũng được thể hiện rõ nét trên các
mục tiêu, cụ thể là:
Về mục tiêu giáo dục, Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành
Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII (năm 1993) đã nêu rõ: “Mục
tiêu Giáo dục – Đào tạo phải hướng vào đào tạo những con người lao động, tự

chủ, sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề thường gặp, qua đó góp
phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Về nội dung giáo dục, chương 2, mục 2, điều 28.1 của Luật Giáo dục đã
khẳng định: “Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ
bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống,
phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp
học”. [11]
Về phương pháp giáo dục đào tạo, Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban
Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII (năm 1997) đã chỉ
rõ: “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”. Trong Luật Giáo

8


dục Việt Nam, chương 2, mục 2, điều 28.2 đã viết: “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Một trong những quan điểm chủ đạo trong việc đổi mới PPDH hiện nay là
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động nhận thức của người
học. Để phát huy tính tích cực, chủ động và tự giác của người học thì người GV
nhất thiết phải tạo được sự hứng thú học tập cho người học trong quá trình học
tập. Để làm được điều đó, GV phải tổ chức cho HS thực sự hoạt động trong môi
trường có sự tương tác giữa thầy với trò, giữa trò với trò, giữa cá nhân với tập
thể, giữa hoạt động tích cực của cá nhân với tư liệu kiến thức. Khi người học đã
hứng thú, đã tự ý thức được nhiệm vụ học tập của mình thì họ sẽ có tâm lí sẵn
sàng hoạt động , tự tin, chủ động chiếm lĩnh các tri thức mới, tích cực giải quyết

các nhiệm vụ học tập và cảm thấy say mê với môn học.[16]
Nhìn chung, nói đến đổi mới PPDH người ta thường nói tới đổi mới chiến
lược tổ chức quá trình DH theo định hướng của quan điểm chỉ đạo quá trình DH,
đổi mới kĩ thuật thực hiện các PPDH, đổi mới cách thức làm việc của GV và HS,
nhằm đáp ứng các yêu cầu đổi mới mục tiêu dạy học và giáo dục trong nhà
trường. Bên cạnh đó, còn kèm theo đổi mới các điều kiện khác trong quá trình
DH như: phương tiện DH; các hình thức tổ chức DH; cách kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của HS...[10]

9


1.1.2. Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ
những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học.
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận
thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học
chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên
để dạy học theo phương pháp tích cực thì GV phải nỗ lực nhiều so với dạy theo
phương pháp thụ động. Trong đổi mới PPDH phải có sự hợp tác cả của thầy và
trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.
1.1.3. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
Theo tác giả Trần Bá Hoành [7], các PPDH tích cực có 4 đặc trưng sau:
a. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS.
Trong PPDH tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng
thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do
GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ
chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt. Được đặt
vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo

luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó
nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến
thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát
huy tiềm năng sáng tạo.

10


Dạy theo cách này thì GV không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn
hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng HS biết hành
động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng.
b. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS
không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu
dạy học.
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin,
khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào
đầu óc HS khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho HS
phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải
được chú trọng.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn
luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ
tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả
học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt
động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ
động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ
thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự
hướng dẫn của GV.
c. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng

đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân
hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được

11


thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Áp dụng phương pháp tích cực ở trình
độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn. Việc sử dụng các phương tiện công
nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập
theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều
được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường
giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên
con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong
tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người
học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và
kinh nghiệm sống của người thầy giáo.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm,
tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác
trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất
là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối
hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo
nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành
viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương
trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các
thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia,
liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà
trường phải chuẩn bị cho HS.
d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.


12


Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện
nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS. Trong phương pháp tích cực,
GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học.
Liên quan với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia
đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực
rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS.
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con
người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá
không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà
phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình
huống thực tế.
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là
một công việc nặng nhọc đối với GV, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để
linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học.
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai
trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh
nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu
cầu của chương trình. Trên lớp, HS hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn
nhưng trước đó, khi soạn giáo án, GV đã phải đầu tư công sức, thời gian rất
nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai
trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm
tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu


13


rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt
động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV.
1.1.4. Một số phương pháp dạy học tích cực
Hiện nay, các PPDH tích cực được áp dụng phổ biến trong các trường phổ
thông là: PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề; PPDH hợp tác; PPDH tự học;
PPDH khám phá; PPDH theo thuyết kiến tạo; PPDH dự án; PPDH chương trình
hóa…
1.1.5. Một số phương hướng cơ bản để phát huy tính cực, tính tự lực nhận
thức của học sinh
a) N.V. Kukharep đã đề ra các cách thức tích cực hóa hoạt động học tập của HS :
+ Đặt ra những câu hỏi kích thích tư duy của HS.
+ Dạy theo kiểu thông báo có mạch lạc, có logic.
+ So sánh đối chiếu.
+ Xác định những mâu thuẫn.
+ Thu hút HS tham gia vào việc thông báo.
+ Phân tích, tổng hợp.
+ Soạn sơ đồ các bảng.
+ Để HS phát biểu thắc mắc.
+ Tiến hành công tác độc lập của HS.
b) I.F. Kharlamop đã đề ra các phương hướng lớn:
+ Dạy học nêu vấn đề.
+ Tăng cường tính tích cực tư duy của HS khi GV trình bày bằng lời.

14


+ Cải tiến công tác tự học.

+ Tích cực hóa hoạt động học tập khi củng cố và kiểm tra kiến thức.
+ Công tác phụ đạo với HS kém.
c) Giáo sư Đặng Vũ Hoạt đã nêu ra phương hướng sau:
+ Giáo dục động cơ, thái độ học tập.
+ Thực hiện dạy học nêu vấn đề là phương hướng cơ bản nhất.
+ Vận dụng tri thức vào nhiều hoàn cảnh khác nhau, giải bài tập, giải
quyết vấn đề bằng nhiều cách khác nhau.
+ Gắn lí luận với thực tiễn, khai thác vốn sống của HS.
+ Phát triển ý thức tự kiểm tra, tự đánh giá của HS.
1.2. Dạy học khám phá
1.2.1. Khái niệm dạy học khám phá
Theo từ điển tiếng Anh: “Discover” là khám phá ra, phát hiện ra, tìm ra,
nhận ra, bộc lộ ra, phơi bày ra; là xác định sự tồn tại, sự hiện diện, một thực tế; là
nhìn thấy lần đầu tiên; mang đến một sự thật; là tìm thấy cái mong muốn; thực
hiện một tìm kiếm mới.
Theo từ điển tiếng Việt: Phát hiện là tìm ra cái chưa biết; khám phá là tìm
ra cái ẩn giấu, bí mật. Sự khám phá là hành động phát hiện thường được hiểu
nghĩa là sau một quá trình tìm kiếm sẽ thấy được một sự vật bị che giấu hoặc
chưa được thấy.
PPDH khám phá được hiểu là PPDH trong đó dưới sự hướng dẫn của GV,
thông qua các hoạt động, HS khám phá ra một tri thức nào đấy trong chương
trình môn học. [12]

15


Nói đến khám phá, người ta thường hiểu đó là quá trình hoạt động tư duy
tích cực mang tính phân kì của chủ thể, nhằm kiếm tìm những cái mới, bên trong
của vấn đề nghiên cứu. Hoạt động khám phá trong học tập ở nhà trường phổ
thông nhằm giúp cho người học tìm thấy, phát hiện ra những tri thức mới đối với

người học, giúp họ tích cực, chủ động chiếm lĩnh những tri thức đó. Hoạt động
khám phá trong dạy học không phải là quá trình tự phát của người học mà được
tổ chức, hướng dẫn hoặc điều khiển bởi GV.[1]
Trong DHKP, hoạt động của người thầy bao gồm: định hướng phát triển
tư duy cho HS, lựa chọn nội dung của vấn đề và đảm bảo tính vừa sức với HS; tổ
chức HS trao đổi theo nhóm trên lớp; các phương tiện trực quan hỗ trợ cần
thiết… Hoạt động chỉ đạo của GV như thế nào để cho mọi thành viên trong các
nhóm đều trao đổi, tranh luận tích cực - đó là việc làm không dễ dàng, đòi hỏi
người GV đầu tư công phu vào nội dung bài giảng.
Theo J. Bruner “ Người học là người tự lực, tích cực hành động tìm tòi,
khám phá đối tượng học tập để hình thành cho mình các nguyên tắc, các ý tưởng
cơ bản từ các tình huống học tập cụ thể…”.
Trong DHKP, HS tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đường
nhận thức: từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình
thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học; GV kết luận về cuộc
đối thoại, đưa ra nội dung của vấn đề, làm cơ sở cho HS.
Trong dạy học, hoạt động khám phá gồm các kiểu:
Kiểu 1: Khám phá dẫn dắt (Guided Discovery). GV đưa ra vấn đề, đáp án
và dẫn dắt HS tìm cách giải quyết vấn đề đó.

16


Kiểu 2: Khám phá hỗ trợ (Modified Discovery). GV đưa ra vấn đề và gợi
ý HS trả lời.
Kiểu 3: Khám phá tự do (Free Discovery). Vấn đề, đáp án và phương pháp
giải quyết do HS tự lực tìm ra.
1.2.2. Đặc trưng của dạy học khám phá
+ PPDH khám phá trong nhà trường phổ thông không nhằm phát hiện những vấn
đề mà loài người chưa biết, mà chỉ giúp HS lính hội một số tri tri thức mà loài

người đã phát hiện ra.
+ Mục đích của PPDH khám phá không chỉ làm cho HS lĩnh hội sâu sắc tri thức
của môn học, mà quan trọng hơn là trang bị cho người học phương pháp suy
nghĩ, cách thức phát hiện và giải quyết vấn đề mang tính độc lập, sáng tạo.
+ PPDH khám phá thường được thực hiện thông qua các câu hỏi hoặc những yêu
cầu hành động, mà khi HS thực hiện và giải đáp thì sẽ xuất hiện con đường dẫn
đến tri thức.
+ Trong DHKP, các hoạt động khám phá của HS thường được tổ chức theo
nhóm, mỗi thành viên đều tích cực tham gia vào quá trình hoạt động nhóm: trả
lời câu hỏi, bổ sung các câu trả lời của bạn, đánh giá kết quả học tập….
1.2.3. Các hình thức của dạy học khám phá
Hoạt động khám phá trong học tập có nhiều dạng khác nhau, từ trình độ
thấp lên trình độ cao, tùy theo trình độ năng lực tư duy của người học và được tổ
chức hoạt động theo cá nhân, nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn, tùy theo độ phức tạp của
vấn đề cần khám phá.
Các hoạt động khám phá học trong học tập có thể là:

17


a) Trả lời câu hỏi
Ví dụ: Hoạt động khám phá định lí 1 trong bài “Phép tịnh tiến” thông qua hệ
thống câu hỏi.
Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

Cho Tu và hai điểm M; N bất kì.
Câu hỏi 1: Hãy dựng: M’ = Tu (M)


Thông qua câu hỏi 4 của hoạt động
2, HS sẽ dựng được M’; N’.

N’ = Tu (N)?
Câu hỏi 2: Nhận xét về 2 vectơ
 
MNvà M'N' ?





HS sẽ dự đoán M ' N '  MN .

Chứng minh:
So sánh độ dài của 2 đoạn thẳng MN     
và M’N’?

MN  MM '  M ' N '  N ' N  M ' N '


 



Do: MM '  u; N ' N  u
Như vậy: MN = M’N’.
Từ đó GV đưa ra nội dung định lí 1:
Nếu phép tịnh tiến biến hai điểm M;
N lần lượt thành hai điểm M’; N’ thì

M’N’ = MN
b) Điền từ, điền bảng, tra bảng...
c) Lập bảng, biểu đồ, đồ thị...
d) Thử nghiệm, đề xuất giải quyết, phân tích nguyên nhân, thông báo kết quả.
e) Thảo luận, tranh cãi về một vấn đề.

18


f) Giải bài toán, bài tập.
Ví dụ: Những hoạt động khám phá thông qua bài toán: “Cho hình bình hành
ABCD, hai đỉnh A, B cố định, tâm I của hình bình hành thay đổi trên đường tròn
(O). Tìm quỹ tích trung điểm M của BC”, có thể như sau:
+ Yêu cầu HS chỉ ra được các yếu tố cố định và các yếu tố thay đổi. Từ đó tìm
sự liên hệ giữa các yếu tố đó.
+ Trên cơ sở phân tích giả thiết và các yếu tố liên quan giúp HS khám phá ra
phép biến hình sẽ được sử dụng: giả thiết của bài toán có chứa đựng yếu tố về sự
bằng nhau của các vectơ nên có khả năng sử dụng phép tịnh tiến để giải quyết
bài toán.
+ Khám phá ra mối liên hệ giữa điểm di chuyển và điểm cần tìm quỹ tích trong
các bài toán quỹ tích sử dụng phép biến hình để giải quyết: Giả sử P là điểm di
chuyển trên hình H, Q là điểm cần tìm quỹ tích thì phải tìm được một phép biến
hình f nào đó thỏa mãn Q là ảnh của P qua phép biến hình f. Khi đó, quỹ tích của
Q sẽ là ảnh của hình H qua phép biến hình f.

19


+ Trình bày lời giải:


A

J
B
I
M

D

C

O





Gọi J là trung điểm của AB, khi đó J là điểm cố định và IM  JB
Vậy M là ảnh của I qua phép tịnh tiến T
, mà I di động trê đường tròn (O) nên
JB
quỹ tích của điểm M là đường tròn (O’) là ảnh của đường tròn (O) qua T
.
JB
g) Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp cải thiện thực trạng, thực nghiệm giải
pháp lớn.
h) Làm bài tập lớn, chuyên đề, luận án, luận văn, đề án...
1.2.4. Ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học khám phá
a. Ưu điểm:
- Phát huy được nội lực của HS, tư duy tích cực - độc lập - sáng tạo trong

quá trình học tập.
- Giải quyết thành công các vấn đề là động cơ trí tuệ kích thích trực tiếp
lòng ham mê học tập của HS. Ðó chính là động lực của quá trình dạy học.

20


- Hợp tác với bạn trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri
thức của bản thân là cơ sở hình thành phương pháp tự học - Ðó chính là động lực
thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân trong cuộc sống.
- Giải quyết các vấn đề nhỏ vừa sức của HS được tổ chức thường xuyên
trong quá trình học tập, là phương thức để HS tiếp cận với kiểu dạy học hình
thành và giải quyết các vấn đề có nội dung khái quát rộng hơn.
- Ðối thoại trò trò, trò thầy đã tạo ra bầu không khí học tập sôi nổi, tích
cực và góp phần hình thành mối quan hệ giao tiếp trong cộng đồng xã hội.
b. Nhược điểm:
- Để áp dụng được phương pháp này, HS phải có kiến thức, kĩ năng cần
thiết để thực hiện các nhiệm vụ mang tính khám phá, tìm ra tri thức mới. Đối
tượng HS trung bình, yếu sẽ gặp khó khăn khi học theo phương pháp này.
- Việc triển khai DHKP đòi hỏi người GV phải có kiến thức, nghiệp vụ
vững vàng, có sự chuẩn bị bài giảng công phu.
- Trong quá trình khám phá của HS thường nảy sinh những tình huống,
những khám phá ngoài dự kiến của GV, đòi hỏi sự linh hoạt trong xử lí các tình
huống của người GV – người dẫn đường.
- Thời gian của quá trình khám phá ra kiến thức mới chiếm khá nhiều
trong toàn bộ tiến trình của bài học, nên tùy thuộc vào từng nội dung, mục tiêu
dạy học và sự phân phối thời gian dạy học mới có thể áp dụng được.
- Trong hoạt động khám phá đối với phép biến hình đòi hỏi GV phải có
các mô hình, hình ảnh…đòi hỏi cơ sở vật chất của việc dạy học phải đáp ứng
được thì kết quả mới đem lại như ý muốn.


21


1.2.5. Quy trình dạy học khám phá
Theo TS. Nguyễn Thị Vân Hương [9], quy trình DHKP gồm có hai bước
cơ bản:
1.2.5.1. Chuẩn bị
Bước 1: Xác định mục đích
a) Về nội dung: Xây dựng vẫn đề khám phá cho HS sao cho phải chứa
kiến thức mới và HS có khả năng khám phá được
b) Về phát triển tư duy: GV định hướng các hoạt động tư duy đặc trưng
cần thiết ở HS trong quá trình giải quyết vấn đề: phân tích, tổng hợp, so
sánh, phán đoán hay khái quát hóa…
Bước 2: Xác định vấn đề cần khám phá
Vấn đề được khám phá phải là vấn đề trọng tâm, chứa đựng thông tin mới,
thường được đưa ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhỏ. Vấn đề học tập phải vừa
sức và tương ứng với thời gian làm việc.
Bước 3: Xác định việc thu thập các dữ liệu cần thiết cho việc đánh giá các
giả thuyết. Các dữ liệu thu được có thể là những quan sát trực tiếp của HS đối
với vấn đề được khám phá, các thông tin đọc được trong sách báo, các trải
nghiệm của chính bản thân.
Bước 4: Dự kiến về thời gian.
Bước 5: Phân nhóm HS. Số lượng HS của mỗi nhóm là bao nhiêu tùy theo
nội dung vấn đề, đảm bảo sự hợp tác tích cực giữa các thành viên trong nhóm.
Bước 6: Kết quả khám phá. DHKP phải đạt được mục đích là hình thành
các tri thức khoa học cho HS, dưới sự chỉ đạo của GV.

22



Bước 7: Chuẩn bị phiếu học tập. Mỗi phiếu học tập giao cho HS một vài
nhiệm vụ nhận cụ thể nhằm dẫn tới một kiến thức mới, một kĩ năng mới, rèn
luyện một thao tác tư duy. Điều quan trọng là phiếu học tập phải trở thành một
phương tiện hướng dẫn hoạt động khám phá.
1.2.5.2. Tổ chức học tập khám phá
Bước 1: Xác định rõ vấn đề. GV giúp từng HS xác định rõ vấn đề cần
khám phá cũng như mục đích của việc khám phá đó.
Bước 2: Nêu các giả thuyết (ý kiến). Sau khi nắm rõ mục đích, vấn đề cần
khám phá, từng HS làm việc cá nhân hoặc làm việc nhóm đề xuất các giải pháp
để giải quyết vấn đề.
Bước 3: Thu thập các dữ liệu. HS tìm kiếm dữ liệu, thông tin để chứng tỏ
đề xuất mình đưa ra có tính khả thi. Từ đó, HS sẽ bác bỏ những đề xuất bất khả
thi và lựa chọn đề xuất hợp lí.
Bước 4: Đánh giá các ý kiến. HS trao đổi, tranh luận về các đề xuất được
đưa ra.
Bước 5: Khái quát hóa. Dưới sự chỉ đạo của GV, mỗi nhóm sẽ trình bày
về vấn đề được phát hiện. Từ đó, GV lựa chọn những phán đoán, kết luận đúng
để hình thành kiến thức mới.
1.2.6. Những biểu hiện của học sinh có khả năng khám phá trong học tập
- Có khả năng hiểu các thông tin mới.
- Biết cách lập kế hoạch trước khi bắt tay vào giải quyết vấn đề mới, tình
huống mới.

23


- Có kĩ năng so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa và
di chuyển các chức năng, thái độ vào các tình huống khác nhau.
- Có khả năng huy động đúng đắn kiến thức và phương pháp cũ để giải

quyết vấn đề, bước đầu khám phá các tình huống mới. Có khả năng huy động
kiến thức và phương pháp bằng nhiều cách khác nhau.
- Có năng lực biến đổi vấn đề, bài toán để dễ dàng huy động kiến thức,
phương pháp và công cụ thích hợp để giải quyết vấn đề.
- Chủ động, tích cực trong việc tiếp cận và giải quyết các tình huống và
vấn đề mới, phức tạp.
- Có khả năng khám phá, phát triển phương pháp giải từ một bài toán
thành phương pháp giải của nhiều bài toán khác.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Nội dung chương trình về phần phép biến hình trong mặt phẳng lớp 11
nâng cao trung học phổ thông
Theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thời lượng dạy
học phần phép biến hình trong mặt phẳng là 13 tiết.
Nội dung gồm có các bài sau:
+ Mở đầu về phép biến hình.
+ Phép tịnh tiến và phép dời hình.
+ Phép đối xứng trục.
+ Phép quay và phép đối xứng tâm.
+ Hai hình bằng nhau.

24


+ Phép vị tự.
+ Phép đồng dạng.
Trong chương 2, chúng tôi sẽ lựa chọn một số bài để soạn giáo án có sự
vận dụng PPDH khám phá.
1.3.2. Mục đích yêu cầu của việc dạy học các phép biến hình lớp 11 trung học
phổ thông (Ban nâng cao)
1.3.2.1. Về kiến thức

a) HS cần nắm được khái niệm và các tính chất của phép đối xứng trục là
kiến thức nền tảng để trình bày các phép dời hình trong mặt phẳng.
Phép quay là tích của hai phép đối xứng trục.
Phép tịnh tiến là tích của hai phép đối xứng qua hai trục song song.
Phép đối xứng tâm là tích của hai phép đối xứng qua hai trục vuông góc.
b) HS cần nắm các khái niệm về các phép dời hình cụ thể, phép vị tự, phép
đồng dạng. Đặc biệt chú trọng nắm vững các tính chất.
c) Thông qua dạy học các phép biến hình HS cần hiểu các khái niệm về
hình bằng nhau, hình đồng dạng; các hình có tâm đối xứng, có trục đối xứng;
nắm được các ứng dụng của các phép biến hình vào việc giải các lớp bài toán về
chứng minh các hình bằng nhau,chứng minh các hình đồng dạng; các dạng toán
dựng hình; tìm tập hợp điểm; các dạng toán cực trị hình học.
1.3.2.2. Về kĩ năng
a) Rèn luyện cho HS kĩ năng dựng ảnh của các hình qua các phép dời hình
cụ thể, phép vị tự.

25


×