Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại theo pháp luật việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 101 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TẠ KHÁNH HÀ

CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TẠ KHÁNH HÀ

CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60.38.50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Nhƣ Phát

Hà Nội - 2012




LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực.

NGƢỜI CAM ĐOAN

Tạ Khánh Hà


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 6
CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ TÀI VI PHẠM HỢP ĐỒNG ...................... 10
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VÀ HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI ............... 10
II. TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG
MẠI ................................................................................................................................... 15
1. Khái niệm trách nhiệm pháp lý ..................................................................................... 15
2. Khái niệm và đặc điểm của chế tài trong thƣơng mại ................................................... 17
2.1. Khái niệm chế tài trong thƣơng mại ........................................................................... 17
2.2. Đặc điểm của chế tài trong thƣơng mại ...................................................................... 19
2.3. Các loại chế tài trong thƣơng mại .............................................................................. 21
2.4. Vai trò của chế tài trong thƣơng mại .......................................................................... 26
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI VI PHẠM HỢP
ĐỒNG TRONG QUAN HỆ HỢP ĐỒNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................ 30
Chế tài vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam ........................................................ 30
2.1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng ................................................................................... 36

2.2. Chế tài phạt vi phạm: .................................................................................................. 40
2.3. Chế tài bồi thƣờng thiệt hại ........................................................................................ 49
2.4.Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng ................................................................... 56
2.5. Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận ................................................................. 62
3.Mối quan hệ giữa các chế tài theo luật thƣơng mại Việt Nam ....................................... 63
3.1.Mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thƣờng thiệt hại.............................................. 63
3.2.Về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài khác. ...
.......................................................................................................................... 65
CHƢƠNG III: SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẾ TÀI VI PHẠM HỢP ĐỒNG.............................................. 74
I. Chế tài Bồi thƣờng thiệt hại trong thƣơng mại quốc tế qua luật thƣơng mại Việt Nam,
công ƣớc CISG và bộ nguyên tắc Unidroit ....................................................................... 74
II. Sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng thƣơng mại quốc tế: ........................................ 84


CHƢƠNG IV: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ TÀI VI
PHẠM HỢP ĐỒNG. ......................................................................................................... 88
1. Một số kiến nghị nhằm cải thiện Luật thƣơng mại năm 2005 về các chế tài trong
thƣơng mại ......................................................................................................................... 88
2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng Luật thƣơng mại năm 2005 về các
chế tài trong thƣơng mại .................................................................................................... 95
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 99


MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Trong cuộc sống hàng ngày, trong các quan hệ kinh tế, thƣơng mại, hay dân
sự, hợp đồng là một phƣơng tiện quan trọng giúp con ngƣời tạo lập các thoả thuận,
thoả mãn nhu cầu. Sắm đồ vật, sử dụng dịch vụ, tham gia vào hội hay thành lập

công ty... đều đƣợc xem là hợp đồng. Trong lĩnh vực kinh doanh, rõ ràng tất cả các
toan tính, sự hơp tác đều đƣợc thể hiện dƣới dạng hợp đồng. Một ngƣời khi tham
gia kinh doanh cần phải tham dự vào rất nhiều hợp đồng nhƣ: thuê luật sƣ, thuê
chuyên gia, vay tiền, mua sắm tài sản, thuê trụ sở, thuê nhân công,... Bởi vậy
“ngƣời ta thƣờng nói rằng luật hợp đồng là nền tảng của luật kinh doanh” , và “hợp
đồng là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trƣờng”. Trong hợp đồng các
bên thƣờng phải thoả thuận biện pháp hay chế tài đối với việc không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng hợp đồng do lỗi của một trong hai bên, đây là vấn đề
tác giả chọn để nghiên cứu vì những lý do sau:
- Mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ các quy định của
pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế (đặc biệt là những điều ƣớc quốc tế phổ
biến) liên quan đến vấn đề chế tài vi phạm hợp đồng. Hợp đồng ở đây sẽ đƣợc
hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả hợp đồng dân sự và hợp đồng thƣơng mại.
- Việc nghiên cứu vấn đề chế tài vi phạm hợp đồng một cách thấu đáo sẽ
giúp việc lựa chọn sử dụng các biện pháp này hợp lý với thực tế cuộc sống và phù
hợp với thông lệ quốc tế một cách đúng đắn và đem lại hiệu quả thiết thực. Việc
thực hiện chế tài nào và mối quan hệ giữa các chế tài phải đƣợc thực hiện thận
trọng.
- Thông qua việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế tài vi phạm hợp đồng mà
các nƣớc khác đang sử dụng và so sánh với tình hình áp dụng chế tài này ở Việt


Nam sẽ giúp đƣa ra những nhận xét và đề xuất phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật
Việt Nam trong việc điều chỉnh lĩnh vực này để bảo vệ đƣợc quyền lợi hợp pháp
của các bên tham gia hợp đồng.
Vì vậy, Tác giả lựa chọn đề tài “Chế tài do vi phạm hợp đồng thƣơng mại
theo pháp luật Việt Nam” để thực hiện luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trong khoa học pháp lý, pháp luật điều chỉnh về hợp đồng thƣơng mại và
chế tài do vi phạm hợp đồng thƣơng mại là một lĩnh vực pháp luật cũng đã đƣợc

nhiều các nhà khoa học quan tâm. Đã có một số sách nghiên cứu về các chế tài do
vi phạm hợp đồng, về hợp đồng dân sự, hợp đồng thƣơng mại nhƣ Giáo trình Luật
thƣơng mại của một số cơ sở đào tạo Luật (Trƣờng đại học Luật Hà Nội, Khoa luật
Đại học Quốc Gia Hà Nội v.v, …), PGS.TS Nguyễn Nhƣ Phát và TS. Phan Thảo
Nguyên Pháp luật thƣơng mại dịch vụ Việt Nam và Hội nhập kinh tế quốc tế,
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa Chuyên khảo Luật kinh tế, “Pháp luật về hợp đồng trong
thƣơng mại và đầu tƣ” của TS. Nguyễn Thị Dung , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội … Ngoài các sách chuyên khảo, ở phạm vi và mức độ khác nhau có một số bài
viết, công trình nghien cứu của các nhà luật học bàn về một vài khía cạnh pháp luật
liên quan đƣợc công bố qua các tài liệu, báo cáo và tạp chí chuyên ngành nhƣ
“Hợp đồng thƣơng mại và pháp luật về hợp đồng thƣơng mại của một số nƣớc trên
thế giới” của TS. Vũ Thị Lan Anh Tạp chí Luật học (2008), “Vấn đề áp dụng Bộ
luật dân sự trong điều chỉnh quan hệ hợp đồng thƣơng mại” của TS. Nguyễn Viết
Tý -Tạp chí Luật học (2008), Luận văn thạc sĩ “Chế tài pháp luật – một số vấn đề
lí luận và thực tiễn” của Thạc sỹ Phạm Thị Minh Phƣơng (2009), Khóa luận tốt
nghiệp “Tìm hiểu quy định pháp luật về chế tài trong thƣơng mại” Lê Thị Yến
(2004)… song chƣa có công trình khoa học chuyên sâu nào nghiên cứu về chế tài


do vi phạm hợp đồng thƣơng mại ở bình diện lý luận cơ bản cũng nhƣ thực trạng
ban hành và thực thi pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
-

Đối tƣợng nghiên cứu: Nhƣ một quy luật tất yếu, khi số lƣợng hợp đồng

thƣơng mại gia tang mạnh mẽ thì số lƣợng tranh chấp thƣơng mại phát sinh giữa
các bên trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng cũng tang theo. Vì vậy, pháp
luật về chế tài thƣơng mại đã góp phần đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của các bên.

-

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý

cũng nhƣ cơ sơ sở lý luận của vấn đề chế tài vi phạm hợp đồng trong quan hệ
thƣơng mại của pháp luật của Việt Nam, pháp luật quốc tế, và pháp luật một số
quốc gia điển hình. Trong nội dung trình bày, tác giả sẽ đƣa ra những nhận xét,
đánh giá thực tiễn cũng nhƣ đánh giá xu hƣớng của việc áp dụng các chế tài vi
phạm hợp đồng của Việt Nam, của các nƣớc trên thế giới và các tổ chức thƣơng
mại khu vực và toàn cầu. Qua đó nêu lên những kiến nghị có thể áp dụng cho Việt
Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này đồng thời xây dựng cơ
chế cho việc áp dụng chúng một cách phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.
Đề tài sẽ chỉ nêu ra những vấn đề chung nhất, những quy định cung về chế tài vi
phạm hợp đồng chứ không đi sâu phân tích cụ thể từng chế tài.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sẽ sử dụng phƣơng pháp phân tích trình bày các quy định của pháp
luật Việt Nam về chế tài vi phạm hợp đồng, so sánh các quy định pháp luật quốc tế
và luật pháp của Việt Nam, thu thập kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia
trong việc áp dụng chế tài vi phạm hợp đồng trong thƣơng mại quốc tế, từ đó rút ra
những ƣu điểm trong quy định của pháp luật quốc tế và luật pháp của một số nƣớc


điển hình trên thế giới về vấn đề chế tài vi phạm hợp đồng; xem xét tính phù hợp
với điều kiện của Việt Nam để hƣớng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp
luật Việt Nam trong việc áp dụng chế tài vi phạm hợp đồng trong quan hệ hợp
đồng thƣơng mại trong nƣớc và quốc tế, quan hệ hợp đồng dân sự.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, danh mục ký hiệu các chữ viết tắt, kết luận, danh mục văn
bản pháp luật và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm bốn chƣơng.
Chƣơng 1: Lý luận chung về chế tài vi phạm hợp đồng

Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về chế tài vi phạm hợp
đồng trong quan hệ dân sự thƣơng mại ở Việt Nam hiện nay
Chƣơng 3: So sánh quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
chế tài vi phạm hợp đồng
Chƣơng 4: Kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chế tài vi
phạm hợp đồng


CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ TÀI VI PHẠM HỢP ĐỒNG

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VÀ HỢP ĐỒNG THƢƠNG
MẠI
Khi xã hội loài ngƣời có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao
đổi hàng hóa thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc
điều tiết các quan hệ tài sản. Hợp đồng là hình thức pháp lý thích hợp và có hiệu
quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá - tiền tệ. Ngày nay, phần lớn các
quan hệ xã hội đều đƣợc điều chỉnh bằng hợp đồng. Vai trò và vị trí của chế định
hợp đồng ngày càng đƣợc khẳng định trong mọi hệ thống pháp luật. Trong hệ
thống pháp luật của một quốc gia, pháp luật về hợp đồng giữ vị trí vô cùng quan
trọng. Vai trò trung tâm của hợp đồng trong hệ thống kinh tế và pháp luật không
phải là ngẫu nhiên, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trƣờng, nơi mà mọi hàng hoá,
dịch vụ... phải đƣợc tự do lƣu thông trên thị trƣờng thì vai trò của hợp đồng ngày
càng đƣợc thể hiện rõ hơn, bởi lẽ trong các quan hệ hợp đồng thì ý chí của các bên
mang tính quyết định. Về mặt nguyên tắc, pháp luật tôn trọng ý chí của các bên và
chỉ can thiệp trong các trƣờng hợp mà ở đó có sự giới hạn của pháp luật.
Hợp đồng có bản chất là sự tự nguyện thoả thuận và thống nhất ý chí nhằm
xác lập, thay đổi, hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể
trong xã hội. Hợp đồng là căn cứ pháp lý phổ biến làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
giữa các bên. Giao kết và thực hiện các hợp đồng chính là cách thức cơ bản để thực
hiện hiệu quả các hoạt động kinh tế.

Khi nghiên cứu hợp đồng và pháp luật về hợp đồng cần lƣu ý một số vấn đề
sau đây:
Thứ nhất, hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên tham


gia giao kết.
Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong vận hành của nền kinh tế thị trƣờng.
Chức năng cơ bản của hợp đồng quyết định bản chất và giá trị xã hội của nó trong
điều kiện kinh tế xã hội của một quốc gia. Hợp đồng luôn gắn liền với sự tự do thể
hiện ý chí của các chủ thể. Tự do ý chí trong giao kết hợp đồng đƣợc hình thành và
phát triển mạnh mẽ ở Pháp vào thế kỷ XVIII. Lúc đầu nó đƣợc coi là nguyên tắc
độc tôn ý chí. Nguyên tắc này cho phép các cá nhân tự do quyết định trong việc
giao kết hợp đồng và khẳng định quyền của mỗi cá nhân tham gia vào giao dịch
chỉ phụ thuộc vào chính họ mà không phụ thuộc vào pháp luật. Quan niệm này
xuất phát từ việc cho rằng, nếu các cá nhân tự do giao kết thì sẽ đảm bảo đƣợc sự
công bằng trong quan hệ hợp đồng. Nguyên tắc tự do ký kết hợp đồng đƣa đến một
hệ quả là hợp đồng khi đã đƣợc ký kết thì có giá trị bắt buộc thực hiện. Việc thay
đổi hợp đồng cũng chỉ có thể đƣợc thực hiện bởi sự thoả thuận của các chủ thể
trong hợp đồng và không ai có quyền can thiệp vào quan hệ của họ cũng nhƣ
không có quyền làm thay đổi ý chí của họ. Khi nói đến hợp đồng ta hiểu các chủ
thể trong đó bình đẳng cả về quyền và nghĩa vụ. Nhƣng trên thực tế các bên tham
gia ký kết hợp đồng thƣờng không ngang bằng nhau mà có một bên mạnh hơn và
một bên yếu hơn về kinh tế. Do đó không có sự tự do ký kết hợp đồng mà thƣờng
là một bên phụ thuộc vào ý chí của bên kia, bằng việc thông qua hợp đồng do bên
mạnh hơn định sẵn. Chính vì vậy, hợp đồng không còn kết quả của sự thể hiện ý
chí chung của các bên nữa mà nó trở thành hình thức biểu hiện của sự bất bình
đẳng giữa các bên với nhau. Do đó, đòi hỏi Nhà nƣớc phải can thiệp đến các quan
hệ này thông qua pháp luật và chế định hợp đồng ra đời giữ một vị trí rất quan
trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng.
Thứ hai, hợp đồng là tập hợp những cam kết được pháp luật thừa nhận

và bảo vệ.


Chế định hợp đồng luôn tôn trọng sự tự do của các bên giao kết, song sự tự
do đó phải giới hạn trong khuôn khổ pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ bảo vệ
những cam kết không xâm hại đến trật tự pháp luật, trật tự công cộng. Xuất phát từ
nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự là tôn trọng quyền tự do ý chí của mọi cá
nhân và các chủ thể khác trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của mình, pháp luật
các nƣớc đều cho phép các chủ thể đƣợc hoàn toàn tự do giao kết hợp đồng, miễn
là không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Việc hình thành các hạn chế của nguyên
tắc tự do trong ký kết hợp đồng xuất phát từ quan điểm bảo vệ trật tự công và lợi
ích chung của xã hội. Vì vậy, pháp luật sẽ bảo vệ lợi ích và quyền của các bên song
lợi ích này phải không đƣợc xâm hại đến trật tự và lợi ích công.
Thứ ba, chế định hợp đồng mang tính bắt buộc song cũng hết sức linh
hoạt, mềm dẻo.
Điều này không dễ dàng đạt đƣợc nếu nhƣ quy định pháp luật không đƣợc
xây dựng theo hƣớng đề cao tự do ý chí của các bên, pháp luật chỉ can thiệp ở giới
hạn cần thiết. Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành không đƣa ra định nghĩa về hợp
đồng thƣơng mại mà chỉ định nghĩa về hợp đồng dân sự. Theo Điều 388, Bộ luật
Dân sự (2005) “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Quyền và nghĩa vụ dân sự theo
hợp đồng dân sự đƣợc hiểu bao gồm cả các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các
quan hệ thƣơng mại. Khái niệm hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự (2005) đƣợc
xem là khái niệm chung về hợp đồng trong lĩnh vực thƣơng mại, đầu tƣ kinh
doanh. Về lí luận, hợp đồng trong thƣơng mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân
sự. Tuy nhiên, hợp đồng trong thƣơng mại có những đặc điểm riêng nhất định,
khác với những hợp đồng dân sự thông thƣờng theo cách hiểu truyền thống. Có thể
xem xét hợp đồng thƣơng mại trong mối liên hệ với hợp đồng dân sự theo nguyên
lý mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng. Từ cách tiếp cận này những vấn đề cơ



bản về hợp đồng thƣơng mại nhƣ: giao kết hợp đồng, nguyên tắc và các biện pháp
đảm bảo thực hiện hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu ... đƣợc
điều chỉnh bởi pháp luật và không có sự khác biệt với các hợp đồng dân sự thông
thƣờng. Song, xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của hoạt động thƣơng mại, một số
vấn đề về hợp đồng trong thƣơng mại đƣợc quy định trong các lĩnh vực cụ thể, có
tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luật truyền thống về hợp
đồng (nhƣ chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên, chế tài và giải quyết
tranh chấp hợp đồng...)
Theo quy định hiện hành có thể nhận diện hợp đồng trong thƣơng mại theo
một số tiêu chí pháp lý chủ yếu nhƣ sau:
Về chủ thể hợp đồng: hợp đồng thƣơng mại đƣợc thiết lập chủ yếu giữa các
chủ thể kinh doanh (chủ yếu là thƣơng nhân). Theo quy định của Luật Thƣơng mại
(2005), thƣơng nhân bao gồm: tổ chức kinh tế đƣợc thành lập hợp pháp, cá nhân
hoạt động kinh doanh một cách độc lập, thƣờng xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Có những quan hệ hợp đồng trong thƣơng mại đòi hỏi các bên đều phải là thƣơng
nhân, nhƣ: hợp đồng đại diện cho thƣơng nhân, hợp đồng đại lý thƣơng mại, hợp
đồng dịch vụ quảng cáo thƣơng mại... Có những hợp đồng thƣơng mại chỉ đòi hỏi
ít nhất một bên là thƣơng nhân, nhƣ: hợp đông uỷ thác mua bán hàng hoá, hợp
đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hoá, hợp đồng môi giới thƣơng mại, hợp đồng dịch
vụ xây dựng, hợp đồng bảo hiểm ... Cá biệt, có những hợp đồng thƣơng mại không
nhất thiết chủ thể hợp đồng phải là thƣơng nhân, nhƣ: hợp đồng giao kết giữa các
chủ thể kinh doanh là những ngƣời bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh
doanh lƣu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp (những ngƣời này không phải đăng
ký kinh doanh, do đó họ không phải là thƣơng nhân).
Về hình thức: Hợp đồng trong thƣơng mại đƣợc thiết lập theo cách thức mà
hai bên thoả thuận, có thể đƣợc thể hiện bằng hình thức lời nói, văn bản hoặc hành


vi cụ thể. Trong một số trƣờng hợp, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp

đồng bằng hình thức văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tƣơng đƣơng với văn
bản (hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng đại lý thƣơng mại, hợp đồng
uỷ thác mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển
lãm thƣơng mại, ...)
Mục đích của hợp đồng thương mại là lợi nhuận. Mục đích lợi nhuận là đặc
trƣng của các giao dịch thƣơng mại. Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp, một bên
của hợp đồng trong thƣơng mại không có mục đích lợi nhuận. Những hợp đồng
này, về nguyên tắc không đƣơng nhiên chịu sự điều chỉnh bởi những quy định
riêng của pháp luật thƣơng mại. Theo khoản 3, Điều 1, Luật Thƣơng mại (2005)
“hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương
nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp
dụng Luật này” thì sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thƣơng mại (2005).
Bộ luật Dân sự (2005) và Luật Thƣơng mại (2005) ra đời đánh dấu bƣớc
phát triển mới của pháp luật về hợp đồng và là sự thống nhất pháp luật về hợp
đồng ở Việt Nam. Các quy định về hợp đồng trong thƣơng mại đó có những thay
đổi cơ bản cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung pháp lý. Luật Thƣơng mại (2005) là
nguồn quan trọng điều chỉnh các giao dịch thƣơng mại giữa các thƣơng nhân với
nhau và với các bên có liên quan nhằm triển khai hoạt động kinh doanh… Luật
Thƣơng mại xây dựng trên cơ sở tiếp tục phát triển các quy định mang tính chất
nguyên tắc của Bộ luật Dân sự, cụ thể hóa các nguyên tắc này cho thích hợp để
điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh. Bên cạnh các quy định trong
Bộ luật Dân sự (2005) và Luật Thƣơng mại (2005), một số hợp đồng đặc thù trong
thƣơng mại còn đƣợc điểu chỉnh bởi quy định trong các luật chuyên ngành nhƣ:
Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng, Bộ luật


Hàng hải... Thông thƣờng, ngoài việc phải tuân thủ các quy định chung về hợp
đồng trong Bộ luật Dân sự và Luật Thƣơng mại, mỗi loại hợp đồng cụ thể còn chịu
sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành đó. Nguyên tắc áp dụng pháp luật đƣợc

xác định rõ trong Luật Thƣơng mại (2005) là: Hợp đồng thƣơng mại phải tuân theo
Luật Thƣơng mại và pháp luật có liên quan. Hoạt động thƣơng mại đặc thù đƣợc
quy định trong Luật Thƣơng mại và pháp luật có liên quan. Hoạt động thƣơng mại
đặc thù đƣợc quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó. Hoạt động
thƣơng mại không đƣợc quy định trong Luật Thƣơng mại và trong các luật khác thì
áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.
II. TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP
ĐỒNG THƢƠNG MẠI
1. Khái niệm trách nhiệm pháp lý
Trong đời sống xã hội, sản xuất kinh doanh tồn tại rất nhiều các mối quan hệ
xã hội. Quan hệ giữa ngƣời với ngƣời, quan hệ giữa cá nhân với các tổ chức, quan
hệ giữa tổ chức với nhau. Các mối quan hệ này rất đa dạng, trong đó các chủ thể có
những trách nhiệm nhất định nào đó với nhau. Trách nhiệm đó cũng gọi là bổn
phận, là nghĩa vụ của bên này đối với bên kia. Thuật ngữ “Nghĩa vụ” đƣợc hiểu
theo nhiều cách khác nhau. Nghĩa vụ trong đời sống hàng ngày là những hành vi
mà một ngƣời phải thực hiện vì lợi ích của ngƣời khác. Việc thực hiện hay không
thực hiện hành vi đó không cần sự đảm bảo của Nhà nƣớc bằng pháp luật. Nhƣng
khi các loại nghĩa vụ đó đƣợc các quy phạm pháp luật điều chỉnh thì chúng trở
thành nghĩa vụ bắt buộc - nghĩa vụ pháp lí. Nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật kinh
tế là một bộ phận không tách rời của nội dung quan hệ pháp luật, có nghĩa là những
hành vi mà chủ thể của quan hệ pháp luật nhất định bắt buộc phải thực hiện và thực
hiện đó đƣợc đảm bảo bằng sức mạnh cƣỡng chế của Nhà nƣớc. Theo nghĩa này,
trách nhiệm đƣợc hiểu theo nghĩa chung và chỉ khi có sự vi phạm trách nhiệm này


mới làm phát sinh một loại trách nhiệm đặc biệt: trách nhiệm pháp lí.
Trách nhiệm pháp lý là nghĩa vụ phải gánh chịu những tƣớc đoạt mang tính
chất nhân thân hay tài sản tƣơng ứng với hành vi vi phạm pháp luật gây ra, phù
hợp với chế tài của pháp luật.
Theo S.S. ALÊCSEEV thì: “ trách nhiệm pháp lý gắn liền với vi phạm pháp

luật, dẫn đến việc áp dụng những nghĩa vụ mới đối với vi phạm - trừng phạt tƣớc
đoạt một số quyền khác, bắt thực hiện những nghĩa vị bổ xung”. Trách nhiệm pháp
lý đƣợc thể hiện qua chế tài của quy phạm pháp luật và gắn liền với sự cƣỡng chế
của nhà nƣớc, thể hiện sự phê phán của nhà nƣớc đối với hành vi vi phạm pháp
luật và với bản thân ngƣời vi phạm. Hơn nữa trách nhiệm pháp lý nhƣ là hậu quả
của việc không thi hành hoặc thi hành không đúng quy định của pháp luật, thể hiện
trong việc áp dụng những biện pháp trừng phạt đối với hành vi phạm, bắt buộc
thực hiện những quy định pháp luật và buộc khôi phục các quyền bị vi phạm.
Quan niệm này có từ rất lâu trong khoa học pháp lý, nó bị ảnh hƣởng bởi
luật dân sự, một ngành luật phát triển từ rất sớm (từ thời cổ La Mã). Những hình
phạt cổ điển đƣợc áp dụng đối với những hành vi trộm cắp, giết ngƣời... đƣợc nâng
lên thành khái niệm hình sự. Cùng với sự phát triển của lịch sử các quan hệ xã hội
mới cũng hình thành và phát triển nhƣ quan hệ hành chính, quan hệ lao động, quan
hệ kinh tế... đã đòi hỏi khoa học pháp lý phải điều chỉnh và đáp ứng kịp thời, do đó
xuất hiện nhiều ngành luật mới nhƣ: Luật Hành chính, Luật Lao động, Luật kinh
tế... lúc này trách nhiệm pháp lý đƣợc mỗi ngành luật đƣa ra thành đối tƣợng
nghiên cứu riêng. Quan niệm trách nhiệm pháp lý là nghĩa vụ phải gánh chịu
những tƣớc đoạt mang tính chất nhân thân hay tài sản tƣơng ứng với hành vi vi
phạm pháp luật theo quy định pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc ngăn ngừa
những vi phạm tƣơng tự sẽ xảy ra, giáo dục phòng ngừa ngƣời vi phạm pháp luật,
tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật lao động, trách nhiệm đó gọi là


“trách nhiệm đối với hành vi đã xảy ra”.
2. Khái niệm và đặc điểm của chế tài trong thƣơng mại
2.1. Khái niệm chế tài trong thƣơng mại
* Theo nghĩa rộng
Theo nghĩa rộng, chế tài trong thƣơng mại đƣợc hiểu là hình thức chế tài đƣợc
cơ quan nhà nƣớc hoặc bên có quyền lợi bị vi phạm áp dụng đối với mọi tổ chức
cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật thƣơng mại. Khi có hành vi vi phạm pháp

luật trong thƣơng mại thì cơ quan nhà nƣớc hoặc bên có quyền lợi bị vi phạm sẽ có
quyền áp dụng trách nhiệm pháp lí đối với các chủ thể vi phạm. Phân tích các đặc
điểm của chế tài theo cách hiểu này thì phạm vi của nó là rất rộng. Các đặc trƣng
cơ bản của chế tài theo cách hiểu này là:
+ Về phạm vi áp dụng: Theo tinh thần chung của Luật thƣơng mại 2005, mọi
hành vi vi phạm pháp luật thƣơng mại đều bị phát hiện kịp thời và xử lí nghiêm
minh. Tất cả các hành vi vi phạm pháp luật trong thƣơng mại đều thuộc phạm vi
áp dụng chế tài. Các hành vi vi phạm pháp luật thƣơng mại không chỉ bao gồm
những hành vi vi phạm chế độ quản lí nhà nƣớc trong lĩnh vực thƣơng mại, xâm
phạm trật tự quản lí thƣơng mại của nhà nƣớc, mà còn gồm các hành vi vi phạm
xảy ra trong quá trình thƣơng nhân kí kết và thực hiện hợp đồng.
+ Chủ thể có quyền ra quyết định áp dụng chế tài: Theo từng hành vi vi phạm
mà chủ thể áp dụng chế tài trong thƣơng mại có thể là cơ quan nhà nƣớc có thẩm
quyền (ví dụ Cơ quan quản lí thị trƣờng, Công an kinh tế, Tòa án…) hay chính bên
bị vi phạm cam kết trong hợp đồng giữa các chủ thể.
+ Về đối tƣợng bị áp dụng chế tài trong thƣơng mại: Đối tƣợng bị áp dụng
chế tài trong thƣơng mại chủ yếu là thƣơng nhân có hành vi vi phạm pháp luật
trong thƣơng mại. Đó là các chủ thể thƣờng xuyên đƣợc thực hiện các hành vi


thƣơng mại, là đối tƣợng áp dụng của luật thƣơng mại nên phải chịu chế tài trong
thƣơng mại khi có các hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chế tài cũng áp dụng
đối với một số chủ thể không phải là thƣơng nhân, ví dụ nhƣ chủ thể thực hiện
hành vi kinh doanh trái phép.
+ Về hình thức chế tài: Tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm
pháp luật trong thƣơng mại mà có thể áp dụng các hình thức chế tài là các chế tài
hành chính, chế tài hình sự và các chế tài mang tính chất dân sự (hay chế tài hợp
đồng).
+ Về mục đích áp dụng chế tài trong thƣơng mại: Căn cứ vào hình thức chế
tài đƣợc áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật trong thƣơng

mại, việc áp dụng các chế tài đó nhằm đảm bảo các mục đích sau:
(a) Đối với các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự quản lí hoạt động
thƣơng mại của nhà nƣớc (ví dụ buôn lậu, trốn thuế…) thì cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền áp dụng chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự, nhằm đảm bảo tính
nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, xã hội và của chính ngƣời
tiêu dùng;
(b) Đối với các hành vi vi phạm chế độ hợp đồng, chế tài nhằm bảo đảm kỉ
luật hơp đồng, ngăn ngừa mọi vi phạm hợp đồng và trừng phạt bên bị vi phạm.
Tóm lại, theo cách hiểu này chỉ cần chủ thể tham gia pháp luật thƣơng mại có
hành vi vi phạm pháp luật thƣơng mại là đều có căn cứ áp dụng chế tài. Nhƣ vậy
rất dễ dàng để truy cứu trách nhiệm đối với cá nhân, tổ chức tham gia pháp luật
thƣơng mại. Nhƣng nhƣợc điểm của nó là khi áp dụng chế tài, việc phân tích, tìm
hiểu hành vi vi phạm thì rất khó tìm quy phạm điều chỉnh và áp dụng các hình thức
chế tài cụ thể vì pháp luật quy định rất rộng, rải rác trên nhiều văn bản khác nhau.
* Theo nghĩa hẹp


Trong quan hệ giữa các thƣơng nhân, pháp luật thƣơng mại ra đời là cần thiết
để duy trì và bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng.
Khi một hợp đồng thƣơng mại đã đƣợc giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu lực
pháp luật thì các bên phải thực hiện các nghĩa vụ mà mình đã thỏa thuận trong hợp
đồng. Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng dẫn đến hậu quả bên vi phạm
phải chịu các hình thức trách nhiệm – chế tài. Đây là khái niệm chế tài hiểu theo
nghĩa hẹp, chế tài chỉ bao gồm các chế tài do vi phạm hợp đồng trong thƣơng mại
mà bên bị vi phạm có quyền đƣợc lựa chọn áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng chế tài.
Đó là các biện pháp tác động bất lợi về tài sản của bên có quyền lợi bị vi phạm đối
với chủ thể có hành vi vi phạm cam kết hợp đồng trong thƣơng mại. Nếu một bên
có hành vi vi phạm hợp đồng thì phải gánh chịu những hậu quả pháp lí (bất lợi)
nhất định do hành vi vi phạm đó gây ra. Luật thƣơng mại 2005 quy định các loại
chế tài tại Điều 292 theo đó có các chế tài sau: (a) Buộc thực hiện đúng hợp đồng;

(b) Phạt vi phạm, (c) Bồi thƣờng thiệt hại; (d) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (e)
Đình chỉ hợp đồng; (f) Hủy bỏ hợp đồng; (g) Các biện pháp khác do các bên thỏa
thuận không trái với quy định của pháp luật.
Về bản chất chế tài trong thƣơng mại chính là các chế tài hợp đồng, đƣợc quy
định trong các quy phạm pháp luật thƣơng mại bao gồm những hình thức xử lí và
hậu quả pháp lí áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm trong quá trình kí kết, thực
hiện hợp đồng trong thƣơng mại.
2.2. Đặc điểm của chế tài trong thƣơng mại
Theo Điều 292 Luật thƣơng mại 2005, chế tài trong thƣơng mại đƣợc hiểu
theo nghĩa hẹp, đó là các biện pháp tác động bất lợi về tài sản của bên có quyền lợi
bị vi phạm đối với chủ thể có hành vi vi phạm cam kết hợp đồng trong thƣơng mại.
Với cách hiểu này, chế tài trong thƣơng mại có những đặc điểm sau:
+ Chế tài trong thƣơng mại là các chế tài hợp đồng phát sinh khi có hành vi vi


phạm pháp luật về hợp đồng trong thƣơng mại
Trong quan hệ hợp đồng, nếu một bên không thực hiện, thực hiện không đúng
hoặc không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng thì phải gánh chịu những hậu quả bất
lợi mang tính chất tài sản, căn cứ áp dụng là theo sự cam kết giữa các bên hoặc
theo quy định của pháp luật. Luật thƣơng mại quy định 6 hình thức chế tài áp dụng
đối với bên vi phạm hợp đồng cụ thể là: (a) Buộc thực hiện đúng hợp đồng; (b)
Phạt vi phạm, (c) Bồi thƣờng thiệt hại; (d) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (e)
Đình chỉ hợp đồng; (f) Hủy bỏ hợp đồng.
+ Chế tài trong thƣơng mại là những chế tài mang tính chất tài sản
Khi thƣơng nhân thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng trong thƣơng mại, có
thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi mang tính vật chất. Do hợp đồng trong
thƣơng mại đƣợc các bên kí kết chủ yếu là những hợp đồng mang tính chất đền bù
ngang giá, phản ánh mối quan hệ mang tính chất hàng hóa tiền tệ, nên việc áp
dụng các chế tài mang tính tài sản là tất yếu, trừ khi chính bản thân ngƣời bị vi
phạm trong cùng quan hệ hợp đồng không muốn áp dụng chế tài hợp đồng đối với

bên vi phạm. Hậu quả bất lợi mang tính chất tài sản thể hiện ở việc bên có hành vi
vi phạm phải nộp một khoản tiền phạt hợp đồng, nộp tiền bồi thƣờng hợp đồng hay
những chi phí cần thiết để thực hiện đúng hợp đồng… Việc áp dụng chế tài hủy
hợp đồng cũng có thể làm phát sinh nghĩa vụ tài sản đối với các bên, đặc biệt là
bên có hành vi vi phạm.
+ Chủ thể lựa chọn và quyết định các hình thức chế tài chính là bên bị vi
phạm trong quan hệ hợp đồng
Những điều khoản các bên đã cam kết trong hợp đồng là điều khoản bắt buộc
phải đƣợc tuân thủ thực hiện, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo
các cam kết đƣợc thỏa thuận trong hợp đồng thì chủ thể đó bị coi là có hành vi vi


phạm hợp đồng. Lúc này bên bị vi phạm có thể áp dụng một hoặc một số chế tài
theo cam kết trong hợp đồng hay theo quy định của pháp luật. Khi bên bị vi phạm
áp dụng các chế tài trong thƣơng mại, nhƣng bên vi phạm không thừa nhận hành vi
vi phạm hay không tuân thủ các biện pháp chế tài đƣa ra thì bên bị vi phạm có thể
làm đơn khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Trong khuôn khổ quy định pháp luật, bên bị vi phạm đƣợc toàn
quyền quyết định việc yêu cầu bên vi phạm thực hiện một phần hay toàn bộ trách
nhiệm tài sản đối với mình. Ví dụ trong hợp đồng thỏa thuận sẽ áp dụng đồng thời
hai chế tài là phạt vi phạm và bồi thƣờng thiệt hại, nhƣng bên bị vi phạm có thể chỉ
áp dụng biện pháp bồi thƣờng thiệt hại mà không áp dụng phạt vi phạm. Tòa án và
Trọng tài đƣợc bên bị vi phạm yêu cầu giải quyết tranh chấp, phải tôn trong quyền
tự định đoạt của bị đơn.
+ Mục đích áp dụng chế tài trong thƣơng mại
Việc quy định các chế tài trong thƣơng mại nhằm bảo vệ quyền lợi của chính
các bên trong quan hệ hợp đồng. Đảm bảo cam kết giữa các bên đƣợc thực hiện,
hoặc đền bù lại những tổn thất đã gây ra cho bên bị thiệt hại do hành vi của bên vi
phạm hợp đồng. Qua đó nhằm giáo dục các bên tham gia hợp đồng tuân thủ pháp
luật và nghĩa vụ phải thực hiện theo thỏa thuận nhằm đảm bảo hợp tác bình đẳng,

cùng có lợi. Luật thƣơng mại 2005 quy định nhiều loại chế tài khác nhau và nhằm
đạt đƣợc các hiệu quả khác nhau nhƣng không ngoài mục đích nhằm tạo ra môi
trƣờng pháp lí công bằng, thuận lợi để các thƣơng nhân tham gia hoạt động kinh
doanh hiệu quả, thuận lợi vì mục tiêu phát triển xã hội.
2.3. Các loại chế tài trong thƣơng mại
Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng trong thƣơng mại dẫn đến hậu quả
bên vi phạm phải chịu các hình thức chế tài, các chế tài khi đó gọi là chế tài hợp
đồng. Nói cách khác, đó là chế tài đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm các chế tài


do vi phạm hợp đồng trong thƣơng mại mà bên có quyền bị vi phạm đƣợc lựa chọn
áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng do pháp luật quy định. Căn cứ pháp lí để áp dụng
chế tài hợp đồng đó là Luật thƣơng mại 2005 (Từ Điều 292 – 316 Luật thƣơng mại
2005). Khi các chủ thể có hành vi vi phạm cam kết hợp đồng trong thƣơng mại,
ngƣời bị vi phạm hoặc khi có yêu cầu của ngƣời bị vi phạm cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền sẽ áp dụng các chế tài đối với họ. Theo quy định của pháp luật hiện
hành các chế tài trong thƣơng mại bao gồm:
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là hình thức chế tài, theo đó bên bị vi phạm
nghĩa vụ hợp đồng mua bán phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên
bị vi phạm . Khoản 1 Điều 297 Luật thƣơng mại 2005 quy định: “Buộc thực hiện
đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp
đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm
phải chịu chi phí phát sinh”. Mục đích của việc áp dụng chế tài buộc thực hiện
đúng hợp đồng nhằm đảm bảo thực hiện trên thực tế hợp đồng đã kí kết. Trong
nhiều trƣờng hợp, các loại chế tài khác nhƣ bồi thƣờng thiệt hại và phạt vi phạm
không thể thay thế lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng đã kí kết của các bên. Trừ
trƣờng hợp có thoả thuận khác, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện
đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại và phạt vi
phạm nhƣng không đƣợc áp dụng các chế tài khác. Việc áp dụng các chế tài khác
chỉ đƣợc thực hiện sau thời hạn cho phép thực hiện đúng hợp đồng.

Phạt vi phạm hợp đồng là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó bên
vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm hợp đồng một khoản tiền nhất định
do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận theo quy định hoặc do các bên
thỏa thuận trên cơ sở pháp luật. Điều 300 Luật thƣơng mại 2005 quy định: “Phạt
vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi
phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách


nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”. Mặc dù cũng là chế tài tiền tệ giống
nhƣ chế tài bồi thƣờng thiệt hại nhƣng phạt vi phạm có chức năng hoàn toàn khác.
Nếu nhƣ chế tài bồi thƣờng thiệt hại nhằm mục đích chủ yếu là bù đắp thiệt hại vật
chất cho ngƣời bị thiệt hại thì phạt vi phạm chủ yếu nhằm răn đe, trừng phạt. Căn
cứ duy nhất để bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt là do hành vi
không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng hợp đồng. Yếu tố lỗi ở đây
chỉ có ý nghĩa suy đoán. Tức là, bên vi phạm có lỗi do việc không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng hợp đồng. Bên vi phạm chỉ cần chứng minh có sự vi phạm
mà không cần phải chứng minh yếu tố lỗi. Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp
đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp
đồng đều không đƣợc quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Tuy
nhiên, đối với cùng một vi phạm hợp đồng thì bên bị vi phạm chỉ đƣợc quyền lựa
chọn áp dụng một trong hai chế tài là phạt vi phạm hoặc bồi thƣờng thiệt hại, nếu
nhƣ các bên không có thỏa thuận khác. Nói cách khác, việc áp dụng đồng thời hai
loại chế tài này đối với một vi phạm chỉ xảy ra trong trƣờng hợp các bên đã có
thỏa thuận trƣớc trong hợp đồng.
Bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài nhằm khôi phục bù đắp những lợi ích
vật chất bị mất của bên bị vi phạm hợp đồng trong kinh doanh. Khoản 1 Điều 302
Luật thƣơng mại 2005 quy định: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi
thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”.
Việc bồi thƣờng thiệt hại chỉ xảy ra khi có đầy đủ 4 yếu tố sau: (a) có hành vi vi
phạm hợp đồng; (b) có thiệt hại thực tế; (c) hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên

nhân trực tiếp gây ra thiệt hại; (d) có lỗi của bên vi phạm. Do chức năng chủ yếu
của chế tài này là bồi hoàn, bù đắp, khôi phục lợi ích vật chất, bên vi phạm phải
bồi thƣờng toàn bộ những thiệt hại vật chất cho bên bị vi phạm. Thiệt hại vật chất
ở đây là giá trị tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra và khoản lợi trực tiếp


mà bên vi phạm đáng lẽ đƣợc hƣởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng.
Mặc dù vậy, việc tính chính xác giá trị thiệt hại vật chất là việc rất khó có thể đạt
đƣợc trong mọi trƣờng hợp do đặc điểm cụ thể của từng loại hàng hóa dịch vụ.
Tuy nhiên, các khoản thiệt hại đòi bồi thƣờng không thể cao hơn giá trị tổn thất
thực tế và khoản lợi đáng lẽ đƣợc hƣởng.
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng trong kinh doanh là hình thức chế tài, theo đó
một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trong kinh doanh. Điều 308
luật thƣơng mại 2005 quy định:”Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định
tại Điều 294 của Luật này, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời
không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
1. Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm
ngừng thực hiện hợp đồng;
2. Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”.
Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn có hiệu lực. Bên vi
phạm có quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại đối với những tổn thất đã xảy ra do
hành vi vi phạm của bên kia.
Đình chỉ thực hiện hợp đồng là hình thức chế tài, theo đó một bên chấm dứt
thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng trong kinh doanh [6, tr.66]. Điều 310 Luật
thƣơng mại 2005 quy định: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại
Điều 294 của Luật này, đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ
hợp đồng;

2. Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”.


Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ thời
điểm một bên nhận đƣợc thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh
toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
Huỷ bỏ hợp đồng là hình thức chế tài, theo ðó một bên chấm dứt thực hiện
nghĩa vụ hợp ðồng và làm cho hợp ðồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết.
Ðiều 312 Luật thƣơng mại quy định:
“1. Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần
hợp đồng.
2. Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các
nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng.
3. Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp
đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
4. Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này,
chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ
hợp đồng;
b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.”
Khi một hợp đồng bị hủy bỏ toàn bộ, hợp đồng đƣợc coi là không có hiệu
lực từ thời điểm giao kết. Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã
thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ
hợp đồng và về giả quyết tranh chấp. Các bên có quyền đòi lại các lợi ích do việc
đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ
hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải đƣợc thực hiện đồng thời; trƣờng hợp không thể
hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền.



×