Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

Nâng cao khả năng sử dụng các phương tiện giáo dục thể chất trong tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ 5 6 tuổi trường mầm non đại thịnh mê linh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (525.56 KB, 57 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGÔ THỊ TUYẾT

NÂNG CAO KHẢ NĂNG SỬ DỤNG
CÁC PHƯƠNG TIỆN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
THỂ CHẤT CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG
MẦM NON ĐẠI THỊNH - MÊ LINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Người hướng dẫn khoa học

Th.S NGUYỄN THỊ HÀ

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Ngô Thị Tuyết
Sinh viên: Lớp k37a – GDMN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài “Nâng cao khả năng sử dụng các phương tiện giáo
dục thể chất trong tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ 5-6 tuổi
trường mầm non Đại Thịnh - Mê Linh” là kết quả quá trình nghiên cứu, tìm
tòi, học hỏi của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Hà.
Những kết quả nghiên cứu trong khoá luận chưa từng được công bố tại bất cứ
công trình nghiên cứu nào.


Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên

Ngô Thị Tuyết


DANH MỤC VIẾT TẮT

BTTC

: Bài tập thể chất

CBQL

: Cán bộ quản lý

ĐC

: Đối chứng

GDMN

: Giáo dục mầm non

GDQD

: Giáo dục quốc dân

GD&ĐT


: Giáo dục và Đào tạo

GDTC

: Giáo dục thể chất

GVMN

: Giáo viên mầm non

NĐC

: Nhóm đối chứng

NTN

: Nhóm thực nghiệm

SL

: Số lượng

TN

: Thực nghiệm

TCVĐ

: Trò chơi vận động


TDCB

: Thể dục cơ bản

VĐCB

: Vận động cơ bản


MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................... 1
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...................... 5
1.1. Vị trí và vai trò của GDMN................................................................... 5
1.2. Vị trí, vai trò của GVMN trong giáo dục mầm non hiện nay ................. 5
1.3. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu .......................... 6
1.3.1. Khái niệm khả năng ........................................................................... 6
1.3.2. Khái niệm phương tiện, phương tiện GDTC ......................................... 7
1.3.3. Khái niệm GDTC .................................................................................. 9
1.4. Ý nghĩa của GDTC đối với trẻ mầm non ............................................. 10
1.5. Nhiệm vụ của GDTC cho trẻ mầm non ............................................... 11
1.5.1. Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe ................................................................ 11
1.5.2. Nhiệm vụ giáo dưỡng ....................................................................... 12
1.5.3. Nhiệm vụ giáo dục ........................................................................... 13
1.6. Đặc điểm phát triển sinh lý vận động ở trẻ mầm non........................... 14
1.6.1. Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi .................................................... 14
1.6.2. Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi .................................................... 15
1.7. Chương trình môn học GDTC trong chương trình GDMN .................. 16
1.7.1. Bài tập đội hình đội ngũ đối với trẻ 5 - 6 tuổi................................... 16
1.7.2. Bài tập phát triển chung đối với trẻ 5 - 6 tuổi .................................. 17

1.7.3. Bài tập vận động cơ bản của trẻ 5 - 6 tuổi ....................................... 18
1.8. Chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ mầm non ..................................... 18
1.9. Nội dung nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non ............ 19
1.9.1. Tổ chức ăn.......................................................................................... 19
1.9.2. Tổ chức ngủ ........................................................................................ 20


1.9.3. Vệ sinh................................................................................................ 20
1.9.4. Chăm sóc sức khỏe và an toàn........................................................... 20
CHƯƠNG 2.
NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP - TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU................. 21
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 21
2.2. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 21
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu .................................... 21
2.2.2.Phương pháp phỏng vấn ...................................................................... 21
2.2.3.Phương pháp quan sát sư phạm........................................................... 21
2.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.................................................... 22
2.2.5. Phương pháp toán học thống kê ......................................................... 22
2.3. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................... 23
2.3.1. Thời gian nghiên cứu .......................................................................... 23
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................... 25
2.3.3. Địa điểm nghiên cứu........................................................................... 25
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................. 26
3.1. Đánh giá thực trạng sử dụng các phương tiện GDTC trong tổ chức hoạt
động GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh - Mê Linh .......... 26
3.1.1.Đánh giá thực trạng về cơ sở vật chất trường mầm non Đại Thịnh - Mê
Linh .............................................................................................................. 26
3.1.2. Thực trạng về công tác quản lý và trình độ nhận thức của đội ngũ
GVMN về việc sử dụng các phương tiện GDTC ........................................... 27
3.1.3. Thực trạng về việc tổ chức dạy học GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi trường

mầm non Đại Thịnh ...................................................................................... 29
3.1.4. Thực trạng nội dung chương trình dạy học GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi
trường mầm non Đại Thịnh - Mê Linh .......................................................... 30


3.2. Biện pháp nâng cao khả năng sử dụng các phương tiện GDTC trong tổ
chức hoạt động GDTC cho trẻ 5-6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh - Mê Linh34
3.2.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp ............................................................. 34
3.2.2. Lựa chọn biện pháp nhằm nâng cao khả năng sử dụng các phương tiện
dạy học GDTC trong tổ chức hoạt động GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi................. 35
3.2.3. Lựa chọn test đánh giá khả năng sử dụng các phương tiện GDTC trong tổ
chức hoạt động GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh ................ 38
3.2.4. Tổ chức thực nghiệm .......................................................................... 40
3.2.5. Kết quả thực nghiệm........................................................................... 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 43
1. Kết luận .................................................................................................... 43
2. Kiến nghị.................................................................................................. 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 45


DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT

Nội dung

Trang

Bảng 1.1

Chế độ sinh hoạt của trẻ 5-6 tuổi trong Chương trình chăm


19

sóc - giáo dục trẻ của Bộ GD&ĐT
Bảng 3.1

Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra, quản lí và chỉ đạo

27

trong trường mầm non Đại Thịnh (n=20)
Bảng 3.2

Kết quả phỏng vấn trình độ nhận thức của giáo viên về

28

việc sử dụng các phương tiện GDTC tại trường mầm non
Đại Thịnh (n=20)
Bảng 3.3

Kết quả phỏng vấn về mức độ cần thiết trong việc tổ chức

29

hoạt động GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Đại
Thịnh (n=20)
Bảng 3.4

Bảng phỏng vấn lựa chọn các biện pháp nâng cao khả


35

năng sử dụng các phương tiện dạy học GDTC trong tổ
chức hoạt động GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non
Đại Thịnh (n=20)
Bảng 3.5

Tiến trình sử dụng sự kết hợp các phương tiện GDTC

38

trong tổ chức hoạt động GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi trường
mầm non Đại Thịnh - Mê Linh (n=20)
Bảng 3.6

Bảng phỏng vấn lựa chọn test đánh giá khả năng sử dụng

39

các phương tiện GDTC trong tổ chức hoạt động GDTC
cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh (n=20)
Bảng 3.7

Kết quả kiểm tra của NĐC và NTN trước thực nghiệm
(

Bảng 3.8

=


=15)

Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm ĐC và TN
(

=

41

=15)

42


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ văn minh. Nghị quyết lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VII đã nêu “Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây
dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” [2]. Mục đích
này mang tính khách quan vì nó phản ánh được yêu cầu có tính quy luật của
xã hội là: Con người cần phải được chuẩn bị đầy đủ về các mặt tinh thần và
thể chất để có thể tham gia vào các hoạt động của xã hội. Để đạt được những
mục đích đó, lứa tuổi mầm non là mầm mống tương lai của đất nước cần phải
giáo dục và có chương trình giáo dục cụ thể.Vì vậy, hiện nay giáo dục trở
thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội.Trong đó, GDMN chiếm một vị
trí rất quan trọng.

GDMN là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân.Mục tiêu của
GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình
thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp một
(Điều 22 - Luật giáo dục 2005), [5]. Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà
nước ta đã đặc biệt chú trọng tới công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non,
quan tâm đến sự phát triển ở lứa tuổi này. Đặc biệt trong đổi mới chương
trình GDMN, nội dung giáo dục mẫu giáo được chia thành 5 lĩnh vực: Giáo
dục phát triển thể chất, giáo dục phát triển nhận thức, giáo dục phát triển ngôn
ngữ, giáo dục phát triển tình cảm -xã hội và giáo dục phát triển thẩm mĩ.
Trong đó GDTC cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan tâm đầu tiên.
Mặt khác, GDMN giúp trẻ hình thành và phát triển những chức năng về
tâm lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng cần thiết
phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn,


2
chuẩn bị tốt cho trẻ vào học ở tiểu học và cho sự phát triển của trẻ trong các
giai đoạn sau. Ở lứa tuổi 5-6 tuổi, cơ thể trẻ đang phát triển mạnh mẽ, hệ thần
kinh, cơ xương hình thành nhanh, bộ máy hô hấp đang hoàn thiện.Nếu không
được chăm sóc giáo dục đúng đắn, cơ thể trẻ dễ phát triển lệch lạc, mất cân
đối.Vì vậy, ở lứa tuổi này, trẻ cần được tham gia các hoạt động thể chất và
các hình thức vận động khác như lao động, nặn hình, vẽ, vận động theo
nhạc,…
Trong đời sống thực tế xã hội, không có GDTC chung chung tồn tại
ngoài điều kiện lịch sử cụ thể. Trong mỗi chế độ kinh tế xã hội nhất định đều
có từng loại GDTC cụ thể. Để hiểu về GDTC và thực hiện quá trình này đã có
nhiều quan niệm khác nhau của các nhà lý luận giáo dục:
- Các nhà lý luận giáo dục duy tâm cho rằng: GDTC là bản tính hay nhu
cầu bản năng của con người giống như các sinh vật khác, GDTC mang tính
bẩm sinh của con người cũng tương tự như “sự giáo dục” - bắt chước của loài

vật như đi, chạy, nhảy,… Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ nhận vai trò
của lao động và tư duy - một hiện tượng mới về chất đã làm cho con người
khác biệt với các loài vật. Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo dục này nhằm
thỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có liên quan gì
đến xã hội. Do đó, họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa xã hội và giáo
dục và cả nội dung của giáo dục.
- Các nhà lý luận giáo dục duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng xã
hội - là phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng
thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người. Họ khẳng
định rằng, chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất nhằm
phát triển cơ thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định thì
lúc đó mới có GDTC thật sự.
Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật khách quan của sự
phát triển xã hội, C.Mác và Ănghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dục


3
vào điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục.
C.Mác nhấn mạnh rằng: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản
xuất với trí dục và thể dục, đó không những là biện pháp để tăng thêm sức
sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát
triển toàn diện”[3]. Từ những nghiên cứu của mình, ông đã coi GDTC là một
bộ phận hữu cơ của hiện tượng giáo dục, là điều kiện tất yếu đối với việc phát
triển con người một cách toàn diện. GDTC là phương tiện quan trọng để phát
triển thể lực con người và nó phải bắt đầu từ lứa tuổi nhỏ. GDTC cho trẻ là cơ
sở phát triển toàn diện, rèn luyện cơ thể, hình thành những thói quen vận động
cần thiết cho cuộc sống [3].Như vậy, có thể thấy GDTC cho trẻ càng có ý
nghĩa quan trọng hơn.
Hiện nay, GDTC cho trẻ tại trường mầm non Đại Thịnh được tiến hành 1
tiết/tuần với thời lượng 30 - 35 phút, nội dung giờ học GDTC chủ yếu là các

bài tập phát triển chung, bài tập VĐCB và TCVĐ. Giáo viên trong trường đã
thực hiện đúng theo quy định chương trình GDTC của Bộ GD&ĐT. Tuy
nhiên, để phát triển các tố chất thể lực và tăng cường sức khỏe cho trẻ,đòi hỏi
GVMN phải biết sử dụng và kết hợp các phương tiện của GDTC một cách
hợp lý và khoa học để giúp trẻ phát triển cân đối, hài hòa về thể chất cũng như
trí tuệ, đảm bảo sự phát triển toàn diện.
Trên thực tế, đã có nhiều công trình của các nhà khoa học trong và ngoài
nước nghiên cứu về việc nâng cao khả năng sử dụng các phương tiện GDTC
trong tổ chức hoạt động GDTC cho trẻ mầm non. Song đến nay, chưa có đề
tài nào nghiên cứu về việc nâng cao khả năng sử dụng các phương tiện GDTC
trong tổ chức hoạt động GDTC cho trẻ lứa tuổi 5-6 tại trường mầm non Đại
Thịnh - Mê Linh.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài tiến hành nghiên cứu: “Nâng cao khả
năng sử dụng các phương tiện giáo dục thể chất trong tổ chức hoạt động giáo
dục thể chất cho trẻ 5-6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh - Mê Linh”.


4
* Mục đích nghiên cứu
Việc sử dụng các phương tiện để tổ chức hoạt động GDTC trong nhà
trường mầm non giúp GVMN đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả khi sử dụng các phương tiện GDTC cho trẻ 5-6 tuổi trường mầm
non Đại Thịnh - Mê Linh.
* Giả thuyết nghiên cứu
Nếu thiết kế được các biện pháp nâng cao khả năng sử dụng các phương
tiện GDTC cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non sẽ giúp giáo viên nâng cao
được khả năng sử dụng các phương tiện trong quá trình giảng dạy GDTC cho
trẻ mầm non, góp phần đổi mới GDMN hiện nay.



5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Vị trí và vai trò của GDMN
GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống GDQD và là cấp học đặt nền
móng cho sự phát triển về thể chất, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em.
Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc GDMN sẽ là
nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ. Do vậy, phát triển
GDMN, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng
trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Theo quan niệm của giáo dục học hiện đại và tiến bộ cho rằng: “Đối với
trẻ càng nhỏ bao nhiêu thì lại càng cần phải đảm bảo sự cân đối giữa nuôi và
dạy bấy nhiêu - 2 yếu tố này ảnh hưởng và tác động qua lại với nhau. Nếu
thiếu hụt một trong hai yếu tố trên đều có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu
cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ”.
Để đảm bảo cho sự tăng trưởng của xã hội mai sau, việc phát triển nhân
tố con người, nguồn lực con người phải tiến hành không ngừng, ngay từ khi
trẻ mới sinh, thậm chí ngay từ khi trẻ còn là bào thai trong bụng mẹ. Đó là ý
nghĩa của việc chăm sóc - giáo dục trẻ.
Nhìn chung, ngành GDMN ở các địa phương trong cả nước đã có những
chuyển biến tích cực: Nhiều trường mầm non đã được xây dựng; tỷ lệ trẻ em
đến lớp tăng; cơ sở trường lớp ngày càng khang trang; đội ngũ GVMN tăng
về số lượng và chất lượng từng bước đã được nâng cao trình độ về chuyên
môn nghiệp vụ.
1.2. Vị trí, vai trò của GVMN trong giáo dục mầm non hiện nay
Đối với GDMN, đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt, biến các mục
tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả


6

giáo dục. GVMNlà ngườiđảm nhiệm rất nhiều vai trò, khi là cô giáo, khi là
mẹ hiền,đôi lúc lại là bác sĩ, là nghệ sĩ trên lớp học…
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo tới sự nghiệp
GDMN. Người từng căn dặn: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ
cũng như trồng cây, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt
thì sau này các cháu thành người tốt”. Khắc ghi lời dạy của Người cùng sự
đổi mới của giáo dục đang đặt ra với người giáo viên về những phẩm chất,
năng lực thì giáo viên mầm non cần phải đạt những mục tiêu: Là một nhà giáo
dục, một công dân gương mẫu, có tư cách đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh,
hăng hái tham gia vào sự phát triển cộng đồng.
GVMN không chỉ đóng vai trò là cô nuôi dạy trẻ mà còn là người tổ
chức các hoạt động giáo dục cho trẻ, giúp trẻ phát triển nhận thức về thếgiới
quan, cung cấp cho trẻ những kiến thức và kĩ năng sống ban đầu và dạy trẻ
những kỹ năng vận động cơ bản. Vì vậy đây là một nghề đặc thù trong xã hội.
1.3. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.3.1. Khái niệm khả năng
Theo từ điển Tiếng Việt: Khả năng: Là có thể làm được một việc gì đó
có kết quả tốt [9].
Theo triết học Mác - Lênin thì khả năng là “cái hiện chưa có” nhưng bản
thân khả năng có tồn tại, đó là sự tồn tại đặc biệt tức là các sự vật được nói tới
trong khả năng chưa tồn tại, song bản thân khả năng thì tồn tại.
Theo tâm lý học khả năng là tổng hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của
cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo
cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả.
Như vậy, khả năng là có đủ sức để thực hiện hoạt động nào đó đạt được
mục đích đã đặt ra để có kết quả cao.


7
1.3.2. Khái niệm phương tiện, phương tiện GDTC

1.3.2.1. Khái niệm phương tiện
Theo từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã định nghĩa phương
tiện là cái dùng để làm một việc gì để đạt mục đích nào đó.
Theo định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng trong dạy học nói chung và
trong dạy học GDTC nói riêng thì cái mà chúng ta dùng để tác động vào đối
tượng để đạt mục đích nào đó thì đều gọi là phương tiện.
1.3.2.2. Khái niệm phương tiện GDTC
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non, các nhà
giáo dục đã sử dụng các phương tiện GDTC tới việc nâng cao thể chất cho trẻ
nhằm giúp trẻ hoàn thiện về năng lực vận động của mình và giải quyết những
nhiệm vụ GDTC cho trẻ để có những biến đổi về cấu trúc và chức năng sinh
học của cơ thể trẻ.Trong lí luận GDTC phương tiện GDTC bao gồm: Những
yếu tố vệ sinh, các yếu tố thiên nhiên và các bài tập thể chất.
Như vậy, phương tiện GDTC là tổng hợp các yếu tố vệ sinh, yếu tố
thiên nhiên, các BTTC mà người ta sử dụng chúng để tác động tới cơ thể
người tập.
* Yếu tố vệ sinh
Chế độ vệ sinh trong tập luyện cho trẻ mầm non:Chế độ vệ sinh trong
tập luyện thể dục cho trẻ rất rộng, liên quan đến hầu hết nội dung vệ sinh học,
bao gồm: Vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh thân thể, vệ sinh trang phục.
- Vệ sinh dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng tốt ảnh hưởng trực tiếp đến
sự sống còn, sức khỏe và sự khôn lớn của trẻ, cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng
hợp lí cho trẻ: Ăn chín, uống sôi, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng (đạm, mỡ,
đường,vitamin,nước, muối khoáng và các nguyên tố vi lượng). Có giờ ăn,
uống hợp lý.
- Vệ sinh môi trường: Những nơi có thể cho trẻ tập luyện là trong phòng
nhóm, ngoài sân chơi và phòng thể dục.


8

Nơi tập phải được chuẩn bị trước khi tiến hành cho trẻ tập luyện.
Phòng tập phải được vệ sinh, thông thoáng khí, trong quá trình tập cửa
sổ phải được mở.
Sân tập phải bằng phẳng, sạch sẽ, thoáng mát, tránh chỗ nắng gắt và có
gió lùa.
Diện tích nơi tập phụ thuộc vào lứa tuổi, nội dung tập luyện và số lượng
trẻ trong buổi tập.
- Vệ sinh thân thể: Có ý nghĩa quan trọng trong việc làm cho cơ thể
hoạt động tốt, tăng cường quá trình trao đổi chất, phát triển khả năng làm
việc trí óc và hoạt động chân tay, đề phòng bệnh tật.
- Vệ sinh trang phục: Bảo vệ cơ thể khỏi tác động xấu của môi trường
và các tổn thương cơ học, giữ cho cơ thể sạch sẽ. Trang phục của trẻ phải
gọn gàng, thuận tiện không gây cản trở cho cử động, phù hợp với khí hậu
của từng vùng. Vì vậy, trang phục phải đảm bảo thoáng khí, giữ nhiệt, thấm
nước và các tính chất vật lí khác.
Vệ sinh thiết bị, dụng cụ thể dục: Các thiết bị, dụng cụ thể dục phải phù
hợp với đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi, chắc chắn, kích thước phù hợp với lứa
tuổi, đáp ứng được nôi dung chương trình, đảm bảo vệ sinh, an toàn và phải
có tính thẩm mĩ cao. Các thiết bị, dụng cụ thể dục phải đảm bảo và duy trì bảo
dưỡng thường xuyên để thiết bị, dụng cụ luôn giữ được màu giúp trẻ dễ xác
định và phát triển khả năng phân biệt màu sắc.
* Yếu tố thiên nhiên
Ánh sáng mặt trời, không khí, nước là những phương tiện quan trọng để
củng cố sức khỏe và nâng cao khả năng làm việc, tạo sự sảng khoái và hưng
phấn cho trẻ.
- Ánh sáng: Mặt trời là nguồn sáng giúp cho việc rèn luyện sức khỏe,
làm giảm một số bệnh nhất định là một số bệnh ngoài da, bệnh đường hô hấp.


9

- Không khí: Không khí cung cấp oxy cho trẻ. Không khí có tác dụng rèn
luyện cơ thể, bởi vì sự chênh lệch nhiệt độ cơ thể và môi trường xung quanh
rất lớn, nhất là mùa đông. Không khí trong sạch có chứa các hợp chất đặc
biệt, có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, tăng lượng máu nhờ hấp thụ oxy ảnh
hưởng tốt đến sức khỏe.
- Nước: Có tác dụng dùng để ăn uống, sinh hoạt hàng ngày, là phương
tiện để tập luyện (bơi, lặn). Nước còn có tác dụng rửa sạch các vết bẩn ở da,
làm giãn nở và lưu thông mạch máu, tác động cơ học lên cơ thể trẻ. Tắm dội
nước sẽ có tác dụng nâng cao trương lực cơ và thúc đẩy chúng hoạt động tích
cực làm hưng phấn hệ thần linh, gây cảm giác sảng khoái.
* Các bài tập thể chất
Bài tập thể chất hay còn gọi là bài tập thể lực, bài tập vận động, bài tập
thể dục - thể thao.
Bài tập thể chất là phương tiện cơ bản đặc biệt của GDTC. Các bài tập
thể chất cho trẻ mầm non bao gồm: Các bài tập thể dục cơ bản, trò chơi vận
động, kỹ năng vận động cơ bản. Tập luyện các bài tập thể chất vừa góp phần
hoàn thiện các phẩm chất tâm lý của trẻ, vừa cải tiến hoạt động ý thức của
chúng, làm phát triển cảm xúc, ý chí,… của trẻ. Do đó, bài tập thể chất là một
trong những biểu hiện của sự thống nhất giữa hoạt động thể chất và tâm lý
của trẻ.
1.3.3. Khái niệm GDTC
GDTC là một bộ phận hợp thành của văn hóa thể chất bao gồm 3 khuynh
hướng cơ bản của một quá trình sư phạm và một khuynh hướng đặc biệt:
- Chuẩn bị thể lực chung
- Chuẩn bị thể lực nghề nghiệp
- Huấn luyện thể thao
- Điều trị phục hồi thể lực


10

GDTC là một quá trình sư phạm nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri
thức văn hóa thể chất của thế hệ trẻ cho thế hệ sau để giải quyết các nhiệm vụ
GDTC.
Là một chương trình giáo dục mà đặc trưng của nó thể hiện ở việc dạy
học tác động để thể hiện hình thể và chức năng sinh học, hình thành và rèn
luyện kĩ năng - kĩ xảo vận động và phát triển các tố chất chất thể lực của con
người.
GDTC cho trẻ mầm non là quá trình tác động nhiều mặt vào cơ thể trẻ,
tổ chức cho trẻ vận động và sinh hoạt hợp lý nhằm làm cho cơ thể trẻ phát
triển đều đặn, sức khỏe được tăng cường, tạo cơ sở cho sự phát triển toàn
diện.
1.4. Ý nghĩa của GDTCđối với trẻ mầm non
Sức khỏe là cái vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là
nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy
mà nhiệm vụ của GDTC nói chung và đặc biệt là GDTC cho trẻ mẫu giáo nói
riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của trẻ
GDTC là một bộ phận quan trọng của giáo dục toàn diện. Đó là quá trính
tác động chủ yếu cơ thể trẻ tham gia việc rèn luyện cơ thể và hình thành phát
triển các kĩ năng - kĩ xảo vận động, tổ chức sinh hoạt và giữ gìn vệ sinh nhằm
làm cho cơ thể phát triển cân đối, sức khỏe được tăng cường làm cơ sở cho sự
phát triển toàn diện nhân cách.
GDTC còn có mối quan hệ chặt chẽ đến giáo dục lao động. GDTC giúp
cho trẻ có một cơ thể dẻo dai, có các thao tác vận động chính xác, có cảm giác
tốt về nhịp điệu và định hướng không gian nhanh nhẹn. Từ đó sẽ giúp trẻ dễ
dàng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Ở lứa tuổi mầm non quá trình tăng trưởng của trẻ diễn ra rất nhanh
nhưng cơ thể trẻ lại non nớt dễ chịu ảnh hưởng bởi tác động bên ngoài, sức đề


11

kháng kém nên trẻ dễ mắc các bệnh nguy hiểm. Do vậy, trẻ chỉ có thể phát
triển tốt nếu như người lớn chú ý việc chăm sóc, giữ gìn sức khỏe cho trẻ.
1.5.Nhiệm vụ của GDTC cho trẻ mầm non
GDTC cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàn
diện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ.
Mục đích của GDTC mầm non là: “Giáo dục trẻ khỏe mạnh, nhanh
nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối”, trên cơ sở đó người ta đề ra 3 nhiệm
vụ GDTC cho trẻ mầm non:
1.5.1. Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe
Ở lứa tuổi mầm non, cơ thể trẻ phát triển nhanh, nhưng sức đề kháng
còn yếu, các cơ quan đang phát triển nhưng chưa hoàn thiện. Vì vậy, một
trong những nhiệm vụ quan trọng của GDTC là bảo vệ và tăng cường sức
khỏe cho trẻ nhằm đảm bảo sự phát triển thể lực toàn diện.
Nhiệm vụ này bao gồm: Chăm sóc, nuôi dưỡng và rèn luyện một cách
khoa học; chăm sóc trẻ ăn, chơi, ngủ và học,đảm bảo việc thực hiện chế độ
sinh hoạt đúng giờ cho trẻ.
Nhiệm vụ này được triển khai cụ thể như sau:
- Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ em trước tác động của
những môi trường xung quanh.
+ Sử dụng các yếu tố thiên nhiên là biện pháp thích hợp có lợi cho sức
khỏe như: Tắm nắng, dạo chơi nơi không khí thoáng mát,…Vì vậy, trong
trường mầm non cần cho trẻ tham gia hoạt động ngoài trời để trẻ được phát
triển toàn diện.
+ Việc rèn luyện cơ thể đối với trẻ trong những năm đầu đời có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng có tác dụng tốt đối với chức năng của hệ thần kinh trung
ương, xúc cảm của trẻ và sức khỏe chung.
- Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý.


12

+ Trong thời gian này các quá trình cốt hóa của xương mới chỉ bắt đầu
phát triển, hệ cơ còn tương đối yếu, vận động dễ bị biến dạng nên chế độ vận
động tích cực có tác động rất lớn đối với sự phát triển hệ vận động của trẻ
giúp cho việc cốt hóa xương, hình thành các mấu xương sống, phát triển vòm
chân, dây chằng, tạo khả năng phát triển đúng tỷ lệ giữa các bộ phận của cơ
thể.
+ Trong quá trình GDTC cho trẻ mầm non, cần phải ngăn ngừa biến
dạng có thể xảy ra ở cột sống và các bộ phận khác của cơ quan vận động để
đảm bảo hình thành tư thế đúng của thân người cho trẻ, đề phòng và uốn nắn
những sai lệch của tư thế bằng cách dùng các bài tập vận động.
- Góp phần nâng cao chức năng của hệ thần kinh thực vật.
+ Vận động thường xuyên sẽ kích thích mạnh mẽ sự trao đổi chất, thúc
đẩy sự hoàn thiện về cấu trúc và chức năng của cơ thể như tăng cường co bóp,
lưu thông máu, điều hòa thần kinh tim được hoàn thiện.
+ Thực chất của nhiệm vụ trên là sử dụng các phương tiện GDTC để
đảm bảo sự phát triển hài hòa nhất về thể chất, thúc đẩy sự hoạt động chức
năng của cơ thể, tăng cường sức khỏe cho trẻ.
1.5.2. Nhiệm vụ giáo dưỡng
Hình thành và phát triển những kĩ năng, kĩ xảo vận động,phát triển tố
chất thể lực, thói quen vệ sinh, nắm được một số kiến thức sơ đẳng về GDTC.
Những thói quen vận động giúp trẻ tiết kiệm được sức khi chuyển động
trong không gian, thúc đẩy sự phát triển của các cơ quan bên trong cơ thể tăng
cường nhận thức thế giới xung quanh.
Những tố chất thể lực được phát triển ở trẻ sẽ giúp trẻ giảm tiêu hao sức
lực khi vận động và có thể luyện tập trong thời gian lâu hơn.
Ở trẻ việc rèn luyện những thói quen với vệ sinh cá nhân, vệ sinh công
cộng có ý nghĩa quạn trọng đối cới sức khỏe của trẻ. Các thói quen vệ sinh
như: Vệ sinh thân thể,quần áo, vệ sinh đồ dùng, đồ chơi dụng cụ thể dục,…



13
Tùy từng độ tuổi của trẻ mà cần truyền đạt một số hiểu biết có liên quan
đến GDTC.Những kiến thức mà trẻ lĩnh hội được sẽ giúp trẻ có ý thức tự giác
trong tập luyện và việc sử dụng các phương tiện GDTC ở trường, ở nhà tốt
hơn.
1.5.3. Nhiệm vụ giáo dục
Trong quá trình GDTC, có nhiều khả năng kết hợp giải quyết những
nhiệm vụ giáo dục trí tuệ,đạo đức, thẩm mĩ và lao động.
- GDTC với giáo dục trí tuệ;
+ Khoa học về sinh lí và tâm lí đã chỉ rõ, một cơ thể khỏe mạnh là tiền
đề vật chất giúp con người phát triển trí óc của mình.
+ GDTC một cách khoa học ngoài tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự
hoạt động của hệ thần kinh, giúp cho quá tình tâm lí như cảm giác, tri giác, trí
nhớ, tư duy phát triển tốt, mà còn tiếp thu được những kiến thức về sự vật,
hiện tượng xung quanh như tư thế của động vật, những hiện tượng thiên nhiên
và xã hội.
+ Đối với trẻ mầm non, cần giáo dục ở trẻ những cảm xúc tích cực, đảm
bảo sự sảng khoái, trạng thái vui chơi, phát triển khả năng vượt qua những
trạng thái tâm lý tiêu cực.
- GDTC với giáo dục đạo đức;
+ Do kinh nghiệm đạo đức ở trẻ mầm non còn hạn chế và khả năng tự ý
thức còn yếu nên trẻ rất khó đánh giá hành vi của bản thân và các bạn cùng độ
tuổi.Điều đó, đòi hỏi trách nhiệm của nhà giáo dục đối với việc hình thành có
định hướng những cơ sở đạo đức ở trẻ nhỏ.
+ Trong các tiết học thể dục, TCVĐ và thể dục sáng, giáo viên nhận xét,
đánh giá hành vi đạo đức của trẻ. Điều này tạo cho trẻ những hiểu biết nhất
định về đạo đức, chính từ những hiểu biết đó giúp trẻ có một số thói quen,
phẩm chất đạo đức tốt: Tính kiên trì, dũng cảm, thật thà, biết giúp đỡ mọi
người, có tính tổ chức kỉ luật,…



14
- GDTC với giáo dục thẩm mĩ;
+ GDTC tạo điều kiện thuận lợi cho GDMN. Trong quá trình thực hiện
bài tập thể chất, các động tác được thực hiện một cách khéo léo, nhịp nhàng,
sẽ tác động đến nhận thức của trẻ về vẻ đẹp của thân thể con người khi vận
động, cái đẹp của động tác về các tư thế.
+ Ở độ tuổi này trẻ học theo lối bắt chước là chủ yếu. Vì vậy khi giảng
dạy cho trẻ những bài tập vận động đòi hỏi giáo viên cần phải làm mẫu. Khi
làm mẫu cần phải tập đúng, chính xác và đẹp những động tác để trẻ học theo.
- GDTC với giáo dục lao động;
+ Ở lứa tuổi mầm non, giáo dục lao động là giúp trẻ làm quen với những
kĩ năng lao động đơn giản như: Lao động tự phục vụ, trực nhật,…
+ Trong các giờ luyện tập thể dục hay qua các TCVĐ trẻ có thể tham gia
chuẩn bị và thu dọn dụng cụ thể dục, được đóng vai làm những công việc của
người lớn để trẻ hiểu tính chất của các nghề nghiệp và các thao tác lao động
của con người.
1.6.Đặc điểm phát triển sinh lý vận động ở trẻ mầm non
Dưới góc độ sinh lí học, vận động là sự chuyển động của cơ thể con
người, trong đó có sự tham gia của hệ cơ, hệ xương với sự điều khiển của hệ
thần kinh.Vận động là một trong những nguồn cơ bản để trẻ nhận thức thế
giới xung quanh. Trẻ càng nắm được nhiều động tác và hành vi phong phú,
tiếp xúc của trẻ với thế giới càng rộng hơn.
1.6.1. Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi
Trong nửa năm đầu của trẻ 5 tuổi có nhiều dấu hiệu gần giống như trẻ 6
tuổi, trẻ trở nên cứng cáp hơn, biết tự lực, rất hiếu động, các vận động của trẻ
dần đi đến hoàn thiện.
Vận động đi, chạy và phát triển các cảm giác thăng bằng: Vận động đi
của trẻ đã ổn định, biết phối hợp tay, chân nhịp nhàng. Bước chân chạy gần
giống người lớn.Từ lứa tuổi này đã thấy rõ sự khác biệt giữa trẻ trai và trẻ gái



15
trong thành tích chạy.Trẻ thích đi thăng bằng trên ghế, đi nhanh, giữ được
thăng bằng toàn thân, đầu còn cúi.
Vận động nhảy: Trẻ 5 tuổi đã biết phối hợp vận động khi nhảy, tay đã
góp phần vào việc thúc đẩy lực nhảy, khi tiếp mặt đất nhẹ nhàng hơn.
Vận động ném, chuyển, bắt: Trẻ đã xác định được hướng ném đúng, biết
dùng động tác “ngắm” để ném trúng đích. Khi ném xa trẻ đã biết phối hợp lực
đẩy của chân và tay, hướng ném thẳng.
Vận động bò, trườn, trèo: Trẻ đã định được hướng vận động chính xác,
phối hợp tay, chân, thân hình linh hoạt, tránh chướng ngại vật khéo léo. Tốc
độ trườn và trèo nhanh hơn.
1.6.2. Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi
Tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh, tỷ lệ cơ thể đã cân đối, tạo ra
tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng được hoàn thiện, phối hợp vận động
tốt hơn. Hệ thần kinh của trẻ phát triển tốt, trẻ có khả năng chú ý cao trong
quá trình học các bài tập vận động.
Vận động đi, chạy, thăng bằng: Ở trẻ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa
tay, chân và thân người, bàn chân rời khỏi mặt đất nhẹ nhàng, mềm mại khi
chân chạm đất.
Vận động nhảy: Được thực hiện với một niềm tin lớn, nhảy nhẹ nhàng,
biết chạm đất bằng 2 đầu bàn chân.
Vận động chạy, bò, ném: Trẻ được hoàn thiện rõ nhất, thể hiện sự chính
xác của động tác, phát triển khả năng ước lượng bằng mắt, có sự khéo léo khi
phối hợp vận động.
Dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ ở từng độ tuổi
mầm non, giáo viên sẽ lựa chọn những nội dung và phương pháp hướng dẫn
vận động phù hợp với trẻ, từ đó để có thể đạt được hiệu quả cao trong quá
trình luyện tập cho trẻ.



16
1.7.Chương trình môn học GDTC trong chương trình GDMN
Chương trình GDMN là căn cứ để triển khai và chỉ đạo công tác chăm
sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở GDMN, đồng thời là căn cứ để đào tạo bồi
dưỡng GVMN.
Chương trình GDMN chỉ là chương trình khung, nội dung chương trình
chỉ mang tính gợi ý. Người GVMN phải dựa vào chương trình đó để xây
dựng kế hoạch và nội dung kiến thức dạy trẻ. Muốn trẻ tiếp thu tốt nội dung
kiến thức chương trình, giáo viên phải biết soạn giáo án, lựa chọn phương
tiện, hình thức, phương pháp dạy học khoa học.
Nội dung GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non là căn cứ để xây dựng
chương trình chăm sóc trẻ trong các nhà trường, đồng thời là căn cứ để đào
tạo, bồi dưỡng , nâng cao trình độ GVMN.
1.7.1. Bài tập đội hình đội ngũ đối với trẻ 5-6 tuổi
- Khái niệm: Bài tập đội hình đội ngũ là một loại bài tập thể chất sử dụng
vận động đi với nhiều hình thức khác nhau như: Vòng tròn, hàng dọc, hàng
ngang,… chuyển đội hình từ 2, 3 hàng dọc hay hàng ngang; quay theo các
hướng khác nhau: Quay phải, quay trái, quay sau,… dãn hàng, dồn hàng,
chuyển động trong không gian khi đi, chạy.
Bài tập đội hình đội ngũ cho trẻ mầm non được sử dụng nhiều trong thể
dục sáng, tiết học thể dục, giáo dục âm nhạc và trong TCVĐ.
- Nội dung bài tập đội hình đội ngũ cho trẻ 5 - 6 tuổi: Trẻ ở lứa tuổi này
đã có thể xác định được vị trí trong không gian, tìm đượcchỗ đứng của mình
trong hàng, vì vậy nội dung bài tập đội hình đội ngũ gồm những bài tập sau:
Luyện cho trẻ đi, chạy theo hàng dọc và theo đường dích dắc;
Cho trẻ đi theo vòng tròn, đi theo đường dích dắc;
Xếp hàng dọc theo tổ, cách xếp hàng, dóng hàng thẳng;
Xếp hàng ngang theo tổ, cách xếp hàng, dóng hàng thẳng;

Chuyển một hàng dọc thành 2 hàng dọc;


17
Chuyển một hàng ngang thành 2 hàng ngang;
Chuyển một vòng tròn thành 2 vòng tròn;
1.7.2. Bài tập phát triển chung đối với trẻ 5-6 tuổi
- Khái niệm: Bài tập phát triển chung là một hệ thống động tác được
chọn lọc có tác dụng phát triển và củng cố những nhóm cơ bắp riêng biệt như
cơ bả vai, cơ tay, cơ lưng, cơ ngực,…Nhiệm vụ của những động tác này là
hình thành tư thế đúng, thân thể khỏe mạnh, đồng thời củng cố và phát triển
hệ cơ, xương, khớp, dây chằng.
- Nội dung bài tập phát triển chung đối với trẻ 5 - 6 tuổi: Căn cứ vào đặc
điểm cơ thể trẻ lứa tuổi này, người ta chia bài tập phát triển chung thành 3
nhóm:
Nhóm bài tập động tác tay:
+ Đưa 2 tay lên cao, ra phía trước, sang hai bên (kết hợp với vẫy bàn tay,
quay cổ tay, kiễng chân).
+ Co và duỗi từng tay, kết hợp kiễng chân. Hai tay đánh xoay tròn trước
ngực, đưa lên cao.
Nhóm bài tập động tác lưng, bụng, lườn:
+ Ngửa người ra sau kết hợp tay giơ lên cao, chân bước sang phải, sang
trái.
+ Quay sang trái, sang phải kết hợp tay chống hông hoặc 2 tay dang
ngang, chân bước sang phải, sang trái.
+ Nghiêng người sang 2 bên, kết hợp tay chống hông, chân bước sang
phải, sang trái.
Nhóm bài tập động tác chân:
+ Đưa ra trước, đưa sang ngang, đưa về phía sau
+ Nhảy lên đưa 2 chân sang ngang; nhảy lên đưa một chân về phía trước,

một chân về sau.


18
1.7.3. Bài tập vận động cơ bản của trẻ 5-6 tuổi
- Khái niệm: Bài tập VĐCB là một loại bài tập thể chất, bao gồm một hệ
thống các hành động vận động được chọn lọc từ các VĐCB, tác động lên các
nhóm cơ bắp lớn của cơ thể nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dưỡng và giáo
dục trong quá trình GDTC cho trẻ. Có thể nói, bài tập VĐCB được xây dựng
từ các VĐCB để rèn luyện và phát triển thể lực.
- Trẻ 5 - 6 tuổi đã dần có những thói quen đúng về tư thế, sự phối hợp
vận động giữa tay và chân đã ổn định, dễ dàng định hướng trong không gian,
thay đổi được hướng vận động dưới sự hướng dẫn của giáo viên, bước đi của
trẻ đã giống bước đi của người lớn, bàn chân đánh lăng được mạnh hơn, do đó
nội dung bài tập VĐCB cho trẻ 5-6 tuổi bao gồm:
+ Đi và chạy;
+ Bò, trườn, trèo;
+ Tung, ném, bắt;
+ Bật - nhảy;
1.8.Chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ mầm non
Chế độ sinh hoạt là sự phân bổ thời gian và các hoạt động trong ngày ở
cơ sở GDMN một cách hợp lý đáp ứng nhu cầu về tâm lý và sinh lý của trẻ,
qua đó giúp trẻ hình thành thái độ, nề nếp thói quen và những kĩ năng sống
tích cực.
Để có một chế độ sinh hoạt hợp lý cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Các hoạt động trong ngày của trẻ phải được sắp xếp theo trình tự nhất
định, rõ ràng, phù hợp với chức năng cơ thể, với môi trường sống.
- Mỗi hoạt động trong ngày cần đảm bảo thời gian cần thiết phù hợp với
nhu cầu sinh lí và khả năng hoạt động của các độ tuổi.
- Chế độ sinh hoạt đảm bảo cân bằng giữa hoạt động và nghỉ ngơi,

giúp trẻ có thể tiến hành hoạt động dưới nhiều dạng khác nhau và tránh quá
sức với trẻ.


×