Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

Đánh giá hiện trạng quản lý tài nguyên rừng và quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở huyện quế phong tỉnh nghệ an

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.01 MB, 80 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA SINH HỌC
========

NINH TIẾN ANH

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ TÀI
NGUYÊN RỪNG VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Ở HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Vinh - 2010

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA SINH HỌC
========

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ TÀI
NGUYÊN RỪNG VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở
HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : Ths. Đào Thị Minh Châu
Sinh Viên thực hiện : Ninh Tiến Anh
Sinh viên lớp


: 47B - KHMT

Vinh - 2010

2


Lời cảm ơn
Tr-ớc hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo

Th.s

Đào Thị Minh Châu, khoa Sinh học Tr-ờng Đại học Vinh đã tận
tình giúp đỡ, h-ớng dẫn, và tạo mọi điều kiện để em hoàn thành
khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Sinh
học đã tận tình giúp đỡ, h-ớng dẫn và tạo điều kiện cho em trong
quá trình học tập tại khoa.
Em cũng xin cảm ơn các cán bộ Môi tr-ờng Phòng Tài
nguyên và Môi tr-ờng, Phòng Nông Nghiệp, Uỷ Ban nhân dân
huyện Quế Phong, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Quế Phong,
Ban lãnh đạo các xã Tiền Phong, Đồng Văn, Hạnh Dịch và các
bản M-ờng hin, Pỏm Om, Đồng Mới, Câu lạc bộ Cây Thuốc nam
Xã Hạnh Dịch, Cùng Cụ Vi Trung Nguyên M-ờngHin - Tiền
Phong, Cụ Hà Văn Tuyên Thầy mo xã Hạnh Dịch.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và tập
thể lớp 47B- Khoa học Môi tr-ờng đã tận tình giúp đỡ, cổ vũ, động
viên em trong suốt quá trình học tập.
Vinh, ngày 12 tháng 05 năm 2010
Sinh viên

Ninh Tiến Anh

3


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề .................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................... 3
3. Nội dung nghiên cứu ................................................................... 3
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................... 4
2.1. Tài nguyên rừng Việt Nam ...................................................... 4
2.2.Quản lý rừng dựa vào cộng đồng.............................................. 5
2.2.1 Quản lý tài nguyên rừng theo phương pháp truyền thống ..... 5
2.2.2.Quản lý tài nguyên rừng dựa vào phương pháp trao quyền
quản lý cho cộng đồng ..................................................................... 7
2.2.3. Tình hình giao đất giao rừng ở Việt Nam .............................. 9
2.3. Lịch sử nghiên cứu về công tác quản lý tài nguyên rừng
dựa vào cộng đồng ........................................................................... 10
2.3.1. Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng trên thế giới .... 10
2.3.2. Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam ...... 12
CHƯƠNG 2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................. 17
2.1. Địa điểm và phạm vi nghiên cứu ............................................ 17
2.2. Phương pháp nghiên cứu ......................................................... 17
2.2.1. Thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp .............................................. 17
2.2.2. Thu thập số liệu sơ cấp ........................................................... 17
2.2.3.Phương pháp phân tích và thống kê số liệu ............................ 18
CHƯƠNG 3.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ....... 19
3.1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội của khu vực nghiên cứu ............ 19
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên – xã hội của huyện Quế Phong ............... 19

3.1.1.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................... 19
3.1.1.2. Các nguồn tài nguyên .......................................................... 20
3.1.1.3. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ................................. 22

4


3.1.2. Đặc điểm tự nhiên xã hội của ba xã nghiên cứu ................... 23
3.1.2.1. Đặc điểm tự nhiên xã hội của xã Tiền Phong ..................... 23
3.1.2.2. Đặc điểm tự nhiên xã hội của xã Hạnh Dịch ...................... 25
3.1.2.3 Đặc điểm tự nhiên xã hội của xã Đồng Văn ...................... 26
3.2. Thực trạng, tình hình khai thác, bảo vệ và phát triển rừng... 27
3.2.1. Thực trạng tài nguyên rừng ................................................... 27
3.2.2.. Tình hình khai thác ............................................................... 29
3.2.3. Công tác bảo vệ tài nguyên rừng ........................................... 30
3.2.4. Công tác phát triển rừng ........................................................ 32
3.3.Thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở khu vực nghiên cứu ... 34
3.3.1. Thực trạng quản lý tài nguyên rừng của chính quyền và
các cơ quan quản lý .......................................................................... 36
3.3.2. Ý thức và sự tham gia của người dân địa phương vào quản
lý và bảo vệ rừng .............................................................................. 36
3.3.3. Những khó khăn và tồn tại trong công tác quản lý và bảo
vệ tài nguyên rừng ............................................................................ 39
3.4. Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở khu vực
nghiên cứu........................................................................................ 41
3.4.1. Một số mô hình quản lý tài nguyên rừng truyền thống ......... 41
3.4.2. Sự mai một của hình thức quản lý tài nguyên rừng truyền
thống ................................................................................................. 45
3.4.3. Các mô hình quản lý rừng truyền thống có hiệu quả cần
phát huy ............................................................................................ 49

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................... 55
PHỤ LỤC......................................................................................... 57
I. Các số liệu liên quan ...................................................................... 57
Phụ lục 1: Phiếu phỏng vấn điều tra .................................................. 57
Phụ lục 2: Kết quả phỏng vấn tại bản Mường hin – Tiền Phong ........ 59

5


Phụ lục 3: Kết quả phỏng vấn tại bản Pỏm Om –Hạnh Dịch ............. 60
Phụ lục 4: Kết quả phỏng vấn tại Đồng Mới – Đồng Văn .................. 61
Phụ lục 5: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp ................................... 62
Phụ lục 6: Kết quả đầu tư xây dựng vốn rừng của huyện Quế
Phong trong 10 năm .......................................................................... 63
Phụ lục 7: Tổng hợp xử lý vi phạm lâm luật ...................................... 63
Phụ lục 8: Diện tích và cơ cấu diện tích đất lâm nghiệp năm 2010 .... 64
Phụ lục 9: Tổng hợp diện tích đất lâm nghiệp phân theo đối tượng
sử dụng.............................................................................................. 66
II. Một số hình ảnh thực địa ........................................................... 68
Hình pl1: Toàn cảnh khu vực rừng cây thuốc nam Pỏm Om –
Hạnh Dịch ......................................................................................... 68
Hình pl2: Hòn đá khắc “ Rừng cây thuốc nam cộng đồng” ở cửa
rừng .................................................................................................. 68
Hình pl3: Quy chế quản lý rừng cây thuốc nam bằng tiếng thái
phiên âm tiếng Việt ............................................................................ 69
Hình pl4: Tại Hạnh Dịch bản làng ở sát cạnh rừng .......................... 69
Hình pl5: Tuy nhiên những cây gỗ lớn không còn nhiều .................... 70
Hình pl6: Pú cổn của Mường Hin khác hẳn với rừng ở Hạnh Dịch ... 70
Hình pl7: Nghĩa địa – rừng thiêng của người Thái ........................... 71

Hình pl8: Người dân miền núi vẫn yêu thích thịt thú rừng ................. 71

6


DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

TT
1
2
3
4
5
10
6
7
8
9
10

Tên viết tắt
ASEAN
CP
FAO
HĐBT
HTX
LSNG

NĐ-CP
PCCCR

UBND
WB

Ý nghĩa
Hội liên hiệp các nước Đông Nam Á
Chính Phủ
Tổ chức lương thực tế giới
Hội đồng bộ trưởng
Hợp tác xã
Lâm sản phi gỗ
Nghị Định
Nghị định của chính phủ
Phòng cháy chứa cháy rừng
Ủy ban nhân dân
Ngân hàng thế giới

DANH LỤC BẢNG
Bảng

Chú thích

Trang

Bảng 3.2.2.1

Một số lâm sản ngoài gỗ khai thác qua các năm

29

Bảng 3.2.2.2


So sánh tình hình khai thác rừng giữa ba địa địa điểm

30

nghiên cứu
Bảng 3.2.2.3. Tình hình phát triển rừng giai đoạn 2001-2009

34

Bảng 3.3.1.1

Tình hình giao đất giao rừng tại 3 xã nghiên cứu

35

Bảng 3.3.2.1

Mức độ tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý

37

Bảng 3.3.3.1

Số lần thấy xe chở gỗ đi tiêu thụ

39

7



DANH LỤC HÌNH
Chủ thích

Tên hình

Trang

Hình 3.1.1

Bản đồ hành chính Huyện Quế Phong

19

Hình 3.2.1

Biểu đồ so sánh diện tích rừng của 3 xã

28

Hình 3.2.2.1

Biểu đồ diễn biến các vụ vi phạm pháp luật

31

Hình 3.3.2.2

Thịt rừng, không chỉ riêng người miền núi yêu


36

thích
Hình 3.2.2.2.

Sơ đồ mức độ tham gia của cộng đồng

37

Hình 3.4.1.1

Nghĩa địa ở sát cạnh ruộng lúa vẫn có những

43

cây lớn xanh tốt

Hình 3.4.2.1.1

Một góc khu vực Pú Cổn – Mường hin hiện tại

45

Hình 3.4.2.2.

Chỉ cách một con sông là đến rừng, nhưng
rừng Hạnh Dịch vẫn xanh tốt.

46


Hình 3.4.2.3

Nghĩa địa của bản Mứt – Hạnh Dịch

47

Hình 3.4.3.3.1

Rừng cây thuốc nam bản Pỏm Om

50

Hình 3.4.3.3.2

Nội quy bảo vệ rừng cây thuốc nam viết bằng
tiếng Việt phiên âm tiếng Thái

50

8


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Rừng được xem như là một tài nguyên qúy giá của mỗi quốc gia, như
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“ Rừng là vàng, nếu mình biết giữ lấy thì rừng rất qúy”
Rừng là hợp phần quan trọng nhất cấu thành nên sinh quyển. Ngoài ý
nghĩa về tài nguyên động thực vật, rừng còn là một yếu tố địa lý không thể
thiếu được trong tự nhiên; nó có vai trò cực kỳ quan trọng và có tác động

mạnh mẽ đến yếu tố khí hậu, đất đai, chính vì vậy mà rừng không chỉ có chức
năng trong phát triển kinh tế, xã hội mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong bảo vệ môi trường.
Trong thời gian qua, độ che phủ của rừng Việt Nam đã giảm sút đến mức
báo động, chất lượng của rừng đã bị suy giảm nghiêm trọng. Trước đây, toàn
bộ đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉ trong mấy thập kỷ qua,
diện tích rừng đã giảm nhanh chóng. Nếu năm 1943, rừng chiếm 43% tổng
diện tích cả nước thì đến năm 1990, con số này chỉ còn 28,4%. Rừng bị xâm
hại nặng, rừng nguyên thủy chỉ còn khoảng 10%. Miền Bắc Việt Nam là nơi
độ che phủ của rừng suy giảm nhiều nhất, diện tích rừng nguyên thủy giảm từ
95% xuống còn 17% chỉ trong vòng 48 năm.
Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật,
chính sách, liên quan đến việc bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ tài
nguyên rừng nói riêng như Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định 175/CP về
Hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường,v.v... Hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh các hoạt động liên quan đến khai thác và
quản lý tài nguyên thiên nhiên như Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển
Rừng, Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, Luật Đa dạng sinh học v.v...
Đã góp phần quan trọng bảo vệ tài môi trường nói chung và tài nguyên thiên
nhiên và đặc biệt là tài nguyên rừng, tuy nhiên một phần nào đó nhưng công

9


cụ này cũng biểu hiện những hạn chế nhất định, bảo vệ tài nguyên dựa vào
cộng đồng là một hướng đi đúng đắn và đã mang lại hiệu quả thiết thực góp
phần chung vào công cuộc bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Quế Phong là một huyện miền núi tây bắc Nghệ An, với hơn 90% là
đồng báo các dân tộc thiểu số cùng chung sống, cuộc sống của đồng bào nơi
đây gần như gắn liền với rừng. Trong thời gian gần đây công cuộc bảo vệ

rừng đã đạt được những thành tựu khá quan trọng, bên cạnh những thành tựu
đó, cũng còn một số mặt hạn chế, như nạn khai thác gỗ trái phép, buôn bán
động vật hoang dã …vẫn còn diễn ra.
Trong 10 năm trở lại đây, trong định hướng phát triển lâm nghiệp, chính
phủ đã có nhiều chính sách, chủ trương về phân cấp, phân quyền trong quản
lý tài nguyên rừng, giao đất giao rừng, chế độ hưởng lợi từ rừng cho người
quản lý rừng; chủ trương về xã hội hóa nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã
hội, lâm nghiệp cộng đồng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong phát triển
lâm nghiệp dựa vào người dân, dựa vào cộng đồng. Thực tế cho thấy để quản
lý có hiệu quả, công bằng và bền vững các nguồn tài nguyên rừng, cần có sự
tham gia tích cực và chia sẻ lợi ích cho người dân và cộng đồng gần rừng,
những người có đời sống phụ thuộc vào rừng; và để cho tiến trình này diễn ra
có cơ sở khoa học và thực tiễn, cần có những tổng kết, đánh giá, nghiên cứu
để xây dựng thành các phương pháp tiếp cận thích hợp cũng như phản hồi để
phát triển các thể chế, tổ chức, cơ chế và chính sách thích hợp.
Để góp phần vào việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, quản lý tài nguyên
rừng dựa vào cộng đồng chúng tôi thực hiện đề tài:
“ Đánh giá công tác quản lý tài nguyên rừng và quản lý tài
nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An”

10


2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng quản lí tài nguyên rừng và một số mô
hình quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở huyện Quế Phong
nhằm khôi phục và phát huy các hình thức quản lí rừng hiệu quả,
góp phần nâng cao chất lượng quản lý rừng và bảo về rừng ở huyện
Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
3. Nội dung nghiên cứu

- Hiện Trạng phát triển tài nguyên rừng ở Quế Phong trong
những năm gần đây
- Các nguyên nhân dẫn đến suy giảm và chất lượng rừng.
- Các giải pháp quản lí rừng đã và đang áp dụng tại Quế
Phong.
- Các hình thức Quản lí tài nguyên rừng dựa vào cộng đ ồng.

11


CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác trên thế giới, Việt Nam đang
đối đầu với những vấn đề bức xúc do tài nguyên thiên nhiên suy thoái và sự
xuống cấp của chất lượng môi trường. Sự chuyển đổi từ một nền kinh tế sản
xuất tập trung sang một nền kinh tế hướng theo thị trường đã đẩy nhanh sự
tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế tăng trưởng tương đối nhanh, nhưng đồng
thời nước ta cũng đang phải đương đầu với một số vấn đề môi trường nghiêm
trọng.
2.1. Tài nguyên rừng Việt Nam
Nước ta từng có diện tích rừng là 14 triệu ha (43% độ che phủ cả nước)
vào năm 1943, đến năm 1975, chỉ còn 11 triệu ha (34%) và đến 1985 còn 9,3
triệu ha, và đến 1995 còn 8 triệu ha (28%). Diện tích rừng bình quân: 0,13ha/
người so với Đông Nam Á là 0,42ha/người. Trong những năm chiến tranh
chống Mỹ (45-75), hàng năm diện tích rừng giảm đi 100.000 ha; giai đoạn sau
giải phóng (75-90), hàng năm mất 140.000 ha. Mặc dù diện tích rừng có tăng
lên trong hơn 10 năm gần đây, tuy nhiên chất lượng ngày càng xuống cấp.
Năm 1945, trữ lượng gỗ khoảng 300m3/ha, nhưng đến năm 1993 chỉ còn
76m3/ha, rừng giàu được thay thế dần bằng rừng trung bình và rừng nghèo. Ở
Việt Nam, khi dân tăng lên 1% thì rừng mất đi 2,5% diện tích.
Ước tính có 603 triệu m3 gỗ kể cả 593 triệu m3 trong rừng tự nhiên

(trong đó có 370 triệu m3 có chất lượng tôt, 217 triệu m3 gỗ xấu và 6 triệu m3
gỗ rừng trồng lại). Ngoài ra còn khoảng 5 triệu m3 tre nứa. Tỷ lệ tăng trưởng
chậm, khoảng 10 triệu m3/năm, trong khi khai thác để lấy gỗ, củi khoảng 35
đến 45 triệu m3/năm.

12


2.2. Quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Quản lý tài nguyên rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng là một phương
thức quản lý rừng dựa vào kiến thức kinh nghiệm truyền thống và nguyện
vọng của cộng đồng, hướng đến việc nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp
tác chia sẻ kinh nghiệm cho cộng đồng và bên liên quan nhằm quản lý các
nguồn tài nguyên bền vững và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần,
văn hoá của các cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng.
Theo số liệu của Cục Kiểm lâm, tính đến tháng 6/2001, cộng đồng
tham gia quản lý khoảng 2.348.295 ha rừng và đất chưa có rừng quy hoạch để
trồng rừng. Tính đến tháng 6 năm 2001, các cộng đồng dân cư thuộc 1.203 xã,
146 huyện của 24 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đang tham gia quản
lý 2.348.295 ha rừng và đất chưa có rừng quy hoạch để trồng rừng (gọi tắt là
đất rừng), chiếm khoảng 15,5% diện tích đất lâm nghiệp (đất có rừng và đất
chưa có rừng) trên toàn quốc.
2.2.1. Quản lý tài nguyên rừng theo phương pháp truyền thống
Đây là các loại rừng quản lý theo truyền thống của các đồng bào dân
tộc thiểu số. Tại các khu rừng này, về mặt pháp lý, các quyền sở hữu, quyền
sử dụng rừng chưa được xác lập, nhưng trên thực tế nó đang được điều tiết
một cách không chính thức bởi các luật tục truyền thống. Trong xã hội cổ
truyền của một số đồng bào dân tộc, thôn là đơn vị độc lập cao nhất, mỗi
thôn đều có ranh giới lãnh điạ nhất định bao gồm cả đất, rừng, nguồn nước,
suối...Trong phạm vi của thôn, bản, các nguồn tài nguyên trên thuộc quyền sử

dụng công cộng và được điều hành bởi một bộ máy tự quản do già làng hoặc
trưởng thôn đứng đầu. Các thành viên của làng được quyền tự do lựa chọn
một mảnh rừng để canh tác nương rẫy. Khi phạm vi rừng bị thu hẹp, dân số
tăng lên thì diện tích nương rẫy dần dần thuộc quyền sử dụng của dòng họ.

13


Toàn bộ các hoạt động quản lý tài nguyên của cộng đồng được thực
hiện thông qua các luật tục hay hương ước thôn. Hiệu lực của các luật tục
được thực hiện thông qua sự hợp lực gắn bó với nhau giữa xã hội và tâm linh.
Tính đến tháng 6 năm 2001, tổng diện tích rừng và đất sử dụng vào
mục đích lâm nghiệp do cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống
là 214.006 ha, bao gồm: 86.701 ha đất có rừng; 127.304 ha đất trống đồi núi
trọc. Đó là những khu rừng thiêng, rừng ma, rừng đình, rừng thổ công, rừng
mó nước (giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng), rừng phòng hộ
xóm làng (chống sạt lở, đá lăn…), những khu rừng cung cấp lâm sản truyền
thống cho cộng đồng (săn bắn, thu hái măng, cây thuốc...), bãi chăn thả. Ranh
giới rừng từng thôn đều được phân định rất rõ ràng trong nhận thức của người
dân. Một số nơi, rừng trồng của HTX, rừng tự nhiên đã giao cho HTX trước
đây sau khi chuyển đổi HTX đã giao lại cho các xã hoặc thôn quản lý. Hình
thức này phổ biến ở cộng đồng người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng
xa, nơi tính cộng đồng, hương ước thôn còn được duy trì.
Xét về khía cạnh pháp lý: Tại Điều 9, Nghị định 17/HĐBT ngày 17
tháng 01 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về thi hành
Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991) đã ghi rõ: "Làng, bản hiện còn rừng
làng, rừng bản trước ngày ban hành Luật Bảo vệ và phát riển rừng, mà không
trái với những quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Luật đất đai
thì được xét công nhận là chủ rừng hợp pháp đối với diện tích rừng, đất trồng
rừng đang quản lý sử dụng". Như vậy, theo văn bản trên, Nhà nước thừa nhận

thôn là chủ rừng đối với diện tích rừng làng, rừng bản đã nói ở trên. Nhưng
trên thực tế, phần lớn diện tích đất dành vào mục đích lâm nghiệp do cộng
đồng tự quản lý, chính quyền địa phương chưa làm thủ tục giao quyền sử
dụng lâu dài cho các cộng đồng. Tuy nhiên ở nhiều nơi, mọi sự tác động của
Nhà nước và các tổ chức Nhà nước khác vào loại rừng này đều phải có sự
thoả thuận và đồng ý của cộng đồng. Những khu rừng này có vai trò quan
trọng trong sản xuất, đời sống hoặc có ý nghĩa tâm linh, tôn giáo đối với cộng

14


đồng và gần như cộng đồng có toàn quyền quyết định trong việc bảo vệ và sử
dụng rừng cũng như hưởng lợi từ rừng. Luật bảo vệ và phát triển rừng năm
2004 đã tạo khuôn khổ pháp lý cho việc Nhà nước sẽ hợp pháp hoá diện tích
rừng này, theo đó, Điều 29 quy định rõ cộng đồng dân cư thôn được giao
những khu rừng hiện cộng đồng đang quản lý, sử dụng có hiệu quả; khu rừng
giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, phục vụ lợi ích chung khác
của cộng đồng...vv..
2.2.2. Quản lý tài nguyên rừng dựa vào phương pháp trao quyền quản lý
cho cộng đồng
Tổng diện tích rừng do cộng đồng dân cư thôn đang quản lý



1.197.961 ha, bao gồm: đất có rừng 669.750 ha, đất trống đồi núi trọc 528.211
ha. Thời gian qua (trước năm 2004 ), mặc dù pháp luật chưa quy định cộng
đồng là đối tượng giao quyền sử dụng đất, nhưng đã có 18 tỉnh làm thí điểm
giao đất, giao rừng cho cộng đồng trên cơ sở vận dụng các quy định tại Nghị
định số 02/CP trước đây và sau đó được thay thế bằng Nghị định số
163/1999/NĐ-CP của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia

đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Về trạng thái rừng trên đất giao cho cộng đồng: phần lớn cộng đồng
được giao quản lý, bảo vệ nuôi dưỡng những khu rừng phục hồi sau nương
rẫy hoặc sau khai thác kiệt. Một số cộng đồng được giao đất trống đồi trọc để
trồng rừng hoặc khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, hiếm có trường hợp cộng đồng
được giao những diện tích rừng giàu để quản lý, bảo vệ và sử dụng ổn định
lâu dài.
Đối với diện tích đất và rừng giao cho cộng đồng: các thành viên của
cộng đồng cùng đầu tư, quản lý và hưởng lợi, hoàn toàn dựa trên nguyên tắc
tự nguyện và cùng có lợi giữa các thành viên của cộng đồng. Cộng đồng
thành lập tổ, nhóm để tổ chức mọi hoạt động từ bảo vệ, cung cấp đầu vào, tổ
chức sản xuất, bao tiêu sản phẩm và phân phối lợi ích cho các thành viên

15


trong cộng đồng. Ở một số nơi, đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được
chính quyền địa phương giao cho cộng đồng đều thuộc các khu vực có triển
khai các dự án thuộc chương trình 327 trước đây và chương trình 661 hiện
nay hoặc ở những nơi có dự án từ nguồn tài trợ quốc tế, như chương trình
phát triển lâm nghiệp Việt Nam -Thụy Điển ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các
dự án do DANIDA, WB tài trợ ở khu vực các tỉnh có triển khai dự án...
Nhìn chung, hình thức quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng hiện
nay đang chứng tỏ có hiệu quả, công tác bảo vệ rừng được tốt hơn. Có nơi
người dân đã được hỗ trợ vốn từ các dự án nên đã giúp cho việc tăng thu nhập
và cải thiện đời sống của họ. Ở những nơi này, nhiều dự án đã áp dụng các
phương pháp mới trong cả quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, quản lý
vốn... có sự tham gia của người dân, gắn với việc xây dựng quy ước quản lý,
bảo vệ rừng của cộng đồng một cách dân chủ, công khai, do vậy, họ rất phấn
khởi và tích cực bảo vệ rừng. Đây là loại hình quản lý rừng cộng đồng hiện

được nhiều tỉnh quan tâm và đang có xu hướng được nhân rộng.
Tuy nhiên cho đến nay, mặc dù cộng đồng đã có quyết định giao đất,
giao rừng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do vậy
ngoài nguồn đầu tư và hỗ trợ từ các chương trình, dự án thì các quyền cơ bản
của chủ rừng theo quy định của pháp luật, cộng đồng vẫn không được hưởng
như việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng, đầu tư hỗ trợ của Nhà nước cũng
như xử lý các hành vi xâm hại đến rừng cộng đồng là hết sức khó khăn. Mặt
khác, nảy sinh một số vấn đề cần quan tâm giải quyết như sau khi kết thúc các
dự án, nguồn đầu tư không còn, nếu không có những chính sách hỗ trợ ngay
từ đầu dễ dẫn đến tình trạng cộng đồng lại bỏ mặc không bảo vệ rừng; cần
hướng dẫn cộng đồng các biện pháp tổ chức sản xuất, các hình thức góp vốn
đầu tư và các nguồn lực khác của các thành viên; phân chia quyền hưởng lợi
từ rừng giữa các thành viên trong cộng đồng. Luật bảo vệ và phát triển rừng
năm 2004 đã tạo khuôn khổ pháp lý bảo đảm các quyền của cộng đồng, theo
đó, Điều 30 quy định cộng đồng được giao rừng được hướng dẫn về kỹ thuật,

16


hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước, được hưởng lợi do các công
trình bảo vệ, cải tạo rừng mang lại..vv..
2.2.3. Tình hình giao đất giao rừng ở Việt Nam
Tổng diện tích đất lâm nghiệp được cộng đồng nhận khoán bảo vệ,
khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng mới là 936.327 ha, bao gồm đất rừng
phòng hộ 494.242 ha; đất rừng đặc dụng 39.289 ha; đất rừng sản xuất 402.795
ha.
Đây là hình thức cộng đồng nhận khoán theo quy định tại Nghị định
01/CP (1995) của Chính phủ, các tổ chức giao khoán cho cộng đồng chủ yếu
là lâm trường quốc doanh; ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; ban
quản lý các dự án 327, 661 và các dự án khác. Sau khi ký hợp đồng khoán,

các cộng đồng tự tổ chức lực lượng thực hiện các công việc đã ký kết trong
hợp đồng. Quyền hưởng lợi của cộng đồng tuỳ thuộc vào tình trạng rừng lúc
nhận khoán, thời gian và công sức đã đầu tư vào rừng, thông qua hình thức
nhận tiền và được hưởng một phần sản phẩm khi rừng được phép khai thác
chính, ngoài ra còn được thu hái LSNG, sản phẩm nông lâm kết hợp trên đất
rừng nhận khoán.
Nhìn chung, loại hình nhận khoán rừng này, về thực chất, cộng đồng
chỉ là người làm thuê cho chủ rừng, ngoài những công việc thực hiện theo
thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng nhận khoán, cộng đồng không có
quyền lợi và nghĩa vụ gì khác. Mặc dù cộng đồng được nhận một khoản tiền
khoán hàng năm, nhưng với mức quá thấp (50.000đ/ha/năm) chưa đủ cải thiện
đời sống người dân, do vậy chưa tạo được sức hấp dẫn, nên ở một số nơi rừng
đã được khoán cho cộng đồng nhưng việc tổ chức bảo vệ cũng chỉ là hình
thức và nguy cơ rừng bị tàn phá vẫn có thể xảy ra.
Vùng Tây Bắc với diện tích rừng và đất rừng cộng đồng tham gia quản
lý là 1.057.585 ha, chiếm 45,04% so với tổng diện tích rừng cộng đồng tham
gia quản lý trong cả nước. Trong đó, diện tích rừng và đất rừng được chính

17


quyền địa phương giao cho cộng đồng là 732.676,6 ha, chiếm 69,27% tổng
diện tích rừng và đất rừng của vùng do cộng đồng quản lý.
Vùng Đông Bắc với diện tích rừng và đất rừng cộng đồng tham gia
quản lý là 472.376 ha, chiếm 20,12% so với tổng diện tích rừng cộng đồng
trong cả nước. Trong đó, diện tích rừng và đất rừng được chính quyền địa
phương giao cho cộng đồng là 299.987 ha. (chiếm 63,50 % tổng diện tích
rừng và đất rừng của vùng do cộng đồng quản lý )
Vùng Tây Nguyên với diện tích rừng và đất rừng cộng đồng tham gia
quản lý là 495.797 ha chiếm 21,11% so với tổng diện tích rừng cộng đồng

tham gia quản lý trong cả nước. Trong đó, diện tích rừng và đất rừng được
chính quyền địa phương giao cho cộng đồng là 131.634,9 ha, chiếm 26,54 %
tổng diện tích đất rừng và đất rừng của vùng do cộng đồng quản lý.
Vùng Bắc Trung Bộ với diện tích rừng và đất rừng cộng đồng là
188.144,4 ha, chiếm 8,01% so với tổng diện tích rừng cộng đồng tham gia
quản lý trong cả nước. Trong đó, diện tích rừng và đất rừng được chính quyền
địa phương giao cho cộng đồng là 39.663,6 ha, chiếm 21,08 % tổng diện tích
rừng và đất rừng của vùng do cộng đồng quản lý.
Các vùng còn lại, diện tích rừng và đất rừng giao cho cộng đồng chỉ chiếm
một tỷ lệ nhỏ.
2.3. Lịch sử nghiên cứu về công tác quản lí tài nguyên rừng dựa vào cộng
đồng
2.3.1. Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng trên thế giới
Hầu hết các quốc gia ASEAN đang có các chính sách để phân cấp,
phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng. Họ đã thử nghiệm khá thành công
cách tiếp cận có sự tham gia của ng−ời dân, chú ý đến tiến trình phát huy kiến
thức bản địa, nâng cao năng lực của các cộng đồng thiểu số để xây dựng các
mô hình quản lý rừng cộng đồng.

18


Một số nước như Nepal, Bangladesh, Philippines, Thái Lan đã phát
triển khá thành công các cách tiếp cận có sự tham gia và hình thành các định
chế, phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, nhóm sử dụng rừng
(Forest User Group – FUG). RECOFTC - Trung tâm đào tạo lâm nghiệp cộng
đồng trong khu vực Châu Á Thái bình dương đã hơn 20 năm phát triển các
phương pháp luận tiếp cận có sự tham gia để quản lý rừng cộng đồng.
Tháng 9/2001 tại Chiang Mai – Thái Lan đã tổ chức một hội thảo quốc
tế về Lâm nghiệp cộng đồng, trong đó đã phản ánh nhu cầu phát triển phương

thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Những vấn đề cần quan tâm để phát triển lâm nghiệp cộng đồng trong khu
vực như:
- Phân cấp và chuyển giao quyền sở hữu và sử dụng tài nguyên rừng
cho cộng đồng.
- Xây dựng các mô hình hợp tác giữa các cộng đồng và các bên liên
quan để phát triển lâm nghiệp cộng đồng.
- Phát triển một hệ thống chính sách đồng bộ hỗ trợ cho phát triển lâm
nghiệp cộng đồng.
- Phát triển các cách tiếp cận cả về kỹ thuật và xã hội để xây dựng các
kế hoạch quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng.
Thực tế trên thế giới cho thấy đã có rất nhiều nghiên cứu về các khía
cạnh cải tiến chính sách, thể chế, tiếp cận, phát triển công nghệ trên cơ sở
kiến thức bản địa, ...để phát triển quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Đây là
những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng một cách thích hợp vào
điều kiện Việt Nam. Sau đây là điểm qua các khía cạnh liên quan từ quan
điểm, khái niệm, thể chế chính sách đến giải pháp lập kế hoạch quản lý rừng
ở cấp cộng đồng đã được phản ảnh, nghiên cứu, tổng kết ở nhiều nước trên
thế giới.

19


+ Quan điểm, khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng dự
vào cộng đồng:
Về phạm vi thuật ngữ cộng đồng, theo FAO (1996) một cộng đồng
được định nghĩa như là “những ngừời sống tại một chỗ, trong một tổng thể”
hoặc là “một nhóm ngừời sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ
chung”. Ý tứ về tính chất tổng thể hoặc cùng nhau gắn bó là gốc ngữ nghĩa
trong thuật ngữ cộng đồng, nó giúp trả lời câu hỏi ai là người nằm trong một

hệ quản lý tập thể đặc biệt. Trong khi từ “cộng đồng” ẩn dụ một nhóm người
“tổng thể” sống tại một vị trí hoặc cùng với nhau theo cách nào đó, thì từ
“thôn xã” có nghĩa là giữa những nhóm người khác nhau. Sự phân biệt giữa
cộng đồng và thôn xã khá quan trọng trong khi nghiên cứu những ai có quyền
hưởng lợi một vài tài nguyên công cộng và lợi ích được phân bổ như thế nào.
Tiếp theo đó là thuật ngữ “Lâm nghiệp cộng đồng” (Community
Forestry) đây là một thuật ngữ sẽ không bao giờ kết thúc việc tìm kiếm định
nghĩa, theo FAO (1978) “Lâm nghiệp cộng đồng là bao gồm bất kỳ tình
huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp”, tuy
vậy nó thường được sử dụng với nghĩa hẹp hơn như là các hoạt động lâm
nghiệp được tiến hành bởi cộng đồng hoặc nhóm người dân địa phương (J.E.
Michael Arnold (1999)). Ở Nepal dùng thuật ngữ “Nhóm sử dụng rừng”
(Forest User Group) để chỉ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức bởi
các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng.
2.3.2.Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
Thực tế cho thấy chính phủ Việt Nam đang có chủ trương phát triển
phương pháp quản lí rừng cộng đồng thông qua các chính sách giao đất giao
rừng, xây dựng các hương ước, quy ước bảo vệ rừng thôn bản. Từ năm 1999
với sự tài trợ của các dự án phi chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn đã thành lập nhóm lâm nghiệp cộng đồng quốc gia để đánh giá và đề xuấ
các mô hình quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam. Đồng thời trong vòng 10

20


năm trở lại đây, cách tiếp cận có sự tham gia đã được áp dụng trong phát triển
nông thôn, đây là cách làm tiến bộ để xây dựng phương pháp quản lý rừng có
hiệu quả dựa vào người dân.
Quản lý rừng cộng đồng đã được thực hiện từ trước đây trong các hệ
thống quản lý rừng truyền thống cảu các cộng đồng dân tộc miền núi ở nước

ta. Ngày nay phương thức này vẫn đang được tiến hành ở nhiều địa phương.
Yếu tố quyết định sự thành công của hệ thống quản lý rừng này là sự nhất trí
của toàn thể người dân khi thực thi các điều khoản trong hương ước bảo vệ
rừng của cộng đồng và sự phân chia quyền lợi các sản phầm từ rừng trên cơ
sở bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng. Phương thức quản lý rừng
có sự tham gia của cộng đồng người dân sống gần rừng đã chứng tỏ tính hiệu
quả về mặt kinh tế xã hội và bền vững về mặt sinh thái môi trường, phù hợp
với chính sách giao đất giao rừng của nước ta hiện nay. (Nguyễn Ngọc Bình
(2000).
Để khôi phục và phát triển phương thức quản lý rừng dựa vào cộng
đồng, ở Việt Nam đã bắt đầu các nghiên cứu cũng như thực hiện các dự án hỗ
trợ cho phát triển lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng trong các vùng
khác nhau. Các khía cạnh liên quan đến hệ thống như sau:
- Khái niệm và quan điểm về lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng dựa
vào cộng đồng, các nghiên cứu về truyền thống và thực trạng quản
lý rừng cộng đồng.
-

Nghiên cứu về chính sách giao đất giao rừng có sự tham gia; về thể
chế, tổ chức, trách nhiệm và chế độ hưởng lợi để phát triển phương
thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng.

+Khái niệm và quan điểm về lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng dựa vào
cộng đồng và thực trạng:
Về quan điểm và nhận thức khái niệm cộng đồng, lâm nghiệp cộng
đồng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng hiện nay vẫn đang còn nhiều tranh cãi.

21



Nhưng nhìn chung nhiều nhà khoa học, quản lý, các tổ chức chính phủ và phi
chính phủ đều thừa nhận quản lý rừng với sự tham gia của các cộng đồng địa
phương sống gần rừng là một tiềm năng để giới thiệu những hệ thống quản lý
rừng khả thi về kinh tế - xã hội và bền vững về sinh thái, đồng thời tiết kiệm
chi phí cho nhà nước. Thực tế cho thấy ở các hội thảo quốc gia, vùng vẫn còn
có sự hiểu lẫn lộn giữa quản lý rừng cộng đồng và lâm nghiệp của các tổ chức
kinh tế tập thể. Điều này dẫn đến sai lầm ở một số địa phương là không áp
dụng quản lý rừng cộng đồng nữa, vì chính họ cho rằng nó đã có sẵn ở Việt
Nam do chưa nhận rõ quản lý rừng cộng đồng kà một hình thức quản lý cần
phải tồn tại cùng với lâm nghiệp nhà nước, lâm nghiệp tập thể và lâm nghiệp
tư nhân.
Nguyễn Hồng Quân (2000) [10] cũng có quan điểm về vấn đề này đã
phân loại cộng đồng ra hai loại: cộng đồng dân tộc và cộng đồng làng bản.
Các tổ chức cộng đồng theo truyền thống của dân tộc Việt Nam rất phong phú
và đa dạng: i) Cộng đồng dân tộc: Hiện nay nước ta có 54 dân tộc, mỗi dân
tộc có những đặc điểm riêng về văn hóa, tổ chức xã hội, tiếng nói, tập quán
truyền thống và hệ thống sản xuất; Cộng đồng làng bản: Hiện cả nước có
khoảng 50.000 làng bản tập hợp lại trong khoảng 9000 xã. Từ xa xưa, mỗi
làng bản được coi là một tổ chức cộng đồng chặt chẽ với những đặc điểm
riêng, như làng xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng lâu đời được hình
thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước, trong khi đó thôn bản
làng là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở quan hệ sắc tộc và
nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc, ít đầu tư và sử dụng các sản phẩm tự nhiên,
có ảnh hưởng sâu sắc đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Ngoài hai loại
hình chủ yếu này còn có các loại hình cộng đồng khác như: cộng đồng tôn
giáo, cộng đồng họ tộc, cộng đồng giới tính, và một số tổ chức đoàn thể có
cùng mối quan tâm hay cùng tầng lớp xã hội như: Hội nông dân, đoàn thanh
niên, hội phụ nữ,… Như vậy với việc thống kê và nêu đặc điểm tác giả đã cho

22



thấy khái niệm cộng đồng sử dụng trong phương thức quản lý rừng cộng đồng
ở nước ta là cộng đồng làng, bản.
Cũng nhằm xác định quy mô, đối tượng của lâm nghiệp cộng đồng ở
các tỉnh phía bắc, Vũ Long ((2003) đã đề xuất xuất phát từ thôn bản vì rừng
thôn bản đã đựoc đề cập trong nghị định số 17/HĐBT về thi hành Luật bảo vệ
và phát triển rừng (1991). Nhưng các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành
giao đất lâm nghiệp ( Nghị đinh 02/CP, nghị định 163) đã không đề cập đến
vấn đề này. Tuy vậy trong thực tiễn, ở rất nhiều tỉnh phía bắc, rừng làng, rừng
bản vẫn tồn tại và có xu hướng phát triển. Theo tác giả các lạo rừng thôn bản
phổ biến là rừng thiêng, rừng bảo vệ nguồn nước, rừng phòng hộ xóm làng,
rừng lâm sản gia dụng.
Nhận định của hai tác giả trên là phù hợp với thực tiễn quản lý rừng ở
vùng cao và gần đây được khẳng định trong điều 9 của luật đất đai 2003 [5],
trong luật đất đai cộng đồng dân cư, làng, bản,… được xem là một trong
những người sử dụng đất và được giao quyền sử dụng đất.
Một loạt các nghiên cứu điểm về thực trạng quản lý rừng cộng
đồng cũng đã được tiến hành trên các vùng sinh thái nhân văn và ở ác tỉnh
miền núi phía bắc vav Tây Nguyên (An Văn Bảy,Bảo Huy, Nguyễn Huy
Dũng, Vũ Long, Bùi Đình Toái, Trần Văn Con (2000), qua phân tích đã rút ra
một kết luận quan trọng là: trong số các hệ thống quản lý rừng khác thì hình
thức quản lý rừng cộng đồng là một phương án thích hợp cho quản lý rừng
bền vững ở Việt Nam.
+ Thử nghiệm giao đất giao rừng về chính sách, thể chế, tổ chức, tiếp
cận để phát triển phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng:
Thực hiện nghị định số 163 và quyết định 178 của Chính phủ, cho đến
thời điểm năm 2003, ước tính người dân đã tham gia quản lý khoảng 2,5 triệu
ha đất lâm nghiệp trong đó một số tỉnh thí điểm và triển khai giao rừng cho
cộng đồng đi tiên phong là tỉnh Đắc Lắc giao 8000 hecta, tỉnh Sơn La giao


23


105.000 hecta rừng tự nhiên cho hộ, nhóm hộ, cộng đồng thôn bản quản lý.
Từ đây đã bước đầu rút ra kinh nghiệm ở các tỉnh về giao đất tự nhiên cho các
cộng đồng thôn bản, kết quả cho thấy phương thức này đã được người dân
ủng hộ vì đã gắn lợi ích của họ với rừng và hài hòa giữa lợi ích của nhà nước
với lợi ích của cộng đồng ( Nguyễn Hồng Quân 2003).
Các tỉnh đã tiến hành giao rừng tự nhiên bao gồm: Đắc Lắc, Thừa
Thiên Huế, Sơn La, Nghệ An,…các khu rừng, đất lâm nghiệp được giao ở ác
tỉnh phía bắc chủ yếu là đất trống, rừng non, trong khi đó ở Tây Nguyên đã
giao cả các khu rừng tốt; từ đây đã tổng kết được kinh nghiệm bước đầu của
tiến trình này.

24


CHƯƠNG 2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và quản lý
rừng ở huyện Quế Phong nhưng do năng lực và thời gian có hạn nên: chỉ
nghiên cứu ở ba thôn bản đó là Bản Mường Hin – Xã Tiền Phong,
bản Pỏm Om - Xã Hạnh Dịch, bản Đồng Mới – Xã Đồng Văn của
huyện Quế Phong - Tỉnh Nghệ An.
Trong đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến các vấn đề về quản
lý tài nguyên rừng và quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở
huyện Quế Phong và quản lý dựa vào cộng đồng ở ba địa điểm
nghiên cứu nói trên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp:
Từ vấn đề nghiên cứu, xác định nội dung cần nghiên cứu và liệt kê các
tài liệu và số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu, sau đó tìm kiếm
từ các nguồn khác nhau: thư viện, báo cáo của các cơ quan ban ngành liên
quan địa phương, sách báo, tư liệu phong phú từ internet.
2.2.2. Điều tra thu thập số liệu thứ cấp:
Xác định các số liệu cần thu thập thực địa như:
+ Số liệu còn khuyết thiếu.
+ Số liệu cần đánh giá mang tính khách quan.
+ Số liệu cần kiểm chứng.
+ Số liệu đánh giá quan điểm và sự tham gia của cộng đồng.
Từ đó xác định các phương pháp thu thập số liệu trên thực địa, trong
cộng đồng. Các phương pháp đã được sử dụng để phục vụ nghiên cứu như
sau:

25


×