Tải bản đầy đủ (.doc) (36 trang)

Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng trường trung học cơ sở Trường Long Hòa – Duyện Hải – Trà Vinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (253.23 KB, 36 trang )

LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy giáo, Cô giáo đã giảng dạy lớp cử nhân
Quản lý giáo dục lớp K2-Trà Vinh, quý Thầy, Cô trong khoa tâm lý giáo dục,
khoa quản lý giáo dục, phòng quản lý khoa học, trường Đại học sư phạm Hà
Nội đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thiện khoá luận tốt nghiệp. Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đối với Thầy hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thanh –
Người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ động viên em trong quá trình thực hiện đề
tài. Tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn đồng nghiệp, phụ huynh học sinh và các
em học sinh đã nhiệt tình cộng tác cung cấp thông tin số liệu cho ý kiến và tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc chắn khoá luận không sao tránh
khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự thông cảm, giúp đỡ của Thầy
hướng dẫn. Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 3 năm 2011
Tác giả khoá luận

Nguyễn Văn Lợi
1
MỤC LỤC
trang
Ký hiệu các từ viết tắt 4
Phần mở đầu 5
1.Lý do chọn đề tài 5
2.Mục đích nghiên cứu 6
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
3.1.Khách thể nghiên cứu 6
3.2.Đối tượng nghiên cứu 7
4.Giới hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài 7
5.Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6.Phương pháp nghiên cứu 7


6.1.Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 7
6.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7
6.2.1.Phương pháp quan sát 7
6.2.2.Phương pháp bằng phiếu hỏi 7
6.2.3.Phương pháp toạ đàm 8
6.2.4.Phương pháp xử lý thông tin 8
Phần thứ hai : Nội dung 8
Chương 1.Cơ sở lý luận … 8
1.1.Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.2.Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1.Khái niệm về đạo đức và giáo dục đạo đức 9
1.2.2.Khái niệm về quản lý giáo dục đạo đức 11
1.2.2.1.Quản lý 11
1.2.2.2.Quản lý giáo dục 12
1.2.2.3.Quản lý giáo dục đạo đức 12
1.2.3.Khái niệm về biện pháp và biện pháp quản lý giáo dục…. 13
1.2.3.1.Khái niệm về biện pháp 13
1.2.3.2.Biện pháp giáo dục đạo đức 13
1.3.Khái niệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 13
1.4.Vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 13
1.5.Chức năng của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 13
1.6.Tính chất của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 14
1.6.1.Bình diện hoạt động 14
1.6.2.Mang tính quy luật đặc thù của quá trình giáo dục 14
1.6.3.Tính đa dạng về mục tiêu 14
2
1.6.4. Tính năng động của chương trình kế hoạch 14
1.6.5. Tính phong phú đa dạng… 14
1.7.Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động giáo dục … 14
1.7.1.Đảm bảo tính mục đích, tính kế hoạch 14

1.7.2.Đảm bảo tính tự nguyện, tự giác, tự quản 15
1.7.3.Đảm bảo tính tập thể 15
1.7.4.Đảm bảo tính đa dạng phong phú 15
1.7.5.Đảm bảo tính hiệu quả 15
Kết luận chương 1 15
Chương 2.Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh…. 16
2.1.Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội – giáo dục 16
2.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội
16
2.1.2.Tình hình giáo dục ở xã Trường Long Hoà 17
2.2.Thực trạng về đạo đức và giáo dục đạo …. 19
2.2.1.Thực trạng đạo đức của học sinh …. 19
2.2.2.Thực trạng nhận thức thái độ và hành vi đạo đức…. 20
2.2.3.Thực trạng hình thức tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức…. 21
2.3.Đánh giá thực trạng 22
2.3.1.Những ưu điểm và hạn chế 22
2.3.1.1.Ưu điểm 22
2.3.1.2.Hạn chế 22
2.3.2.Nguyên nhân của những hạn chế 23
2.3.2.1.Nguyên nhân khách quan 23
2.3.2.2.Nguyên nhân chủ quan 23
Kết luận chương 22 23
Chương 3.Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức…. 24
3.1.Nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm…. 24
3.1.1.Tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của Chi bộ Đảng 24
3.1.2.Xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong tập thể sư phạm 24
3.1.3.Phát huy vai trò tiên phong của Đoàn TNCS HCM…. 25
3.1.4.Củng cố, xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp…. 25
3.2.Kế hoạch hoá công tác quản lý giáo dục đạo đức …. 26
3.3.Phát huy vai trò tự quản của tập thể học sinh 26

3.4.Tổ chức có hiệu quả việc triển khai thực hiện kế hoạch ….. 27
3.4.1.Hoạt động ngoài giờ lên lớp hàng ngày 27
3.4.2.Hoạt động ngoài giờ lên lớp hàng tuần 27
3.4.3.Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chủ điểm…. 28
3.5.Tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội ….. 30
3
3.6. Tăng cường kinh phí đa dạng hoá các hình thức hoạt động giáo
dục đạo đức học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp.
31
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31
1.Kết luận 31
2.Kiến nghị 32
2.1. Với Phòng Giáo dục và Đào tạo 32
2.2.Đối với gia đình học sinh 32
2.3.Đối với xã hội 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Giáo dục đào tạo GD - ĐT
Giáo dục đạo đức GDĐĐ
Học sinh HS
Giáo viên GV
Quản lý giáo dục QLGD
Xã hội XH
Giáo viên chủ nhiệm GVCN
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Đoàn TNCS
Đội thiếu niên tiền phòng Hồ Chí Minh Đội TNTP
Công nghiệp hoá – hiện đại hoá CNH - HĐH
Xã hội chủ nghĩa XHCN
Giáo dục công dân GDCD
Cha mẹ học sinh CMHS

Nhà xuất bản NXB
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa CH XHCN
4
PHẦN THỨ NHẤT: PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Đại hội đã đưa đất
nước ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nhằm mục tiêu dân giàu nước
mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh, đất nước ta đã không ngừng đổi mới
phát triển. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam
quyết định đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Nghị quyết Trung uơng 2 khóa VIII
xác định “Muốn tiến hành CNH-HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo
dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát
triển nhanh và bền vững. Bởi vậy giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu. Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí đào tạo
nhân lực bồi dưỡng nhân tài” (Điều 35 Hiến pháp nước CHXHCN Việt
Nam).
“Mục tiêu giáo dạo là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện
có đạo đức tốt, có tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành
với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng
nhân cách và phẩm chất năng lực công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc” (Điều 2 Luật giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam năm
2005)
Những con người có nhân cách như Luật giáo dục chỉ ra do nền giáo dục,
do các nhà trường góp phần hình thành đó là thế hệ trẻ Việt Nam, chủ nhân
tương lai của đất nước, là thế hệ có đủ tài đức “vừa hồng, vừa chuyên” đảm
trách sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Bác Hồ coi việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là công việc
trọng đại của đất nước, của dân tộc. Bác Hồ kính yêu đã dạy “Người có đức
mà không có tài làm việc gì cũng khó. Người có tài mà không có đức thì vô
dụng”. Giáo dục phải là bồi dưỡng được đức, cái vốn quý của một con người,

tuy nhiên không phải ai cũng đã thấm nhuần được tư tưởng đó.
Đạo đức là mặt cốt lõi của nhân cách, nó chi phối quan hệ con người với
con người; con người với xã hội và thiên nhiên để hình thành và phát triển nhân
cách thì phải hình thành và rèn luyện các phẩm chất đạo đức. Giáo dục đạo đức
là trách nhiệm của toàn xã hội mà nhà trường giữ vai trò trọng trách. Vì thế giáo
dục đạo đức cho thế hệ trẻ là vấn đề cấp thiết, là sứ mệnh lịch sử mà xã hội đã
giao phó cho nhà trường.
“Thiện ác nguyên lai vô định tính
Đa do giáo dục đích nguyên nhân”
(Hồ Chí Minh)
Trong xu hướng toàn cầu hóa diễn ra trong mọi mặt của đời sống xã hội,
chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức của thời đại: đó là sự sa
5
sút về đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng trong một số
thanh niên, học sinh làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đạo đức của nhà
trường. Trước tình hình đó, việc tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh
càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong các lĩnh vực giáo dục, giáo dục đạo đức
có một ý nghĩa quan trọng. Cho dù ở giai đoạn nào của lịch sử thì nét chung của
đạo đức vẫn là yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, hướng tới cái thiện chống lại cái ác,
hướng về mối quan hệ đẹp đẽ giữa con người với con người, với tụ nhiên và xã
hội, đồng thời cũng là kết quả của sự giáo dục. giáo dục đạo đức là mặt quan
trọng của giáo dục nhân cách của con người. Nhân cách là sự thống nhất giữa
phẩm chất và năng lực. Nhân cách là cấu tạo mới do từng người tự hình thành
nên và phát triển trong quá trình sống và giao tiếp, học tập, lao động, vui chơi.
Đạo đức được coi là nền tảng trong phẩm chất, nhân cách con người. Đạo đức
là gốc, là cốt lõi của nhân cách. Do đó trong nhà trường phải luôn chú trọng
giáo dục cả đức lẫn tài. Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng dạy:
“Dạy cũng như học phải chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách
mạng. Đó là cái gốc rất quan trọng.” “Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ
không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải

cuộc sống xã hội hình thường, ổn định.” (37-tr 65)
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhân dân ta đòi hỏi thế hệ trẻ,
thanh niên, học sinh, sinh viên phải trở thành lực lượng tiên phong có tài năng,
đạo đức, có tinh thần trách nhiệm và lý tưởng sống cao đẹp. Họ là lực lượng
nòng cốt tin cậy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng thành
công quá trình nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Hơn ai hết, là người làm công tác quản lý ở nhà trường trung học cơ sở
trên quê hương thứ hai của mình, tôi nhận thức rõ trách nhiệm đặt trên vai của
mình. Phải có biện pháp giáo dục đạo đức học sinh phù hợp nhằm nâng hơn nữa
chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh nói
riêng, đặc biệt là giáo dục đạo đức học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên
lớp. Xuất phát từ những lý do khách quan, chủ quan như đã nêu trên, tôi quyết
đinh chọn đề tài: “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh thông qua
hoạt động ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng trường trung học cơ sở
Trường Long Hòa – Duyện Hải – Trà Vinh”
2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở
Trường Long Hòa – Duyên Hải – Trà Vinh. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện
pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện.
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1.Khách thể nghiên cứu:
6
Công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ
lên lớp của hiệu trưởng trường trung học cơ sở Trường Long Hòa – Duyên Hải
– Trà Vinh.
3.2.Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở Trường Long Hòa – Duyên Hải –

Trà Vinh.
4.Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1.Giáo dục đạo đức là vấn đề rất lớn, rất đa dạng và phức tạp. Đồng thời là
vấn đề rất bức xúc hiện nay. Để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
có rất nhiều biện pháp. Ở đề tài này, tôi chỉ tập trung chú ý nghiên cứu một số
biện pháp quản lý của hiệu trưởng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo
đức nói riêng và chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh nói chung.
4.2.Nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh thông qua hoạt
động ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở Trường Long Hòa-Duyên Hải-
Trà Vinh.
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp quản lý giáo dục
đạo đức học sinh ở trường trung học cơ sở.
5.2.Tìm hiểu đánh giá thực trạng biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức học sinh ở trường trung học cơ sở Trường Long Hòa – Duyên Hải – Trà
Vinh.
5.3.Đề xuất một số biện pháp quản lý hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học cơ sở Trường Long Hòa
– Duyên Hải – Trà Vinh.
6.Phương Pháp nghiên cứu
6.1.Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu tài liệu văn bản, chỉ thị, nghị quyết, sách báo,…có nội dung
liên quan đến đề tài nghiên cứu, sàng lọc thông tin, tập hợp những vấn đề cơ
bản làm lý luận vững chắc cho đề tài, hỗ trợ cho quá trình làm đề tài: tìm hiểu
các khái niệm, thuật ngữ hoạt động giáo dục đạo đức, giáo dục ngoài giờ lên
lớp, đặc điểm tâm lý, phương pháp giáo dục học sinh trung học cơ sở.
6.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1.Phương pháp quan sát
Quan sát các cử chỉ, hành vi, thái độ của học sinh khi tổ chức hoặc tham
gia các hoạt động giáo dục đạo đức.

6.2.2. Phương pháp bằng phiếu hỏi
Tìm hiểu thực trạng, nhận thức vai trò hoạt động giáo dục đạo đức thông
qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh và các lực lượng tham gia giáo
7
dục, việc tổ chức các hoạt động này ở trường trung học cơ sở Trường Long Hòa
- Duyên Hải – Trà Vinh.
6.2.3.Phương pháp tọa đàm: trò chuyện trao đổi với học sinh, giáo viên, phụ
huynh học sinh, chính quyền địa phương để đánh giá nhận thức, hành vi, thái
độ, hạnh kiểm của học sinh, đánh giá các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục
đạo đức học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và ảnh hưởng của nó
đến việc hình thành nhân cách học sinh.
6.2.4.Phương pháp xử lý thông tin: sử dụng toán thống kê, xử lý số liệu thu
thập được, lập bảng, vẽ sơ đồ.
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1.Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của
lịch sử xã hội loài người. Những tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức, đạo đức học
đã hình thành hơn 26 thế kỉ trước đây trong triết học phương Đông: Trung
Quốc, Ấn Độ,… và triết học phương Tây: Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại,… nó
được hoàn thiện và phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế- xã hội nối tiếp nhau
từ thấp đến cao, mà đỉnh cao của nó là đạo đức mới – đạo đức cách mạng mà xã
hội ta đã và đang xây dựng.
Theo quan điểm học thuyết Mác-Lênin: Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó
phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Nếu tồn tại xã hội thay đổi
thì đạo đức cũng thay đổi theo. Do vậy, đạo đức mang tính lịch sử, tính giai

cấp và tính dân tộc.
Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc quy định chuẩn mực nhằm hướng
con người đến cái chân, cái thiện, cái mỹ chống lại cái giả, cái ác, cái xấu. Các
chuẩn mực đạo đức xuất hiện do nhu cầu của đời sống xã hội là sản phẩm của
lịch sử xã hội do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định. Bất kỳ trong thời đại nào của
lịch sử, đạo đức của con người đều được đánh giá theo khuôn phép, chuẩn mực
và quy tắc đạo đức. Đạo đức là sản phẩm của xã hội, cùng với sự phát triển của
sản xuất, các mối quan hệ của xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo
đức, hành vi đạo đức cũng theo đó ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao,
phong phú, đa dạng và phức tạp hơn.
8
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con
người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo
cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại và phát triển.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của cách mạng. Nội dung
cơ bản trong quan điểm đạo đức cách mạng là: “Trung với nước, hiếu với
dân; cần kiệm liêm chính chí công vô tư; yêu thương con người; tinh thần
quốc tế trong sáng”. Quan điểm của Người về đạo đức là những quan điểm
thực sự khoa học, biện chứng phù hợp với sự tiến bộ, tiến hóa của loài người để
có được đạo đức mỗi người phải chăm lo tu dưỡng kiên trì bền bỉ suốt đời.
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức, là mẫu mực kết tinh tất
cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam, với đạo đức cao quý của
chủ nghĩa Mác – Lênin. Những tư tưởng đạo đức cũng như tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống di sản tư tưởng của
Người. Cho nên, có thể nói toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh gắn liền với quá trình phát triển tư tưởng đạo đức và việc xây dựng nền
đạo đức cách mạng mà Người là tấm gương tiêu biểu sinh động và trong sáng
nhất của nền đạo đức cách mạng đó.
1.2.Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.Khái niệm về đạo đức và giáo dục đạo đức:

Để tồn tại và phát triển con người phải hoạt động và tham gia các mối
quan hệ xã hội trong thế giới hiện thực. Trong quá trình thực hiện mối quan hệ
ấy, nếu con người có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp với lợi ích chung của mọi
người, của cộng đồng xã hội thì con người ấy được đánh giá là có đạo đức.
Ngược lại, cá nhân nào có thái độ, hành vi không đúng đắn làm tổn hại đến lợi
ích của người khác, của cộng đồng và bị xã hội lên án, chê trách thì cá nhân đó
bị coi là người thiếu đạo đức. Vậy đạo đức là gì ?
+Theo giáo trình “Đạo đức học” (NXB chính trị quốc gia Hà Nội năm
2000) “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên
tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử
của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội chúng được
thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận
xã hội”. [24 tr 8]
+Theo quan điểm học thuyết Mác – Lênin: “Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã
hội. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối
của tồn tại xã hội vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức)
cũng thay đổi theo. Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính
giai cấp và tính dân tộc.”(Dẫn theo Nguyễn Kim Bôi [7. tr 13]).
+Theo từ điển tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội) thì: “Đạo đức là những
tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối
9
với nhau và đối với xã hội. Đạo đức là những phầm chất tốt đẹp của con
người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định”. [50 tr
211].
+Theo gốc độ xã hội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản
ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phối
hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa
con người với xã hội và với chính bản thân mình.
+Theo gốc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của

con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và các ứng xử
của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản
thân họ với người khác và với chính bản thân mình.
Đạo đức biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các
điều kiện kinh tế - xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội. Khái niệm đạo đức
ngày càng được hoàn thiện đầy đủ hơn. Các giá trị đạo đức trong xã hội của
chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp
của dân tộc, với xu thế tiến bộ của thời đại, của nhân loại. Lao động sáng tạo,
nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc đạo đức có ý nghĩa chỉ đạo trong
giáo dục và tự giáo dục của con người hiện nay.
Đạo đức có 3 chức năng: nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi. Trong
đó điều chỉnh hành vi hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con người
trong mọi lĩnh vựcđời sống xã hội.
 Chức năng nhận thức: nhận thức đạo đức đem lại tri thức đạo đức, ý
thức đạo đức cho chủ thể, các cá nhân nhờ tri thức đạo đức, ý thức
đạo đức xã hội đã nhận thức mà tạo thành đạo đức cá nhân. Cá nhân
hiểu và tin những chuẩn mực, lý tưởng, giá trị đạo đức xã hội trở
thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi đạo đức.
 Chức năng giáo dục: trên cơ sở nhận thức đạo đức, chức năng giáo
dục giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình
thành hệ thống định hướng giá trị và các chuẩn mực đạo đức, điều
chỉnh các hành vi đạo đức. Hiệu quả giáo dục đạo đức phụ thuộc
vào điều kiện kinh tế xã hội, cách thức tổ chức, giáo dục mức độ tự
giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá trình giáo dục.
 Chức năng điều chỉnh hành vi:
Sự điều chỉnh hành vi đạo đức làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn
tại và phát triển, đảm bảo quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng.
Chức năng này thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu. Trước hết là
bản thân chủ thể đạo đức phải cần tạo ra dư luận để khen ngợi,
khuyến khích, đánh giá hoặc phê phán những biểu hiện cụ thể của

hành vi đạo đức trên cơ sở những chuẩn mực giá trị đạo đức. Đây là
chức năng xã hội cơ bản hết sức quan trọng của đạo đức.
10
+Giáo dục đạo đức:
Giáo dục theo nghĩa rộng là giáo dục xã hội được coi là lĩnh vực hoạt
động của xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm xã hội – lịch sử, chuẩn bị
cho thế hệ trẻ trở thành lực lượng tiếp nối sự phát triển xã hội, kế thừa và phát
triển nền văn hoá của loài người và dân tộc.
Giáo dục theo nghĩa hẹp là giáo dục trong nhà trường, đó là quá trình tác
động có tổ chức, có kế hoạch, có quy trình chặt chẽ nhằm mục đích cung cấp
kiến thức, kỹ năng hình thành thái độ, hành vi cho thiếu niên, xây dựng và phát
triển nhân cách theo quy mô mà xã hội đương thời mong muốn.
Giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản
nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội. Nhờ đó con
người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội
cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình vì thế công tác
giáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành, phát triển nhân cách con người
mới phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
Giáo dục đạo đức về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực
đạo đức từ những đòi hỏi từ bên ngoài xã hội đối với cá nhân thành những đòi
hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của đối tượng
giáo dục.
Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông là một bộ phận của quá trình
giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình bộ phận khác như
giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo
dục hướng nghiệp,… giúp cho học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn
diện. Giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục lòng trung thành với Đảng,
hiếu với dân, yêu quê hương đất nước, có lòng vị tha, có lòng nhân ái, cần cù
liêm khiết chính trị, đó là đạo đức xã hội chủ nghĩa.
1.2.2.Khái niệm về quản lý giáo dục đạo đức:

1.2.2.1.Quản lý:
Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý
đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt
động của con người trong các quá trình sản xuất, xã hội để đạt được mục đích
đã định.
Các Mác đã lột tả bản chất quản lý là: “Nhằm thiết lập sự phối hợp giữa
những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ
sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động riêng lẽ của
nó. Một người chơi vĩ cầm riêng lẽ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì
cần người chỉ huy”.[ 8 tr 342]
*Chức năng của quản lý:
Chức năng của quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thông
qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục
11
tiêu nhất định. Nhiều nhà khoa học và quản lý thực tiễn đã đưa ra những quan
điểm khác nhau về phân loại chức năng quản lý.
+Theo truyền thống: Hfayot đưa ra 5 chức năng quản lý: Kế hoạch – tổ
chức – chỉ huy – phối hợp – kiểm tra.
+Theo quan điểm của quản lý hiện đại: từ các hệ thống chức năng quản lý
nêu trên, có thể khái quát một số chức năng cơ bản sau:
Kế hoạch
Tổ chức
Chỉ đạo
Kiểm tra
CHỨC NĂNG QUẢN LÝ VÀ CHU TRÌNH QUẢN LÝ
TTQL
1.2.2.2.Quản lý giáo dục: là một bộ phận trong quản lý xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Vì vậy quản lý giáo dục mặc dù có những đặc điểm riêng biệt, xong
cũng chịu sự chi phối bởi mục tiêu quản lý xã hội chủ nghĩa.
+Về nội dung khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau:

quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực
lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển
xã hội. Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo
dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Tuy nhiên, trọng tâm
vẫn là giáo dục thế hệ trẻ. Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành
hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
1.2.2.3.Quản lý giáo dục đạo đức:
Quản lý đối tượng giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của thể quản
lý tới đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt kết quả
mong muốn bằng cách hiệu quả nhất. Về bản chất, quản lý hoạt động giáo dục
đạo đức là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành
tố tham gia vào quá trình hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo
12
KẾ HOẠCH
KIỂM TRA
TỔ CHỨC
CHỈ ĐẠO
dục đạo đức (nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ thái độ, tình cảm,
hành vi và thói quen. Đó là những nét tính cách của nhân cách, ứng xử đúng
đắn trong xã hội).
1.2.3.Khái niệm về biện pháp và biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học
sinh
1.2.3.1.Khái niệm về biện pháp:
Theo “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phe chủ biên thì: “Biện pháp là cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.” [50 tr 64]
Theo cuốn “Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng” của tác giả
Nguyễn Văn Đạm: “Biện pháp là cách làm, cách hành động đối phó để đi đến
một mục đích nhất định.” [51 tr 66]
1.2.3.2. Biện pháp giáo dục đạo đức:
Biện pháp giáo dục đạo đức là cách làm, cách hành động cụ thể để nâng

cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh.
1.3.Khái niệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.3.1.Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một một hoạt động cơ bản được
thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần thực
thi quá trình đào tạo nhân cách học sinh đáp ứng những yêu cầu đa dạng của đời
sống xã hội (vì thế, còn gọi là quá trình giáo dục ngoài giờ lên lớp).
1.3.2.Hoạt động này do nhà trường quản lý, tiến hành ngoài gìơ dạy học trên
lớp theo chương trình, kế hoạch dạy học. Nó được tiến hành xen kẽ hoặc nối
tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội
do nhà trường chỉ đạo diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để
khép kín quá trình giáo dục làm cho quá trình đó được thực hiện mọi nơi mọi
lúc.
1.4.Vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.4.1.Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một bộ phận cấu thành trong
hoạt động giáo dục. Theo cách phân chia hiện nay, hoạt động giáo dục trong
nhà trường được chia thành hai bộ phận: hoạt động dạy học trên lớp và hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Mỗi một bộ phận đều có một vị trí, chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng chúng
đều góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục.Như vậy, hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp không phải là một hoạt động “phụ khoá” trong nhà
trường mà là một bộ phận quan trọng trong hoạt động giáo dục trong nhà
trường phổ thông.
1.4.2.Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai
chiều giữa nhà trường với xã hội.
Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, nhà trường có điều kiện
phát huy vai trò tích cực của mình đối với cuộc sống.
1.5.Chức năng của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
13
1.5.1.Củng cố mở rộng khơi sâu năng lực nhận thức các môn văn hoá trong
chương trình.

1.5.2.Trực tiếp rèn luyện phẩm chất nhân cách, tính cách, tài năng và thiên
hướng nghề nghiệp cá nhân, hình thành các mối quan hệ giữa con người với đời
sống xã hội, con người với thiên nhiên, với môi trường sống.
1.5.3.Tạo điều kiện cho học sinh hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng thông
qua các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội giúp học sinh hoà nhập vào cuộc
sống xã hội.
1.5.4.Phát huy tác dụng của nhà trường đối với đời sống tạo điều kiện để huy
động cộng đồng tham gia để xây dựng trường học và phát huy tác dụng trong
công tác giáo dục.
1.6.Tính chất của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.6.1.Bình diện hoạt động:
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một hoạt động phong phú, đa dạng.
Nó có thể diễn ra ngoài nhà trường để mở rộng giao lưu cho học sinh, giúp các
em hoà nhập vào cuộc sống, con người, thâm nhập vào các mặt của cuộc sống,
tạo khả năng thuận lợi để gắn “học với hành”.
1.6.2.Mang tính quy luật đặc thù của quá trình giáo dục.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một hoạt động giáo dục xã hội đặc
biệt của con người, biến đổi khá phức tạp nhân cách của học sinh. Nó không
giống với quá trình dạy học hay quá trình giáo dục hướng nghiệp.
Muốn hình thành phát triển nhân cách học sinh không chỉ đơn thuần trong
những giờ lên lớp mà còn phải thông qua các loại hình hoạt động đa dạng như
công tác xã hội, lao động sản xuất, hoạt động văn nghệ,…
1.6.3.Tính đa dạng về mục tiêu
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp không chỉ nhằm vào một mục tiêu
giáo dục tư tưởng đạo đức, phẩm chất nhân cách cho các em học sinh mà còn
nhằm đạt nhiều mục tiêu về trí dục, mĩ dục, lao động,…
1.6.4.Tính năng động của chương trình kế hoạch
1.6.5.Tính phong phú đa dạng của nội dung và hình thức hoạt động, tính phức
tạp khó khăn của việc kiểm tra đánh giá.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một hoạt động đa dạng, do vậy

việc đánh giá rất khó khăn. Tuy vậy, mỗi hoạt động trong trường đều phải kiểm
tra đánh giá, có như vậy, mới động viên khuyến khích được hoạt động tốt đồng
thời khắc phục những khuyết nhược điểm trong từng công việc. Để đánh giá
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, ta có thể bàn bạc định ra tiêu chuẩn cụ thể
để đánh giá, cũng có thể đánh giá từng khâu, từng hoạt động ở mỗi thời điểm
nhất định rồi đánh giá chung trong cả một học kỳ, cả năm học.
1.7.Nguyên tắc cơ bản của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.7.1.Đảm bảo tính mục đích, tính kế hoạch
14

×