Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng NNPTNT tỉnh nghệ an đối với hộ sản xuất luận văn ths kinh doanh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.35 MB, 120 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------***----------

Lê Thị Hồng Ngọc

Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
của Ngân hàng NN&PTNT tỉnh Nghệ An
đối với hộ sản xuất
Chuyên ngành
Mã số

: Kinh doanh và quản lý
: 60 34 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KIN DOANH VÀ QUẢN LÝ

Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Bích Đào

HÀ NỘI - 2008


1

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Như chúng ta đã biết, trong điều kiện hiện nay, khi khu vực hoá, tồn
cầu hố đang trở thành xu hướng phổ biến thì song song với quá trình hợp tác
theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi, giữa các quốc gia, khu vực ln kèm
theo q trình cạnh tranh vơ cùng gay gắt và khốc liệt, trong môi trường kinh


tế thế giới như vậy, yêu cầu khách quan và cấp bách đối với nước ta là phải
nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế của mình để hội nhập ngày càng sâu
rộng và có hiệu quả hơn. Một trong những giải pháp để nâng cao năng lực
cạnh tranh kinh tế là lành mạnh hố hệ thống tài chính – Ngân hàng. Hoạt
động Ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng mà được đảm bảo an tồn hiệu
quả thì sẽ đóng góp tích cực vào việc ổn định và cải thiện môi trường kinh tế
vĩ mơ, kiềm chế lạm phát, duy trì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tăng uy
tín quốc gia.
NHNo&PTNT Nghệ An là một chi nhánh của NHN o&PTNT Việt Nam,
trong quá trình hình thành và phát triển vừa lớn mạnh về tổ chức, vừa tăng
trưởng khá mạnh mẽ, đã và đang thực hiện CNH Ngân hàng, đẩy mạnh các
hoạt động nghiệp vụ , đặc biệt là chú trọng phát triển các dịch vụ Ngân hàng,
coi đó là chiến lược lâu dài để tăng trưởng, phát triển và hội nhập với sự phát
triển chung của hệ thống NHNN Việt Nam.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay do đặc trưng kinh tế của tỉnh Nghệ
An, trong khi các dịch vụ Ngân hàng chưa thực sự phát triển thì thu nhập từ
đầu tư tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu của chi nhánh.
Đặc biệt là Ngân hàng hoạt động trong khu vực Nơng nghiệp, Nơng thơn thì
nguồn thu từ hoạt động tín dụng Nơng thơn ln chiếm tỷ trọng cao trong
tổng nguồn thu của Ngân hàng. Với các ưu thế về nguồn vốn kinh doanh lớn,
mạng lưới kinh doanh rộng nhất, lại có kinh nghiệm và truyền thống cho vay
hộ nông dân và Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Nông thôn từ buổi đầu đổi mới,


2
trong giai đoạn cạnh tranh và hội nhập, NHNo&PTNT Nghệ An trước sau vẫn
khẳng định hộ nông dân là người bạn đồng hành, đáng tin cậy và thị trường
tài chính, tín dụng Nơng nghiệp, Nơng thơn vẫn là thị trường chủ yếu mà
NHNo&PTNT Nghệ An đảm nhiệm vai trò chủ đạo trong đầu tư vốn phát
triển Nông nghiệp, Nông thôn theo hướng CNH - HĐH.

Sự khẳng định về định hướng trên của Ngân hàng là đúng đắn và phù
hợp với đặc trưng kinh tế của tỉnh, tuy nhiên trong những năm qua hoạt động
tín dụng đối với hộ sản xuất vẫn còn những bất cập, làm hạn chế việc tiếp cận
vốn tới hộ nơng dân. Vì vậy, trong thời gian tới làm thế nào để nâng cao hơn
nữa chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất đang là vấn đề then chốt, có ý
nghĩa quan trọng tới sự phát triển của NHNo&PTNT Nghệ An, làm tăng khả
năng cạnh tranh cho NHTM quốc doanh trong xu thế khu vực hoá, tồn cầu
hố cũng như tạo động lực cho sự phát triển của các hộ sản xuất trên địa bàn
tỉnh, góp phần vào sự nghiệp CNH - HĐH Nông nghiệp, Nông thôn.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng
hoạt động tín dụng trong kinh doanh Ngân hàng, tôi đã chọn đề tài “Nâng cao
chất lượng hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT tỉnh Nghệ An đối với hộ
sản xuất” viết luận văn thạc sỹ kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu:
Hơn 15 năm trở lại đây, trước nhu cầu CNH – HĐH Nông nghiệp,
Nông thôn thực hiện chủ trương xố đói, giảm nghèo và trước xu thế khu vực
hố, tồn cầu hố đã có nhiều chỉ thị, chính sách, giải pháp mà Đảng và Nhà
nước ban hành tạo cơ chế cho sự phát triển và phù hợp với yêu cầu hội nhập.
Ngày 18/01/1991 NHNg đã ký ban hành văn bản số 53/NHNg về “Biện
pháp cho vay ngắn hạn, trung hạn đối với hộ nông dân”. Ngày 28/06/1991,
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt ký chỉ thị số 2002/CT về cho vay
hộ sản xuất.
Về vấn đề này, cũng có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học như: năm
2002, viện nghiên cứu tài chính, Bộ tài chính đã thực hiện một đề tài cấp nhà


3
nước nghiên cứu về: “Chính sách tài chính - Ngân hàng có liên quan đến phát
triển Nơng nghiệp, Nơng thơn”; Năm 2002, học viên Nguyễn Thị Thành đã
nghiên cứu đề tài: “Giải pháp tăng cường đầu tư tín dụng phát triển kinh tế

Nông thôn” viết luận văn thạc sỹ; hay trong thời báo tài chính Việt Nam – Hà
Nội: Bộ tài chính, 06/02/2002 số 16, trang 1, 2 đã đăng bài của tác giả Hải
Anh: “Giải pháp đẩy mạnh tín dụng đối với hộ nông dân”.
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng có rất nhiều đề tài và nhiều bài nghiên
cứu đã xuất hiện trên các trang tạp chí, bài báo và trang tin tức sự kiện, cụ thể
như ngày 23/05/2006 trên trang Web tin tức, sự kiện Nghệ An có đăng bài về
Ngân hàng Nơng nghiệp Nghệ An: “Dấu ấn thành tựu 15 năm cho vay kinh tế
hộ Nghệ An”; năm 2005, học viên Lê Thị Xuân đã nghiên cứu đề tài: “Vai trị
của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển trang trại trên địa bàn tỉnh Nghệ
An”; hay năm 2005, học viên Đặng Thành Cương đã thực hiện đề tài: “Nâng
cao chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT thành phố Vinh - Nghệ An” viết
luận văn thạc sỹ.
Các chủ trương, chính sách và các đề tài nghiên cứu trên đã khẳng định
được vai trò của kinh tế hộ trong nền kinh tế nhiều thành phần và thể hiện
được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ đối với hoạt động cho vay hộ nông
dân. Tuy vậy, so với yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH Nông nghiệp, Nông
thôn với nhu cầu vốn để phát triển sản xuất hàng hố của các hộ nơng dân cả
nước nói chung và các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng thì
hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất còn tồn tại những vướng mắc, hạn chế
chẳng hạn như nguồn vốn rất hạn hẹp, chủ yếu do các tổ chức tín dụng tự huy
động, vốn của các tổ chức quốc tế cũng chưa được chú trọng khai thác, điều
kiện vay đối với hộ nơng dân cịn khó khăn, nhất là yêu cầu về tài sản thế
chấp, cơ chế tín dụng,… Do đó, cần phải tiếp tục khảo sát vấn đề tín dụng đối
với hộ sản xuất trên địa bàn hiện nay trên cơ sở kế thừa và phát triển cơng
trình của các tác giả đã nghiên cứu trước nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
tín dụng của NHNo&PTNT tỉnh Nghệ An đối với hộ sản xuất.


4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

* Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về tín dụng Ngân hàng
nói chung và tín dụng Ngân hàng trong hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất
nói riêng, để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của
NHNo&PTNT Nghệ An đối với hộ sản xuất.
* Nhiệm vụ:
- Đề tài làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng
đối với hộ sản xuất và làm rõ vai trị của hoạt động tín dụng đối với hộ sản
xuất của Ngân hàng thương mại.
- Khẳng định tầm quan trọng của chất lượng hoạt động tín dụng trong
hoạt động kinh doanh Ngân hàng và ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng tín
dụng hộ sản xuất.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, chất lượng hoạt động
tín dụng của NHNo&PTNT Nghệ An đối với hộ sản xuất để phát hiện ra
những vấn đề còn vướng mắc, tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất, đảm bảo an toàn hiệu
quả cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu: đề cập tới chất lượng hoạt động tín dụng ở góc
độ cho vay đối với hộ sản xuất.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại và chất lượng tín dụng
của NHNo&PTNT Nghệ An đối với hộ sản xuất.
- Thời gian của các số liệu được tiến hành trong 4 năm (2004 - 2007).


5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong q trình nghiên

cứu là: phương pháp phân tích thống kê, bảng biểu, điều tra, so sánh, nghiên
cứu tài liệu,… để luận chứng.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn:
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về tín dụng Ngân hàng, chất lượng
tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất, và các yếu tố ảnh hưởng đến chất
lượng hoạt động tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất.
- Luận văn khái quát tình hình hoạt động của NHNo&PTNT Nghệ An,
đặc biệt luận văn đi sâu vào phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng,
chất lượng hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT Nghệ An đối với hộ sản xuất.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động tín dụng đối với hộ sản xuất, mở rộng cho vay đối với hộ sản xuất Nông
nghiệp và Nông thôn ở tỉnh Nghệ An.
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài lời cảm ơn, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, phần mở
đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất trong nền kinh tế
thị trường.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng của NHNo &PTNT Nghệ An
đối với hộ sản xuất.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín
dụng của NHNo &PTNT Nghệ An đối với hộ sản xuất trong những năm tới.


6

CHƢƠNG 1
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
1.1 Tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất
1.1.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng

Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ. Khi một chủ thể kinh
tế cần một lượng hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi
chưa có tiền hoặc số tiền hiện có chưa đủ họ có thể sử dụng hình thức vay
mượn để đáp ứng nhu cầu. Có hai cách vay mượn đó là vay chính loại hàng
hố đang có nhu cầu hoặc vay tiền để mua loại hàng hố đó. Quan hệ vay
mượn như vậy gọi là quan hệ tín dụng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số
vốn đó sẽ được hồn lại vào một ngay xác định trong tương lai. Có thể hiểu
và định nghĩa quan hệ tín dụng một cách đầy đủ như sau: Tín dụng là quan hệ
chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện
vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu
hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Như vậy, một quan hệ tín dụng phải thoả mãn những đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất: là quan hệ chuyển nhưỵng mang tính chất tạm thời. Đối
tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc hàng hố dưới hình thức
kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hố. Tính chất tạm
thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Nó
là kết quả của sự thoả thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển
nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng
lượng giá trị đó. Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng có thể ảnh
hưởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động tài chính của cả hai bên và dẫn tới
nguy cơ phá huỷ quan hệ tín dụng. Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự


7
chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một
khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với
lượng giá trị đó.
- Thứ hai: tính hồn trả. Lượng vốn được chuyển nhượng phải được
hoàn trả đúng hạn về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận gốc và lãi,

phần lãi phải đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban
đầu. Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời hay nó là
giá trả cho sự hy sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó
phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó.
- Thứ ba: quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tin tưởng giữa người đi vay và
người cho vay. Đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng.
Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn.
Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay. Sự
gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay là điều kiện hình thành quan hệ tín
dụng. Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị
tài sản thế chấp và do sự bảo lãnh của người thứ ba.
Trong nền kinh tế hàng hố có nhiều loại hình tín dụng như: tín dụng
Ngân hàng, tín dụng Nhà nước, tín dụng Doanh nghiệp. Tín dụng Ngân hàng
cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói chung. Đó là quan hệ tin
cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các Ngân hàng, tổ chức tín dụng với
các doanh nghiệp và các cá nhân khác, được thực hiện dưới hình thức tiền tệ
theo ngun tắc hồn trả và có lãi.
Với tư cách là người đi vay, các Ngân hàng huy động mọi nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thơng qua hình thức nhận tiền gửi của các đơn
vị, tổ chức kinh tế, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu… để
huy động vốn trong xã hội. Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng đáp ứng
nhu cầu vốn cho các đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn
cần được bổ sung trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Quá


8
trình đi vay và cho vay của Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giải
quyết tốt mối quan hệ này sẽ duy trì và thúc đẩy sự tồn tại, phát triển của tín
dụng Ngân hàng, đồng thời đóng góp to lớn vào phát triển, tăng trưởng kinh tế.
Điều 20: Luật các tổ chức tín dụng quy định:

"Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có,
nguồn vốn huy động để cấp tín dụng".
"Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng
một khoản tiền với ngun tắc có hồn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác".
Do đặc điểm riêng của mình tín dụng Ngân hàng đạt được ưu thế hơn
các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư. Với
đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng Ngân hàng có khả năng đầu tư
chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thơng hàng hố. Vì
vậy mà tín dụng Ngân hàng ngày càng trở thành hình thức tín dụng quan
trọng trong các hình thức tín dụng hiện có.
Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng cịn sử dụng thuật ngữ tín dụng
hộ sản xuất. Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ tín dụng Ngân hàng giữa một
bên là Ngân hàng với một bên là hộ sản xuất hàng hoá. Từ khi được thừa
nhận là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội, có thừa kế, có quyền sở hữu tài sản,
có phương án kinh doanh hiệu quả, có tài sản thế chấp thì hộ sản xuất mới có
khả năng và đủ tư cách để tham gia quan hệ tín dụng với Ngân hàng, đây
cũng chính là điều kiện để hộ sản xuất đáp ứng được điều kiện vay vốn Ngân
hàng.
Đối với Ngân hàng, từ khi chuyển sang hệ thống Ngân hàng hai cấp,
hạch toán kinh tế và kinh doanh độc lập, các Ngân hàng phải tự tìm kiếm thị
trường với mục tiêu an toàn và lợi nhuận. Thêm vào đó là Nghị định 14 CP
ngày 02/03/1993 của thủ tướng Chính phủ, thơng tư 01/ TĐ - NH ngày
26/03/1993 của thống đốc Ngân hàng nhà nước hướng dẫn nghị định 14 về


9
chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông, lâm, ngư nghiệp. Và
gần đây là quy định số 67/ 1999/ QĐ - TTg của thủ tướng Chính phủ, văn bản
số 320/ CV - NHNN của thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực

hiện quy định trên, văn bản số 791/ NHNN - 06 của tổng giám đốc NHNo
Việt Nam về thực hiện một số chính sách Ngân hàng phục vụ phát triển Nông
thôn, với các văn bản trên đã mở ra một thị trường mới trong hoạt động tín
dụng. Trong khi đó hộ sản xuất đã cho thấy sản xuất có hiệu quả, nhưng cịn
thiếu vốn để mở rộng tiến hành sản xuất kinh doanh. Đứng trước tình trạng
đó, việc tồn tại một hình thức tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất là một
tất yếu và phù hợp với cung cầu trên thị trường được mơi trường xã hội, pháp
luật cho phép.
1.1.2 Các hình thức tín dụng Ngân hàng
Theo các tiêu thức phân chia khác nhau có các hình thức tín dụng Ngân
hàng khác nhau:
* Căn cứ vào thời gian hình thành trong quan hệ tín dụng:
- Tín dụng ngắn hạn: là các khoản cho vay mà thời hạn cho vay được
xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của
khách hàng nhưng không vượt quá 12 tháng. Tín dụng Ngân hàng thực hiện
bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình.
- Tín dụng trung hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm.
- Tín dụng dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm nhưng
không quá 15 năm, dùng để đầu tư vào các chương trình, dự án có quy mơ
lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu.
Việc phân chia tín dụng Ngân hàng theo tiêu thức thời gian như trên sẽ
giúp cho các Ngân hàng tính tốn các luồng tín dụng, mức cung tín dụng
trong một khoảng thời gian nhất định. Thời hạn cho vay trung, dài hạn được
xác định phù hợp với thời gian thu hồi vốn của dự án đầu tư, phù hợp với khả


10
năng trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn dùng để cho vay trung,
dài hạn của tổ chức tín dụng.

* Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
- Tín dụng khơng có bảo đảm bằng tài sản: là các khoản cho vay mà
khách hàng vay được Ngân hàng tín nhiệm nên khơng cần có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ 3.
- Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là các khoản Ngân hàng cho vay ra
đòi hỏi khách hàng vay phải có tài sản thế chấp, hoặc cầm cố hoặc bảo lãnh
phải lớn hơn số tiền Ngân hàng cho vay ra.
* Căn cứ vào thao tác thừa hành tín dụng:
- Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cho vay vốn trực tiếp tới người có nhu
cầu vay và khách hàng vay phải trực tiếp hoàn trả nợ gốc, lãi vay cho Ngân
hàng.
- Tín dụng gián tiếp: là các khoản cho vay được thực hiện thông qua
việc mua lại các khế ước nợ hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và cịn thời
hạn thanh tốn.
* Phân theo phương thức cho vay:
Trên cơ sở nhu cầu của từng khoản vốn vay của khách hàng và khả năng
kiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay của Ngân hàng mà Ngân
hàng nơi cho vay thỏa thuận với khách hàng vay về việc lựa chọn các phương
thức cho vay sau:
- Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn, khách hàng và Ngân hàng nơi cho
vay làm thủ tục vay vốn theo quy định của Ngân hàng và ký hợp đồng tín
dụng. Phương thức này áp dụng đối với những khách hàng vay vốn khơng
thường xun, có nhu cầu và vay vốn từng lần.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: phương thức này áp dụng đối với
khách hàng vay ngắn hạn có nhu cầu vay vốn thường xuyên, sản xuất kinh
doanh ổn định, có uy tín trong quan hệ tín dụng với Ngân hàng. Ngân hàng


11
nơi cho vay cùng khách hàng vay xác định và thoả thuận một hạn mức tín

dụng duy trì trong thời gian nhất định hoặc theo một chu kỳ sản xuất kinh
doanh nhưng tối đa không quá 12 tháng.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực
hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu
tư phục vụ đời sống, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Ngân hàng sẽ thực
hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án.
- Cho vay hợp vốn: trường hợp khách hàng có nhu cầu vay vốn lớn, thời
hạn vốn vay khá dài, tổ chức tín dụng sẽ đứng ra làm đầu mối dàn xếp, huy
động các nguồn vốn từ nhiều định chế tài chính khác nhau trong và ngoài
nước để cùng đầu tư vào một hay nhiều dự án.
- Cho vay trả góp: khi vay vốn, Ngân hàng nơi cho vay và khách hàng
xác định và thỏa thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chi ra
để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn vay vốn.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phịng: căn cứ vào nhu cầu vay của
khách hàng, Ngân hàng nơi cho vay và khách hàng thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng về hạn mức tín dụng dự phịng. Nếu khách hàng khơng sử dụng
hoặc khơng sử dụng khơng hết hạn mức tín dụng dự phịng thì khách hàng vẫn
phải bỏ phí cam kết tính cho hạn mức tín dụng dự phịng đó.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân
hàng nơi cho vay chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong
phạm vi hạn mức tín dụng để thanh tốn tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động (ATM) hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của
tổ chức tín dụng đó.
1.1.3 Vai trị của tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất
Nói đến hộ sản xuất trong nền kinh tế, trước hết chúng ta cần thấy rằng
hộ sản xuất khơng chỉ có ở nước ta mà cịn có ở tất cả các nước có nền sản
xuất Nơng nghiệp trên thế giới. Hộ sản xuất đang tồn tại qua nhiều phương


12

thức và vẫn đang tiếp tục phát triển. Chúng ta có thể xem xét một số quan
niệm khác nhau về hộ sản xuất.
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ
hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà. Nhóm nguời đó bao
gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công.
Liên hợp quốc cho rằng: "Hộ là những người cùng sống chung dưới một
mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ".
Trên góc độ Ngân hàng, "Hộ sản xuất" là một thuật ngữ dùng trong hoạt
động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ.
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam, hộ được xem như một chủ
thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một
đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh
tế chung. Ngày nay hộ sản xuất đang trở thành một nhân tố quan trọng trong
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình xây
dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hướng XHCN. Để phù hợp
với xu thế phát triển chung, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước,
NHNo&PTNT Việt Nam ban hành phụ lục số 1 kèm theo quyết định số
499A ngày 02/09/1993, theo đó thì khái niệm hộ sản xuất được hiểu như
sau: "Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh
doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình". Thành phần chủ yếu của hộ
sản xuất bao gồm: hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, hộ gia đình xã viên, hộ
nơng, lâm trường viên.
Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở Nông thôn. Hộ
sản xuất trong nhiều ngành nghề hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh vực
Nông nghiệp và phát triển Nông thôn. Các hộ này tiến hành sản xuất kinh
doanh đa dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành nghề
phụ. Hộ sản xuất là một lực lượng to lớn ở Nông thôn nhưng còn thiếu vốn để



13
mở rộng tiến hành sản xuất kinh doanh. Với chức năng làm trung gian tín
dụng Ngân hàng nhận các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời tiến hành đầu tư cho
các hộ có khả năng phát triển mở rộng sản xuất nhưng thiếu vốn. Tín dụng
Ngân hàng đã đem lại khoản thu cho những người có vốn nhàn rỗi đồng thời
tạo cơ hội cho các hộ hoạt động tốt mở rộng dây chuyền sản xuất, mua sắm
thiết bị máy móc đổi mới công nghệ và tiếp cận với thông tin môi trường sản
xuất, quản lý, khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, tạo cho hộ sự
chủ động và đa dạng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó tạo cơng ăn
việc làm, thúc đẩy xuất khẩu hàng hố, cải thiện đời sống nhân dân. Như vậy,
tín dụng Ngân hàng đóng vai trị hết sức quan trọng, nó trở thành "Bà đỡ"
trong quá trình phát triển kinh tế hàng hố.
Tín dụng Ngân hàng cịn góp phần vào việc hạn chế cho vay nặng lãi ở
Nông thôn giúp kinh tế hộ sản xuất phát triển, làm ăn có hiệu quả. Thơng qua
vốn tín dụng Ngân hàng, các hộ sản xuất đã thực sự được trợ giúp và có cơ
hội tự khẳng định vị trí của mình trong xã hội. Việc mở rộng kinh tế hộ sản
xuất là hướng đi có tầm chiến lược đóng vai trị quan trọng đối với việc xây
dựng một nền kinh tế toàn diện. Thúc đẩy CNH - HĐH Nông nghiệp, Nông
thôn sẽ tạo thế và lực mới cho sự phát triển của đất nước. Cụ thể:
* Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho hộ sản xuất để duy trì quá
trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất cùng với sự chun
mơn hố sản xuất khi chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hố để bán thì
chưa có thu nhập, nhưng trong khi đó họ vẫn cần tiền để trang trải cho các
khoản chi phí sản xuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi
phí khác. Trong điều kiện như vậy, các hộ sản xuất cần có sự trợ giúp của tín
dụng Ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ
về vốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác
như lao động, tài nguyên để cải tạo, tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy cho



14
việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý từ đó nâng
cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho mọi người.
Ở Việt Nam, vai trị tín dụng càng trở nên quan trọng vì nước ta là nước
kinh tế đang phát triển, do đó nhu cầu về vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, nhu
cầu vốn để đổi mới trang thiết bị là rất lớn. Hơn thế, là nước có nền kinh tế đa
phần vẫn là sản xuất Nơng nghiệp thì tín dụng sẽ khai thác triệt để nguồn lực
tại chỗ (ngun vật liệu, nhân cơng, địa bàn,…). Cũng chính vì thế mà thị
phần của hộ sản xuất trong dư nợ của Ngân hàng Nông nghiệp ngày càng tăng
một cách đáng kể.
* Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy q trình tập trung vốn và tập
trung sản xuất.
Trong cơ chế thị trường, vai trị tập trung vốn của tín dụng Ngân hàng đã
được thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ. Hiệu quả kinh
doanh là vấn đề sống còn đối với các Ngân hàng phải đảm bảo được độ an
tồn và có lợi nhuận, tránh rủi ro trong cho vay.
Bằng cách tập trung vốn vào các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh
doanh có hiệu quả, giúp cho các hộ càng có điều kiện để sản xuất có hiệu quả
hơn thúc đẩy q trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời Ngân hàng phải đảm
bảo hạn chế được rủi ro tín dụng.
Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, Ngân hàng
phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ sản xuất vay. Vì
vậy, Ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng
quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và cho lưu thơng. Trên cơ sở đó hộ sản
xuất phải biết tập trung vốn như thế nào để sản xuất góp phần tích cực vào
q trình vận động liên tục của nguồn vốn.
* Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền
thống, ngành nghề mới, giải quyết việc làm cho người lao động.
Việt Nam là một nước có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chưa



15
được quan tâm và đầu tư đúng mức. Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh việc
thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo đúng hướng cơng nghiệp hố,
chúng ta cần phải quan tâm đến các ngành nghề truyền thơng có khả năng đạt
hiệu quả kinh tế đặc biệt trong qúa trình thực hiện CNH - HĐH Nơng nghiệp,
Nơng thơn. Phát huy được làng nghề truyền thống, cũng chính là phát huy
được nội lực kinh tế hộ. Và tín dụng Ngân hàng là công cụ tài trợ cho các
ngành nghề mới thu hút được đông đảo lực lượng lao động. Từ đó góp phần
phát triển tồn diện nơng - lâm - thuỷ sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành
thị và Nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Do đó, tín dụng Ngân hàng là địn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề
kinh tế trong hộ sản xuất phát triển, tạo tiền đề để lôi cuốn các ngành nghề
này phát triển một cách nhịp nhàng, đồng bộ.
*Tín dụng Ngân hàng khơng những đóng vai trị quan trọng trong việc thúc
đẩy phát triển kinh tế mà cịn có vai trị to lớn về mặt chính trị xã hội.

Thơng qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã
góp phần giải quyết cơng ăn việc làm cho người lao động đó là một trong
những vấn đề cấp bách hiện nay ở nước ta. Có việc làm, người lao động có
thu nhập sẽ hạn chế những tiêu cực xã hội. Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các
ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở Nông thôn,
hạn chế luồng di dân vào thành phố. Thực hiện các ngành nghề này là do các
nghề phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho người nông dân, đời sống văn hoá,
kinh tế, xã hội tăng lên, khoảng cách giữa Nơng thơn và thành thị càng nhích
lại gần nhau, hạn chế bớt sự phân hoá bất hợp lý trong xã hội, giữ vững an
ninh chính trị.
Ngồi ra, tín dụng Ngân hàng góp phần thực hiện tốt các chính sách đổi

mới của Đảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xố đói giảm nghèo.
TDNH thúc đẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh, làm thay đổi bộ mặt Nông


16
thơn, giúp cho hộ sử dụng có hiệu quả hơn đồng vốn của mình, nắm bắt được
cơ hội và thời cơ kinh doanh, các hộ nghèo trở nên khá hơn, hộ khá trở nên hộ
giàu hơn. Do đó tệ nạn xã hội dần dần dược xoá bỏ như: rượu chè, cờ bạc, mê
tín dị đoan, nâng cao dân trí, trình độ chuyên môn của lực lượng lao động.
Qua đây, chúng ta thấy được vai trị to lớn của tín dụng Ngân hàng trong việc
củng cố lịng tin của nơng dân nóí chung và hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước.
1.2 Tiêu chí đánh giá chất lƣợng hoạt động tín dụng
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng Ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ một loại sản phẩm nào sản xuất ra
cũng là những sản phẩm mang tính cạnh tranh. Điều này có nghĩa là mọi sản
phẩm sản xuất ra đều phải có chất lượng. Các nhà kinh tế đã nhận xét rằng:
"Chất lượng là sự phù hợp mục đích của người sản xuất và người sử dụng về
một loại hàng hoá nào đó" hay "Chất lượng là một sản phẩm hay dịch vụ thoả
mãn nhu cầu của khách hàng".
Trong các nghiệp vụ của Ngân hàng, tín dụng là một hoạt động chiếm tỷ
trọng lớn trong thu nhập của Ngân hàng, đây là hình thức sản phẩm mang
hình thái phi vật chất là dịch vụ đặc biệt, sản phẩm này chỉ có khả năng đánh
giá được khi khách hàng đã sử dụng và hoạt động này cũng chứa đựng rất
nhiều rủi ro. Vì thế, các Ngân hàng không ngừng phải nâng cao chất lượng
hoạt động tín dụng của mình đảm bảo duy trì sự tồn tại và phát triển của Ngân
hàng. Chất lượng tín dụng là một khái niệm được các nhà kinh tế tiếp cận theo
các cách thức khác nhau nhưng theo quan niệm chất lượng là năng lực của
một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng thì tín
dụng Ngân hàng được hiểu như sau:

Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng ở đây gồm
cả người gửi tiền và vay tiền phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội đồng
thời đảm bảo sự tồn tại, phát triển của Ngân hàng.


17
Qua khái niệm này ta có thể thấy rằng: Khách hàng, sự phát triển kinh tế
xã hội, Ngân hàng là ba nhân tố được đưa vào xem xét về chất lượng hoạt
động tín dụng.
- Chất lượng tín dụng đứng trên giác độ khách hàng: tín dụng Ngân
hàng đưa ra phải phù hợp với yêu cầu của khách hàng về lãi suất ( giá cả sản
phẩm), kỳ hạn, phương thức thanh tốn, hình thức thanh tốn, thủ tục đơn
giản thuận tiện tuy nhiên vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng Ngân hàng.
- Chất lượng tín dụng đứng trên giác độ Ngân hàng: chất lượng tín dụng
thể hiện ở giới hạn, mức độ, phạm vi tín dụng phải phù hợp với khả năng thực
lực của Ngân hàng, phải đảm bảo tính cạnh tranh, an toàn, sinh lời theo
nguyên tắc hoàn trả đầy đủ và có lợi nhuận.
- Chất lượng tín dụng xét từ giác độ kinh tế xã hội: góp phần thay đổi
nền kinh tế, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH HĐH; góp phần tích cực vào việc phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hố từ
đó góp phần giải quyết cơng ăn, việc làm, khai thác một cách tốt nhất nguồn
lực của nền kinh tế, thúc đẩy q trình tích tụ và tập trung sản xuất từ đó làm
hài hồ giữa tăng trưởng tín dụng và phát triển kinh tế.
Như vậy, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp nó phản ánh sự
thích nghi của Ngân hàng với sự thay đổi mơi trường bên ngồi, nó thể hiện
sức mạnh của Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Chất lượng tín dụng được thể hiện qua nhiều yếu tố như: thu hút được nhiều
khách hàng, thủ tục giản đơn, thuận tiện, mức độ an tồn của vốn tín dụng,
chi phí nghiệp vụ, chi phí tổng thể về lãi suất. Chất lượng tín dụng khơng tự
nhiên sinh ra mà nó là kết quả của q trình kết hợp hoạt động giữa những
con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau vì một mục đích

chung, do đó để có chất lượng cần có quản lý. Quản lý chất lượng về cơ bản
là những hoạt động và kỹ thuật được sử dụng nhằm đạt được và duy trì chất
lượng của một loại sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ. Nó bao gồm việc theo


18
dõi, tìm hiểu và trừ những nguyên nhân gây ra những trục trặc trong việc
cung cấp tín dụng để các yêu cầu của khách hàng liên tục được đáp ứng. Đảm
bảo chất lượng và việc ngăn ngừa những trục trặc về mặt chất lượng bằng các
hoạt động có kế hoạch và có hệ thống (bao gồm cả cơng tác tư liệu), bao gồm
việc thiết lập một hệ thống quản lý chất lượng tốt, thích hợp và có khả năng
kiểm tra kiểm sốt.
1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng
Tuỳ theo mục đích, phạm vi và góc độ khác nhau, người ta có thể đánh
giá chất lượng tín dụng theo các tiêu tức khác nhau. Ngân hàng thường đánh
giá chất lượng tín dụng khoản vay thơng qua một số chỉ tiêu cơ bản sau:
1.2.2.1 Chỉ tiêu định tính
a. Đảm bảo nguyên tắc cho vay:
Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều được dựa trên một nguyên tắc nhất
định. Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó có ảnh
hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Nguyên
tắc cho vay là một nguyên tắc quan trọng đối với mỗi Ngân hàng. Để đánh giá
chất lượng một khoản cho vay, điều đầu tiên phải xem xét là khoản cho vay
đó có bảo đảm nguyên tắc cho vay hay không. Theo quyết định 1627/QĐ
ngày 15/01/2002, tại Điều 6 nguyên tắc vay vốn ghi rõ: Khách hàng vay vốn
của tổ chức tín dụng phải đảm bảo 2 nguyên tắc cơ bản để cho vay là:
- Thứ nhất: Sử dụng đúng mục đích theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Thứ hai: Hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng hạn theo thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng.
Hai nguyên tắc cho vay trên là nguyên tắc tối thiểu mà bất cứ một khoản

cho vay nào cũng phải đảm bảo.
b. Cho vay đảm bảo có điều kiện:
Chỉ tiêu định tính thứ hai để đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đó
là cho vay bảo đảm có điều kiện, cũng theo quy định 1627/ QĐ - CP, tại Điều


19
7 Điều kiện vay vốn ghi rõ: "Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay
khi khách hàng có đủ cả điều kiện sau":
- Một là: Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu
trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đối với hộ sản xuất phải
thường trú tại địa bàn nơi chi nhánh NHNo đóng tại trụ sở có xác nhận địa chỉ
nơi thường trú và có xác nhận của uỷ ban nhân dân xã (phường) nơi cho phép
hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Hai là: Khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Hộ
sản xuất vay vốn phải có vốn tham gia vào dự án sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ. Hộ sản xuất phải kinh doanh có hiệu quả, khơng có nợ quá hạn trên 6
tháng với Ngân hàng.
- Ba là: Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp: khơng vi phạm pháp luật
với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội.
- Bốn là: Hộ sản xuất có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh
doanh khả thi, có hiệu quả.
- Năm là: Hộ sản xuất thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay.
+ Đối với hộ vay đến 10 triệu đồng không phải thế chấp tài sản.
+ Đối với hộ vay trên 10 triệu đồng phải thực hiện bảo đảm tiền vay
bằng tài sản, quyền sử dụng đất (bao gồm cả cơng trình, giá trị cây lâu năm,
thuỷ hải sản nuôi trông đã đến kỳ thu hoạch gắn liền với đất).
Bất cứ một khoản cho vay hộ sản xuất nào đều phải xem xet đến năm
điều kiện cho vay để đánh giá chất lượng khoản vay.
c. Quá trình thẩm định:

Quá trình thẩm định là chỉ tiêu định tính quan trọng nhất quyết định tới
chất lượng khoản cho vay. Quá trình thẩm định là cách tốt nhất để Ngân hàng
nắm được thông tin về khách hàng, về năng lực pháp luật, đạo đức của khách
hàng, tình hình tài chính của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng, …
Đây là khâu không thể thiếu được trong quá trình quyết định cho vay và theo


20
dõi khoản vay. Quá trình thẩm định phải tuân theo các quy định và nội dung
thẩm định cho vay của từng Ngân hàng. Một khoản cho vay có chất lượng là
khoản cho vay đã được thẩm định và phải đảm bảo các bước của quá trình
thẩm định. Quá trình thẩm định một khoản cho vay hộ sản xuất rất phức tạp
do đặc điểm sản xuất kinh doanh của hộ là sản xuất kinh doanh tổng hợp. Vì
vậy, việc tuân thủ quy trình thẩm định và nội dung thẩm định cho vay là bắt
buộc để một khoản vay đạt chất lượng.
1.2.2.2 Chỉ tiêu định lượng:
Khơng giống như chỉ tiêu định tính, chỉ tiêu định lượng giúp cho Ngân
hàng có cách đánh giá cụ thể hơn về chất lượng tín dụng, qua đó giúp Ngân
hàng có biện pháp xử lý kịp thời những khoản vay kém chất lượng. Các chỉ
tiêu mà Ngân hàng thường dùng để đánh giá chất lượng tín dụng đối với hộ
sản xuất là:
a. Doanh số cho vay hộ sản xuất:
Doanh số cho vay hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số
tiền Ngân hàng cho hộ sản xuất vay trong thời kỳ nhất định thường là một năm. Chỉ
tiêu này phản ánh quy mô đầu tư vốn của Ngân hàng.
Doanh số cho vay HSX trong kỳ = (Dư nợ HSX cuối kỳ - Dư nợ HSX
đầu kỳ + Doanh số thu nợ HSX trong kỳ)
Ngồi ra Ngân hàng cịn dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng cho
vay hộ sản xuất trong tổng doanh số cho vay của Ngân hàng trong một năm.
Tỷ trọng cho vay HSX = (Doanh số cho vay HSX/ Tổng doanh số cho

vay) * 100%.
b. Doanh số thu nợ hộ sản xuất:
Doanh số thu nợ hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền
Ngân hàng thu hồi được sau khi đã giải ngân cho hộ sản xuất trong một thời kỳ.
Nếu doanh số thu nợ càng lớn thì chứng tỏ hoạt động tín dụng càng có hiệu quả.


21
Doanh số thu nợ HSX trong kỳ = (Dư nợ hộ sản xuất đầu kỳ + Doanh số
cho vay HSX trong kỳ - Dư nợ HSX cuối kỳ)
Tỷ lệ thu nợ HSX = (Doanh số thu nợ HSX/ Tổng dư nợ HSX) * 100%.
Để phản ánh tình hình thu nợ hộ sản xuất, Ngân hàng còn sử dụng chỉ
tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng thu hồi được trong tổng doanh số cho vay hộ
sản xuất của Ngân hàng trong thời kỳ. Chỉ tiêu này được tính bằng cơng thức:
Tỷ trọng thu hồi nợ HSX = (Doanh số thu nợ HSX/ Doanh số cho vay
HSX)* 100%.
c. Dư nợ quá hạn hộ sản xuất:
Dư nợ quá hạn hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền
Ngân hàng chưa thu hồi được sau một thời gian nhất định kể từ ngày khoản
cho vay đến thời hạn thanh toán tại thời điểm đang xem xét.
Dư nợ cuối kỳ = (Doanh số cho vay trong kỳ + Dư nợ đầu kỳ - Doanh số
thu nợ trong kỳ)
Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối, Ngân hàng thường xuyên sử dụng chỉ tiêu tỷ
lệ nợ quá hạn hộ sản xuất:
Tỷ lệ nợ quá hạn HSX = (Dư nợ quá hạn HSX/ Tổng dư nợ HSX) * 100%.
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả tín dụng HSX và chất
lượng tín dụng đầu tư cho vay đối với hộ sản xuất. Dư nợ quá hạn càng nhỏ,
tỷ lệ nợ quá hạn thấp, chất lượng tín dụng càng cao.
Hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng Ngân hàng nói
riêng đều chứa đựng nhiều rủi ro tác động đến lợi nhuận và sự an toàn kinh

doanh của Ngân hàng. Do vậy, việc đảm bảo thu hồi đủ vốn cho vay đúng
hạn, thể hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn thấp là vấn đề quan trọng trong quản lý
Ngân hàng liên quan đến sự sống còn của Ngân hàng.
Để xem xét chi tiết hơn khả năng không thu hồi được nợ người ta sử
dụng chỉ tiêu nợ khó địi:
Tỷ lệ nợ khó địi = (Tổng nợ khó địi/ Tổng nợ quá hạn) * 100%.


22
Đây cũng là một chỉ tiêu tương đối, tỷ lệ này ở mức cao là dấu hiệu cho
thấy nguy cơ mất vốn cao do các khoản vay có vấn đề.
d. Vịng quay vốn tín dụng HSX:
Vịng quay vốn tín dụng HSX = (Doanh số thu nợ HSX/ Dư nợ bình
quân HSX).
Trong đó, dư nợ bình qn HSX = (Dư nợ đầu năm + Dư nợ cuối
năm)/2.
Đây là một chỉ tiêu quan trọng xem xét chất lượng tín dụng HSX, phản
ánh tần suất sử dụng vốn. Vòng quay càng lớn với số dư nợ luôn tăng chứng
tỏ đồng vốn Ngân hàng bỏ ra được sử dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm
chi phí, tạo ra lợi nhuận lớn cho Ngân hàng.
e. Lợi nhuận của Ngân hàng:
Lợi nhuận = Tổng thu - tổng chi - thuế.
Trong tổng thu, lãi thu từ cho vay là chủ yếu, mà đối tượng NHN0 thì hộ
sản xuất là khách hàng chính của Ngân hàng, cho nên lợi nhuận Ngân hàng là
thước đo hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng cũng như chất lượng cho vay
HSX.
1.2.2.3 Một số chỉ tiêu khác:
* Chỉ tiêu 1:
Số tiền vay mỗi lượt HSX = (Doanh số cho vay HSX/ Tổng số lượt
HSX vay vốn)

Chỉ tiêu này phản ánh số tiền vay mỗi lượt của HSX. Số tiền vay càng
cao chứng tỏ hiệu quả cũng như chất lượng cho vay tăng lên. Điều đó thể hiện
sức sản xuất cũng như quy mô hoạt động sản xuất của HSX tăng lên cao. Đồng
thời thể hiện chất lượng cho vay có xu hướng tăng, bởi thế Ngân hàng cho một
lượt HSX vay nhiều hơn mà vẫn đảm bảo khả năng thu hồi và có lãi.
* Chỉ tiêu 2:
Tỷ lệ cho vay trung - dài hạn HSX = (Dư nợ cho vay HSX trung - dài
hạn/ Tổng số dư nợ HSX) * 100%.


23
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài
hạn HSX để mở rộng sản xuất kinh doanh. Cho vay trung - dài hạn HSX phải đạt
tỷ trọng cao hơn cho vay ngắn hạn thì hộ mới có đủ vốn để cải tạo, xây dựng cơ
sở vật chất cho sản xuất, từ đó tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngắn
hạn. Theo đánh giá, tỷ lệ tối thiểu là 30% tổng dư nợ (mục tiêu của NHN0 &
PTNT Việt Nam). Tuy vậy tỷ lệ này có thể cao, thấp tuỳ thuộc vào vốn trung,
dài hạn tại địa phương cũng như chính sách tín dụng của NHTM. Hai chỉ tiêu
1và 2 phản ánh tính hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với việc phát triển kinh tế
HSX, qua đó đánh được chất lượng tín dụng của Ngân hàng.
* Chỉ tiêu 3:
Tốc độ tăng trưởng dư nợ HSX hàng năm. Đây là dấu hiệu cho thấy kết
quả hoạt động tín dụng Ngân hàng sử dụng với chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn có thể
đánh giá được chất lượng cũng như hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với
HSX. Từ chỉ tiêu này có thể tính tốc độ tăng trưởng bình quân một giai đoạn
cho đánh giá toàn diện hơn chất lượng tín dụng một thời kỳ nào đó.
* Chỉ tiêu 4 :
Số hộ CBTD quản lý = ( Tổng số hộ vay/ Tổng số CBTD).
Do năng lực của mỗi con người có hạn, do địa bàn Nơng thơn rộng lớn
và tính phức tạp trong cho vay Nơng nghiệp và Nơng thôn, nếu CBTD quản

lý qúa nhiều hộ vay vốn sẽ ảnh trực tiếp tới chất lượng tín dụng. Việt Nam chỉ
tiêu này chưa được coi trọng, thường mỗi CBTD ở NHN0 &PTNT Việt Nam
quản lý khoảng 600 - 800 hộ, trong khi đó ở các nớc con số này chỉ vào
khoảng 200 - 300 hộ cho mỗi CBTD.
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Ngân hàng đối
với hộ sản xuất
Việc nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất có ý
nghĩa rất lớn với Ngân hàng, HSX và nền kinh tế, mang tính quyết định sự


24
thành bại của Ngân hàng. Do vậy, yêu cầu phải nâng cao chất lượng tín dụng
Ngân hàng đối với hộ sản xuất là một yêu cầu thường xuyên đối với Ngân
hàng. Để làm được điều đó, trước hết phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng chất
lượng tín dụng HSX. Có các nhóm yếu tố chính sau đây:
1.2.3.1 Yếu tố thuộc mơi trường:
Mơi trường là nhóm yếu tố có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng HSX
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đặc biệt trong điều kiện sản xuất của nước
ta cịn phụ thuộc vào thiên nhiên thì mơi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn.
a. Mơi trường kinh tế xã hội:
Mơi trường kinh tế xã hội có ảnh hưởng gián tiếp tới chất lượng tín dụng
HSX. Mơi trường kinh tế ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiện cho HSX làm
ăn có hiệu quả, do vậy HSX vay nhiều hơn, các khoản vay đều được hộ sản
xuất sử dụng đúng mục đích mang lại hiệu quả kinh tế. Từ đó, các khoản vay
được hồn trả đúng thời hạn cả tiền gốc và lãi. Trên cơ sở đó chất lượng tín
dụng HSX được nâng lên.
b. Mơi trường chính trị - pháp lý:
Ngân hàng là một trong những ngành phải chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ
quan pháp luật và cơ quan chức năng. Do vậy, việc tạo ra mơi trường pháp lý
hồn thiện sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng.

Mơi trường chính trị ổn định, tạo điều kiện và cơ sở pháp lý để hoạt
động tín dụng Ngân hàng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của HSX
tiến hành thuận lợi. Những quy định cụ thể của pháp luật về tín dụng và các
lĩnh vực khác có liên quan đến hoạt động tín dụng là cơ sở để xử lý, giải quyết
khi xảy ra tranh chấp tín dụng một cách hữu hiệu nhất. Vì vậy, mơi trường
chính trị - pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng HSX.
c. Mơi trường tự nhiên:
Mơi trường tự nhiên tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh


×