Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

sáng kiến kinh nghiệm một số BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG “rèn CHỮ VIẾT CHO học SINH lớp một”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (83.31 KB, 11 trang )

1

1. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG “RÈN CHỮ
VIẾT CHO HỌC SINH LỚP MỘT”
2. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong nhà trường hiện nay ,việc rèn chữ viết cho học sinh là một vấn đề hết sức
quan trọng được mọi người trong và ngoài ngành giáo dục đào tạo quan tâm lo
lắng. Người xưa đã nói : “Nét chữ nết người”. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn
thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho học sinh tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự
trọng đối với mình cũng như đói với thầy và bạn mình. Chữ viết thể hiện tính cách
của người học sinh. Chính vì vậy, cô giáo ngoài việc truyền thụ kiến thức còn phải
quan tâm đến việc rèn chữ viết cho học sinh.
Tiểu học là bậc học nền tảng, dạy Tiếng việt và Tập viết là chúng ta đã trao cho các
em chìa khoá để mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, là công cụ để các em
vận dụng suốt đời.
Nhận thức được tầm quan trọng đó tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: Một số biện pháp
nhằm nâng cao chất lượng: “Rèn chữ viết cho học sinh lớp Một”
3. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Học sinh lớp Một ngày đầu tiên đi học ở trường phổ thông còn rất nhiều bỡ ngỡ.
Việc làm quen chữ viết đối với các em thật khó bởi đôi bàn tay còn vụng về, lóng
ngóng. Là giáo viên dạy lớp Một đã nhiều năm, tôi luôn trăn trở suy nghĩ một câu
hỏi. Ở lớp Một có nên tiến hành dạy các em viết đẹp ngay không ? Sau nhiều năm
đúc kết qua việc giảng dạy môn Tập viết tôi nhận thấy rằng đói với học sinh lớp
Một, nếu cùng một lúc đòi hỏi các em viết đúng, viết đẹp ngay là điều không thực
tế, khó có thể thực hiện được. Do vậy đối với từng lớp, giáo viên cần lựa chọn mục
tiêu, trọng tâm của môn học phù hợp với lứa tuổi để học sinh tiếp thu bài một cách
vững chắc nên tôi đã xác định muốn viết chữ đẹp thì việc đầu tiên cần làm ở lớp
Một là rèn cho trẻ có nề nếp và kỹ thuật viết chữ đúng thì mới có cơ sở để viết chữ
đẹp. Đây chính là yêu cầu có tính quyết định trong việc rèn viết chữ đẹp cho suốt
quá trình học tập của học sinh.
4. CƠ SỞ THỰC TIỄN:


Đầu năm học khi nhận lớp, học sinh tôi viết rất yếu, nhiều em chỉ biết cầm bút
chì ngồi nhìn các bạn viết,tôi thật sự boăn khoăn lo lắng,nỗi lo lắng ấy tràn ngập
trong lòng tôi hằng ngày, hằng giờ.
Từ đó tôi bắt đầu suy nghĩ phải tìm hiểu thực tế vì sao các em viết chưa
được,viết chưa đẹp. Đó là một vấn đề cấp bách đối với bản thân tôi. Sau đó tôi tiến
hành tìm ra những giải pháp cụ thể nhằm khắc phục tình trạng non yếu này.
Có rất nhiều nguyên nhân chủ yếu sau đây:
+ Gia đình học sinh đa số ở vùng nông thôn sống bằng nghề nông, gia đình đông
con, hoàn cảnh kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn nên cha mẹ chưa thật sự quan
tâm đến việc học tập của con em.


2

+ Bản thân mỗi em chưa phát huy được tính tự học, tự rèn ở trường cũng như ở
nhà. Mặt khác phụ huynh chưa đôn đốc nhắc nhở còn thờ ơ với việc học tập.
+ Các em còn ham chơi hơn ham học.
+ Học sinh chưa nắm được cấu tạo nét, điểm đặt bút, dừng bút của các nét cơ
bản,các con chữ.
+ Cầm bút chưa đúng cách, ngồi viết chưa đúng tư thế, chưa khoa học .
+ Dụng cụ học tập còn thiếu ở một số em.
+ Một số em chưa được qua mẫu giáo.
5.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Muốn cho học sinh viết đúng dẫn đến viết đẹptôi đã tìm tòi thực hiện một số biện
pháp sau:
* Biện pháp thứ nhất:
Chuẩn bị mọi điều kiện để học sinh viết đúng.
+ Chuẩn bị trước khi viết.
Giai đoạn viết bút chì, cần chuẩn bị chu đáo cho đầu nét chì hơi nhọn,đúng tầm.
Nếu quá nhọn dẫn đến nét chữ mảnh,có khi chọc thủng giấy. Ngược lại nếu bút chì

quá “tù” nét chữ sẽ đậm, chữ viết ra rất xấu.
Khi chuyển sang viết bút mực,giáo viên yêu cầu học sinh thống nhất viết bút tím
“Thiên Long”. Mỗi học sinh luôn có hai cây bút.
Việc chuẩn bị tinh thần khi viết rất cần thiết, trạng thái tinh thần phải phấn chấn,
hứng thú không viết khi quá mệt mỏi ,buồn ngủ, uể oải, phân tán vì chuyện khác,
tránh tư tưởng viết qua quýt cho xong.
+ Điều kiện về tư thế ngồi viết:
- Ngay từ khi vào lớp ở đầu tuần tôi hướng dẫn học sinh rất kĩ về tư thế ngồi viết
một cách thoả mái nhất, không gò bó (dễ gây tê mỏi) hai tay phải đặt đúng điểm tựa
qui định mới điều khiển cây bút theo sự chỉ huy của não được. Ngồi quá cao, đầu
phải cúi gằm xuống. Ngồi quá thấp, đầu phải nhìn lên (điều này phụ thuộc vào bàn
ghế phải thích hợp kích cỡ học sinh), tuyệt đối không quỳ, nằm, ngồi viết tuỳ tiện.
Khoảng cách từ mắt đến 25->30cm là vừa (hơn 1gang tay người lớn), không được
nhìn quá gần vở vì thiếu ánh sáng sẽ dẫn đến cận thị.
- Cột sống lưng luôn tư thế thẳng đứng vuông góc với mặt ghế ngồi. Không ngồi
vặn vẹo lâu dần thành có tật, dẫn đến cột sống,rất khó chữa sau này.
- Hai chân thoả mái không để chân co,chân duỗi khiến cột sống phải lẹch vẹo và
chữ viết phải xiên lệch theo.
- Tay phải để xiên theo chiều ngồi,giữ lấy mép vở cho khỏi xô lệch, đồng thờilàm
điểm tựa cho nửa ngưòi bên trái.
+ Cách cầm bút:
Tay phải cầm chắc bút bằng ba ngón tay (cái,trỏ,giữa). Đầu ngón trỏ cách đầu
ngòi bút chì khoảng 2,5cm. Mép bàn tay là điểm tựa của cánh phải khi đặt xuống
bàn viết. Cầm bút xuôi theo chiều ngồi. Góc độ bút đặt so với mặt giấy khoảng 45
độ. Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng 90 độ như cách cầm bút lông, không để


3

ngửa hoặc úp quá nghiêng bàn tay về phía bên trái, lúc viết đưa bút chì từ trái sang

phải, từ trên xuống dưới. Các nét đưa lên hoặc đưa sang ngang phải nhẹ tay, không
ấn mạnh đầu bút vào mặt giấy, điều khiển cây bút bằng các cơ ở cổ tay.
* Biện pháp thứ hai :
Rèn viết đúng trọng tâm từ nhóm chữ.
Nếu cùng một lúc đòi hỏi học sinh viết đúng và đẹp ngay là điều rất khó thực
hiện,mặt khác căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mối quan hệ về cách viết các chữ
cái để học sinh viết đúng kĩ thuật ngay từ đầu tôi chia nhóm chữ và xác định trọng
tâmđại diện cho mỗi nhóm chữ học sinh hay sai chỗ nào, học sinh gặp khó khăn gì
khi viết chữ ở nhóm đó.
Nhóm 1 : gồm 8 chữ cái : i, t, u, ư, n, m, v, r.
Hầu hết các con chữ cái ở nhóm 1 đều có chiều cao 1 đơn vị, riêng chữ cái t cao
1,5 đơn vị. Bề rộng cơ bản của chữ bằng 3/4 đơn vị, riêng chữ m rộng 1,5 đơn vị.
Chữ cái ở nhóm này thường được cấu tạo bằng các nét móc.
- Móc xuôi (
)
- Móc ngược (
)
- Móc hai đầu (
)
Với nhóm chữ này học sinh hay thắc mắc lỗi viết chưa đúng nét nối giữa các nét,
nét móc thường bị đổ nghiêng, khi hất lên thường choãi chân ra nên không đúng.
Để khắc phục nhược điểm trên, ngay từ nét đầu tiên, tôi đặt trong tâm rèn luyện
học sinh viết nétmóc ngược, móc hai đầu thật đúng, thật ngay ngắn trước khi ghép
các nét tạo thành chữ. Khi ghép tôi thường chú ý minh hoạ rõ nét đặt bút, điểm
dừng bút của mỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp.
Từ các nét cơ bản ở nhóm thứ nhất được viết đúng, học sinh sẽ có cơ sở viết chữ
ở nhóm 2 dễ hơn.
Nhóm 2 : gồm 6 chữ cái : l, p, h, k, y, p.
Chữ cái ở nhóm 2 có chiều cao là 2,5 đơn vị, riêng chữ p có chiều cao là 2 đơn vị.
Bề rộng cơ bản của chữ là 3/4 đơn vị. Chữ cái ở nhóm này thường được cấu tạo các

nét cơ bản sau :
- Nét thẳng đứng (
)
- Nét khuyết xuôi (
)
- Nét khuyết ngược (
)
Ở nhóm này, học sinh hay viết sai điểm giao nhau của nét và chữ viết còn cong
vẹo.
Để giúp học sinh viết đúng điểm giao nhau của các nét khuyết, tôi cho học sinh
xác định rõ ràng các điểm giao nhau của các nét khuyết bằng một dấu chấm nhỏ và
rèn cho học sinh thói quen luôn đưa bút từ điểm bắt đầu qua đúng chấm rồi mới
đưa bút lên liên tiếp thì mới đúng.
Đối với học sinh lớp Một, để viết chữ này thẳng, ngay ngắn thì cần rèn cho học
sinh viết nét sổ thẳng thật đúng, thật thẳng ở ngay các bài nét chữ cơ bản. Khi nào
thành thạo thì mới tiến hành viết nét khuyết.


4

Nhóm 3 : gồm 15 chữ cái : o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, g, c, x, e, ê, s.
Các chữ cái ở nhóm 3 có độ cao khác nhau. Đa số các chữ cái có độ cao một đơn
vị (10/15 chữ). Riêng các chữ cái d, đ, q cao 2 đơn vị, chữ cái g cao 2,5 đơn vị. Bề
rộng cơ bản các chữ cái trong nhóm 3 là 3/4 đơn vị, riêng chữ s rộng 1 đơn vị, chữ
x rộng 1,5 đơn vị. Nhóm chữ này thường được cấu tạo bởi các nét cong (cong kín,
cong hở), trong đó nét cong kín (chữ o) có mặt 11 chữ cái (o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q,
g), các chữ c, x, e, ê, s được viết trên cơ sở tạo nét cong trái, cong phải hoặc kết
hợp giữa nét thẳng xiên và cong phải ở chữ (có vòng xoắn nhỏ ở đầu chữ).
Với nhóm chữ này nhiều người cứ nghĩ là đơn giản nhưng thực tế học sinh viết
sai từ chữ o như chiều ngang quá rộng hoặc quá hẹp, nét chữ không đều, đầu to,

đầu bé.
Ở nhóm này, tôi xác định dạy cho học sinh viết chữ o đẻ làm cơ sở cho viết đúng
các chữ khác trong nhóm. Vì vậy khi dạy chữ o, tôi vẽ 1 ô vuông lên bảng rồi chia
thành 3 phần bằng nhau, đánh dấu 4 điểm ở giữa các cạnh hình chữ nhật, dùng
phấn màu chấm hình chữ o sau đó tô lên các dấu chấm, vừa tô, vừa giảng kĩ, nhấn
mạnh điểm đặt bút đầu tiên và điểm dừng bút chính là điểm viết thêm dấu chữ o và
đểm để nối các chữ khác khi viết nhanh. Viết được chữ o đúng, học sinh đúng các
chữ cái khác trong nhóm.
Giai đoạn viết hoa :
Qua nhiều năm dạy chương trình cải cách, tôi nhận thấy phần dạy học sinh làm
quen với việc tô chữ còn có sự mâu thuẫn. Trong sách hướng dẫn quy trình là :
+ Giáo viên tô chữ hoa mẫu trên bảng lớp.
+ Học sinh viết chữ hoa vào bảng con trước rồi mới tập tô chữ hoa trong vở nên
rất khó khăn cho học sinh, cứ đến giờ viết hoa các em rất lo lắng vì viết quá khó.
Sau khi tìm hiểu tâm lý và thử nghiệm, tôi mạnh dạn chuyển đổi quy trình khác với
sách hướng dẫn là :
- Giáo viên tô màu trên bảng lớp.
- Học sinh tô vào vở.
- Phần củng cố học sinh mới luyện viết chữ hoa vào bảng con.
Bằng cách suy nghĩ thay đổi quy trình ở sách hướng dẫn, Học sinh bớt căng thẳng
và phấn khởi khi đã được tô chữ trước khi tập viết chữ hoa. Do vậy chất lượng viết
chữ hoa của học sinh lớp tôi có nhiều tiến bộ.
Sau khi chia các nhóm chữ, xác định trịng tâm cần dạy kĩ ở mỗi nhóm, tôi luôn
đạt ra kế hoạch rèn chữ hàng tuần, hàng tháng một cách cụ thể. Mỗi tuần tôi rèn
một nhóm chữ nhất định, rèn đúng loai chữ này thì mới chuyển sang loại chữ khác
rồi tiến tới rèn viết đẹp nên học sinh rất say mê phấn khởi, không căng thẳng khi
tập viết.
Sau khi phát hiện ra nguyên nhân chỗ viết hỏng, cần giúp trẻ rút kinh nghiệm
tránh vấp phải sai sót tương tự lần sau.
Khi viết thấy mỏi tay, mồ hôi ra nhiều hoặc hoa mắt nhức đầu có nghĩa là ngồi

quá lâu, phải nghỉ giải lao. Sau 4 đến 5 phút trở lại ngồi viết sẽ hiệu quả hơn


5

* Biện pháp thứ 3 :
Sự mẫu mực chữ viết của giáo viên là phương tiện quan trọng để dạy học sinh
viết đúng, viết đẹp.
+ Đề cao sự gương mẫu về chữ viết mẫu mực trên bảng lớp. Khi chấm bài, lời
nhận xét ngắn gọn của thầy cô sẽ có tác dụng khuyến khích hoặc chỉ ra những lời
sai về chữ viết của học sinh. Lời nhận xét phải luôn chứa đựng tình cảm thân
thương.
Ví dụ : “Chữ viết có tiến bộ”, “Đáng khen”. Trường hợp học sinh viết sai mẫu
chữ, thầy cô không viết đè lên chữ sai và viết mẫu 1 - 2 chữ, yêu cầu học sinh viết
lại 1 - 2 dòng để về nhà tập viết theo mẫu.
* Biện pháp thứ tư :
Kết hợp với cha mẹ học sinh và tổ chức tốt các phong trào thi đua.
+ Đặc điểm của học sinh lớp Một là nhanh quên việc rèn luyện viết chữ đúng,
đẹp, cần được làm thường xuyên và liên tục ở mọi nơi, mọi lúc. Ngoài sự dạy dỗ
của thầy cô ở lớp, việc cha mẹ giúp đỡ con rèn luyện ở nhà là một việc quan
trọng.Vì vậy ngay từ buổi học đầu tiên của năm học tôi đã trao đổi rất kĩ tầm quan
trọng của việc rèn chữ cho học sinh lớp Một và phổ biến cách dạy các cháu ở nhà
cho thống nhất với giáo viên ở lớp. Tôi mạnh dạn trình bày trên bảng các nhóm chữ
và nêu trọng tâm cần dạy ở mỗi nhóm chữtới cha mẹ học sinh, phát tới cha mẹ học
sinh tờ hướng dẫn chữ và yêu cầu chữ viết cần đạt để cha mẹ học sinh có cách dạy
thống nhất với giáo viên .
Tổ chức tốt các phong trào thi đua:
+ Để phong trào luyện thi chữ viết sôi nổi, tôi phát động cho lớp tôi thi đua viết
chữ đẹp theo tuần, theo chủ điểm và kết hợp với hội cha mẹ học sinh khen thưởng
kịp thời.

Ví dụ: Mỗi tuần vào tiết sinh hoạt lớp tôi dành khoảng 10’ để đánh giá việc rèn chữ
- giữ vở của học sinh và khen thưởng.
+ Mỗi chủ điểm của tháng tôi thường tổ chức cho các em thi viết chữ đẹp tặng cô,
tặng mẹ nhân ngày 8/3. Mỗi các em có một quyển vở mỗi ngày các em viết một từ
hay một câu ngắn. Đến ngày 8/3 những quyển vở sạch, đẹp được bao gói cẩn thận.
Bên ngoài để dòng chữ “Kính tặng cô nhân ngày 8/3”. Tôi chọn những em có chữ
đẹp - vở sạch để dự thi cấp tổ cấp trường.
Ngoài việc phát động thi đua trong học sinh tôi còn giới thiệu các bài viết đẹp,
các trang viết đẹp của học sinh trong buổi họp cha mẹ để cha mẹ học sinhcùng thi
đua rèn luyện cho con em mình.
6.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Từ nhận thức của bản thân trên cơ sở thực tiễn chọn đề tài và các biện pháp triển
khai đề tài lớp tôi đã đạt một số kết quả thực hiện như sau:
- Mỗi tháng lớp tôi đều có tiến bộ về chữ viết, cụ thể:
Tháng 9: A : 08( 12,1%) ,
B :10(52,4%) ,
C:01(5,5%)
Tháng 10: A : 12(62,7% ) ,
B :06(31,8%) ,
C:01(5,5%)


6

Tháng 11: A:15: (78,9%) ,
B:04 (21,1%) ,
C: 0
Tháng 12: A:15: (78,9%) ,
B:04(21,1%) ,
C: 0

Tháng 01: A:16: (84,2%) ,
B:03(15,8%) ,
C: 0
Là lớp đoạt danh hiệu lớp vở sạch -chữ đẹp, với tỉ lệ cao.
Trong hội thi viết chữ đẹp em Thảo đoạt giải nhì, là lớp có kĩ thuật viết tốt, đảm
bảo chiều cao, độ rộng của con chữ. Học sinh thích môn tập viếtcó lòng say mê rèn
chữ, giữ vở. Bản thân là giáo viên chủ nhiệm. Tôi rất vui mừng với kết quả học
sinh đã đạt được. Tôi sẽ áp dụng cách rèn luyện này trong suốt năm học và những
năm kế tiếp.
7.KẾT LUẬN:
Trong khi áp dụng các biện pháp giúp học sinh rèn chữ viết, bản thân tôi rút ra bài
học như sau:
- Giáo viên phải thường xuyên kiểm tra, phải đánh giá xếp loại rõ ràng để từ đó
mới thấy được kết quả thực hiện của các em và kịp thời sửa sai uốn nắn cho một
số em chưa thực hiện được.
- Phải có sự kiểm tra hằng tháng của giáo viên gửi về kịp thời cho mỗi phụ huynh
để phụ huynh biết được kết quả rèn chữ của con em mình. Từ đó tếp tục giúp đỡ,
động viên thêm cho các em khi rèn chữ viết ở nhà.
- Đối với những học sinh viết chữ viết quá xấu, chưa rèn luyện được giáo viên
phải thật kiên trì, chịu khó giúp đỡ các em trong thời gian còn thừa để các em
từng bước rèn luyện chữ viết của mình, kịp thời theo các bạn trong lớp.
- Nghiêm cấm học sinh không được sử dụng bút bi, bút xoá.
- Giáo viên cần tổ chức tuyên dương khen những cá nhân và tập thể tổ có nhiều
tiến bộ trong quá trình rèn luyện.
8.ĐỀ NGHỊ:
- Đối với trường:
Cần chuẩn bị tốt những điều kiện ban đầu về cơ sở vật chất giúp các em có được
sự thoải mái khi viết.
- Đối với phòng giáo dục:
Trang bị đầy đủ hơn đồ dùng trực quan, chữ mẫu, chữ ghép, chữ theo bộ, phù

hợp với vở học sinh.
Bên cạnh bộ chữ thực hành Tiếng việt có bộ chữ vui học tập giúp củng cố cho
học sinh cách viết cấu tạo chữ.
- Đối với sở và bộ giáo dục đào tạo:
Nâng cao chất lượng vở tập viết ( giấy quá mỏng, học sinh viết bị nhoè nên các
em phải viết bút bi).
Vở tập viết nên in giấy ô li để học sinh viết chuẩn hơn.
Cần có quy định về thời gian cho học sinh viết cỡ chữ nhỏ để đảm bảo chất
lượng chữ viết khi chuyển sang viết chính tả. Chỉ nên cho học sinh viết cỡ chữ
nhỡ hết học kì 1, học kì 2 nên cho các em chuyển viết chữ nhỏ và tô chữ hoa từ
tuần 19.


7

Trên đây là một số biện pháp tôi đã áp dụng nhằm nâng cao chất lượng “Rèn
chữ” cho các em học sinh, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để giúp tôi được giảng dạy tốt hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
Người viết

9. PHỤ LỤC :


8

Bài viết của học sinh :

10. TÀI LIỆU THAM KHẢO :



9

- Tài liệu thường xuyên cho giáo viên tiểu học chu kỳ III 2003 - 2007, nhà xuất
bản giáo dục. (Tác giả Trần Mạnh Hường – Đào Đinh Ngọc).
- Hướng dẫn dạy và học viết ở tiểu học (Hà Nội, tháng 6 năm 2002 của Bộ giáo
dục).
- Báo Thiếu niên Tiền phong số 100 (12 – 2008).

10. MỤC LỤC :


10

1. Đề tài …………………………………………………………trang 1.
2. Đặt vấn đề ……………………………………………………trang 1.
3. Cơ sở lý luận …………………………………………………trang 1.
4. Cơ sở thực tiễn ……………………………………………….trang 1 - 2.
5. Nội dung nghiên cứu …………………………………………trang 2 - 3 - 4 - 5.
6. Kết quả nghiên cứu…………………………………………...trang 5 - 6.
7. Kết luận ………………………………………………………trang 6.
8. Đề nghị ……………………………………………………….trang 6 - 7.
9. Phụ lục ………………………………………………………..trang 8.
10. Tài liệu tham khảo …………………………………………..trang 9.
11. Mục lục ………………………………………………………trang 10.
12. Phiếu đánh giá, xếp loại ……………………………………...trang 11.


11




×