Tải bản đầy đủ (.doc) (49 trang)

LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU , XUẤT KHẨU THỦY SẢN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (522.33 KB, 49 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................1
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ VAI TRÒ CỦA
XUẤT KHẨU , XUẤT KHẨU THỦY SẢN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM ......................................................................................................4
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU .............................................4
1.1.1. Khái niệm xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu đối với một quốc gia
...................................................................................................................4
1.1.1.1 Khái niệm xuất khẩu................................................................4
1.1.1.2 Vai trò của xuất khẩu đối với một quốc gia.............................5
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu..................................................................7
1.1.3 Các công cụ và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu.................................8
1.1.3.1 Các công cụ và biện pháp của Nhà nước.................................8
1.1.3.2 Các biện pháp của doanh nghiệp...........................................12
1.2. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT
NAM ..........................................................................................................14
1.2.1 Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với nền kinh tế Việt Nam......14
1.2.2. Vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với nền kinh tế nước ta..........15
1.2.2.1. Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn
của quốc gia.......................................................................................15
1.2.2.2. Vai trò của ngành thuỷ sản trong việc mở rộng quan hệ
thương mại quốc tế............................................................................18
1.2.2.3. Vai trò của ngành thuỷ sản trong an ninh lương thực quốc
gia, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo:..............................................18
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN VÀ THỰC
TRANG XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG NHẬT..............20
2.1. Tổng quan về kinh tế và ngành thủy sản tại Nhật Bản ..................20
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368


2.1.1. Tổng quan chung nền kinh tế Nhật Bản........................................20
2.1.2. Khái quát về ngành thủy sản tại Nhật Bản....................................21
2.1.2.1 Khái quát chung.....................................................................21
2.1.2.2. Khai thác thủy sản.................................................................22
2.1.2.3. Nuôi trồng thủy sản ..............................................................24
2.1.2.4. Chế biến thủy sản .................................................................24
2.1.2.5. Tiêu thụ.................................................................................26
2.1.3. Khái quát mối quan hệ thương mại Việt Nam-Nhật Bản..............32
2.2. Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Nhật Bản.............34
2.2.1. Những quy định về nhập khẩu thủy sản của Nhật Bản.................34
2.2.1.1 Các quy định thương mại chung của Nhật Bản .....................34
2.2.1.2. Hệ thống thuế quan của Nhật Bản.......................................35
2.2.1.3. Hệ thống phi thuế quan của Nhật Bản..................................39
2.2. Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường Nhật
Bản..............................................................................................................48
2.2.1. Cơ cấu sản phầm thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường
Nhật bản..................................................................................................48
2.2.2.Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt nam vào Nhật Bản................50
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU THỦY SẢN SANG
NHẬT BẢN....................................................................................................53
3.1 Khó khăn và thách thức từ thị trường Nhật Bản ............................53
3.2 Những giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang Nhật Bản
.....................................................................................................................55
3.2.1. Phía nhà nước................................................................................55
3.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong điều kiện hội
nhập WTO..........................................................................................55
3.2.1.2. Hỗ trợ các doanh nghiệp hơn nữa về thông tin thị trường và
các hoạt động xúc tiến thương mại....................................................56
2

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.2.2. Phía các doanh nghiệp...................................................................57
3.2.2.1. Cần đặc biệt quan tâm đến việc đăng ký thương hiệu tại Nhật
cho các sản phẩm thủy sản của mình ................................................57
3.2.2.2. Sử dụng có hiệu quả hệ thống Internet phục vụ cho hoạt động
xuất khẩu...........................................................................................57
3.2.3. Tăng cường nghiên cứu nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.......58
3.2.3.1. Nâng cao hiệu quả thu thập thông tin...................................58
3.2.3.2. Thành lập bộ phận nghiên cứu và phân tích dữ liệu............59
3.2.4. Đa dạng mẫu mã chủng loại, nâng cao chất lượng và hạ giá thành
.................................................................................................................60
3.2.5. Nâng cao chất lượng sản phẩm.....................................................60
3.2.6. Giảm chi phí sản xuất để giảm giá thành sản phẩm - nâng cao khả
năng cạnh tranh.......................................................................................61
3.2.6.1. Đảm bảo nguyên liệu, giảm chi phí gia tăng do giá nguyên
liệu đầu vào có xu hướng tăng...........................................................61
3.2.6.2. Tận dụng tối đa các lợi thế ...................................................61
3.2.7. Tăng cường quảng cáo, khuếch trương sản phẩm.........................62
3.2.8. Xâm nhập thị trường Nhật Bản bằng thương hiệu.......................63
3.2.9. Nâng cao vai trò của hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt
Nam VASEP...........................................................................................64
3.2.10. Xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh xuất khẩu của
doanh nghiệp trên thị trường Nhật Bản...................................................66
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ VAI
TRÒ CỦA XUẤT KHẨU , XUẤT KHẨU THỦY SẢN ĐỐI
VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU

1.1.1. Khái niệm xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu đối với một quốc gia
1.1.1.1 Khái niệm xuất khẩu
Theo nhà kinh tế học Adam Smith, phân công lao động xã hội dẫn đến
chuyên môn hoá sản xuất, sẽ tạo ra một khối lượng hàng hoá lớn đáp ứng
không chỉ đủ nhu cầu trong nước mà còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài để
trao đổi với hàng hoá mà trong nước sản xuất không hiệu quả. Còn theo học
thuyết “lợi thế so sánh” của David Ricardo thì khi một quốc gia sản xuất mặt
hàng có lợi thế so sánh và trao đổi nó với quốc gia khác thì vẫn đem lại lợi
nhuận cho cả hai quốc gia. Như vậy, xuất khẩu hàng hoá là một hoạt động tất
yếu xảy ra khi phân công lao động xã hội đạt được một trình độ nhất định. Ta
có nhiều cách hiểu khác nhau về xuất khẩu như:
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động đưa hàng hoá ra khỏi một nước (từ
nước này sang nước khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh
toán (tiền ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai
quốc gia) hoặc trao đổi lấy một hàng hoá khác có giá trị tương đương.
Theo điều 2 NĐ57/1998 của Chính phủ Việt Nam: Hoạt động xuất
khẩu hàng hoá là hoạt động bán hàng của thương nhân Việt Nam với thương
nhân nước ngoài theo các hợp đồng mua bán hàng hoá, bao gồm cả hoạt động
tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu hàng hoá.
Tóm lại, xuất khẩu nói một cách đơn giản nhất là việc bán một sản
phẩm hay một dịch vụ ra thị trường nước ngoài để thu ngoại tệ. Xuất khẩu
thuần tuý là một chức năng của hoạt động thương mại. Hoạt động xuất khẩu
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có thể đem lại những lợi nhuận lớn cho nền sản xuất trong nước, tuy nhiên
cũng có thể gặp nhiều rủi ro.
1.1.1.2 Vai trò của xuất khẩu đối với một quốc gia
Cùng với chiến lược hội nhập và phát triển, thương mại quốc tế là một
bộ phận quan trọng, gắn liền với tiến trình hội nhập và có vai trò quyết định
đến lợi thế của một quốc gia trên thị trường khu vực và thế giới. Vì vậy việc

đẩy mạnh giao lưu thương mại quốc tế nói chung và thúc đẩy xuất khẩu hàng
hoá nói riêng là mục tiêu phát triển kinh tế hàng đầu của mỗi quốc gia, đóng
vai trò vô cùng quan trọng. Những vai trò của xuất khẩu hàng hoá trong nền
kinh tế đó là:
Thứ nhất, xuất khẩu tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng được lợi
thế so sánh của mình. Trong xu thế thế giới đang dần tiến tới quá trình chuyên
môn hoá thì việc tận dụng được lợi thế so sánh của riêng mình đóng vai trò
tiên quyết quyết định đến vị trí của từng quốc gia trên thị trường quốc tế. Đối
với các nước đang phát triển như Việt Nam thì lợi thế so sánh chính là điều
kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, giá nhân công
rẻ..v..v..Dựa trên những lợi thế so sánh này, sản xuất ra những sản phẩm xuất
khẩu nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới, từ đó góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
Thứ hai, hoạt động xuất khẩu tạo nguồn dự trữ ngoại tệ quan trọng và
tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu công nghệ, máy móc và những nguyên
nhiên vật liệu cần thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Ngày nay, việc dự trữ ngoại tệ nhất là các ngoại tệ mạnh là điều rất quan
trọng, vì trong quan hệ mua bán trên thị trường thế giới hiện nay các nước đều
sử dụng các ngoại tệ mạnh trong giao dịch để đảm bảo cho sự phát triển bền
vững. Dự trữ ngoại tệ dồi dào còn là điều kiện cần thiết để giúp cho quá trình
ổn định nội tệ và chống lạm phát. Ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu
sẽ là nguồn tăng dự trữ ngoại tệ chủ yếu. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu
còn kích thích các ngành kinh tế phát triển, góp phần tạo nguồn vốn để các
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quốc gia có thể nhập khẩu máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại phục vụ
cho quá trình công nghiệp hoá đất nước.
Thứ ba, hoạt động xuất khẩu góp phần định hướng sản xuất, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Ngày này, quá trình phân công lao động quốc tế ngày
càng phát triển đã thúc đẩy hoạt động chuyên môn hoá, hợp tác hoá ở tầm

quốc tế, điều này đòi hỏi mỗi quốc gia cần lựa chọn mặt hàng xuất khẩu sao
cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, từ đó sẽ giúp các quốc gia có định hướng
chiến lược đối với các ngành sản xuất trong nước. Đây là một điều có ý nghĩa
quan trọng vì việc định hướng các ngành sản xuất trong nước là một điều
không dễ làm và không ít các quốc gia đã có những bước đi sai lầm trong việc
hoạch định chính sách phát triển kinh tế. Định hướng vào các ngành sản xuất
có lợi thế sẽ dần dẫn tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao dần tỷ
trọng của ngành công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu mang lại nguồn thu
cho ngân sách Nhà nước từ hoạt động xuất khẩu.
Thứ tư, hoạt động xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo
thu nhập và nâng cao mức sống của nhân dân. Xuất khẩu tác động tới đời
sống con người trên rất nhiều mặt. Đầu tiên, sản xuất hàng xuất khẩu sẽ là nơi
thu hút rất nhiều lao động vào làm việc với thu nhập cao. Xuất khẩu còn tạo
ra nguồn vốn để nhập khẩu những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ cho
đời sống và nhu cầu ngày càng phong phú của nhân dân. Đồng thời xuất khẩu
còn góp phần thay đổi thói quen làm việc và nâng cao tay nghề cho những
người lao động sản xuất hàng xuất khẩu.
Cuối cùng, hoạt động xuất khẩu góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế
đối ngoại, nâng cao uy tín hàng hoá trong nước trên thị trường thế giới, nâng
cao vị thế của một quốc gia trên trường quốc tế. Trong quá trình hội nhập
quốc tế, hoạt động giao lưu buôn bán ngày càng phát triển đã góp phần thặt
chặt quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia, giúp các quốc gia ngày càng
hiểu rõ hơn về nhau. Bên cạnh đó, để có thể không ngừng nâng cao tỷ trọng
kim ngạch xuất khẩu đòi hỏi các nhà sản xuất luôn phải tận dụng được lợi thế
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
so sánh của mình đồng thời phải đầu tư đổi mới điều kiện sản xuất để từ đó
nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước trên thị trường thế giới.
Việc các sản phẩm xuất khẩu có một vị thế nhất định trên thị trường, chiếm
được lòng tin của khách hàng cũng là một hình thức chúng ta quảng cáo về

quốc gia mình, từ đó góp phần nâng cao được vị thế của quốc gia trên trường
quốc tế.
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá diễn ra vô cùng phong phú và đa dạng,
những hình thức xuất khẩu hàng hoá chủ yếu là:
* Xuất khẩu trực tiếp
Là hình thức xuất khẩu, trong đó người bán (người sản xuất, người cung
cấp) và người mua quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt, qua thư từ,
điện tín) để bàn bạc thoả thuận về hàng hoá, giá cả và các điều kiện giao dịch
khác.
* Xuất khẩu qua trung gian:
Là hình thức mua bán quốc tế được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của trung
gian thứ ba, và người thứ ba này sẽ được hưởng một khoản tiền nhất định.
Người trung gian phổ biến trong các giao dịch quốc tế là đại lý và môi giới.
* Xuất khẩu tại chỗ:
Là hình thức xuất khẩu ngay tại đất nước mình để thu ngoại tệ. Đó là việc
bán hàng và thực hiện các dịch vụ cho người nước ngoài,và thanh toán bằng
ngoại tệ. Hàng xuất khẩu tại chỗ có thể dùng ngay tại chỗ hoặc được người
mua đem ra nước ngoài.
* Hình thức tái xuất khẩu
Là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước khác những hàng
hoá đã mua ở nước ngoài nhưng chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Mục đích
của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua rẻ hàng hoá ở nước này bán đắt
hàng hoá ở nước khác và thu số ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ban đầu.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hoạt động tái xuất khẩu có thể chia làm hai hình thức: hình thức tạm nhập
- tái xuất và hình thức chuyển khẩu, trong đó:
Hình thức tạm nhập – tái xuất được hiểu là việc mua hàng của một nước
để bán cho nước khác trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thương, làm thủ tục

nhập khẩu hàng hoá vào, rồi sau đó làm thủ tục xuất khẩu mà không qua gia
công chế biến.
Hàng hoá chuyển khẩu được chia thành hai loại. Một là, hàng hoá sau khi
nhập cảnh xin với hải quan cho vận chuyển đến một địa điểm hải quan khác
để làm thủ tục hải quan nhập khẩu. Hai là, hàng hoá ở nơi vận chuyển ban đầu
đã làm thủ tục hải quan xuất nhập khẩu vận chuyển đến một nơi xuất cảnh, do
hải quan nơi xuất cảnh giám sát quản lý cho qua.
* Gia công xuất khẩu
Là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó người đặt hàng gia công
ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành
phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia công trong nước tổ
chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách. Toàn bộ sản phẩm
làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để nhận tiền
công.
1.1.3 Các công cụ và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu
1.1.3.1 Các công cụ và biện pháp của Nhà nước
a. Trợ cấp xuất khẩu
Là hình thức khuyến khích xuất khẩu bằng cách Nhà nước giành sự ưu đãi
về mặt tài chính cho xuất khẩu thông qua trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp. Mục
đích của trợ cấp là giúp các nhà kinh doanh giảm được chi phí hàng hoá xuất
khẩu, để bán hàng với giá hạ, tăng cường sức cạnh tranh cho sản phẩm.
* Trợ cấp trực tiếp: Là thực hiện sự ưu đãi cho các nhà kinh doanh sản
xuất hàng xuất khẩu được sử dụng đầy đủ với giá hạ các công trình hạ tầng
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
(điện, nước, phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện vận tải..) cũng như
thực hiện bù giá (trợ giá) xuất khẩu.
* Trợ cấp gián tiếp: Là hình thức Nhà nước sử dụng các biện pháp kinh tế
vĩ mô kết hợp với bảo hộ bằng các biện pháp quản lý hành chính để hỗ trợ
cho xuất khẩu. Ví dụ ở các nước trong vùng Đông Nam Á (như: Malaysia,

Indonesia, Thái Lan…), Chính phủ sử dụng biện pháp gián tiếp như điều hoà
cung cầu bằng cách hỗ trợ về tài chính và thông qua hệ thống kho đệm của
Chính phủ, đẩy mạnh việc mua hàng vào lúc giá rẻ….Ngoài ra, Nhà nước còn
sử dụng các biện pháp giảm hoặc miễn thuế xuất khẩu, giúp các nhà xuất
khẩu tìm kiếm thị trường, đầu tư vào khoa học kỹ thuật…
Trong quá trình tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay, vai trò của trợ cấp trực tiếp ngày càng bị thu hẹp và vai trò của trợ cấp
gián tiếp đối với các nhà xuất khẩu ngày càng gia tăng. Trợ cấp trực tiếp bị
thu hẹp như vậy một mặt do cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các Chính phủ. Ví
dụ như Mỹ đòi EC phải giảm mạnh trợ cấp nông sản cho nông dân ở EC từ
30%-50% trong 15 năm tới nếu không Mỹ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa cứng
rắn. Mặt khác, trợ cấp trực tiếp bị thu hẹp còn là để đảm bảo có sự cạnh tranh
công bằng giữa nhà sản xuất trong nước và các nhà sản xuất nước ngoài.
b. Chính sách tỷ giá hối đoái để thúc đẩy xuất khẩu
Tỷ giá là giá cả của đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ của
một nước khác, đó là quan hệ so sánh sức mua giữa hai đồng tiền của hai
quốc gia khác nhau. Tỷ giá hối đoái thường xuyên biến động do nhiều yếu tố
khác nhau ảnh hưởng. Nếu tỷ giá hối đoái giảm tức là sức mua của đồng tiền
nội tệ so với ngoại tệ bị giảm. Khi ấy, nếu như các điều kiện khác thay đổi giá
cả hàng hoá sản xuất trong nước chuyển đổi ra ngoại tệ sẽ thấp hơn trước, tức
là trở nên rẻ đi một cách tương đối. Điều đó sẽ làm cho sức cạnh tranh của
hàng xuất khẩu tăng lên. Như vậy tỷ giá hối đoái giảm sẽ làm cho hoạt động
xuất khẩu trở lên thuận lợi hơn. Và ngược lại, nếu tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm
cho hoạt động xuất khẩu trở lên khó khăn hơn.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tuy nhiên, tỷ giá chỉ giảm đến một mức độ nào đó thì mới có lợi cho nhà
xuất khẩu vì nhà xuất khẩu cũng sẽ đồng thời là nhà nhập khẩu nguyên vật
liệu. Tỷ giá hối đoái tăng sẽ khiến giá sản phẩm nhập khẩu tăng lên gây ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh doanh sản xuất. Vì vậy để kinh doanh xuất nhập

khẩu hiệu quả, doanh nghiệp phải quan tâm đến hai loại tỷ giá, đó là tỷ giá
xuất khẩu và tỷ giá nhập khẩu.
Tỷ giá xuất khẩu: Được xác định bằng tỷ số giữa giá bán buôn công nghiệp
cộng với thuế xuất khẩu bằng tiền nội tệ và giá bán hàng xuất khẩu theo điều
kiện FOB tính bằng ngoại tệ.
Tỷ giá nhập khẩu: Được xác định bằng tỷ số giữa giá bán buôn hàng nhập
khẩu tại cảng bằng tiền nội địa và giá nhập khẩu theo điều kiện CIF tính bằng
ngoại tệ.
Nhà kinh doanh xuất nhập khẩu chỉ có lợi khi tỷ giá hối đoái công bố trên
thị trường hối đoái nhỏ hơn tỷ lệ giá nhập khẩu và lớn hơn tỷ giá xuất khẩu.
c. Tín dụng xuất khẩu
* Nhà nước là người đảm bảo tín dụng xuất khẩu: Là hình thức khuyến
khích xuất khẩu bằng cách Nhà nước đứng ra lập quỹ bảo hiểm xuất khẩu,
quỹ này thực hiện việc gánh vác mọi rủi ro, mạo hiểm cho các nhà xuất khẩu
bán hàng hoá cho nước ngoài với phương thức thanh toán trả chậm hoặc tín
dụng dài hạn. Tác dụng của hình thức đảm bảo tín dụng xuất khẩu là:
- Khi khả năng thanh toán ngay đối với hàng nhập khẩu có giá trị lớn bị
hạn chế thì việc bán chịu hay bán trả chậm với lãi suất nhẹ cho phép tăng khả
năng cạnh tranh cho hàng xuất khẩu. Việc Nhà nước lập ra các quỹ bảo hiểm
xuất khẩu cho phép thương nhân mạnh dạn bán chịu cho khách hàng nhờ vậy
mà gia tăng kim ngạch xuất khẩu.
- Nâng được giá trị hàng xuất khẩu vì giá bán chịu hàng hoá bao gồm:
giá bán trả tiền ngay cộng với phí tổn trả chậm.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hiện nay hình thức Nhà nước đảm bảo tín dụng xuất khẩu được thực
hiện khá phổ biến ở nhiều nước nhằm mở rộng xuất khẩu, xâm chiếm thị
trường mới. Đặc biệt việc xuất khẩu máy móc thiết bị với thời hạn đảm bảo
tín dụng có khi tới 15-20 năm.
* Nhà nước thực hiện tín dụng xuất khẩu: Là hình thức mở rộng xuất

khẩu bằng cách Nhà nước cho bên nước ngoài vay vốn với quy mô lớn (lãi
suất ưu đãi) để bên nước vay sử dụng số tiền đó mua hàng hoá của nước cho
vay. Nguồn vốn vay thường lấy từ ngân sách Nhà nước và việc cho vay
thường kèm với các điều kiện kinh tế - chính trị có lợi cho nước cho vay.
Tác dụng của hình thức là giúp cho thương nhân đẩy mạnh xuất khẩu vì
có sẵn thị trường tiêu thụ hàng hoá, đồng thời giúp cho việc mở rộng các quan
hệ về kinh tế và văn hoá giữa nước cho vay và nước được vay.
d. Chính sách thuế quan
Thuế quan là một khoản tiền mà người chủ hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho hải quan là cơ quan đại diện cho nước chủ
nhà.
Thuế quan có tác dụng điều tiết khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu. Bởi
lượng hàng hoá xuất nhập khẩu nhiều hay ít phụ thuộc vào sức tiêu thụ hàng
hoá, yếu tố này bị phụ thuộc vào giá cả. Một bộ phận quan trọng tạo thành giá
cả hàng hoá ngoại thương đó chính là thuế quan. Thuế quan đánh thấp hay
cao sẽ ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá từ đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh
của hàng hoá trên thị trường. Như vậy, bằng cách cắt giảm các loại thuế giá trị
gia tăng và thuế quan xuất khẩu, Chính phủ đã tạo điều kiện khuyến khích các
nhà xuất khẩu xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài để từ đó ổn định kim ngạch
xuất khẩu.
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.3.2 Các biện pháp của doanh nghiệp
Các công cụ và biện pháp của Nhà nước đóng vai trò như những điều
kiện nền tảng giúp tạo môi trường thuận lợi để các nhà xuất khẩu thúc đẩy
xuất khẩu hàng hoá. Tuy nhiên, để sản phẩm có một chỗ đứng bền vững trên
thị trường nước ngoài, giá trị xuất khẩu ngày càng tăng thì ngay trong các
doanh nghiệp cũng phải thực hiện những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng
hoá. Các biện pháp đó là:
a. Nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm

Nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm là một trong những biện pháp quan
trọng để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp. Tính cạnh tranh của
sản phẩm sẽ quyết định khả năng thâm nhập thị trường quốc tế, vị trí và thị
phần của doanh nghiệp trên thị trường này. Tính cạnh tranh của sản phẩm
biểu hiện ở các mặt như: chất lượng sản phẩm, giá cả, thương hiệu, đóng gói
bao bì, mức độ vệ sinh công nghiệp và an toàn sinh thái của sản phẩm.
Vì vậy, một doanh nghiệp muốn tăng cường thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá
sang thị trường nước ngoài, đặc biệt là những thị trường khó tính, phải đầu tư
nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm đáp ứng những tiêu chuẩn chất lượng
quốc tế, đồng thời vẫn phải đảm bảo có một mức giá cạnh tranh trên thị
trường thế giới. Tiếp đến, doanh nghiệp cần phải xúc tiến xây dựng thương
hiệu của riêng mình, đây là một yếu tố rất quan trọng để xúc tiến xuất khẩu
bởi có nhiều thị trường yếu tố đầu tiên để người tiêu dùng quyết định mua sản
phẩm chính là thương hiệu chứ không phải giá cả (ví dụ như người tiêu dùng
của thị trường EU). Bên cạnh đó, ngày nay người tiêu dùng còn rất quan tâm
đến vấn đề sinh thái và bảo vệ môi trường của sản phẩm. Những sản phẩm
không gây ô nhiễm môi trường sẽ nhận được sự ưu ái nhiều hơn của Chính
phủ và người tiêu dùng nước nhập khẩu. Tập trung vào yếu tố bảo vệ môi
trường của sản phẩm cũng là một phương thức nhằm thúc đẩy xuất khẩu.
b. Xúc tiến thương mại
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Xúc tiến thương mại là một trong các biện pháp chủ yếu mà doanh nghiệp
áp dụng để thúc đẩy xuất khẩu. Hoạt động chủ yếu của công tác xúc tiến
thương mại là doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế. Tại đây
các doanh nghiệp giới thiệu, quảng bá, tiếp thị sản phẩm của mình với khách
hàng quốc tế. Để hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả, các doanh
nghiệp cần phải tham gia hội chợ, triển lãm một cách bài bản. Một số công
việc phải làm khi tham gia hội chợ, triển lãm đó là: lựa chọn hội chợ triển
lãm, lựa chọn những mẫu trưng bày phù hợp với thị trường, chuẩn bị đầy đủ

catalogue, quà tặng, các tài liệu quảng bá..v..v..
Bênh cạnh đó, doanh nghiệp có thể thực hiện một số biện pháp xúc tiến
thương mại khác như: đa dạng hoá các hoạt động quảng cáo sản phẩm, thực
hiện Marketing qua mạng, thiết lập và sử dụng trang web trong kinh
doanh..v..v…
c. Đào tạo đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động phức tạp, đòi hỏi đội ngũ cán bộ
tham gia hoạt động này phải có trình độ cao. Một doanh nghiệp muốn thúc
đẩy xuất khẩu hàng hoá cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách xuất
khẩu có chuyên môn cao, nghiệp vụ tốt, am hiểu việc kinh doanh, giỏi ngoại
ngữ. Để làm được điều này, các doanh nghiệp phải dành nguồn đầu tư để đào
tạo các cán bộ xuất khẩu.
Cử các cán bộ có liên quan tới hoạt động xuất khẩu tham gia các khoá đào
tạo ngắn hạn về nghiệp vụ xuất khẩu, các lớp học ngoại ngữ, các lớp chuyên
ngành về kinh tế có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp còn có thế mời các chuyên gia tham gia tư vấn cho đội ngũ cán
bộ công ty. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể phối hợp với các trường học
đào tạo các học viên, sinh viên là cán bộ tương lai của công ty mình.
d. Doanh nghiệp mở rộng việc liên doanh liên kết
Đối với mỗi doanh nghiệp, thị trường thế giới là thị trường rộng lớn và có
sự cạnh tranh gay gắt. Khách hàng nước ngoài có thế đặt những đơn hàng với
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khối lượng và giá trị vượt quá khả năng cung cấp của doanh nghiệp. Vì vậy,
để đáp ứng khách hàng quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu các doanh nghiệp cần
không ngừng mở rộng liên doanh, liên kết. Các doanh nghiệp trong nước hoạt
động trong cùng lĩnh vực kinh doanh có thể liên kết với nhau tạo thành các
hiệp hội ngành hàng. Các thành viên của hiệp hội cùng sản xuất sản phẩm
hoặc tham gia các khâu khác nhau trong quá trình sản xuất.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nội địa có thể liên doanh với các doanh

nghiệp của nước mà mình xuất khẩu sang. Điều này giúp cho các doanh
nghiệp nội địa dễ dàng thâm nhập thị trường nước ngoài, tận dụng kênh phân
phối của doanh nghiệp ở nước sở tại. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp.
1.2. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1.2.1 Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với nền kinh tế Việt Nam
• Xuất khẩu là hàng hoá sản xuất trong nước được mang ra nước
ngoài tiêu thụ.Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản ,thúc đẩy
nền kinh tế phát triển.Xuất khẩu có cai trò cực kỳ quan trọng trong sự tăng
trưởng và phát triển nền kinh tế .
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu :Để phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ,cần phải có một nguồn vốn lớn để
nhập khẩu máy móc ,thiết bị ,công nghệ hiện đại .Nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu
từ các nguồn :xuất khẩu ,đầu tư nước ngoài ,vay vốn ,viện trợ ,thu từ hoạt
động du lịch ,các dịch vụ có thu ngoại tệ ,xuất khẩu lao động ...Xuất khẩu là
nguồn vốn chủ yếu để nhập khẩu.
• Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế ,thúc đẩy
sản xuất phát triển . Xuất khầu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển .
Xuất khẩu không chỉ tác động làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp
cho việc gia tăng nhu cầu sản xuất ,kinh doanh ở những ngành liên quan
khác.Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ ,giúp cho Sản
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xuất ổn định và kinh tế phát triển.vì có nhiều thị trường => Phân tán rủi ro do
cạnh tranh .
• Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho
sản xuất ,nâng cao năng lực sản xuất trong nước.Thông qua cạnh tranh trong
xuất khẩu ,buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến sản xuất ,tìm ra
những cách thức kinh doanh sao cho có hiệu quả ,giảm chi phí và tăng năng
suất .

• Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời
sống người dân. Xuất khẩu làm tăng GDP,làm gia tăng nguồn thu nhập quốc
dân,từ đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa => nhân tố kích thích nền
kinh tế tăng trưởng .Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong
nền kinh tế ,nhất là trong ngành sản xuất cho hàng hoá xuất khẩu ,xuất khẩu
làm gia tăng đầu tư trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu => Là nhân tố
kích thích nền kinh tế tăng trưởng .
1.2.2. Vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với nền kinh tế nước ta
1.2.2.1. Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của
quốc gia
Theo số liệu đã công bố của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ
sản giai đoạn 1995 - 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng. Trong
các hoạt động của ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng. Sản lượng
khai thác hải sản trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân
hằng năm khoảng 7,7% (giai đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai đoạn 1996 -
2003). Nuôi trồng thuỷ sản đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai
thác hải sản cả về sản lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong sản
xuất. Điều này tất yếu dẫn đến sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát
triển các hoạt động kinh tế mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp
mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến năm
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2003, đã sử dụng 612.778 ha nước mặn, lợ và 254.835 ha nước ngọt để nuôi
thuỷ sản. Trong đó, đối tượng nuôi chủ lực là tôm với diện tích 580.465 ha.
Bên cạnh những tiềm năng đã biết, Việt Nam còn có những tiềm năng mới
được xác định có thể sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản như sử dụng vật liệu
chống thấm để xây dựng công trình nuôi trên các vùng đất cát hoang hoá,
chuyển đổi mục đích sử dụng các diện tích trồng lúa, làm muối kém hiệu quả
sang nuôi trồng thuỷ sản…Nuôi biển là một hướng mở mới cho ngành Thuỷ

sản, đã có bước khởi động ngoạn mục với các loài tôm hùm, cá giò, cá mú, cá
tráp, trai ngọc,… với các hình thức nuôi lồng, bè. Nuôi nước ngọt đang có
bước chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ tự túc sang sản xuất hàng hoá lớn, điển
hình là việc phát triển nuôi cá tra, cá ba sa xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế
cao; Nuôi đặc sản được mở rộng; Sự xuất hiện hàng loạt các trang trại nuôi
chuyên canh (hoặc canh tác tổng hợp nhưng lấy nuôi trồng thuỷ sản làm hạt
nhân) chuyển đổi phương thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến sang bán
thâm canh và thâm canh đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Ngành Thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh
tế khác. Tỷ trọng GDP của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên
tục tăng, từ 2,9% (năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm
2003.
Từ cuối thập kỷ 80 đến năm 2000, ngành thuỷ sản đã có những bước
tiến không ngừng. Các chỉ tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược Phát triển Kinh
tế - Xã hội ngành Thuỷ sản thời kỳ 1991 - 2000 đã được hoàn thành vượt
mức:
CHỈ TIÊU Đơn vị Kế hoạch Thực hiện
Tổng sản lượng thuỷ sản
Trong đó:
tấn

1.600.000

2.174.784

16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Sản lượng khai thác hải sản
- Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản

-
-
1.000.000
600.000
1.454.784
720.000
Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản triệu USD 900 - 1.000 1.478,6
Thu hút lao động thuỷ sản nghìn người 3.000 3.400
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản tương đương với các ngành
công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Điều đó chứng tỏ ngành thuỷ sản đang dần
chuyển từ sản xuất mang nặng tính nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh
theo hướng công nghiệp hoá.
GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU (triệu USD)
Năm Toàn quốc
Công nghiệp -
Xây dựng -
Dịch vụ
Nông - Lâm - Thuỷ sản
Tổng số Riêng Thuỷ sản
1996 7.255,9 4.214,1 3.041,8 670,0
1997 9.185,0 5.952,0 3.233,0 776,5
1998 9.360,3 6.036,0 3.324,3 858,6
1999 11.540,0 8.627,8 2.912,2 976,1
2000 14.308,0 10.186,8 4.121,2 1.478,5
2001 15.100,0 10.090,4 5.009,6 1.816,4
Tốc độ tăng
trưởng bình
quân
13,0 14,9 9,5 14,6
( Nguồn: Niên giám Thống kê Nông - Lâm - Thuỷ sản )

17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.2.2. Vai trò của ngành thuỷ sản trong việc mở rộng quan hệ thương mại
quốc tế
Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về
mở rộng quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế
giới. Năm 1996, ngành thuỷ sản mới chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước
và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến năm 2001, quan hệ này đã được mở rộng
ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh thổ.
Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thuỷ
sản đã tạo dựng được uy tín lớn. Những nước công nghiệp phát triển như Mỹ,
Nhật và các nước trong khối EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thường
xuyên của ngành. Năm 2003, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào bốn thị
trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm trên 75% tổng giá
trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh thổ.
Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của
ngành thuỷ sản đã góp phần mở ra những còn đường mới và mang lại nhiều
bài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng
hơn vào khu vực và thế giới.
1.2.2.3. Vai trò của ngành thuỷ sản trong an ninh lương thực quốc gia, tạo
việc làm, xoá đói giảm nghèo:
Thuỷ sản được đánh giá là nguồn cung cấp chính đạm động vật cho
người dân. Năm 2001, mức tiêu thụ trung bình mặt hàng thuỷ sản của mỗi
người dân Việt Nam là 19,4 kg, cao hơn mức tiêu thụ trung bình sản phẩm
thịt lợn (17,1 kg/người) và thịt gia cầm (3,9 kg/người). Cũng giống như một
số nước châu Á khác, thu nhập tăng đã khiến người dân có xu hướng chuyển
sang tiêu dùng nhiều hơn mặt hàng thuỷ sản. Có thể nói ngành thuỷ sản có
đóng góp không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.
Ngành thuỷ sản với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra hàng loạt
việc làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các

18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi cả
nước.
Số lao động của ngành thuỷ sản tăng liên tục từ 3,12 triệu người (năm
1996) lên khoảng 3,8 triệu người năm 2001 (kể cả lao động thời vụ), như vậy,
mỗi năm tăng thêm hơn 100 nghìn người. Tỷ lệ tăng bình quân số lao động
thường xuyên của ngành thuỷ sản là 2,4%/năm, cao hơn mức tăng bình quân
của cả nước (2%/năm).
Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng thuỷ
sản chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình nên đã trở thành nguồn thu hút mọi lực
lượng lao động, tạo nên nguồn thu nhập quan trọng góp phần vào sự nghiệp
xoá đói giảm nghèo. Các hoạt động phục vụ như vá lưới, cung cấp thực phẩm,
tiêu thụ sản phẩm… chủ yếu do lao động nữ thực hiện, đã tạo ra thu nhập
đáng kể, cải thiện vị thế kinh tế của người phụ nữ, đặc biệt là ở các vùng nông
thôn, miền núi. Riêng trong các hoạt động bán lẻ thuỷ sản, nữ giới chiếm tỉ lệ
lên đến 90%.
Từ những phân tích trên cho thấy việc xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản đối
với nước ta có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
19

×