Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

Ảnh hưởng của môi trường giáo dục nhà trường đến sự phát triên nhân cách học sinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (206.57 KB, 22 trang )

HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
A. Phần mở đầu
Mỗi người sinh ra và lớn lên đều cần không gian sống tối thiểu, để sinh hoạt, vui
chơi, nghỉ ngơi, sản xuất…. Không gian đó chính là môi trường vật chất, tinh thần;
hay nói cách khác đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Ở mỗi giai đoạn phát triển của con người, môi trường tác động đến nhân cách có
mức độ khác nhau. Nhiều nhà khoa học cho rằng lứa tuổi quan trọng hình thành nhân
cách đó là từ 0 đến 3 tuổi. Trẻ em tiếp xúc với thế giới khách quan thông qua các giác
quan, vì vậy có câu nói “bé lên ba, cả nhà học nói”. Tiếp nối lứa tuổi Mầm non là trẻ
em tuổi thiếu niên, học sinh tiểu học, trung học cơ sở lứa tuổi từ 6 đến 15, và học sinh
trung học phổ thông tuổi thanh niên 16 đến 18. Sinh viên ở các trường Đại học, Cao
đẳng tuổi từ 18 đến 23 đó là giai đoạn trưởng thành. Ở lứa tuổi này, các thanh niên tiếp
tục được giáo dục và tự giáo dục để phát triển, hoàn thiện dần nhân cách. Sự phát
triển, hoàn thiện được biểu hiện tập trung về mặt xã hội, vì vậy dễ dàng nhận thấy
thanh niên rất nhiệt tình, hào hứng tham gia các hoạt động tập thể, thậm chí cả những
hoạt động không phù hợp với bản thân họ. Điều này dẫn đến tình trạng có một số ít
sinh viên thiếu ý thức, hoạt động quậy phá không rõ nguyên nhân, có những biểu hiện
lệch lạc trong cuộc sống…
Nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hội nhập hiện nay, đòi hỏi cấp
bách là chất lượng nguồn nhân lực. Trong ba nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực thì
nguồn nhân lực quan trọng và quyết định nhất. Giáo dục và đào tạo có nhiệm vụ nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Tất cả các trường học, bậc học phải
căn cứ vào tâm sinh lý lứa tuổi để có biện pháp giáo dục phù hợp. Macarenco, nhà
giáo dục vĩ đại Xô Viết đã từng nói “Không có trẻ em hư, chỉ có phương pháp giáo dục
không đúng”. Trẻ em, thanh thiếu niên sẽ bất hạnh nếu không được sống, lớn lên, phát
triển trong môi trường tự nhiên, xã hội tốt, không được hưởng nền giáo dục tiên tiến
và phương pháp tích cực.
Xuất phát từ thực tế và tình yêu nghề, yêu thế hệ trẻ, bản thân mạnh dạn chọn đề
tài “Tìm hiểu sự ảnh hưởng của môi trường Xã hội đến việc hình thành và phát
triển nhân cách Sinh viên bậc Cao đẳng, Đại học” để nghiên cứu và vận dụng vào
công tác thực tế của mình.



• Kết cấu bài tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận phần nội dung gồm có 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận.
- Chương 2: Vai trò và đặc điểm của môi trường giáo dục Xã hội trong việc hình thành,
phát triển và hoàn thiện nhân cách của Sinh viên bậc Cao đẳng, Đại học.
- Chương 3: Biện pháp xây dựng môi trường Xã hội tích cực cho Sinh viên bậc Cao
đẳng, Đại học.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

1


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
- Chương 4: Biện pháp phối hợp môi trường giáo dục Gia đình – Nhà trường – Xã hội.
- Chương 5: Liên hệ thực tế tại trường Cao đẳng Bách Việt.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

2


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
B. Nội dung

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và lý luận
1.1. Nhân cách và sự phát triển nhân cách
1.1.1. Khái niệm nhân cách
-Nhân cách là toàn thể những thuộc tính đặc biệt mà một cá thể có được trong hệ
thống các quan hệ xã hội, trên cơ sở hoạt động và giao lưu nhằm chiếm lĩnh các giá trị
vật chất và tinh thần. Những thuộc tính đó bao hàm các thuộc tính về trí tuệ, đạo đức,
thẩm mỹ, thể chất…
-Nhân cách là tổ hợp các thái độ, những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng
trong quan hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài
người sáng tạo, với xã hội và bản thân.
-Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ quan hệ
qua lại của người đó với người khác, với tập thể, với xã hội và cả thế giới xung quanh
trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại, tương lai. Nó là một thứ giá trị được
xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc
trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại
mang tính xã hội sâu sắc. Nhà tâm lý học Xô Viết, X.L.Rubinstein cho rằng: “Con
người là cá tính do nó có những thuộc tính đặc biệt không lập lại, con người là nhân
cách do nó xác định được quan hệ của mình với những người xung quanh một cách có
ý thức”.
Theo Bách khoa Toàn thư Liên Xô, nhân cách được thể hiện ở hai mặt: thứ nhất
là con người với tư cách là chủ thể các mối quan hệ và hoạt động có ý thức, thứ hai là
một hệ thống giá trị có ý nghĩa xã hội đặc trưng cho cá thể trở thành một nhân cách.
Do cấu trúc nhân cách rất phức hợp nên một số nhà nghiên cứu giáo dục thường
nhấn mạnh đến các thuộc tính liên cá nhân (phản ánh mối quan hệ đa dạng, phong phú
của cá nhân với cộng đồng, xã hội) các thuộc tính nội cá nhân (phản ánh những nét
tính cách tính cách riêng, độc đáo trong cuộc sống nội tâm); các thuộc tính siêu cá
nhân (phản ánh những phẩm chất, năng lực sáng chói có ý nghĩa xã hội, trở thành một
nhân cách bất tử).
Mặt dù các quan điểm, định nghĩa trên có khác nhau, xuất phát từ mục đích
nghiên cứu riêng, nhưng nhìn chung có sự thống nhất khi xem xét nhân cách, đó là:

-Những phẩm chất và năng lực có giá trị đối với cá nhân và xã hội được hình
thành bằng hai con đường chủ yếu là hoạt động và giao lưu.
-Mỗi cá nhân có một nhân cách riêng bao gồm hai mặt: Mặt tự nhiên và mặt xã
hội, trong đó mặt xã hội có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, thể hiện đặc thù về nhân cách
mỗi con người.
-Nhân cách là tổng hợp những phẩm chất, năng lực không thành bất biến của cá
nhân mà nó thường xuyên giữ gìn, bảo vệ mà còn phải rèn luyện, bồi dưỡng để nhân
cách ngày càng hoàn thiên hơn.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

3


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
1.1.2.

Khái niệm sự phát triển nhân cách
Con người sinh ra chưa có nhân cách. Chính trong quá trình sống, hoạt động,
giao lưu… mà con người tự hình thành và phát triển nhân cách của mình bằng con
đường xã hội: Lĩnh hội các di sản văn hóa vật chất và tinh thần của loài người.
1.1.2.1. Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự phát triển được hiểu là:
-Là sự tích lũy về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất.
-Sự phủ định cái cũ và xuất hiện cái mới.
-Động lực của sự phát triển là giải quyết các mâu thuẫn bên trong của sự vật hiện
tượng.
1.1.2.2. Sự phát triển nhân cách khác với sự phát triển cá nhân
Sự phát triển cá nhân bao gồm các mặt phát triển sau:

-Sự phát triển về mặt thể chất: Đó là sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơ
bắp, sự hoàn thiện các chức năng giác quan, sự phối hợp các chức năng vận động của
cơ thể.
-Sự phát triển về mặt tâm lý: Thể hiện sự biến đổi cơ bản trong quá trình nhận
thức, xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, ý chí…
-Sự phát triển về mặt xã hội: Thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong các mối
quan hệ với những người xung quanh, ở tính tích cực nhận thức tham gia vào các hoạt
động cải biến, phát triển xã hội.
Sự phát triển cá nhân là quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh thể chất và tinh
thần, các sức mạnh bản chất con người. Vì nhân cách là bộ mặt xã hội – tâm lý của
mỗi người nên sự phát triển nhân cách phải được hiểu sự phát triển mặt tâm lý xã hội
của con người.
Trong các sách giáo dục học trước đây, một số tác giả có sự hiểu biết lẫn lộn giữa sự
phát triển nhân cách và sự phát triển cá nhân. Nếu quan niệm như vậy thì có thể hiểu
khái niệm cá nhân là khái niệm nhân cách. Nhưng thực tế, hai khái niệm này không
phải là một.
Sự phát triển nhân cách là quá trình biến đổi không chỉ về lượng mà cả những
biến đổi về chất trong mỗi nhân cách. Đó là quá trình nảy sinh cái mới và hủy diệt cái
cũ.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

4


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
1.1.2.3. Sự hình thành và phát triển nhân cách chịu ảnh hưởng của nhiều
nhân tố

Nhân cách hình thành và phát triển chịu sự tác động của nhiều yếu tố
nhưng giữ vai trò chủ đạo trong đó là yếu tố là yếu tố sinh thể, yếu tố môi trường, giáo
dục và hoạt động cá nhân.
Yếu tố sinh thể
Không thể có nhân cách trừu tượng ở bên ngoài một con người bằng xương, bằng
thịt mà là nhân cách của một con người cụ thể sống trong một xã hội cụ thể. Ngay từ
lúc trẻ em ra đời, mỗi đứa trẻ đã có những đặc điểm hình thái – sinh lý của một con
người bao gồm các đặc điểm bẩm sinh và di truyền. Những thuộc tính sinh học có
ngay từ lúc đứa trẻ ra đời được gọi là những thuộc tính bẩm sinh. Những đặc điểm,
những thuộc tính sinh học của cha, của mẹ được ghi lại trong hệ thống gen truyền lại
cho con cái và được gọi là di truyền.
-Yếu tố sinh thể bao gồm các đặc điểm hình thể như cấu trúc giải phẫu sinh lý,
đặc điểm cơ thể, đặc điểm của hệ thần kinh và các tư chất.
Những yếu tố sinh học này có vai trò như thế nào trong sự hình thành và phát
triển nhân cách ? Theo quan điểm của tâm lý học Mácxít thì di truyền với các đặc
điểm sinh học nêu trên không quyết định chiều hướng cũng như giới hạn phát triển của
nhân cách con người. Mặc dù những đặc điểm sinh học có thể ảnh hưởng mạnh đến
quá trình hình thành tài năng, xúc cảm, sức khỏe thể chất,...trong giai đoạn đầu của
quá trình phát triển con người nhưng nó chỉ đóng vai trò tạo nên tiền đề cho sự phát
triển nhân cách.
. Yếu tố môi trường
Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội
xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người. Có thể phân
thành hai lại là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
-Nhân tố tự nhiên: bao gồm các điều kiện tự nhiên_ hệ sinh thái phục vụ cho các
hoạt động sống của con người. Hoàn cảnh địa lý, nước, không khí đất đai, động vật,
thực vật, khí hậu…
Vai trò: Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một môi
trường nhất định. Hoàn cảnh tự nhiên vốn có sự tác động tới sự hình thành và phát
triển nhân cách của con người, chính hoàn cảnh sống đã được in đậm dấu ấn trong tâm

lý thông qua khâu trung gian là phương thức sống.
-Nhân tố xã hội: Bao gồm cả một hệ thống quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội-lịch
sử, văn hóa, giáo dục được thiết lập. Con người hòa nhập với xã hội thông qua nhân tố
này.
Vai trò: Nhân tố xã hội có có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành và phát
triển nhân cách. Rõ ràng là không có sự tiếp xúc với con người thì cá nhân lớn lên

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

5


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
trong trạng thái động vật, không thể trở thành một con người, một nhân cách. Nhân
cách đó là một sản phẩm của xã hội.
Yếu tố giáo dục
Giáo dục là những tác động tự giác (có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, có sự
chuẩn bị một lực lượng nhất định có năng lực, có phẩm chất..) của thế hệ trước đến thế
hệ sau, nhằm hình thành ở thế hệ sau những phẩm chất, những năng lực,…theo yêu
cầu của xã hội.
Giáo dục là hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển
nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất
định.
Vai trò: Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân
cách, thông qua giáo dục, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm xã
hội - lịch sử đã được kết tinh trong các sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần của
nhân loại. Giáo dục có thể đem lại cho con người những cái mà các yếu tố bẩm sinh –
di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem lại được và nó có thể phát huy tối đa

các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách như
các yếu tố sinh thể (bẩm sinh di truyển), yếu tố hoàn cảnh sống, yếu tố xã hội. Giáo
dục có thể bù đắp cho những thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố bẩm sinh – di truyền
không bình thường, hoàn cảnh bị tai nạn hay chiến tranh gây nên, giáo dục uốn nắn
những sai lệch của nhân cách về một mặt nào đó so với các chuẩn mực, do tác động tự
phát của môi trường gây nên và làm cho nó phát triển theo hướng mong muốn của xã
hội. giáo dục có thể đi trước, đón đầu sự phát triển, giáo dục có thể “hoạch định nhân
cách trong tương lai” để tác động hình thành và phát triển phù hợp với sự phát triển
của xã hội.
Yếu tố hoạt động cá nhân
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Hoạt động của con người là
hoạt động có mục đích, mang tính xã hội, mang tính cộng đồng và được thực hiện
bằng những thao tác nhất định với những công cụ nhất định.
Vì vậy, mỗi loại hoạt động có những yêu cầu nhất định và đòi hỏi ở con người
những phẩm chất tâm lý nhất định. Quá trình tham gia hoạt động làm cho con người
hình thành những phẩm chất đó. Vì thế, nhân cách của họ được hình thành và phát
triển.
Vai trò: Hoạt động của cá nhân quyết định trực tiếp đến quá trình hình thành và
phát triển nhân cách con người, thông qua quá trình đối tượng hóa và chủ thể hóa
trong hoạt động mà nhân cách được bộc lộ và hình thành. Hoạt động để lại những dấu
ấn lên chính con người, tâm lý được hình thành và phát triển trong hoạt động và bằng
hoạt động. Mỗi một dạng hoạt động đều đề ra cho con người những yêu cầu nhất định,

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

6



HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
đòi hỏi con người thực hiện nó và tạo điều kiện cho con người thực hiện các yêu cầu
đó nên mỗi cá nhân cần rèn luyện phát huy những tài năng của bản thân.
Mối quan hệ giữa hoạt động và sự phát triển nhân cách là mối quan hệ biện
chứng. Tuỳ thuộc vào tính chất và nội dung của hoạt động khác nhau, mà hoạt động có
thể tạo điều kiện cho sự phát triển nhân cách ở những mức độ khác nhau. Nói chung,
hoạt động càng phong phú, phức tạp sẽ càng thuận lợi và tạo điều kiện cho cá nhân
phát triển hơn. Mặt khác, cá nhân càng phát triển thì càng có thể tham gia vào các hoạt
động phức tạp hơn.
*Các nhân tố này tác động tới sự hình thành và phát triển nhân cách, không phải
có giá trị song song hoặc bằng nhau hoặc đối lập nhau. Vì vậy, khi xem xét mối quan
hệ giữa các yếu tố thúc đẩy đến sự hình thành và phát triển nhân cách cần phải thật sự
khách quan, đúng đắn và khoa học.
1.1.3. Đặc điểm phát triển nhân cách của sinh viên bậc Đại học, Cao đẳng.
- Sự thích nghi với môi trường sống và phương pháp học tập mới: Khi bước chân
vào giảng đường đại học, Cao đẳng các tân SV phải đối mặt với những thay đổi to lớn
cả về nếp sinh hoạt hàng ngày và phương pháp học tập tại trường CĐ, ĐH. Chính vì
vậy, trở thành SV đồng nghĩa với việc các em phải nhanh chóng thích nghi với điều
kiện, hoàn cảnh sống mới, môi trường và phương pháp học tập mới. Sự thích nghi này
hoàn toàn khác nhau ở mỗi người tùy thuộc vào tính cách, năng lực bản thân, sự tự chủ
của các em…
- Sự phát triển nhận thức của SV: Nếu như trong môi trường học tập phổ thông,
HS được trang bị kiến thức chung trong sự giám sát chặt chẽ của gia đình, thầy cô giáo
thì trong môi trường học tập ở bậc CĐ, ĐH, SV được trang bị những kiến thức chuyên
ngành để có thể trở thành người lao động, người chuyên gia trong lĩnh vực mình được
đào tạo. Hoạt động nhận thức của SV luôn phải đi liền với tính tự giác, chủ động cao.
Nếu như trước kia, các em được các thầy cô hướng dẫn, giảng giải kỹ càng các kiến
thức phổ thông thì trong môi trường CĐ, ĐH, phương pháp truyền thụ theo kiểu “đọc
– chép” không còn phổ biến nữa mà chủ yếu là trang bị cho các em những kỹ năng tự
học tập, tự trau dồi tri thức thông qua hệ thống thư viện, phòng thí nghiệm,… Đây là

một đặc điểm quan trọng trong nhận thức và hoạt động học tập của SV và có ảnh
hưởng to lớn tới sự phát triển về mặt chuyên môn, nhân cách nghề nghiệp của SV sau
này.
- Tự ý thức của SV: Cùng với hoạt động học tập, sự tự ý thức của SV cũng phát triển
hoàn thiện hơn. Thông qua mối quan hệ với những người khác cũng như những tri
thức lĩnh hội được, các em sẽ có những đánh giá phù hợp về bản thân mình hơn. Đây
là cơ sở thuận lợi để các em có thể rèn luyện, khắc phục những mặt hạn chế, phát huy
những mặt mạnh nhằm hoàn thiện nhân cách của bản thân mình. Trong tự đánh giá của
SV, cần tránh hai xu hướng hoặc đánh giá quá cao bản thân mình gây ra sự tự tin thái

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

7


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
quá, kiêu ngạo, như vậy các em dễ gặp những “cú sốc” khi công việc diễn ra không
như mong muốn; hoặc đánh giá quá thấp bản thân gây nên tình trạng tự ti, không phát
huy hết được năng lực, sở trường của bản thân.
- Đời sống xúc cảm, tình cảm: Đa số SV tại các trường CĐ, ĐH có độ tuổi từ 18 – 25.
Có thể nói đây là giai đoạn đẹp nhất của đời người. Thế giới xúc cảm, tình cảm của SV
biểu hiện khá phong phú, sinh động trong đời sống hàng ngày phản ánh một thế giới
nội tâm tinh tế và nhạy cảm. Trong đời sống xúc cảm, tình cảm của SV, điều không thể
không nói tới là tình yêu đôi lứa. Nếu so với HS thì tình yêu trong thời kỳ SV nảy
sinh khi các em đã có sự trưởng thành cả về vị thế xã hội và hoàn thiện về tâm sinh lý.
Chính vì thế, nó là tình cảm thiêng liêng, lãng mạn đối với SV và là động lực quan
trọng để các em học tập, rèn luyện. Trong tình yêu đôi lứa của SV cũng cần có sự định
hướng đúng đắn của nhà trường, đoàn thanh niên để tình yêu của các em luôn gắn liền

với trách nhiệm của bản thân cũng như để tình yêu đó phù hợp với hoàn cảnh, điều
kiện học tập của mình.
- Động cơ và định hướng giá trị của SV: Động cơ và định hướng giá trị của SV cũng
có sự phát triển phong phú đa dạng. Điều đó phản ánh trong mục đích học tập, phấn
đấu của các em có thể là những yếu tố tâm lý chủ quan như hứng thú, lý tưởng sống,
tình yêu với môn học… cũng có thể là những yếu tố nằm ngoài bản thân như học tập
vì gia đình, vì thành tích…. Mặt khác, trong môi trường tập thể, SV dần chấp nhận
những phong cách, lối sống, giá trị sống của người khác và hướng đến những giá trị
sống mình cho là phù hợp. Có thể nói, việc định hướng giá trị sống cho SV là việc làm
cần thiết để hướng các em vào những mục đích, giá trị sống cao đẹp.
Có thể nói, sinh viên là lứa tuổi sung mãn nhất của đời người, các em có sức khỏe dồi
dào, nhiều ước mơ hoài bão, tuổi trẻ và cả quãng đời dài đang ở phía trước. Điều cần
nhấn mạnh là việc các em có phát triển hết các khả năng, điều kiện của mình hay
không phụ thuộc nhiều vào định hướng đúng đắn cũng như tính tích cực hoạt động,
học tập rèn luyện của các em. Nếu có cái nhìn đúng đắn về cuộc sống và có chí hướng
vươn lên trong rèn luyện, học tập các em sẽ trở thành những chuyên gia, những trí
thức trong tương lai.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

8


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Chương 2: Vai trò và Đặc điểm của môi trường giáo dục Xã hội trong việc
hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của Sinh viên bậc Cao đẳng, Đại
học.
2.1. Khái niệm môi trường Xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người.

Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định... ở các cấp khác nhau như:
Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia
đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,... Môi trường xã hội định hướng
hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể
thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật
khác.
2.2. Vai trò:
- Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, môi trường xã hội có tầm quan trọng
đặc biệt vì nếu không có xã hội loài người thì những tư chất có tính người cũng không
thể phát triển được. Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự
nhiên và môi trường xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của
các em.
- Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể được thực hiện trong một môi
trường nhất định. Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và
điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó giúp các em chiếm lĩnh được các
kinh nghiệm để hình thành và phát triển nhân cách của mình.
- Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách còn tùy thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá
nhân đối với các ảnh hưởng đó, cũng như tùy thuộc vào xu hướng và năng lực, vào
mức độ cá nhân tham gia cải biến môi trường. Nói về mối quan hệ này, C.Mác đã
viết : “Hoàn cảnh đã sáng tạo ra con người, trong chừng mực mà con người đã sáng
tạo ra hoàn cảnh”.
2.3. Đặc điểm
Sự phát triển con người nói chung, nhân cách nói riêng chỉ có thể phát triển đúng
quy luật khi mỗi cá nhân tự nhận thức đúng đắn, giải quyết hài hòa mối quan hệ cá
nhân-xã hội xét trên phương diện lợi ích. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Chừng nào
con người còn ở trong xã hội hình thành một cách tự nhiên, do đó chừng nào còn có sự
chia cắt lợi ích riêng và lợi ích chung… thì chừng đó bản thân con người sẽ trở thành
một lượng xa lạ, đối lập với con người và nô dịch con người chứ không phải là bị xã
hội thống trị”.

2.3.1. Tác động tích cực
Xã hội ngày càng tiến bộ thì các sinh viên có nhiều hơn những điều kiện để phát
triển như sự phát triển của khoa học công nghệ, sự giao lưu văn hóa của các dân tộc

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm

9


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
trong nước và ngoài nước, có sự tiếp xúc với cuộc sống cộng đồng được nhiều hơn…
những điều đó tạo môi trường thuận lợi cho các em hình thành và phát triển nhân cách.
Sinh viên phải được sống trong xã hội mà mọi cá nhân, tổ chức đều tạo những
điều kiện tốt nhất cho các em phát triển, bởi vì các em là nguồn nhân lực trẻ của đất
nước. Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để đào tạo, bồi dưỡng,
giáo dục, nâng cao trình độ kiến thức, kĩ năng và nâng cao ý thức trách nhiệm công
dân. Chăm lo, phát triển và phát huy tài năng của các em; tạo điều kiện cho các em học
tập nâng cao trình độ văn hóa, kiến thức, chuyên môn, tay nghề; có cơ chế, chính sách
giải quyết việc làm, tạo vốn cho các em mưu sinh, lập nghiệp khi ra trường; xây dựng
cơ sở vật chất các trung tâm văn hóa, thể dục thể thao, giúp các em rèn luyện, nâng cao
thể chất; lãnh đạo phát triển các phong trào hành động cách mạng trong thanh niên,
khơi sức sáng tạo, khả năng cống hiến để thanh niên vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh
cao khoa học, kỹ thuật, đi đầu trong giải quyết những vấn đề bức bách của xã hội.
Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng phát biểu: “Các ngành, các địa phương,
các trường học phải xem các gương mặt trẻ tiêu biểu như tấm gương cần phải nhân
rộng, tạo thành phong trào trong thanh niên, từ đó đẩy lùi tệ nạn tiêu cực”.
Hình ảnh xung kích đi đầu trong các phong trào tình nguyện (Tiếp sức mùa thi,
Mùa hè Xanh, Xuân Tình Nguyện…) của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh đã trở

thành nét đẹp của tuổi trẻ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Các
em đã có nhiều chiến dịch tình nguyện chung sức vì cộng đồng tại các địa phương đã
góp phần phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo; tham gia các hoạt động văn hoá, giáo
dục, y tế, chăm sóc thiếu niên nhi đồng; tuyên truyền phổ biến pháp luật, phòng chống
tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự an toàn giao thông; tổ chức các hoạt động đền ơn đáp
nghĩa. Những hoạt động đó sẽ giúp các em có một thế giới quan tốt cho sự hoàn thiên
nhân cách.
2.1.2. Tác động tiêu cực
Trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ
bão của khoa học công nghệ đã làm cho những giá trị của con người vừa phát triển tốt,
song cũng không tránh khỏi nhưng thử thách khốc liệt về văn hóa, có những dấu hiệu
suy thoái về đạo đức đến mức báo động. Việc giao lưu văn hóa ngoại ảnh hưởng trực
tiếp đến giá trị đạo đức của sinh viên. Nhiều sinh viên hiện nay chạy theo xu hướng
thực dụng, thích hưởng thụ, dễ a dua, đau đòi, các em thích diễn viên Hàn Quốc, ăn
mặc, kiểu tóc, hình thức bề ngoài… đua đòi ăn chơi mà quên đi những bản sắc văn hóa
tốt đẹp của đất nước mình. Các em hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang
tính hưởng thụ, nhiều khi vô bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện
nhân cách. “Tớ chỉ thích điện thoại nào đời mới...”, “Phim Hàn Quốc đang chiếu tới
tập...”, “Hàng hiệu hợp thời ở chỗ...”.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
10

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Khoa học công nghệ phát triển, sinh viên tiếp xúc với internet và học rất nhiều
điều hữu ích từ nó. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, internet có nhiều mặt tiêu cực
như có những hình ảnh, phim ảnh không phù hợp với những giá trị đạo đức của con

người Việt Nam. Sinh viên xem nhưng thiếu người định hướng và giáo dục nên sẽ dễ
nhận thức sai lầm kéo theo hành vi sai và phạm tội. Hơn nữa, việc thường xuyên chơi
game online và sống trong ảo giác sẽ gây ra những hành vi dần ảnh hưởng đến đạo
đức, làm tha hóa nhân cách, lệch lạc về nhận thức, từ đó dẫn đến những hành vi tiêu
cực, có thể hủy hoại tương lai của giới trẻ.
Tốc độ lan truyền thông tin trên Intenet nhanh chóng là một tiện ích, các trang
mạng xã hội như Facebook, Twiter… lại được các em sử dụng rất nhiều, nhưng nó
mang lại hệ quả khó lường. Tuổi trẻ luôn được xem là nhanh nhạy trong việc nắm bắt
các thành tựu kỹ thuật mới, các bạn trẻ rất am hiểu việc sử dụng các công cũ kỹ thuật
như điện thoại di động có quay phim chụp ảnh, chuyển tải dữ liệu lên mạng … Thế
nhưng, tuổi trẻ cũng lại rất chậm để cảm nhận được hậu quả của những đoạn phim,
bức ảnh được gửi lên mạng. Ngày nay, chỉ một chuyện nhỏ trong lớp cũng có thể dễ
dàng được quay phim lại bằng điện thoại di động, cũng nhanh chóng được chuyển tải
lên mạng, có hàng ngàn đến hàng triệu lượt người xem. Là lứa tuổi dễ bị kích động, dễ
bắt chước, không ít những bạn trẻ tự làm hại mình khi sử dụng không kiểm soát các
tiến bộ của công nghệ
Mặt khác, xã hội ngày nay phát triển đa dạng, phong phú. Những mặt trái của sự
phát triển nền kinh tế thị trường để lại hậu quả suy thoái về đạo đức. Con người vì lợi
nhuận bất chấp thủ đoạn hại nhau, vì lợi sẵn sàng giết nhau,… Môi trường sống xung
quanh cùng với những tệ nạn xã hội đang diễn ra tràn lan và ngày càng xâm nhập sâu
vào học đường cũng là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức…. Do vậy, các em
ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đó, ảnh hưởng đến sự hình thành và phát
triển nhân cách.
Phải thừa nhận rằng, do ảnh hưởng từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường
cũng như của xu thế toàn cầu hóa, và đặc biệt, do không nghiêm túc trong rèn luyện,
phấn đấu, một bộ phận sinh viên ở nước ta đang có những biểu hiện tiêu cực đáng lo
ngại, như phai nhạt lý tưởngchạy theo lối sống buông thả, lười học tập và tu dưỡng
đạo đức, thích hưởng thụ, ngại lao động, chuộng những sinh hoạt thiếu lành mạnh
hoặc phản văn hóa, nghiện ngập, thậm chí vi phạm pháp luật ...
Xã hội càng phát triển thì có nhiều vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, các em phần

nhiều bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xung quanh hình thành những thói hư, tật xấu:
-Hút thuốc lá: Ở trên lớp các em thấy bạn bè mình hút thuốc, khi về nhà thì gặp
những người lớn trong gia đình hút nên cũng tập tành theo vì các em muốn chứng tỏ
mình là người lớn.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
11

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
-Rượi chè bắt đầu từ những lúc các em tụ tập lại, lúc đầu chỉ là uống nước nhưng
càng về sau để chứng tỏ mình là người sành điệu, đua đòi, bắt chước bạn bè, người
lớn.
-Bài bạc nảy sinh vào những dịp lễ tết, hay chỉ là chơi cho vui với bạn bè nhưng
lâu dần nó trở thành thói quen. Bất cứ khi nào cũng có thể chơi và tệ hơn nữa là chơi
ăn tiền.
-Các em thường tụ tập lại ăn chơi, nếu không có tiền ăn chơi thì nảy sinh trộm
cắp, cướp giật, về nhà trộm của của cha mẹ, hoặc là hàng xóm “bần cùng sinh đạo tặc”
-Chích, hút ma túy, tham gia đua xe, gây mất trật tự, phá làng phá xóm, chơi
game cũng được xem là vấn nạn ngày càng phổ biến.
Ngoài ra còn một bộ phận không nhỏ sinh viên giai đoạn này không có lý tưởng
sống, không cómục đích học tập, thực dụng hay có những suy nghĩ lệch lạc ảnh hưởng
xấu đến động cơ, ước mơ, hoài bão vươn lên.
Những hiện tượng đó, trước hết là nguy cơ đe dọa tương lai của chính bản thân
họ, gia đình học, đồng thời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ và văn
minh của xã hội ta hiện nay. Mặt khác, cũng cần nói rằng, các thế lực thù địch đang
“chờ đợi” và sẽ ra sức khai thác, lợi dụng những hiện tượng đó để tiến hành chiến lược
“diễn biến hòa bình” hòng chống phá và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt

Nam.
Chương 3: Biện pháp xây dựng môi trường giáo dục Xã hội tích cực cho
Sinh viên bậc Cao đẳng Đại học.
Hơn lúc nào hết, hiện nay việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức, giáo dục giá trị sống,
kỹ năng sống cho sinh viên, lý tưởng sống, giáo dục lòng yêu nước cho sinh viên là rất
quan trọng và cấp thiết. Nó góp phần xây dựng thành công con người mới xã hội chủ
nghĩa để phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
3.1. Bồi dưỡng về đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng
cách mạng
-Ngày nay giáo dục đạo đức cho sinh viên là giáo dục tình yêu Tổ Quốc, yêu quê
hương đất nước, có lòng vị tha nhân ái, cần cù liêm khiết và chính trực. Đó là đạo đức
Xã hôi Chủ nghĩa, là đạo đức của cá nhân , tập thể và chủ nghĩa nhân đạo mang tính
chân thực, tích cực, khác với đạo đức vị kỉ cá nhân. Giáo dục đạo đức sinh viên gắn
chặt với giáo dục tư tưởng- chính trị, giáo dục truyền thống và giáo dục bản sắc văn
hóa dân tộc, giáo dục pháp luật nhà nước XHCN, cung cấp cho sinh viên những
phương thức ứng xử đúng đắn trước các vấn đề của xã hội, bồi dưỡng lý tưởng cách
mạng… giúp các em có khả năng tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự
giác, có khả năng chống lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống.
-Bồi dưỡng về chính trị là nâng cao khả năng nhận thức cho các em về chủ quyền
dân tộc, về sự tồn tại và toàn vẹn lãnh thổ, về sự giàu mạnh của đất nước. Thực hiên

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
12

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
đường lối của Đảng của nhà nước về chiến lược phát triển đất nước và tuân thủ các
chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia. Về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân thể

hiện trong cuộc sống lao động, học tập và hoạt động chính trị xã hội vì hạnh phúc của
nhân dân. Các em phải hiểu sâu sắc nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, chống lại mọi thủ đoạn
xâm phạm đến an ninh chủ quyền quốc gia và giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc.
-Bồi dưỡng về pháp luật là các em phải thấy nghĩa vụ trong việc cùng toàn dân
tham gia đóng góp xây dựng các bộ luật của nhà nước, đấu tranh để pháp luật được
thực hiện công bằng, phấn đấu cho một nhà nước pháp quyền, và quyền lợi của mọi
người được nhà nước bảo vệ.
-Lý tưởng đối với tuổi trẻ như ánh sáng mặt trời với sự sống, là sự gắn bó hữu
cơ, là sự tự nguyện, tự giác, là sự đòi hỏi tự thân, nó thường trực, hướng tới: “Không
một chút nào được quên”. Lý tưởng sống của thanh thiếu niên không chỉ dừng lại ở
nhận thức, ý thức và quan niệm, mà phải được tôi rèn trong thực tiễn học đi đôi với
hành, lý luận gắn với thực tế, phải thành hành động, thông qua hành động, và hiệu quả
của hành động. Bác đã dạy: “Điều gì phải thì cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều
gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ”.
Phát huy vai trò tự học tập, tự du dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và lý tưởng
của thế hệ trẻ. Mỗi một đoàn viên thanh niên phải xác định rõ trách nhiệm trước Tổ
quốc và nhân dân, sống có lý tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến
bộ. Bản thân mỗi người tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám
dỗ và tiêu cực xã hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng, lợi
mình hại người; cần phải tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc sống,
vào các giá trị chân, thiện, mỹ; vượt qua mọi khó khăn gian khổ như Bác Hồ đã dạy:
“gian nan rèn luyện mới thành công”.
-Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức đối với các lực lượng tham gia giáo
dục đạo đức đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho
sinh viên:
Giáo dục đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng
thông qua các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động Đoàn, các hoạt động xã hội như
bảo vệ môi trường, bảo vệ khu dân cư, tham gia các phong trào tình nguyện, các quỹ
đền ơn đáp nghĩa, quỹ giúp bạn học tốt…
Lồng ghép, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

và các cuộc vận động lớn: Dân chủ- kỉ cương- tình thương- trách nhiệm”, “mỗi thầy cô
giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, các phong trào thi đua “Dạy tốt,
học tốt”, Xây dựng “ Trường học thân thiện, sinh viên tích cực”, “Xây dựng môi
trường văn hóa lành mạnh trong trường học”.
-Tổ chức chỉ đạo, thực hiện tốt công tác giáo dục đạo đức đạo đức, chính trị,
pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho sinh viên.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
13

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Đối với các phòng, khoa, cơ sở cần có kế hoạch khoa học, toàn diện, hợp lý và
thực tế, có thể làm được, tránh chung chung, đại khái, làm cho có.Người xây dựng và
chỉ đạo việc triển khai phải có uy tín và hiệu lực.
Đối với giáo viên bộ môn: Phấn đấu dạy tốt môn học của mình, tích cực lồng
ghép các vấn đề về đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách
mạng cho sinh viên thông qua giảng dạy chuyên ngành.
Đối với tổ chức Đoàn thanh niên: Tuyên truyền các nghị quyết của đoàn, tổ chức
thực hiện “Nề nếp - Kỷ cương”, các phong trào thi đua trong học tập sinh hoạt, các
hoạt động nội ngoại khóa: các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa - uống nước nhớ
nguồn”… nhằm giáo dục về lòng nhân ái, truyền thống, đạo lý con người, giáo dục các
em truyền thống dân tộc.
Đối với cha mẹ cần trở thành tấm gương tốt cho con, động viên, răn dạy các em
những điều hay, lẽ phải, những chủ trương của Đảng và nhà nước.
Đối với các tổ chức chính trị xã hội ( Chính quyền địa phương, tổ dân phố…):
cần chú trọng xây dựng mối quan hệ gia đình với xã hội, xây dựng gia đình văn hóa,
khu phố văn hóa,ông bà mẫu mực,con cháu thảo hiền, triển khai các kế hoạch của cấp

trên cho toàn dân, đưa giáo dục đạo đức, chính trị, pháp luật, lối sống, bồi dưỡng lý
tưởng cách mạng cho sinh viên vào tất cả mọi mặt của xã hội.
-Kiểm tra, đánh giá, xử lý công tác giáo dục đạo đức sinh viên:
Quá trình kiểm tra phải thực hiện thường xuyên, liên tục theo định kỳ hay đột
xuất, qua nhiều kênh thông tin như Đoàn trường, Hội sinh viên, phòng công tác Chính
trị Học sinh, sinh viên; đánh giá đúng, kịp thời biểu dương, khen thưởng khuyến khích
các em phấn đấu vươn lên; đồng thời ngăn chặn, phê bình những sai trái-vi phạm; thúc
đẩy sự tự giác thực hiện nhiệm vụ.
Quá trình đánh giá: là một quá trình “nghiêm túc- khoa học”. Hãy đánh giá đúng
khả năng học tập, rèn luyện của sinh viên… Cần quan tâm, thường xuyên theo dõi các
em sinh viên cá biệt… tạo điều kiện cho các em sữa sai và có niềm tin để vươn lên.
Quá trình xử lý phải thực hiện “Kịp thời, chính xác, công bằng, đúng trình tự quy
định”; lấy giáo dục làm chính, tránh xu hướng chỉ phát hiện những sai trái và kỉ luật
mà không dành thời gian để định hướng, uốn nắn, giúp sinh viên tự giác thực hiện;
đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, phát huy ưu điểm, bồi dưỡng những nhân tố tích cực,
khắc phục những thiếu sót của nhân tố tiêu cực.

3.2. Bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức
-Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục: Từng bước đổi mới nội dung
sách giáo khoa, loại bỏ những kiến thức không thiết thực, bổ sung những nội dung cần

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
14

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
thiết theo hướng bảo đảm kiến thức cơ bản, cập nhật những tiến bộ khoa học, công
nghệ, tăng nội dung công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo dục kỹ thuật tổng hợp và

năng lực thực hành. Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh,
coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn. Tổ chức cho sinh viên tham
gia công tác xã hội, tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao phù hợp với yêu cầu
giáo dục toàn diện.
Nhìn rộng ra các quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới, họ đặc biệt
quan tâm đến việc phát triển tư duy sáng tạo, khả năng làm việc độc lập và khả năng
làm việc theo nhóm của người học. Các quốc gia này áp dụng nhiều phương pháp khác
nhau nhằm khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để người học phát triển khả năng sáng tạo
của mình. Nhiều trong số các phương phương pháp, chúng ta có thể học tập và áp
dụng cho Việt Nam ngay cả ở những trường, đơn vị chưa áp dụng phương thức đào tạo
theo tín chỉ.
-Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học, đưa Tin học vào quản lý và đổi
mới phương pháp : Thay thế, bổ sung cơ sở vật chất và thiết bị cho các trường phổ
thông. Tích cực đưa Tin học vào giảng dạy, thay đổi phương pháp dạy học theo hướng
tích cực. Hiện nay trên thế giới đang thực hiện những phương tiện dạy học hiện đại
như: học với máy tính, với đèn chiếu overhead, với giáo án điện tử… Chúng ta từng
bước tiếp cận, nhân rộng, từng bước đưa vào sử dụng để thay đổi phương pháp dạy
học.
-Đổi mới công tác quản lý giáo dục : Xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan
quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo với cơ quan quản lý nhân lực và việc làm
Hiện nay ngành giáo dục đang lệ thuộc nhiều vào các lực lượng khác ngoài
ngành, ví dụ tỉ lệ tốt nghiệp, tỉ lệ lên lớp, lưu ban… “bệnh thành tích” đang làm cho
ngành mất đi tính độc lập, chủ động, thậm chí quản lý nhân sự ở các ngành học phổ
thông cũng không phải thuộc ngành giáo dục quản lý. Nên có định hướng quản lý
ngành giáo dục theo ngành dọc toàn bộ, độc lập chỉ đạo về chuyên môn, nhân sự ,
ngân sách, thanh tra kiểm tra, kể cả xây dựng cơ bản, cơ sở vật chất thì ngành mới chủ
động thay đổi phương pháp giáo dục .
Xử lý nghiêm túc các hiện tượng tiêu cực trong ngành giáo dục ( thi cử , luận
văn , cấp bằng …)
Tăng cường sắp xếp lại hệ thống các trường phổ thông và đại học, hệ thống

trường công, trường tư, trường bán công, trường dân lập. Gắn các trường đại học và
trung học chuyên nghiệp với các viện nghiên cứu để tận dụng tối ưu năng lực của đội
ngũ và cơ sở vẫt chất hiện có.
Coi trọng hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học giáo dục nhằm giải đáp
những vấn đề lý luận và thực tiễn trong giáo dục, các chủ trương, chính sách về giáo

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
15

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
dục, những đổi mới về nội dung, quy trình, phương pháp giáo dục, đánh giá, thi ….
Đều phải nghiên cứu kỹ lưỡng và trải qua thực nghiệm, phù hợp với thực tiễn
Việt Nam và đưa vào nhà trường theo đúng quy định . Không tuỳ tiện cải cách, đổi
mới, chỉnh lý sách giáo khoa liên tục như những lần vừa qua .
Khó khăn nhất của chúng ta hiện nay là sự yếu kém của đội ngũ quản lý giáo
dục, đây là hậu quả của chế độ quan liêu, bao cấp đã tồn tại trên đất nước ta một thời
gian dài. Hiện nay chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới ,nhưng ta chú trọng đổi
mới kinh tế, còn chính trị sẽ từng bước đổi mới. Vì vậy hệ thống giáo dục và các
ngành khác đều đổi mới sau chính trị. Vì vậy một số vấn đề tiêu cực đang diễn ra trong
ngành giáo dục. Mặt khác, giáo dục là ngành có nhiều quan hệ đến nhân dân, nên khi
bộc lộ những điểm bất cập, ngành giáo dục sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên nếu không khẩn
trương thực hiện đổi mới tư duy trong giáo dục .
Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về giáo dục trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh cải
cách hành chính giáo dục. Thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục;
quản lý theo pháp quyền trên cơ sở một hệ thống pháp luật giáo dục đồng bộ với sự
phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương và triệt để phân cấp quản lý giáo
dục; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở

giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tăng hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục
trong toàn ngành ở tất cả các cấp quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục; chuyển dần quản lý nhà nước
về giáo dục nặng về hành chính sang quản lý chất lượng và từ quản lý nhà nước theo
cách kiểm soát sang giám sát mọi hoạt động giáo dục. Nâng cao vai trò các tổ chức xã
hội nghề nghiệp giáo dục như Hội Giáo chức, Hội Khuyến học, liên hiệp hội các
trường ngoài công lập… trong phát triển giáo dục.
3.3. Bồi dưỡng nâng cao về kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp và ứng xử
Bên cạnh việc thiếu kinh nghiệm làm việc thì không ít bạn trẻ đánh mất cơ hội
lập nghiệp do thiếu kỹ năng mềm. Nhiều người không nhận thức đúng, đủ về vấn đề
này. Hầu hết rất bị động, hiểu mơ hồ về kỹ năng mềm, vai trò của kỹ năng mềm đối
với công việc của mình. Điều này khiến cho kỹ năng mềm của sinh viên hiện nay còn
yếu.
-Bồi dưỡng văn hóa-thẩm mỹ cho các em là bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận
thức cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống xã hội và nghệ thuật. Bồi dưỡng cho các
em đánh giá cái đẹp, nhận biết cái chân thiện mỹ trong cuộc sống con người từ đó hình
thành tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn, phù hợp với các giá trị dân tộc và thời
đại.
-Kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống, đặt vấn đề, kỹ năng team work, giao tiếp
tiếng Anh… vẫn là những điểm hạn chế của các em. Hình thành kỹ năng sống cho sinh

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
16

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
viên không chỉ thông qua hình thức tích hợp trong các môn học có tiềm năng mà còn

phải thích hợp thông qua nhiều hình thức khác nhau trong nhà trường. Hoạt động đoàn
gắn liền với hoạt động học tập của sinh viên trong nhà trường vì độ tuổi này các em
đều là Đoàn viên trong tổ chức Đoàn – Hội. Sinh viên là lứa tuổi mà tâm sinh lý đang
phát triển phức tạp đòi hỏi việc sinh hoạt, học tập, rèn luyện phải thường xuyên được
đổi mới về hình thức lẫn nội dung, về phương pháp
Chương 4: Biện pháp phối hợp môi trường giáo dục Gia đình – Nhà trường
– Xã hội
Để giúp sinh viên xây dựng được mối quan hệ bạn bè tốt đẹp, lành mạnh, bền
vững rất cần sự kết hợp của ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội.
Gia đình:
Việc các em mong muốn khẳng định mình trong gia đình, trong quan hệ với bạn
bè và người khác, cũng như sự phát triển tự ý thức và nhu cầu độc lập của các em là
vấn đề cần được chú ý, quan tâm trong hoạt động giáo dục đối với lứa tuổi sinh viên
hiện nay ở cả phạm vi gia đình. Chúng ta cần tôn trọng những quan điểm, nhu cầu và
mong muốn chính đáng của các em, sẽ là sai lầm nếu chúng ta chỉ nhìn các em như là
những đứa trẻ còn non nớt.
Các hình thức giáo dục con cái trong gia đình cần được bố mẹ và các thành viên
trong gia đình chú ý đặc biệt, tránh sử dụng các hình thức giáo dục thiếu tích cực và
đặc biệt là các hình thức giáo dục thô bạo, áp đặt, xâm phạm thể chất và tinh thần của
con em mình, nhất là lứa tuổi thanh niên đang trưởng thành.
Nhà trường:
Nhà trường cần xây dựng được bầu không khí lành mạnh tốt đẹp cho sinh viên.
Hơn nữa, nhà trường cần tăng cường nội dung giáo dục đạo đức cho các em dưới
nhiều hình thức. Coi trọng việc giáo dục đạo đức cũng giúp các em nhận thức và có
những cách ứng xử đúng đắn trong mối quan hệ bạn bè.
Bộ giáo dục cần có chiến lược xây dựng chương trình giáo dục đạo đức đầy đủ
và quy mô hơn so với hiện tại, trong đó coi việc giáo dục đạo đức cho người học là
một vấn đề quan trọng. Chỉ khi coi trọng việc giao dục đạo đức thì việc giáo dục sinh
viên hướng tới xây dựng những mối quan hệ bạn bè lành mạnh, trong sáng mới trở nên
có hiệu quả.

Tăng cường sự quan tâm chỉ đạo sát sao hơn nữa của chi bộ Đảng, Ban Giám
hiệu, các tổ chức đoàn thể, các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường đối với công
tác giáo dục đạo đức cho sinh viên.
Thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức để giáo dục
cho sinh viên, nhằm thu hút người học tham gia học tập rèn luyện một cách tích cực.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
17

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Việc kiểm tra đánh giá kết quả của hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên
phải đảm bảo công bằng, công khai, khen thưởng, phê bình, nhắc nhở kịp thời.
Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công
dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho sinh
viên tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu
cầu giáo dục toàn diện.
Xã hội:
Các cá nhân, tổ chức ở các địa phương, ban, ngành, đoàn thể nên tạo những điều
kiện thuận lợi nhất để giáo dục cho các em hoàn thiên nhân cách.
* Gia đình cần kết hợp với nhà trường, xã hội trong việc giáo dục giá trị cho các
em, không nên phó mặc trách nhiệm giáo dục giá trị con em mình cho nhà trường và
xã hội.
Thứ nhất, phải thiết lập được mối quan hệ bền vững giữa gia đình – nhà trường –
xã hội. Trong cuộc sống chúng ta luôn có những khó khăn vì nhiều lí do khác nhau.
Cha mẹ phải chăm lo cuộc sống vật chất và tinh thần cho gia đình nên đôi lúc không
thể có được thời gian theo sát con cái để có những biện pháp giáo dục thích hợp hướng
con mình theo cái tốt, cái thiện. Do vậy, cha mẹ muốn con trở thành công dân tốt phải

tạo sự gắn kết với nhà trường (đặc biệt là thường xuyên liên lạc với giáo viên chủ
nhiệm) và xã hội. Với nhà trường thì phải không ngừng liên lạc với phụ huynh (nhất là
những sinh viên yếu kém, thường vi phạm nội qui, nề nếp…) để hiểu nhiều hơn về
sinh viên và có giải pháp khắc phục hữu hiệu. Đồng thời cả gia đình, nhà trường và xã
hội phải có sự kết nối và thống nhất trong các hoạt động vui chơi giải trí và biện pháp
giáo dục trẻ. Nhà nước phải can thiệp và quản lý những hoạt động văn hóa - xã hội,
đảm bảo tạo môi trường sống lành mạnh cho trẻ. Chính vì thế, chúng ta phải đặt quan
hệ giữa gia đình, nhà - trường - xã hội trong mối quan hệ biện chứng không thể tách
rời nhau. Đây là giải pháp cơ bản nhất để hoàn thiện việc giáo dục đạo đức cho thế hệ
trẻ hiện nay.
Thứ hai, phải tạo một môi trường sống, môi trường giao tiếp và học tập tốt ở
gia đình, nhà trường và xã hội.
Đây là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển nhân cách thanh niên.
Có môi trường sống, làm việc và học tập tốt, sinh viên sẽ ít có cơ hội trở thành người
xấu, không thể phạm tội. Hiện nay, môi trường sống xung quanh rất phức tạp, luôn
diễn ra những tệ nạn xã hội ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành tư tưởng, đạo
đức lối sống của sinh viên. Do vậy, bản thân của các bậc phụ huynh, giáo viên phải
nắm được những hoạt động văn hóa, kinh doanh, các điểm vui chơi giải trí và con
người xung quanh nhà và trường. Vì chính môi trường xã hội gần gũi này trực tiếp ảnh
hưởng và góp phần hình thành và hoàn thiện nhân cách của sinh viên. Nếu môi trường

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
18

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
xung quanh phức tạp thì chúng ta sẽ có những biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn
những hậu quả xấu xảy ra đối với sinh viên.

Thứ ba, những người giáo dục phải gương mẫu, hiểu tâm sinh lý của sinh viên
và có tâm huyết với việc giáo dục thế hệ trẻ thành công dân tốt.
Cha mẹ, giáo viên phải luôn là tấm gương sáng cho sinh viên noi theo, có những
hình thức khen thưởng và xử phạt công bằng giữa các thành viên, không phân biệt đối
xử giữa các con và các sinh viên; phải biết cách khen chê đúng lúc, nên khen nhiều
hơn chê để động viên và khích lệ hiệu quả. Cha mẹ và Thầy Cô phải đặt mình vào vị
trí của sinh viên, phải hiểu được tâm sinh lý của sinh viên để có những phương pháp
giáo dục đúng đắn phù hợp cho từng đối tượng.
Chúng ta phải có sự hòa nhập và hợp tác với chúng, vừa là các bậc tiền bối, cũng
vừa là những người bạn và vừa là những nhà tư vấn tâm lý đáng tin cậy để chúng có
thể chia sẽ những vui buồn và những bế tắc trong cuộc sống, trong học tập và trong
các mối quan hệ bạn bè và xã hội khác.
Thứ tư, phải giáo dục đạo đức cho sinh viên thường xuyên, liên tục, suốt đời;
phải theo dõi các mối quan hệ của sinh viên và giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho
sinh viên, lý tưởng sống và lòng yêu nước
Việc giáo dục đạo đức cho một sinh viên trở thành một công dân tốt là một quá
trình, phải chú trọng ngay từ khi trẻ mới hình thành nhận thức, đó là những lúc ở nhà
và việc giáo dục đạo đức ở trẻ bắt đầu từ các cấp học. Quan trọng nhất là nền tảng giáo
dục ở cấp Tiểu học vì đây là những buổi học đầu tiên mà trẻ làm quen với môi trường
giáo dục. Có lẽ ở nhà các em được cưng chiều nhiều nên khi vào học quí Thầy Cô sẽ là
những người dạy cho các em lẽ sống công bằng, phân biệt đúng - sai và phải làm đúng
theo lẽ phải, dạy cho các em hiểu vai trò, trách nhiệm của một người con trong gia
đình và cách giao tiếp văn hóa trong xã hội,… Ở bậc Trung học cơ sở là thời điểm các
em có sự chuyển biến về tâm sinh lý và luôn hiếu kỳ, tò mò, muốn khám phá thế giới
xung quanh. Vì vậy, phải dạy cho trẻ cách tiếp cận và thu nhận thông tin từ thực tiễn
cuộc sống và vận dụng nó một cách đúng đắn vào cuộc sống. Đối với thanh, thiếu niên
Trung học phổ thông, đây là giai đoạn các em phát triển khá hoàn thiện về mọi mặt,
nhận thức đã sâu sắc và chín chắn hơn, tuy nhiên các em vẫn còn những suy nghĩ bồng
bột, nông cạn nên dễ rơi vào những cám dỗ trong cuộc sống, sa vào cạm bẫy xã hội và
trở thành tội phạm mà bản thân các em không hay biết, hoặc biết nhưng vẫn làm do

không hiểu mức độ nặng nhẹ của sự việc, hoặc do không biết làm như thế là phạm
pháp. Đến lứa tuổi sinh viên, các thanh niên đã phát triển cao về thể chất và phát triển
rất mạnh về nhận thức, về tính cách về tâm hồn. Do vậy việc dạy chữ và dạy người đối
với sinh viên phải được kế thừa, tiếp nối các giai đoạn trước, xuyên suốt từ cấp thấp
đến cấp cao, không gián đoạn. Nhất là biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo
dục, kết quả mới bền và vững chắc.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
19

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Chương 5: Liên hệ thực tế tại trường Cao đẳng Bách Việt
Trường Cao đẳng Bách Việt là trường ngoài công lập, do một thành viên đầu tư
xây dựng và hoạt động từ năm 2003 đến nay. Mặc dù là trường ngoài công lập, song
nhà trường đã xác định sứ mạng của mình là “ Đào tạo cho người học nắm vững tri
thức chuyên môn, có kỹ năng hợp tác và chuyên nghiệp, biết kết hợp hài hòa giữa lý
thuyết và ứng dụng, để cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao; Đồng thời
đáp ứng linh hoạt nhu cầu học tập suốt đời và cơ hội việc làm tốt nhất cho người học”.
Trường khẳng định tôn chỉ hoạt động là “Chuẩn mực - Chất lượng - Chuyên nghiệp”;
nhà trường rất coi trọng công tác giáo dục đạo dức, hình thành nhân cách cho Học sinh
sinh viên.
Một trong những mục tiêu và giải pháp đó là xây dựng môi trường tự nhiên, xã
hội nhân văn, thân thiện có tính thẩm mỹ, tính sư phạm và tác dụng giáo dục cao. Với
3 cơ sở tự đầu tư xây dựng, tất cả đều khang trang, hiện đại với nhiều mảng xanh,
nhiều tiểu cảnh, nhiều góc trang trí đẹp, thể hiện sự yêu quý và tôn trọng học sinh, sinh
viên. Tất cả các phòng học, phòng thực hành thí nghiệm, phòng thư viện, phòng bộ
môn, các nhà thi đấu, các phòng tập thể hình, khu căntin, nhà vệ sinh, cầu thang máy

cho đến các thiết bị phòng chữa cháy… đều được xây dựng, sắp xếp rất khoa học,
thẩm mỹ, hiện đại.
Cùng với việc đầu tư trang thiết bị và xây dựng môi trường tự nhiên có tính giáo
dục cao, trường Cao đẳng Bách Việt rất chú trọng xây dựng môi trường xã hội lành
mạnh, văn minh thân thiện. Tất cả các tổ chức từ Hội đồng quản trị, Ban Giám hiệu,
các phòng ban chức năng, các khoa chuyên môn cho đến các đoàn thể chính trị, quần
chúng đều đồng thuận về chủ trương, biện pháp giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức
cho HSSV. Tất cả đều có chương trình, kế hoạch, lịch biểu, thời gian, nội dung,
phương pháp giáo dục. Trước hết, đó là xây dựng quy chế, xác định mối quan hệ giữa
các bộ phận với nhau. Mối quan hệ giữa thầy và trò, mối quan hệ giữa thầy và thầy,
giữa học trò với nhau. Mọi người đều được tôn trọng, được tin tưởng, được tự giác
nhận ra nhiệm vụ, quyền hạn và quyền lợi của mình.
Các đoàn thể được tạo mọi điều kiện để hoạt động theo đúng chức năng. Chi bộ
có 15 đảng viên, hoạt động theo chỉ đạo của đảng cấp trên và được đánh giá là Chi bộ
trong sạch vững mạnh. Đoàn trường, Hội sinh viên trường Cao đẳng Bách Việt vận
dụng nghị quyết của Thành Đoàn vào thực tế một cách linh hoạt, sáng tạo và có tác
dụng giáo dục. Đa số Học sinh, sinh viên trường đã hăng hái, tích cực tham gia các
hoạt động xã hội, nhiều em hào hứng hưởng ứng các phong trào, các cuộc vận động do
thành đoàn tổ chức. Trường Cao đẳng Bách Việt là trường có phong trào thể thao
mạnh của thành phố, ba năm liền đạt vô địch giải bóng đá toàn quốc về phong trào
sinh viên các trường cao đẳng, đại học. Môi trường xã hội ngày càng lành mạnh, nền
nếp kỷ cương trong trường không ngừng được củng cố. Hiện nay, HSSV đã có thói

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
20

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC

quen tôn trọng và tự giác thực hiện nội quy trường, tôn trọng thực thi pháp luật. Hầu
hết các em đã biết xếp hàng, nhường nhau khi đi thang máy hoặc liên hệ với các
phòng, khoa. Hầu như trong trường không có hiện tượng nói tục, chửi thề hoặc gây gỗ,
đánh nhau; hội đồng kỷ luật rất ít phải xử lý các vi phạm về đạo đức, kỷ luật.
Đoàn trường đã tổ chức rất tốt các chiến dịch tình nguyện mùa Hè, các lễ hội
mừng tết Trung Thu, hội hoa Xuân, Tết yêu thương dành cho người nghèo…Xây 7 cây
cầu; thắp sáng nhiều con đường và làm nhiều công trình góp phần xây dựng nông thôn
mới cho Huyện Giồng Trôm, Tỉnh Bến Tre. Hàng năm HSSV đã cùng cán bộ, giảng
viên hiến máu tình nguyện và tiết kiệm giúp đỡ người nghèo phường 17, phường 6
Quận Gò Vấp, nơi trường trú đóng. Chính vì những hoạt động tích cực, hiệu quả như
vậy, hàng năm Đoàn trường Cao đẳng Bách Việt đã được đánh giá là đơn vị tiên tiến;
trường được nhận bằng khen của Bộ giáo dục và nhiều giấy khen về các hoạt động
giáo dục toàn diện.
C. Kết luận và kiến nghị
Đất nước ta đang trong tiến trình hội nhập và phát triển. Có thể nói, chưa có bao
giờ thời cơ và thuận lợi lại nhiều như lúc này, song cũng chưa bao giờ khó khăn, thách
thức nhiều như hiện nay. Khi hội nhập, mở cửa, sự giao lưu văn hóa sẽ tạo cơ hội tốt
để Việt Nam ngày càng phát huy những truyền thống, song cũng chính vì sự giao thoa
này, nếu không giữ bản sắc dân tộc, nếu không biết tiếp thu có chọn lọc sẽ dễ “đánh
mất mình”, sẽ “lai căng” và không còn bản sắc. Thanh niên, vốn là lực lượng nòng cốt,
là nguồn nhân lực có sức khỏe, có trí tuệ, nhanh nhạy, thông minh, tiếp thu nhanh
những giá trị thời đại, tuy nhiên nếu không định hướng tốt, thanh niên sẽ bị mặt trái
của kinh tế thị trường làm biến dạng nhân cách, làm xói mòn lý tưởng, làm lung lay ý
chí phấn đấu; nhất là sống thực dụng, sống hưởng thụ và xác định không đúng những
giá trị tốt đẹp. Chính vì vậy, vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống và hình thành nhân cách
cho HSSV vẫn cần phải đặt ra nghiêm túc và có hệ thống.
Trước hết, nhà nước cần thể chế hóa các văn bản, các quy định về công tác giáo
dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống cho thế hệ trẻ; giáo dục lý tưởng cho thanh
niên trong giai đoạn hội nhập. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,
chú trọng đến đầu tư các thiết chế văn hóa; cùng với việc bảo tồn, phát huy những giá

trị truyền thống đạo đức dân tộc, cần tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân
loại, tích cực giao lưu và làm giầu đời sống tinh thần cho thế hệ trẻ ngay khi ra nhập
ASEAN.
Cần tiếp tục quan tâm đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo; coi giáo dục
đào tạo là quốc sách hàng đầu, bởi vì chính giáo dục sẽ góp phần nâng cao dân trí, đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
21

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm


HP: LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Trong quá trình giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ cần xây
dựng môi trường tự nhiên và xã hội lành mạnh, trước hết đó là môi trường dân chủ; tạo
cho thế hệ trẻ phát huy tối đa các tiềm lực bản năng theo sự định hướng và giáo dục
đúng đắn; giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức tự học,tự giáo dục, tự tiếp nhận những tri thức
của nhân loại.
Những mong muốn chỉ có thể đạt được trong sự phát huy sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị và xã hội, của cả ba môi trường Gia đình, Nhà trường và xă hội.
Thế hệ trẻ sẽ lớn lên là chính nó và là tác phẩm của thời đại nó đang sống, đó là “tổng
hòa các mối quan hệ xã hội”.

E. Nhận xét của giáo viên hướng dẫn.
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………

GVHD: PGS.TS Trần Thị Hương
22

SVTH: Nguyễn Thanh Lâm



×