Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

báo cáo thực tập truyền thông môi trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (271.93 KB, 27 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
-----***-----

BÁO CÁO
THỰC TẬP TRUYỀN THÔNG MÔI TRƯỜNG

Họ và tên : Trần Thị Thanh Huyền
Lớp

: ĐH3QM1

Mã số SV : DH00301166
Giảng viên: ThS. Bùi Thị Thu Trang

HÀ NỘI, 28/3/2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
-----***-----

ĐỀ CƯƠNG
NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ HƯỚNG DẪN CHO
NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC XỬ LÝ CHẤT THẢI TRONG
CHĂN NUÔI TẠI HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Hà Nội, 28/03/2016


MỤC LỤC




1. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH

Phù Mỹ là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Bình Định, thuộc vùng
duyên hải Nam Trung Bộ. Nền kinh tế của huyện chủ yếu là dựa vào nông nghiệp.
Ngoài ra các xã ven biển có nghề làm muối, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Công
nghiệp chưa phát triển, các làng nghề tiểu thủ công nghiệp chỉ nổi tiếng trong địa
phương ít tạo được thương hiệu lớn.
Những năm gần đây, phong trào nuôi bò lai sinh sản, nuôi vỗ béo bò thịt phát triển
rộng khắp ở Phù Mỹ. Theo số liệu thống kê, đến nay tổng đàn bò toàn huyện khoảng
49.597 con; trong đó bò lai 41.001 con, chiếm tỉ lệ 82,67% (tổng đàn bò toàn tỉnh hiện
có 270 ngàn con; tỉ lệ bò lai bình quân 76%; cao nhất là Vĩnh Thạnh 97%, An Nhơn
85%). Nếu năm 2014 toàn huyện xuất chuồng 21.450 con bò, thì từ đầu năm đến nay
đã xuất chuồng 22.358 con, tương ứng với tỉ lệ thịt hơi xuất chuồng tăng 7,5% so với
cùng kỳ, đem lại thu nhập hàng trăm tỉ đồng.
Song bên cạnh việc đem lại lợi ích cao về kinh tế, việc chăn nuôi gia súc, gia
cầm với số lượng lớn như vậy đã dẫn đến lượng chất thải tạo ra cũng không nhỏ, gây
ảnh hưởng lớn đến đời sống và sức khỏe của người dân nơi đây. Tuy nhiên, nếu có
biện pháp xử lý thích hợp, những chất thải đó lại chính là nguồn phân bón rất tốt để cải
tạo đồng ruộng và vườn cây ăn trái mang lại hiệu quả rất cao cho bà con chăn nuôi
Do đó việc tuyên truyền, hướng dẫn bà con cách xử lý chất thải trong chăn nuôi
là điều hết sức cần thiết. Dựa vào thực tế đó và căn cứ theo công văn chỉ đạo của chủ
tịch UBND huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; chúng tôi đề xuất tổ chức lớp tập huấn: “
Nâng cao nhận thức và hướng dẫn cho người dân về việc xử lý chất thải trong chăn
nuôi tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định”.
2. PHÂN TÍCH ĐỐI TƯỢNG
- Đối tượng truyền thông:
o Hội Nông dân
o Hội Phụ nữ

o Các cán bộ làm tại phòng môi trường huyện Phù Mỹ

Là các tổ chức chính trị xã hội liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động
chăn nuôi của huyện

4


-

Trình độ nhận thức: không có điều kiện và thường xuyên được tiếp cận các

kiến thức về xử lý, kĩ thuật trong chăn nuôi
- Dân tộc: bên cạnh dân tộc Kinh còn có dân tộc Chăm, BaNa, Hre
- Tỉ lệ nam nữ: 3/2
3. MỤC TIÊU
Về kiến thức:

Biết được vấn đề tổng quan về hiện trạng môi trường huyện Phù Mỹ và
sự cần thiết phải bảo vệ môi trường huyện

Biết được các tác hại, ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi nếu không có
biện pháp xử lý

Biết được tác dụng của chất thải khi đã được xử lý

Nắm được kĩ thuật xử lý chất thải chăn nuôi
Về kĩ năng:

Nắm được kĩ thuật ủ phân, kĩ thuật xây dựng và vận hành hệ thống xử lý

chất thải bằng biogas
Về thái độ:

Có nhận thức đúng đắn về việc bảo vệ môi trường tại và xung quanh
huyện


Có thái độ tích cực trong thực hiện công tác xử lý chất thải trong chăn

nuôi, cùng nhau thực hiện bảo vệ môi trường.

Góp phần truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc
bảo vệ môi trường.

Góp phần bảo vệ môi trường tại huyện

5


4. KẾ HOẠCH NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH, NỘI DUNG BÀI GIẢNG
4.1.
Kế hoạch tổ chức tập huấn

STT

Thời gian tổ
chức

Đối tượng


Đ/c Chủ tịch, các phó
Đối
chủ tịch, cán bộ làm
Sáng thứ 7
tượng
công tác môi trường tại ngày 2/04/2016
1
huyện Phù Mỹ
Lớp 1:
Hội nông dân huyện Phù
Đối
Mỹ
tượng
Lớp 2:
2
Hội phụ nữ huyện Phù Mỹ

4.2.

50

Sáng chủ nhật,
ngày 3/04/2015

50

Sáng thứ 2, ngày
4/04/2015

50


Tổng

150

Địa điểm tổ
chức
Hội trường
UBND Huyện
Phù Mỹ
Hội trường
UBND Huyện
Phù Mỹ
Hội trường
UBND Huyện
Phù Mỹ

Nội dung chương trình tập huấn

Thời gian
7h30 - 8h00

Nội dung
Phát tài liệu, ổn định chỗ ngồi

8h00-8h10

Tuyên bố lý do, giới thiệu đại
biểu
Nội dung 1, 2,3 của chuyên đề:

Thực trạng ô nhiễm môi
trường do chăn nuôi tại huyện,
phân loại là tác hại

8h10 – 8h45

8h45-9h30

Nghỉ giải lao, uống nước

9h30 – 10h45
10h45 –
11h10
11h10 –
11h15
4.3.

Số lượng
học viên

Nội dung 4 của chuyên đề:
Một số kĩ thuật xử lý chất thải
Trả lời, giải đáp thắc mắc

Đơn vị thực hiện
Phòng TNMT huyện Phù Mỹ phối
hợp với Hội nông dân, hội phụ nữ
Phòng TNMT huyện Phù Mỹ
Phòng TNMT kết hợp với Giảng
viên trường ĐH Tài nguyên và Môi

trường HN
Phòng TNMT huyện Phù Mỹ phối
hợp với Hội nông dân, hội phụ nữ
Phòng TNMT kết hợp với Giảng
viên trường ĐH Tài nguyên và Môi
trường HN
Phòng TNMT kết hợp với Giảng
viên trường ĐH Tài nguyên và Môi
trường HN

Bế mạc

Nội dung bài giảng

Chuyên đề: Tổng quan về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi (dành cho tất cả
các đối tượng)
-

Giảng viên: Th.S. Vũ Văn Doanh
6







+
+


Đơn vị công tác: Giảng viên trường ĐH Tài nguyên và Môi trường HN
Nội dung chuyên đề :
Thực trạng ô nhiễm môi trường do chăn nuôi tại huyện
Phân loại chất thải chăn nuôi
Tác hại của xử lý chất thải không hợp vệ sinh
Biện pháp quản lý chất thải
Một số kĩ thuật xử lý chất thải:
Kĩ thuật ủ phân
Quy trình xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi bằng

hầm khí biogas
(Nội dung chi tiết trong Tài liệu/ Phụ lục đính kèm)

5. KINH PHÍ
5.1.
Nguồn kinh phí

Do ngân sách nhà nước cấp, được bố trí trong nguồn kinh phí sự nghiệp môi
trường của huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
5.2.
-

Cơ sở lập dự đoán kinh phí
Thông tư 139/2010/TT-BTC ngày 21 tháng 09 năm 2010 của Bộ Tài

chính quy định về việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách
nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước
Thông tư 123/2009/TT-BTC : Quy định nội dung chi, mức chi xây dựng
chương trình khung và biên soạn chương trình, giáo trình các môn học đối với
các ngành đào tạo Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp

Thông tư 97/2010.TT-BTC ngày 6 tháng 7 năm 2010 của Bộ Tài chính
quy định về chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với
cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập
Thông tư liên tịch 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 07/05/2007 quy định
về việc lâp dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà
nước đảm bảo cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp
luật của người dân tại cơ sở.
Thông tư 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07/05/2007 về Hướng dẫn
định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa
học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.
Thông tư 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 30/03/2010 về việc Hướng
dẫn việc quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường.
5.3.
Tổng kinh phí thực hiện
7


Ghi bằng số: 27.550.000 VNĐ
Số tiền bằng chữ: Hai mươi bảy triệu, năm trăm năm mươi ngàn đồng

(Nội dung chi tiết xem phụ lục 1 đính kèm)

8


PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Dự toán kinh phí
STT

I

II

1

III

1

IV
1

2

3

Nội
dung
thực
hiện
Xây dựng đề
cương
Biên soạn tài
liệu
Chuyên
đề:
nâng cao nhận
thức và hướng
dẫn cho người
dân về việc xử
lý chất thải

trong
chăn
nuôi tại huyện
Phù Mỹ, Tỉnh
Bình Định

Đơn vị tính

Số lượng

Đơn giá

Thành tiền
(VNĐ)

Đề cương

1

1,200,000

1,200,000
6,000,000

Chuyên đề

1

6,000,000


Giảng dạy
Chuyên
đề:
nâng cao nhận
thức và hướng
dẫn cho người
dân về việc xử
lý chất thải
trong
chăn
nuôi tại huyện
Phù Mỹ, Tỉnh
Bình Định
Tổ chức lớp
học
Thuê
Hội
trường
(tạm
tính)
Thuê thiết bị
giảng
(Máy chiếu),
âm thanh, ánh
sáng … (tạm
tính)
Pano lớp học
(tạm tính)

6,000,000


900,000

Buổi

3

300,000

900,000

17,750,000
Ngày

3

1,000,000

3,000,000

Ngày

3

500,000

1,500,000

Cái


1

500,000

500,000

9


4

Hỗ trợ tiền ăn
cho học viên

5

Nước uống

6
7
V
1

2

3

Photo tài liệu
tập
huấn

(quyển
x
người)
Văn
phòng
phẩm
Các chi phí
khác
Thuê phòng
nghỉ cho giảng
viên (1 người)
Thuê xe đưa
đón giảng viên
và mang màn
chiếu, thiết bị
trợ giảng
(Xe x 8 lớp x
02 ngày/lớp)
(tạm tính)
Chi phí khác:
bút dạ, giấy A4,
giấy A0…
Tổng
cộng
(mục I + mục
II + mục III +
mục IV + mục
V)

Người


150

50,000

7,500,000

Người/ngày

150

10,000

1,500,000

quyển

150

10,000

1,500,000

Bộ

150

15,000

2,250,000

1,700,000

Ngày

2

250,000

500,000

Chuyến

1

300,000

300,000

Lớp

3

300,000

900,000

27,550,000

Số tiền bằng chữ: Hai mươi bảy triệu, năm trăm năm mươi ngàn đồng


Người lập
Trần Thị Thanh Hu

DỰ TOÁN KINH PHÍ LỚP TẬP HUẤN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

10


Phụ lục 2. Nội dung chuyên đề
MỤC LỤC

1. Tính cấp thiết của đề tài
Phù Mỹ là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Bình Định, thuộc vùng duyên
hải Nam Trung Bộ. Nền kinh tế của huyện chủ yếu là dựa vào nông nghiệp. Ngoài ra
các xã ven biển có nghề làm muối, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Công nghiệp
chưa phát triển, các làng nghề tiểu thủ công nghiệp chỉ nổi tiếng trong địa phương ít
tạo được thương hiệu lớn.
Những năm gần đây, phong trào nuôi bò lai sinh sản, nuôi vỗ béo bò thịt phát triển
rộng khắp ở Phù Mỹ. Theo số liệu thống kê, đến nay tổng đàn bò toàn huyện khoảng
49.597 con; trong đó bò lai 41.001 con, chiếm tỉ lệ 82,67% (tổng đàn bò toàn tỉnh hiện
có 270 ngàn con; tỉ lệ bò lai bình quân 76%; cao nhất là Vĩnh Thạnh 97%, An Nhơn
85%). Nếu năm 2014 toàn huyện xuất chuồng 21.450 con bò, thì từ đầu năm đến nay
đã xuất chuồng 22.358 con, tương ứng với tỉ lệ thịt hơi xuất chuồng tăng 7,5% so với
cùng kỳ, đem lại thu nhập hàng trăm tỉ đồng.
Song bên cạnh việc đem lại lợi ích cao về kinh tế, việc chăn nuôi gia súc, gia cầm
với số lượng lớn như vậy đã dẫn đến lượng chất thải tạo ra cũng không nhỏ, gây ảnh
hưởng lớn đến đời sống và sức khỏe của người dân nơi đây. Tuy nhiên, nếu có biện
pháp xử lý thích hợp, những chất thải đó lại chính là nguồn phân bón rất tốt để cải tạo
đồng ruộng và vườn cây ăn trái mang lại hiệu quả rất cao cho bà con chăn nuôi
Do đó việc tuyên truyền, hướng dẫn bà con cách xử lý chất thải trong chăn nuôi là

điều hết sức cần thiết. Dựa vào thực tế đó và căn cứ theo công văn chỉ đạo của chủ tịch
UBND huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; chúng tôi đề xuất tổ chức lớp tập huấn: “
Nâng cao nhận thức và hướng dẫn cho người dân về việc xử lý chất thải trong chăn
nuôi tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định”.
2. Thực trạng tại địa phương
Nông nghiệp là một lĩnh vực kinh tế quan trọng của huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình
Định. Tỷ lệ đóng góp GDP của nông nghiệp > 43 %. Ngày nay, với sự tiến bộ của
khoa học kĩ thuật, nông nghiệp ngày càng đạt phát triển và đạt giá trị cao. Hai lĩnh vực
11


quan trọng trong nông nghiệp là chăn nuôi và trồng lúa nước. Bên cạnh giá trị kinh tế
đạt được, ngành nông nghiệp hiện nay, đặc biệt là chăn nuôi của huyện đang gây nhiều
tác động đến môi trường cũng như sức khỏe của người dân sống tại đây,
Phù Mỹ là huyện chủ yếu phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm đặc biệt là đàn
bò hướng nạc, tự trồng cỏ chăn nuôi bò để tăng nhanh số lượng và chất lượng.
Những năm gần đây, phong trào nuôi bò lai sinh sản, nuôi vỗ béo bò thịt phát
triển rộng khắp ở Phù Mỹ. Theo số liệu thống kê, đến nay tổng đàn bò toàn huyện
khoảng 49.597 con; trong đó bò lai 41.001 con, chiếm tỉ lệ 82,67% (tổng đàn bò
toàn tỉnh hiện có 270 ngàn con; tỉ lệ bò lai bình quân 76%; cao nhất là Vĩnh Thạnh
97%, An Nhơn 85%). Nếu năm 2014 toàn huyện xuất chuồng 21.450 con bò, thì từ
đầu năm đến nay đã xuất chuồng 22.358 con, tương ứng với tỉ lệ thịt hơi xuất
chuồng tăng 7,5% so với cùng kỳ, đem lại thu nhập hàng trăm tỉ đồng.
Phần lớn các cơ sở chưa tuân thủ tốt các biện pháp bảo vệ môi trường. Trong
chăn nuôi heo, tỷ lệ xây dựng biogas còn thấp (khoảng 30%), đa số xử lý cục bộ
như thu gom phân, xây dựng hố xử lý nước thải sinh học, trình trạng rò rỉ nước thải
ra môi trường, mùi hôi cục bộ còn phổ biến. Công tác thu gom rác thải sinh hoạt chỉ
chiếm 10/17 xã, thị trấn, các địa phương còn lại chịu ảnh hưởng tình trạng ô nhiễm
rác thải tại các khu chợ nông thôn, khu dân cư tập trung. Kết quả thực hiện công tác
vệ sinh môi trường Phong trào xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng xã văn hóa

tiến tới xây dựng huyện văn hóa, công tác vệ sinh môi trường đã được các cấp, các
ngành và nhân dân ở Phù Mỹ quan tâm. Việc xử lý môi trường phạm vi cục bộ
trong cộng đồng, khu dân cư và cảnh quan chung của từng xã, thị trấn có bước cải
thiện. Đến nay có 20,20% hộ xây dựng cầu vệ sinh tự hoại; tỷ lệ hộ dân sử dụng
nước sạch đạt 98,36%, trong đó có 26,38% hộ sử dụng nước máy, tăng hơn 4% so
năm 2008.
3. Nội dung chính của chuyên đề
3.1.

Tổng quan về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi

Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 70% số dân sống ở vùng nông
thôn. Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế-xã hội nước
ta. Những năm qua, ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh về cả số lượng lẫn quy mô.
Tuy nhiên, việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ, thiếu quy hoạch, nhất là các vùng dân
12


cư đông đúc đã gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng. Ô nhiễm môi trường
do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn,
xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không đúng kỹ thuật. Một kết quả kiểm tra
mức độ nhiễm khuẩn trong chuồng nuôi gia súc cho thấy, tổng số vi khuẩn trong
không khí ở chuồng nuôi cao gấp 30-40 lần so với không khí bên ngoài.
Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh
hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ
mắc bệnh, năng suất bị giảm, tăng các chi phí phòng trị bệnh, hiệu quả kinh tế của
chăn nuôi không cao, . . .. Sức đề kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ
gây nên bùng phát dịch bệnh. Vì vậy, WHO [2005] khuyến cáo phải có các giải pháp
tăng cường việc làm trong sạch môi trường chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ
vững được an toàn sinh học, tăng cường sức khỏe các đàn giống. Các chất thải chăn

nuôi gây ô nhiễm môi trường do vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) là đặc biệt
nguy hiểm, vì nó sẽ làm phát sinh các loại dịch bệnh như ỉa chảy, lở mồm long móng,
tai xanh, cúm gia cầm H5N1, . . ..
Theo tính toán thì lượng chất thải rắn mà các vật nuôi có thể thải ra
(kg/con/ngày) là: Bò 10, trâu 15, lợn 2, gia cầm 0.2, do vậy hàng năm, đàn vật nuôi
Việt Nam thải vào môi trường khoảng 73 triệu tấn chất thải rắn (phân khô, thức ăn
thừa) và 25-30 triệu khối chất thải lỏng (phân lỏng, nước tiểu và nước rửa chuồng
trại). Trong đó, khoảng 50% lượng chất thải rắn (36,5 triệu tấn), 80% chất thải lỏng
(20-24 triệu m3) xả thẳng ra môi trường, hoặc sử dụng không qua xử lý sẽ gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng. Ước tính một tấn phân chuồng tươi với cách quản lý, sử
dụng như hiện nay sẽ phát thải vào không khí khoảng 0,24 tấn CO 2 quy đổi thì với
tổng khối chất thải nêu trên sẽ phát thải vào không khí 17,52 triệu tấn CO 2. Các nhà
nghiên cứu đã ước tính được rằng chăn nuôi gây ra 18% khí gây hiệu ứng nhà kính
làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên (biến đổi khí hậu toàn cầu), lớn hơn cả phần do giao
thông vận tải gây ra.
Do đó, việc xử lý các chất thải trong chăn nuôi bò là vô cùng quan trọng; nếu
xử lý tốt sẽ không chỉ bảo vệ môi trường mà còn gia tăng nguồn thu nhập cho người
nông dân.
3.2.

Phân loại chất thải chăn nuôi

13


Chất thải trong chăn nuôi được phân ra làm 3 loại:
Chất thải rắn (phân, thức ăn thừa..)
Chất thải lỏng (nước tiểu, nước tắm rửa gia súc, cọ rửa chuồng trại,..)
• Chất thải khí (mùi, khí CO2, NH3, CH4 do hoạt động hô hấp tiêu hóa của vật nuôi, do




ủ phân và chế biến thức ăn...). Đây là loại chất thải khó kiểm soát nhất
Nước thải chăn nuôi là một trong những loại nước thải có nồng độ ô nhiễm cao, đặc
biệt là BOD, COD, nito, photpho và các vi sinh vật gây bệnh. Các thông số ô nhiễm
đặc trưng của nước thải chăn nuôi được thể hiện trong bảng sau:

14


1: Các thông số ô nhiễm đặc trưng của chất thải chăn nuôi và quy chuẩn xả
thải
Thông số
pH
BOD5
COD
SS
N tổng
P tổng
Coliform

Nồng độ nước
thải đầu vào
7,2
2817
5210
615
206
37
5,8.109


Yêu cầu chất lượng nước đầu ra

Đơn vị
mg/l
mg/l
mg/l
mg/l
mg/l
MPN/100ml

(QCVN 40:2011 cột A)
6-9
30
75
50
20
4
3000

So sánh hàm lượng N và P trong chất thải chăn nuôi:
-

Chất thải rắn: Nhiều P, hàm lượng N ít hơn so với chất thải lỏng
Chất thải lỏng: N nhiều, P không đáng kể

Trong nước thải chăn nuôi:
+
+


Hợp chất hữu cơ chiếm 70 - 80% hầu hết dễ phân hủy;
Các chất vô cơ chiếm 20 – 30 % gồm cát, đất, muối ure, ammonium,

muối clorua...
+ Ngoài ra trong thành phần nước thải còn chứa nhiều vi sinh vật, vi trùng,
3.3.

vi rút, và ấu trùng giun sán gây bệnh
Tác hại của xử lý chất thải không hợp vệ sinh
3.3.1. Đối với môi trường
Đất: Chất thải chăn nuôi làm nguy hại tới độ phì nhiêu của đất, có thể
gây ô nhiễm đất do nhiễm các kim loại nặng; ảnh hưởng đến quá trình sống và
phát triển của các sinh vật
Nước: làm phì dưỡng nước, ô nhiễm nước mặt, nước ngầm (do ngấm
qua đất)
Không khí: Chất thải chăn nuôi còn phát thải vào khí quyển nhiều khí
nhà kính như CO2, NH3, N2, O. Bên cạnh đó còn gây mùi khó chịu , ảnh
hường đến sức khỏe của các hộ dân xung quanh

15


3.3.2. Đối với sức khỏe conn người
Dịch bệnh và bệnh về đường ruột, dịch tả do sự hoạt động của các vi

sinh vật và sinh vật như E.Coli, sán lá gan...
Ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt, ăn uống của dân cư khu vực vì các
vấn đề mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn nước cảnh quan khu vực trang trại
3.3.3. Hậu quả của ô nhiễm môi trường chăn nuôi
Suy giảm chất lượng tài nguyên đất, nước, không khí

Ảnh hưởng đến sự biến đổi khí hậu do sự phát sinh của khí thải
Gây và lây bệnh cho người và sinh vật
Suy giảm đa dạng sinh học
Ảnh hưởng tới sản xuất, tăng rủi ro cho ngành
Nguyên nhân:
-

Phần lớn các trại chưa xây dựng được hệ thống xử lý chất thải khép kín

(hệ thống hầm khí biogas nên tình trạng ô nhiễm môi trường từ các hộ chăn
nuôi ngày càng trở nên phổ biến
Các trang trại nằm tách biệt với khu dân cư nhưng công nghệ xử lý phần
lớn vẫn là chôn lấp do thiếu kinh phí và công nghệ. Bên cạnh đó, nhận thức của
người dân về các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trogn chăn nuôi còn
rất hạn chế
Các trại chăn nuôi còn mang tính chất nhỏ lẻ, tự phát, thiếu sự quy hoạch
tổng thể và lâu dài của địa phương dẫn đến sự phát triển manh mún, thiếu sự
đầu tư, thậm chí gây ô nhiễm môi trường.
Tính liên kết trong phát triển kinh tế trang trại chưa cao, trình độ chuyên
môn, kinh nghiệm sản xuất, quản lý kể cả thông tin thị trường của hầu hết cá
3.4.

chủ trang trại chòn nhiều hạn chế
Biện pháp quản lý chất thải
3.4.1. Lựa chọn vị trí xây dựng chuồng tại hợp lý

Chuồng nuôi xây dựng phải được đảm bảo mỹ quan, tách biệt với nơi sinh
hoạt của con người, không bị gió lùa; thuận tiện cho quá trình chăm sóc, nuôi
dưỡng và giữ ấm vào mùa đông, mát về mùa hè, thuận tiện về nguồn nước và tiện
cho công tác thu gom xử lý chất thải. Chuồng trại phải được xây xa đường giao

thông chính, tránh được tiếng ồn và những hoạt động qua lại của con người
3.4.2. Mật độ và diện tích chuồng nuôi

Mật độ nuôi là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất
và sức đề kháng bệnh của vật nuôi. Song hầu như ít được tuân thủ một cách nghiêm
16


ngặt trong tôt chức, bố trí sản xuất. Do đó đã tạo ra một môi trường kém về độ
thông thoáng, dễ phát sinh dịch bệnh và khả năng lây nhiễm bệnh cao.
3.4.3. Bố trí, sắp xếp các dãy chuồng nuôi hợp lý
-

Xây dựng chuồng trại cần đảm bảo khoảng cách tối thiểu giữa các dãy chuồng từ 5 –
7m. Như vậy sẽ thuận tiện trong quá trình sản xuất, dễ áp dụng các biện pháp chăm
sóc nuôi dưỡng, thuận tiện cho việc cách ly để điều trị khi có dịch bệnh xảy ra và phân

-

tách được các lứa tuổi vật nuôi theo từng dãy chuồng
Đối với hộ quy mô nhỏ thì chuồng nuôi nên chia thành các ngăn để thuận tiện cho việc

-

thực hiện các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và công tác phòng trị bệnh
3.4.4. Xây dựng công trình xử lý chất thải
Đối với chăn nuôi quy mô lớn và theo phương thức công nghiệp nên xây hầm Biogas

-


là biện pháp hữu hiệu để xử lý chất thải và tận dụng được nguồn chất đốt cho sinh hoạt
Đối với chăn nuôi quy mô nông hộ nhỏ lẻ thì trong quy hoạch chuồng nuôi phải xây
dựng bể chứa chất thải lỏng và ủ phân. Hàng ngày tiến hành thu gom phân loại rác để

-

tập trung về hố ủ hoai mục trước khi sử dụng bón cho cây trồng
Nền chuồng nuôi và bố trí xử lý chất thải phải được xây và láng xi măng để dễ dàng
cho quá trình cọ rửa vệ sinh và tránh được sự thẩm thấu chất lỏng ra ngoài môi trường,

-

tạo được độ yếm khí của hố ủ, giúp phân chóng hoai mục.
Đối với chất thải lỏng tiến hành xử lý tại bể chứa bằng vôi bột hoặc các chất hóa học
sát trùng trước khi dẫn ra ao nuôi hoặc tưới nước cho cây trồng (ngoài ra có thể xây
dựng hệ thống bể lắng lọc có trồng cỏ thủy sinh và bèo tây để xử lý)
3.4.5. Công tác vệ sinh chuồng trại
Ngoài việc hàng ngày tiến hành dọn vệ sinh phân rác và nước tiểu vật nuôi, thì
cần định kì hàng tuần quy định 1 ngày thực hiện tổng vệ sinh chuồng trại và khu vực
chăn nuôi, thu gom rác về nơi quy định để đốt và phun khử trùng cho khu vực chăn
nuôi bằng thuốc sát trùng để tiêu diệt nguồn mầm bệnh cư trú hoặc tiềm ẩn trong môi
trường.
3.4.6. Trồng cây xanh

Xung quanh khu vực chăn nuôi tiến hành trồng cây xanh để tạo bóng mát và chắn
được gió lạnh, gió nóng, ngoài ra cây xanh còn quang hợp hút khí CO 2 và thải khí O2
rất tốt cho môi trường chăn nuôi. Nên trồng các loại cây ăn quả như: xoài, mít, nhãn,
vải, keo dậu, muồng,...
17



3.5.

Một số kĩ thuật xử lý chất thải:
3.5.1. Kĩ thuật ủ phân
Ủ phân chuồng là biện pháp cần thiết trước khi trộn với đất để trồng cây. Bởi vì

trong phân chuồng tươi còn có nhiều hạt cỏ dại, nhiều ấu trùng, nhiều bảo tử, ngủ nghỉ
của nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn và tuyến trùng gây bệnh. Ủ phân vừa có tác dụng sử dụng
nhiệt độ tương đối cao trong quá trình phân huỷ chất hữu cơ để tiêu diệt hạt cỏ dại và
mầm mống côn trùng, bệnh cây vừa thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ, đẩy
nhanh quá trình khoáng hoá để khi bón vào đất phân hữu cơ có thể nhanh chóng cung
cấp chất dinh dưỡng cho cây.


Ưu điểm của việc ủ phân

Ủ phân làm cho trọng lượng phân giảm xuống nhưng chất lượng phân chuồng sẽ
tăng lên. Sản phẩm cuối cùng của quá trình ủ phân là loại phân hữu cơ được gọi là
phân ủ,trong đó có mùn,một phần chất hữu cơ chưa phân hủy,muối khoáng,các sản
phẩm trung gian của quá trình phân hủy. Một số enzym,chất kích thích & nhiều loại vi
sinh vật hoại sinh.
Để đảm bảo cho các quá trình hoạt động của vi sinh vật được tiến hành thuận
lợi,nơi ủ phân phải có nền không thấm nước cao ráo,tránh ứ động nước mưa.


Phân bò ủ đúng sẽ tôt hơn cả phân vi sinh vì:

+ Nhiều phân hơn,cải tạo được lý tính của đất.
+ Vi sinh ít hơn nhưng sẽ sinh sôi thêm,trong khi đó phân vi sinh thì nhiều nhưng

giảm dần theo thời gian vì chúng thiếu thức ăn.

18




Phương pháp ủ phân

Có 3 phương pháp ủ phân cơ bản, tùy theo điều kiện để áp dụng cho hiệu quả:
 Ủ nóng :

Khi lấy phân ra khỏi chuồng để ủ, phân được xếp thành từng lớp ở nơi có nền
không thấm nước, nhưng không được nén. Sau đó tưới nước phân lên, giữ độ ẩm trong
đống phân 60 – 70%. Có thể trộn thêm 1% vôi bột (tính theo khối lượng) trong trường
hợp phân có nhiều chất độn. Trộn thêm 1 – 2% supe lân để giữ đạm. Sau đó trát bùn
bao phủ bên ngoài đống phân. Hàng ngày tưới nước phân lên đống phân.
Sau 4 – 6 ngày, nhiệt độ trong đống phân có thể lên đến 60oC. Các loài vi sinh
vật phân giải chất hữu cơ phát triển nhanh và mạnh. Các loài vi sinh vật háo khí chiếm
ưu thế. Do tập đoàn vi sinh vật hoạt động mạnh cho nên nhiệt độ trong đống phân tăng
nhanh và đạt mức cao. Để đảm bảo cho các loài vi sinh vật háo khí hoạt động tốt cần
giữ cho đống phân tơi, xốp, thoáng.
Phương pháp ủ nóng có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt các hạt cỏ dại, loại trừ
các mầm mống sâu bệnh. Thời gian ủ tương đối ngắn. Chỉ 30 – 40 ngày là ủ xong,
phân ủ có thể đem sử dụng. Tuy vậy, phương pháp này có nhược điểm là để mất nhiều
đạm.
 Ủ nguội :

Phân được lấy ra khỏi chuồng, xếp thành lớp và nén chặt. Trên mỗi lớp phân
chuống rắc 2% phân lân. Sau đó ủ đất bột hoặc đất bùn khô đập nhỏ, rồi nén chặt.

Thường đống phân được xếp với chiều rộng 2 – 3 m, chiều dài tuỳ thuộc vào chiều dài
nền đất. Các lớp phân được xếp lần lượt cho đến độ cao 1,5 – 2 m. Sau đó trát bùn phủ
bên ngoài.
Do bị nén chặt cho nên bên trong đống phân thiếu oxy, môi trưởng trở nên yếm
khí, khí cacbonic trong đống phân tăng. Vi sinh vật hoạt động chậm, bởi vậy nhiệt độ
trong đống phân không tăng cao và chỉ ở mức 30 – 35 độ C. Đạm trong đống phân chủ
yếu ở dạng amôn cacbonat, là dạng khó phân huỷ thành amôniăc, nên lượng đạm bị

19


mất giảm đi nhiều. Theo phương pháp này, thời gian ủ phân phải kéo dài 5 – 6 tháng
phân ủ mới dùng được. Nhưng phân có chất lượng tốt hơn ủ nóng.
 Ủ nóng trước, nguội sau

Phân chuồng lấy ra xếp thành lớp không nén chặt ngay. Để như vậy cho vi sinh
vật hoạt động mạnh trong 5 – 6 ngày. Khi nhiệt độ đạt 50 – 60oC tiến hành nén chặt để
chuyển đống phân sang trạng thái yếm khí.
Sau khi nén chặt lại xếp lớp phân chuồng khác lên, không nén chặt. Để 5 – 6
ngày cho vi sinh vật hoạt động. Khi đạt đến nhiệt độ 50 – 60oC lại nén chặt.
Cứ như vậy cho đến khi đạt được độ cao cần thiết thì trát bùn phủ chung quanh
đống phân. Quá trình chuyển hoá trong đống phân diễn ra như sau: ủ nóng cho phân
bắt đầu ngấu, sau đó chuyển sang ủ nguội bằng cách nén chặt lớp phân để giữ cho đạm
không bị mất.
Để thúc đẩy cho phân chóng ngấu ở giai đoạn ủ nóng, người ta dùng một số
phân khác làm men như phân bắc, phân tằm, phân gà, vịt… Phân men được cho thêm
vào lớp phân khi chưa bị nén chặt. Ủ phân theo cách này có thể rút ngắn được thời
gian so với cách ủ nguội, nhưng phải có thời gian dài hơn cách ủ nóng.
Tuỳ theo thời gian có nhu cầu sử dụng phân mà áp dụng phương pháp ủ phân
thích hợp để vừa đảm bảo có phân dùng đúng lúc vừa đảm bảo được chất lượng phân.

3.5.2. Quy trình xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi

bằng hầm khí biogas
Việc xây dựng hầm biogas để xử lý chất thải từ chăn nuôi là biện pháp mang lại
hiệu quả lớn.
a)

Khái niệm

Biogas là nguồn năng lượn tái sinh chứa methane và khí carbonic được sinh ra từ
sự phân hủy kị khí hay sự lên men của chất hữu cơ của chất thải gia súc...trong điều
kiện thiếu không khí
b)

Thành phần Biogas
20


CH4, CO2, N2, H2, H2S..., trong đó CH4, CO2 là chủ yếu
Bảng 2: Thành phần khí Biogas

c)

Thành phần

Tỉ lệ (%)

Methane (CH4)

55,65


Carbon dioxide (CO2)

35,45

Nitrogen (N2)

0,3

Vi sinh vật trong Biogas

Quá trình sản sinh khí sinh học không thể xảy ra nếu không có các vi sinh vật.
Có 3 nhóm vi sinh vật chủ yếu:
d)
-

Vi khuẩn thủy phân (vi khuẩn lên men)
Vi khuẩn sinh axetat và hidro
Vi khuẩn sinh metan
Lợi ích của Biogas
Việc sử dụng các công trình khí sinh học góp phần quan trọng giảm ô

nhiễm môi trường do chất thải (ước tính xử lý được 7,5 – 8 triệu tấn chất thải
chăn nuôi).
Phụ phẩm khí sinh học được sử dụng làm phân bón cho đồng ruộng và
hoa màu có tác dụng cải tạo đất, nâng cao độ phì, chống bạc màu và xói mòn
đất, góp phần bảo vệ và cải tạo nguồn tài nguyên đất canh tác, giúp cho cây
trồng tăng sản lượng từ 20 – 30%
Sử dụng khí sinh học làm chất đốt nhằm giảm tiêu thụ gỗ, củi phục vụ
các mục đích khác nhau và cũng góp phần giảm các bệnh về mắt và phổi do

khói bụi gây ra khi đun nấu.
e)
Cơ chế hoạt động của công trình Biogas
Bể Biogas hoạt động theo chu trình gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn tích khí
và giai đoạn sử dụng khí
o
Giai đoạn tích khí: lúc bắt đầu; áp suất khí bằng 0. Khí bắt đầu sinh ra
và tích lại ở phần trên của bể phân giải. Khối không khí được tích ngày càng
nhiều và đẩy dich phân giải dâng lên ở bể điều áp và ống lôi vào. Bề mặt dịc
phân giải trong bể phân giải dần hạ xuống còn bề mặt dịch trong bể điều áp

21


tăng lên. Nếu khí không được sử dụng, dịch phân giải sẽ tiếp tục tăng và đến
một lúc nào đó sẽ tràn khỏi bể điều áp qua đường xả tràn;
o
Giai đoạn sử dụng khí: Khi khí được lấy sử dụng, bề mặt dịch ở bể điều
áp giảm xuống và bề mặt dịch phân giải ở bể phân giải tăng lên. Khi độ chenh
lệch giữa 2 bề mặt dịch này bằng 0, thiết bị sẽ trở lại trạng thái ban đầu của chu
trình hoạt động
CHẤT HỮU CƠ PHỨC TẠP TTẠP TẠPPƠPPPPPCCJSJCDJSNPHUWAPHUCTẠP PHUCW
CHẤT HỮU ĐƠN GIẢN
(đường, peptit, acid amin..)
CÁC ACID
(Propionic, butynic, axetic, lactic..)

H2, CO2
CH4, CO2
Hình 1: Sơ đồ quá trình biến đổi trong hầm khí Biogas


g) Cách xây dựng
1. Chọn điểm:
+ Sát khu chăn nuôi và hố xí.
+ Dịch thải thoát ra hệ thống nước thải chung phù hợp với công trình được xây dựng.
2. Đào hố móng xây hầm bioga và bể áp lực:
+ Dài x rộng x sâu: (3,6 x 2,7 x 2,2) m.

22


+ Tìm điểm thấp ở ngoài hố móng đào một lỗ sâu hơn đáy hố để bơm nước, đảm bảo
hố móng luôn khô ráo trong quá trình thi công.
3. Đổ bê tông hố móng:
+ Vật liệu đá xanh: 1x2; M 150.
+ Kích thước móng: Dài x rộng x cao: (3,2 x 2,3 x 0,15)m.
+ Khi đổ bê tông xong đặt một hàng gạch nằm theo chu vi móng hầm và bể, mạch vữa
phải đặc chắc. Không đặt gạch ở phần chu vi có cửa thông từ hầm sang bể, để chống
thấm nước từ ngoài vào đáy hầm, bể hoặc từ đáy hầm, bể ra ngoài.
+ Móng hầm, bể phải chịu lực (tối thiểu sau 24 giờ) mới tiếp tục xây tường hầm và bể.
4. Xây tường hầm và bể: (tiến hành đồng thời).
a/ ở phần tường hầm:.
+ Để cửa thoát dịch từ hầm sang bể cao 60cm, rộng 30cm.
+ Ở độ cao 80cm đặt ống thu phân bằng nhựa phi 110mm.
b/ ở phần tường bể:.
Để cửa thông tại vị trí trùng với cửa thoát dịch ở tường hầm (cao 60cm, rộng 30cm), ở
độ cao 2,5 cm gắn 2 cữ đỡ tấm đan của thoát dịch từ hầm sang bể.
c/ Tiếp tục đồng thời tường bể, hầm. Đến độ cao 105cm, ở tường hầm xây một hàng
gạch nằm quay ngang đảm bảo độ cao tường hầm 110cm.
d/ Trong khi đợi tường chịu lực, tiến hành láng đáy, trát phía trong tường hầm và bể,

đánh màu chống thấm những phần láng và trát nói trên.
5. Đặt nắp hầm vào thân hầm:
+ Khi tường hầm đã chịu lực, rải lớp vữa xi măng mác 75, dày 3cm, rộng 7cm tính từ
mép tường hầm phía trong. Huy động 8 người dùng dây chắc buộc vào quai nắp hầm
hạ từ từ nắp vào thân hầm, khi đặt nắp đúng vị trí, nâng nhẹ và di nắp lên lớp vữa cho
nắp và vữa có độ dính kết, tiến hành xử lý mạch vữa phía trong và mạch vữa phía
ngoài.
+ Xử lý mạch vữa phía ngoài: Như hình vẽ trong bản thiết kế.
6. Tiếp tục xây tường bể:
Đến độ cao 180cm để lỗ đặt ống thoát dịch thải ra ngoài và xây tường đến độ cao
200cm (2m), trát và đánh màu phía trong tường hầm, để toàn bộ hệ thống hầm và bể
chịu lực; 48 giờ.
7. Lắp ráp phần thu khí:
23


+ Lắp cút vào ống dài 10cm, lắp ống này vào lỗ ren có sẵn trên đỉnh nắp hầm.
+ Lắp cút vào ống dài 200cm, lắp đầu còn lại vào cút đã có sẵn ở đầu ống dài 10cm.
+ Lắp van tổng vào măng sông, măng sông vào ống dài 50cm. Lắp đầu còn lại vào cút
chờ sẵn ở ống 200cm.
Chú ý: Lắp đúng thứ tự trên để có thể lắp ráp trong không gian hẹp và tránh ảnh hưởng
đến các mối lắp ráp khác.
- Dùng băng tơ quấn đầu ren trước khi lắp đảm bảo khí không rò qua khe hở của mối
ghép ren.
8. Chuẩn bị vật liệu xây dựng:
+ Gạch chỉ loại tốt: 1500 viên.
+ Xi măng P.300: 6,5-7 tạ.
+ Cát bê tông, xây, trát: 1,5m3.
+ Hệ thống thu khí: 3 đoạn ống thoát đường kính 21mm, 2 cút, 1 măng sông, 1 van
tổng, 10-15m dây dẫn khí mềm (dây có lớp chống cháy).

h) Cách vận hành hệ thống: (Khi toàn bộ hệ thống đã chịu lực).
1. Nạp phân gia súc (lợn, gà, trâu, bò):
Phân đảm bảo không lẫn đất, cát rà rác.
a/ Nạp phân lần đầu:.
+ Nạp nước: Khối lượng ban đầu tính từ đáy bể với độ cao 0,9m (đo từ đáy bể áp lực).
+ Nạp phân: Từ 4-5 tạ phân tươi.
b/ Cách tạo khí:
Sau khi nạp phân khóa van tổng. Cứ 12 giờ lại mở van tổng một lần để xả hết khi đã
được sinh ra và hơi nước (thường xả vào lúc 6 giờ sáng và 6 giờ tối). Van tổng được
mở mỗi lần từ 15-20 phút rồi đóng lại. Sau 5 ngày nếu vào mùa nóng hoặc sau 15 ngày
nếu vào mùa lạnh sẽ có đủ lượng ga để đưa vào bếp. Trong những ngày đầu làm việc
cho phân xuống hầm phải hạn chế nước rửa chuồng và nước tắm cho lợn.
2. Nạp phân các phần tiếp theo:
Hàng ngày nạp từ 10-15kg phân cùng với lượng nước đủ rửa sạch nền chuồng. Khi khí
sinh bình thường lượng phân vẫn nạp như trên và có thể đưa cả lượng nước tắm cho
lợn xuống hầm.

24


Chú ý: Hệ thống không có thiết bị trữ khí ga được sinh ra, nên hàng ngày đều phải đốt
trên bếp vào sáng, tối hoặc sáng, trưa, tối để hệ thống đảm bảo phân hủy chất thải và
sinh khí bình thường.
+ Khi xây chỉ cần dùng mác vữa từ 50-75. Nếu mác vữa cao sẽ có nguy cơ nứt vữa
trát, hoặc tách giữa mạch vữa và gạch.
Hướng dẫn sử dụng và quản lý hầm bioga kiểu mới của trung tâm tư vấn hỗ trợ phát
triển nông thôn (RDAC).
1. Khi đổ hầm khí bioga các hóa chất như xà phòng, thuốc trừ sâu... có hại cho các
hoạt động của vi sinh.
2. Không cho vào hầm bioga các nguyên liệu khác như rơm rạ, trấu, các động vật

chết... chỉ được nạp vào hầm phân người và gia súc cùng với nước không bị nhiễm
mặn và hóa chất.
3. Không để nước mưa hoặc cát chảy vào hầm bioga, bể áp lực... đường ống dẫn dịch
thải phải được đậy kín.
4. Thường xuyên kiểm tra các đường ống dẫn khí gas vào sự hoạt động của van và
bếp, khi thấy hở khí gas (có mùi) phải thay ngay. Tuyệt đối không để trẻ con, người
chưa biết cách sử dụng hoặc nười bị tâm thần sử dụng bếp gas.
5. Khi sử dụng bếp gas: phải châm lửa trước, mở van sau; khi đun nấu xong phải khóa
chặt van gas. Không được mở van gas mà không đốt lửa. Vì khí gas hở không được
đốt cháy sẽ là loại khí độc cho người và dễ gây hỏa hoạn.
6. Không đặt bếp gas gần vật dễ cháy như rơm, rạ... phải có bệ cao trên mặt đất dành
riêng cho bếp gas.
7. Chiều dài ống gas (từ hầm bioga đến bếp gas) không được ngắn hơn 6m. Vì ống
ngắn quá có thể phát nổ khi bật lửa đun.
8. Không được để vật nặng hoặc để xe ô tô và các xe cộ đi lại trong khu vực hầm
bioga, điều này làm cho hầm bioga bị chấn động gây hở hoặc có thể bị sập gây nguy
hiểm.
9. Khi không sử dụng hầm bioga vào mục đích giải quyết chất đốt và phân bón mà chỉ
sử dụng như một bể "phốt", khi đó phải đưa ống dẫn khí bioga lên cao, mở van xả gas
vào không khí (tránh nước mưa chui vào), dịch thải bioga sẽ tháo vào cống không gây
ô nhiễm cho vùng xung quanh.

25


×