Tải bản đầy đủ (.doc) (57 trang)

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng đất hiệu quả trên địa bàn huyện kim sơn tỉnh ninh bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (998.95 KB, 57 trang )

1

Phần 1
Mở Đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng
cho con người. Đất đai là nền tảng để con người định cư và tổ chức các hoạt
động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản
xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp,
đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất đất nông
nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra những lương thực
thực phẩm nuôi sống con người. Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững
đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất
của đất đai cho hiện tại và cho tương lai.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng
tăng về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã
hội. Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thảo mãn những
nhu cầu ngày càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có
hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên
nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa
kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang
diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do
vậy, việc đánh giá hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và
phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được
các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nước có nền kinh tế
nông nghiệp chủ yếu như ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Kim Sơn là huyện nằm ở cực nam của tỉnh Ninh Bình và Miền bắc với
tổng diện tích là 21327,48 ha, mật độ dân số trung bình là 835 người/ km 2. Là
một huyện kinh tế nông nghiệp giữ vị trí quan trọng, chiếm gần 1/3 tổng sản


lượng lúa của Ninh Bình. Vì vậy, việc định hướng cho người dân trong huyện
khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất nông nghiệp là một trong những
vấn đề hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Để giải quyết vấn đề


2

này thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất. Để giải quyết vấn đề này thì việc đánh
giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm đề xuất hướng sử dụng đất và loại
hình sử dụng rất thích hợp là việc rất quan trọng.
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất, được sự đồng ý của
Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường – trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo: Ths.Nông Thị Thu
Huyền, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp và đề xuất hướng sử dụng đất hiệu quả trên địa bàn huyện Kim Sơn
tỉnh Ninh Bình”.
1.2. Mục đích nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện và đề xuất
hướng sử dụng đất có hiệu quả cao phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
của huyện Kim Sơn – Ninh Bình.
1.3. Yêu cầu của đề tài

- Thu thập chính xác số liệu về các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện.
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện.
- Đề xuất hướng sử dụng đất hiệu quả
1.4. ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

- Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến thức
thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.

- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh
viên trong quá trình làm đề tài.
- Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất của đất sản xuất nông
nghiệp từ đó đề xuất được những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao.


3

Phần 2
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
2.1. Đất và vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp

2.1.1. Khái niệm và quá trình hình thành đất
2.1.1.1. Khái niệm về đất
* Khái niệm chung
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là
đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển. Đất là lớp mặt
tươi xốp của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng. Đất là
lớp phủ thổ nhưỡng là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của
thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch
quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển. Sự tác động qua lại của bốn
quyển trên và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản.
Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Đôkutraiep coi đất là một vật thể tự
nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của năm yếu tố là: Khí hậu, đá
mẹ, địa hình, sinh vật và thời gian. Đất xem như một thể sống nó luôn vận
động và phát triển. (Nguyễn Thế Đặng – Nguyễn Thế Hùng,1999, giáo trình
đât, Nhà xuất bản Nông nghiệp) [4]
Theo C.Mac[3]: “ Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu
nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn
tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau”

Theo các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng:
“ Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”
Như vậy đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất
nhưng khái niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có
giới hạn, theo chiều thẳng đứng bao gồm: Khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ
thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước
ngầm và khoáng sản trong lòng đất; Theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết
hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật với các thành phần


4

khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt
động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội của loài người.
* Khái niệm về đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí
nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục
đích bảo vệ, phát triển rừng: Bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất sản xuất nông nghiệp
khác. (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2004) [2]
2.1.1.2. Quá trình hình thành đất

Đá mẹ

Quá trình

Quá trình

Đất


Mẫu chất
Phá hủy

Hình thành

Hình 2.1. Sơ đồ quá trình hình thành đất
Đá mẹ dưới tác dụng của các yếu tố ngoại cảnh bị phá hủy tạo thành
mẫu chất, mẫu chất chưa phải là đất vì còn thiếu một hợp phần vô cùng quan
trọng là chất hữu cơ. Trước khi có sinh vật, trái đất lúc đó chỉ bao gồm lớp vỏ
toàn đá. Dưới tác dụng của mưa, các sản phẩm vỡ vụn của đá bị trôi xuống nơi
thấp hơn và lắng đọng ở đó hoặc ở ngoài đại dương. Sự vận động của vỏ trái
đất có thể làm nổi những vùng đá trầm tích đó lên và lại tiếp tục chu trình như
trên người ta gọi đó là Đại tuần hoàn địa chất. Đây là một quá trình tạo lập đá
đơn thuần và xảy ra theo một chu trình khép kín và rộng khắp.
Khi trên trái đất xuất hiện sinh vật, sinh vật đã hút chất dinh dưỡng từ
những mẫu chất do đã vỡ vụn ra để sinh sống và khi chết đi tạo lên một lượng
chất hữu cơ. Cứ như vậy sinh vật ngày càng phát triển và lượng chất hữu cơ
ngày càng nhiều, nó đã biến mẫu chất thành đất. Người ta gọi đó là tiểu tuần
hoàn sinh vật.
Sự thống nhất giữa Đại tuần hoàn địa chất và Tiểu tuần hoàn sinh vật
đã tạo ra đất và đó cũng chính là bản chất của quá trình hình thành đất.
(Nguyễn Thế Đặng – Nguyễn Thế Hùng, 1999, Giáo trình đât, Nhà
xuất bản Nông nghiệp Hà Nội) [4]


5

2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong nông nghiệp
Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản
xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nói về

tâm quan trọng của đất C.Mac viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, kho
tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của
tập thể” (C.Mac, 1949) [3]. Đối với nông nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của
quá trình sản xuất là điều kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động (luôn
chịu tác động trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới, xáo…) và công cụ
lao động hay phương tiện lao động (Sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi…). Quá
trình sản xuất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh
học tự nhiên của đất.
Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình
thành và phát triển của mọi nền văn minh, các thành tựu khoa học công nghệ
đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản – Sử dụng đất,
Trong nông nghiệp ngoài vai trò là cơ sở không gian đất còn có hai chức năng
đặc biệt quan trọng:
- “Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình
sản xuất.
- Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng
nước, muối khoáng và các chất dinh dưỡng khác cần thiết cho sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng. Như vậy, đất trở thành công cụ sản xuất. Năng
suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất. Trong tất cả
các loại tư liệu sản xuất dùng trong nông nghiệp chỉ có đất mới có chức năng
này” (Lương Văn Hinh và CS, 2003) [6].
Chính vì vậy, có thể nói rằng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt
trong nông nghiệp.
2.2. Sử dụng đất và những quan điểm sử dụng đất

2.2.1. Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
2.2.1.1. Sử dụng đất là gì?
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ
người - đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường.



6

Căn cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng
ổn đinh và bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và
mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công
dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất. Vì vậy,
sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi
phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất
và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. “Với vai trò là
nhân tố của của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được
thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không
gian sử dụng đất.
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng,
hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất.
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô
kinh tế sử dụng đất.
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai
một cách kinh tế, tập trung, thâm canh. (Lương Văn Hinh và cs, 2003) [6].
2.2.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất…vừa bị chi phối bởi các
điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, vừa bị kiềm chế bởi các điều kiện,
quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Vì vậy, những điều kiện và
nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến việc sử dụng đất là:
* Yếu tố điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có rất nhiều yếu tố như: ánh sáng, nhiệt độ, lượng
mưa, thủy văn, không khí….trong các yếu tố đó khí hậu là nhân tố hàng đầu
của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai chủ yếu là địa hình, thổ
nhưỡng và các nhân tố khác.

- Điều kiện khí hậu: Đây là nhóm yếu tố ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp
đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người. Tổng tích ôn


7

nhiều hay ít, nhiệt độ cao hay thấp, sự sai khác về nhiệt đô về thời gian và
không gian, biên độ tối cao hay tối thấp giữa ngày và đêm…trực tiếp ảnh
hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Lượng mưa
nhiều hay ít, bốc hơi mạnh yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ
và ẩm độ của đất, cũng như khả năng đảm bảo khả năng cung cấp nước cho
các cây, con sinh trưởng, phát triển (Lương Văn Hinh và Cs, 2003) [6].
- Điều kiện đất đai: Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với
mực nước biển, độ dốc hướng dốc…thường dẫn đến đất đai, khí hậu khác
nhau, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp. Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông
nghiệp, là căn cứ cho việc lựa chọn cơ cấu cây trồng, xây dựng đồng ruộng,
thủy lợi canh tác và cơ giới hóa.
Mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt
độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác. Các yếu tố này ảnh hưởng rất
lớn đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất. Vì vậy cần tuân theo
các quy luật của tự nhiên, tận dụng các lợi thế đó nhằm đạt được hiệu quả cao
nhất về kinh tế, xã hội và môi trường.
* Yếu tố về kinh tế – xã hội
Bao gồm các yếu tố như: Chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin
và quản lý, sức sản xuất trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh
tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện về nông nghiệp, công nghiệp, giao
thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ, trình độ quản
lý, sử dụng lao động… “Yếu tố kinh tế – xã hội thường có ý nghĩa quyết định,
chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai” (Lương Văn Hinh và cs, 2003)[6]. Thực

vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục
tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Điều kiện tự nhiên của đất đai cho
phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất.
ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tới việc sử dụng đất được đánh giá
bằng hiệu quả sử dụng đất. Thực trạng sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh
tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất. Tuy nhiên nếu có chính sách


8

ưu đãi sẽ tạo điều kiện cải tạo và hạn chế sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất
đai. Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình
trạng đất đai không những bị sử dụng không hợp lý mà còn bị hủy hoại.
Như vậy, các nhân tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hôi
tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai. Tuy nhiên mỗi yếu tố
giữ vị trí và có tác động khác nhau. Vì vậy, cần dựa vào yếu tố tự nhiên và
kinh tế – xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai để từ đó tìm ra những nhân tố
thuận lợi và khó khăn để sử dụng đất đai đạt hiệu quả cao.
2.2.2. Quan điểm sử dụng đất bền vững
Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn của mình, đất đai đã
trở thành cơ sở cần thiết cho sự sống và cho tương lai phát triển của con
người.
Khi dân số còn ít để đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm của
mình thì con người đã khai thác từ đất khá dễ dàng và không gây ra những
ảnh hưởng lớn đến đất đai. “Nhưng ngày nay, mật độ dân số ngày càng tăng,
đặc biệt là ở các nước đang phát triển thì vấn đề đảm bảo lương thực cho sự
gia tăng dân số đã trở thành sức ép ngày càng mạnh mẽ lên đất đai. Diện tích
đất đai thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, con người
đã phải mở mang thêm diện tích đất nông nghiệp trên những vùng đất không
thích hợp cho sản xuất, hậu quả đã ngây ra quá trình thoái hoá đất diễn ra một

cách nghiêm trọng” (Smyth & Julian Dumaski, 1993) [19].
Tác động của con người đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng bị suy
giảm và dẫn đến thoái hoá đất, lúc đó khó có thể phục hồi lại độ phì nhiêu của
đất nếu muốn phục hồi lại thì cần phải chi phí rất lớn. Đất có những chức năng
chính là: “Duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá học và địa hoá học, phân phối nước,
tích trữ và phân phối vật chất, mang tính đệm và phân phối năng lượng”
(Dekimpe & Warkentin, 1998) [16], các chức năng trên của đất là những trợ
giúp cần thiết cho các hệ sinh thái. Sử dụng đất đai một cách hiệu quả và bền
vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của con người. Vì
vậy tìm kiếm những biện pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều
nhà khoa học và các tổ chức quốc tế quan tâm. Thuật ngữ “sử dụng đất bền
vững” (Sustainable land use) đã trở lên thông dụng trên thế giới như hiện nay.


9

Nông nghiệp bền vững không có nghĩa là khước từ những kinh nghiệm
truyền thống mà phối hợp, lồng ghép những sáng kiến mới từ các nhà khoa
học, từ nông dân hoặc cả hai. Điều trở nên thông thường với những người
nông dân, bền vững là việc sử dụng những công nghệ và thiết bị mới vừa
được phát kiến, những mô hình canh tác tổng hợp để giảm giá thành đầu vào.
Đó là những công nghệ về chăn nuôi động vật, những kiến thức về sinh thái
để quản lý sâu hại và thiên địch (Cao Liêm và CTV, 1996) [10].
Theo Lê Văn Khoa, 1993 [8], để phát triển nông nghiệp bền vững cũng
loại bỏ những ý nghĩ đơn giản rằng: Nông nghiệp, công nghiệp hoá sẽ đầu tư
từ bên ngoài vào. Phạm Chí Thành, 1996 [12] cho rằng có 3 điều kiện để tạo
nông nghiệp bền vững đó là công nghệ bảo tồn tài nguyên, những tổ chức từ
bên ngoài và những tổ chức về các nhóm địa phương. Tác giả cho rằng xu thế
phát triển nông nghiệp bền vững được các nước phát triển khởi xướng và hiện
nay đã trở thành đối tượng mà nhiều nước nghiên cứu theo hướng kế thừa,

chắt lọc cái tinh tuý của nền nông nghiệp chứ không chạy theo cái hiện đại để
bác bỏ những cái thuộc về truyền thống. Trong nông nghiệp bền vững việc
chọn cây gì, con gì trong một hệ sinh thái tương ứng không thể áp đặt theo ý
muốn chủ quan mà phải điều tra nghiên cứu để hiểu biết tự nhiên.
Không ai hiểu biết hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính
những người sinh ra và lớn lên ở đó. Vì vậy, xây dựng nông nghiệp bền vững
nhất thiết cần phải có sự tham gia của người dân trong vùng nghiên cứu. Phát
triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên tự nhiên, định
hướng những thay đổi công nghệ thể chế theo một phương thức sao cho đạt
đến sự thỏa mãn một cách liên tục nhu cầu của con người, của những thế hệ
hôm nay và mai sau (FAO, 1976) [17].
Theo Festry “Sự phát triển nông nghiệp bền vững chính là sự bảo tồn
đất, nước, các nguồn động thực vật, không bị suy thoái môi trường, sinh lợi
kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội” (FAO, 1994) [18]. FAO đã đưa ra
được những chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
- Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản cho thế hệ về số lượng, chất
lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác.


10

- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống tốt cho
những người trực tiếp làm nông nghiệp.
- Duy trì và có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài
nguyên thiên nhiên, khả năng tái sản xuất của các tài nguyên tái tạo được
không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân bằng tự
nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hóa – xã hội của cộng đồng sống ở nông
thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường.
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng
tin cho nông dân.

Những nguyên tắc được coi là trụ cột trong sử dụng đất đai bền vững
và là những mục tiêu cần đạt được:
“- Duy trì, nâng cao sản lượng (Hiệu quả sản xuất);
- Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất (An toàn);
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất, nước;
- Có hiệu quả lâu dài;
- Được xã hội chấp nhận” (Hội khoa học đất Việt Nam, 2000) [7]
Thực tế nếu diễn ra đồng bộ với những mục tiêu trên thì khả năng bền
vững sẽ đạt được, nếu chỉ đạt được một hay vài mục tiêu mà không phải tất cả
thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận.
Vận dụng các nguyên tắc đã nêu ở trên, ở Việt Nam một loại hình được
coi là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho năng suất cao, chất lượng tốt,
được thị trường chấp nhận.
- Bền vững về mặt xã hội: Nâng cao được đời sống nhân dân, thu hút
được lao động, phù hợp với phong tục tập quán của người dân.
- Bền vững về môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được
độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái
đất (Nguyễn Ngọc Nông và CS, 2007) [11].


11

Ba yêu cầu trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất ở
thời điểm hiện tại. Thông qua việc xem xét và đánh giá theo các yêu cầu trên
để có những định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng.
Tóm lại: Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững chỉ
đạt được trên cơ sở suy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng
sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm đối với tài
nguyên đất đai theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu

đến hoạt động sống của con người.
2.2.3. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam.
2.2.3.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Tổng diện tích bề mặt của toàn thế giới là 510 triệu Km 2 trong đó đại
dương chiếm 361 triệu Km2 (71%), còn lại là diện tích lục địa chỉ chiếm 149
triệu Km2 (29%). Bắc bán cầu có diện tích lớn hơn nhiều so với Nam bán cầu.
Toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu
ha, chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền. Diện tích đất nông nghiệp trên
thế giới được phân bố không đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%,
Châu Âu chiếm 13%, Châu Phi chiếm 6%. Bình quân đất nông nghiệp trên
thế giới là 12.000m2. Đất trồng trọt trên toàn thế giới mới đạt 1,5 tỷ chiếm
10,8% tổng diện tích đất đai, 46% đất có khả nẳng sản xuất nông nghiệp như
vậy còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác. Diện tích
đất đang canh tác trên thế giới chỉ chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên
(khoảng 1.500 triệu ha), được đánh giá là:
- Đất có năng suất cao: 14%
- Đất có năng suất trung bình: 28%
- Đất có năng suất thấp: 58%
Nguồn tài nguyên đất trên thế giới hàng năm luôn bị giảm, đặc biệt là đất
nông nghiệp mất đi do chuyển sang mục đích sử dụng khác. Mặt khác dân số
ngày càng tăng, theo ước tính mỗi năm dân số thế giới tăng từ 80 - 85 triệu


12

người. Như vậy, với mức tăng này mỗi người cần phải có 0,2 – 0,4 ha đất nông
nghiệp mới đủ lương thực, thực phẩm. Đứng trước những khó khăn rất lớn đó
thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất của đất nông nghiệp là hết sức cần thiết.
2.2.3.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.121,20 nghìn ha, trong đó đất

nông nghiệp là 24.696 nghìn ha chiếm 74,56% tổng diện tích đất tự nhiên.
Diện tích đất bình quân đầu người ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới.
Ngày nay với áp lực về dân số và tốc độ đô thị hóa kèm theo là những quá
trình xói mòn rửa trôi bạc màu do mất rừng, mưa lớn,canh tác không hợp lý,
chăn thả quá mức; quá trình chua hoá, mặn hóa, hoang mạc hoá, cát bay, đá lộ
đầu, mất cân bằng dinh dưỡng...Tỷ lệ bón phân N : P : K trên thế giới là 100 :
33 : 17 còn ở Việt Nam là 100 : 29 : 7 thiếu lân và kali nghiêm trọng dẫn đến
diện tích đất đai nước ta nói chung ngày càng giảm, đặc biệt là diện tích đất
nông nghiệp. Tính theo bình quân đầu người thì diện tích đất tự nhiên giảm
26,7%, đất nông nghiệp giảm 21,5%.
Vì vậy, vấn đề đảm bảo lương thực , thực phẩm trong khi diện tích đất
nông nghiệp ngày càng giảm đang là một áp lực rất lớn. Do đó việc sử dụng
hiệu quả nguồn tài nguyên đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với
nước ta.
* Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Ninh Bình
Tỉnh Ninh Bình thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm ở tọa độ địa lý 20 0
vĩ Bắc và 1060 kinh Đông với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 804 Km 2
chiếm 0,24% diện tích của cả nước.
Với 80.400 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất nông nghiệp
là 39.340 ha (Chiếm 48,93%), diện tích đất chuyên dùng là 9.085 ha (Chiếm
11,3%), diện tích đất ở là 5.081 ha (Chiếm 6,24%); Diện tích đất chưa sử
dụng và sông suối, núi đá chiếm 23,30%. Là một tỉnh chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất nên thu nhập của người
dân thấp. Trong những năm ngần đây với tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh, đặc
biệt là sự hình thành các khu công nghiệp đã làm cho diện tích đất nông
nghiệp của toàn tỉnh bị thu hẹp. Vì vậy, việc đánh giá khả năng sử dụng của
đất đai nhằm đưa ra được biện pháp và phương hướng sử dụng đất đai hợp lý,
hiệu quả là rất cần thiết. Diện tích đất chưa sử dụng còn rất lớn, do đó cần có



13

những biện pháp thích hợp khai thác phần diện tích này. Cần khuyến khích
người dân thâm canh, luân canh tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất nhằm dần
dần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
2.3. Hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất

2.3.1. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu công việc mang lại. Do tính chất
mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng cao của con
người mà ta phải xem xét kết quả tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra
kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích không? Chính vì thế khi
đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà
còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản
phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh cũng là một
nội dung đánh giá hiệu quả.
Để xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những
luận điểm của Mac và những luận điểm lý thuyết hệ thống sau:
- Thứ nhất: Bản chất của hiệu quả là thực hiện yêu cầu tiết kiệm thời
gian, thể hiện trình độ sử dụng nguồn lực xã hội. C.Mác cho rằng quy luật tiết
kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều
phương thức sản xuất. Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật
đó, nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện
phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời
đại.
- Thứ hai: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội
là một hệ thống các yếu tố sản xuất va các quan hệ vật chất hình thành giữa con
người với con người trong quá trình sản xuất. Hệ thống sản xuất xã hội bao
gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời
sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu

tố khách quan phản ánh mối quan hệ nhất định của con người đối với môi
trường bên ngoài. Đó là quá trình trao đổi vật chất giữa sản xuất xã hội và môi
trường.
- Thứ ba: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu
cuối cùng mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế. Trong quy hoạch
và quản lý kinh tế nói chung hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào


14

và đầu ra, là lợi ích lớn hơn thu được với một chi phí nhất định, hoặc một kết
quả nhất định với chi phí lớn hơn (Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài, 2007) [9].
Như vậy bản chất của hiệu quả được xem là: Việc đáp ứng nhu cầu của
con người trong xã hội; việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực để
phát triển bền vững.
* Hiệu quả kinh tế
Theo Cac Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động
theo các ngành sản xuất khác nhau. Theo nhà khoa học Samuelson Nodhuas
“Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí”. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét
đến chi phí cơ hội. “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản
lượng hàng hóa khác” (Vũ Phương Thụy, 2000) [14]. Hiệu quả kinh tế là một
chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và
mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ,
góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội.
Hiệu quả kinh tế phải đạt được ba vấn đề sau:
- Một là: Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quy luật tiết
kiệm thời gian
- Hai là: Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý
thuyết hệ thống.

- Ba là: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường nguồn lực sẵn có phục vụ
cho lợi ích của con người.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết
quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan cần xét cả phần so
sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai
đại lượng đó.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của phạm trù kinh
tế sử dụng đất là: Với một diện tích nhất định sản xuất ra một khối lượng của
cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp


15

nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng vật chất về xã hội (Phạm Vân
Đình và CS, 2001) [5].
* Hiệu quả xã hội
Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về mặt xã hội mà sản
xuất mang lại với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra. Loại hiệu quả này đánh
giá chủ yếu về mặt xã hội do hoạt động sản xuất mang lại.
“Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác
định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp” (Nguyễn
Duy Tính, 1995) [13].
* Hiệu quả môi trường
“Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của sinh
vật, hóa học, vật lý..., chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của
các loại vật chất trong môi trường” (Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức
bách khoa, 1998) [15]. Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi

không có những ảnh hưởng tác động xấu được coi là có hiệu quả khi không
có những ảnh hưởng tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí,
không làm ảnh hưởng tác động xấu đến môi trường sinh thái và đa dạng sinh
học.
Quan niệm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thỏa mãn vấn
đề tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã
hội và bảo vệ được môi trường.
2.3.2. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
“Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp.
Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 – 5 tỷ ha. Nhân loại đang
làm hư hại đất nông nghiệp khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay có khoảng 6 – 7
triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do xói mòn và thoái hóa. Để giải quyết
nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, con người phải thâm canh, tăng vụ tăng
năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp” (FAO, 1976) [17].
Để nắm vững số lượng và chất lượng đất đai cần phải điều tra thành lập
bản đồ đất, đánh giá phân hạng đất, điều tra hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất
hợp lý là điều rất quan trọng mà các quốc gia đặc biệt quan tâm nhằm ngăn
chặn những suy thoái tài nguyên đât đai do sự thiếu hiểu biết của con người,


16

đồng thời nhằm hướng dẫn về sử dụng đất và quản lý đất đai sao cho nguồn
tài nguyên này được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì sản xuất trong tương
lai.
Phát triển nông nghiệp bền vững có tính chất quyết định trong sự phát
triển chung của toàn xã hội. Điều cơ bản nhất của phát triển nông nghiệp bền
vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp xúc đúng đắn về môi
trường để giữ gìn tài nguyên cho thế hệ sau này.
2.3.3. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất

Trong quá trình sử dụng đất đau tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi
đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu của xã hội và sự tiết kiệm lớn
nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn đinh lâu dài của hiệu quả. Do đó
tiêu chuẩn đánh giá việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông – lâm
nghiệp là mức độ tăng thêm các kết quả sản xuất trong điều kiện nguồn lực
hiện có hoặc mức độ tiết kiệm về chi phí các nguồn lực khi sản xuất ra một
khối lượng nông – lâm sản nhất định.
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mức độ đạt được các mục
tiêu kinh tế, xã hội và môi trường (Đỗ Thị Lan, Đỗ Tài Anh, 2007) [9].
“Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông – lâm
nghiệp, đến môi trường sinh thái, đến đời sống người dân. Vì vậy, đánh giá
hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng
vào ba tiêu chuẩn chung là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền
vững về môi trường” (FAO, 1994) [18].
2.4. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp

2.4.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn trong đề xuất sử dụng đất
- Truyền thống, kinh nghiệm và tập quán sử dụng đất lâu đời của nhân
dân Việt Nam.
- Những số liệu, tài liệu thống kê định kỳ về sử dụng đất (diện tích,
năng suất, sản lượng), sự biến động và xu hướng phát triển.
- Chiến lược phát triển của các ngành: Nông nghiệp, lâm nghiệp, công
nghiệp, xây dựng, giao thông....


17

+ Các dự án quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội của các vùng và
địa phương.
+ Kết quả nghiên cứu tiềm năng đất đai về phân bố, sản lượng, chất

lượng và khả năng sử dụng ở mức độ thích nghi của đất đai.
+ Trình độ phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất đạt hiệu
quả kinh tế cao.
+ Tốc độ gia tăng dân số, dự báo dân số qua các thời kỳ.
2.4.2. Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đât nông nghiệp
- Sử dụng đất phải gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương.
- Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sở quy hoạch và lập kế hoạch
sử dụng đất.
“Quản lý đất đai thông qua quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất đai
vừa đảm bảo tính thống nhất của quản lý nhà nước về đất đai vừa tạo điều
kiện để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất” (Bộ
nông nghiệp và phát triển nông thôn, 1999) [1].
- Khai thác sử dụng đất phải đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và
tiến tới sự ổn định bền vững lâu dài.
- Khai thác sử dụng đất phải gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH – HĐH.
- Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo khai thác tối đa lợi thế so sánh,
tiềm năng của từng vùng trên cơ sở kết hợp giữa chuyên môn hóa và đa dạng
hóa sản phẩm và sản xuất hàng hóa.
- Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo ưu tiên trước hết cho mục tiêu
đảm bảo an ninh lương thực của các nông hộ và địa phương.
- Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sở kinh tế của nông hộ, nông
trại phù hợp với trình độ dân trí, phong tục tập quán nhằm phát huy kiến thức
bản địa và nội lực của địa phương.


18

- Khai thác sử dụng đất phải phải đảm bảo ổn định về xã hội, an ninh

quốc phòng.
2.4.3. Định hướng sử dụng đất
Định hướng sử dụng đất nông nghiệp là xác đinh phương hướng sử
dụng đất nông nghiệp theo điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, điều kiện vật
chất xã hội, thị trường…đặc biệt là mục tiêu, chủ trương chính sách của nhà
nước nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo
vệ môi trường. Nói cách khác, định hướng sử dụng đất nông nghiệp là việc
xác định một cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong đó cơ cấu cây trồng, cơ cấu
vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng lãnh thổ. Trên cơ sở nghiên
cứu hệ thống cây trồng và các mối quan hệ giữa chúng với môi trường để
định hướng sử dụng đất phù hợp với điều kiện từng vùng.
Các căn cứ để định hướng sử dụng đất:
- Đặc điểm địa lý, thổ nhưỡng.
- Tính chất đất hiện tại.
- Dựa trên yêu cầu sinh thái của cây trồng, vật nuôi và các loại hình sử
dụng đất.
- Dựa trên các mô hình sử dụng đất phù hợp với yêu cầu sinh thái của
cây trồng, vật nuôi và đạt hiệu quả sử dụng đất cao (Lựa chọn loại hình sử
dụng đất tối ưu).
- Điều kiện sử dụng đất, cải tạo đất bằng các biện pháp thủy lợi, phân
bón và các tiến bộ khoa học kỹ thuật về canh tác.
- Mục tiêu phát triển của vùng nghiên cứu trong những năm tiếp theo
hoặc lâu dài.
Để đưa ra hệ thống sử dụng để sản xuất nông nghiệp tối ưu, hiệu quả
phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng địa phương cũng
như tận dụng và phát huy được tiềm năng của đất, nâng cao năng suất cây
trồng, góp phần từng bước cải thiện đời sống của nhân dân là rất cần thiết. Đề
tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng
đất hiệu quả trên địa bàn huyện Kim Sơn – tỉnh Ninh Bình” không nằm
ngoài mục tiêu trên.



19

Phần 3
Đối tượng, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Các loại hình sử dụng đất (LUT) nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim
Sơn tỉnh Ninh Bình.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình
- Thời gian tiến hành: Từ 09/01/2010 đến 09/05/2010.
3.3. Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường của các loại hình sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp.
- Lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp theo nguyên tắc sử dụng
bền vững.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các loại hình sử
dụng đất trong tương lai.
3.4. Phương pháp nghiên cứu


3.4.1. Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp
- Thông tin, số liệu được thu thập từ các công trình khoa học và các
nghiên cứu liên quan đến tình hình sử dụng đất của huyện thông qua các
phương tiện truyền thông đại chúng: Báo, tạp chí, Internet…
3.4.2. Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) thông qua việc đi thực
tế quan sát, phỏng vấn cán bộ và người dân địa phương để thu thập số liệu.


20

3.4.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng của các loại hình sử dụng đất
3.4.3.1. Hiệu quả kinh tế
- Tổng giá trị sản phẩm (T): T= p1.q1+p2.q2+…+pn.qn
Trong đó:
+ q: Khối lượng của từng loại sản phẩm được sản xuất/ha/năm
+ p: Là giá của từng loại sản phẩm trên thị trường cùng thời điểm
+ T: Là tổng giá trị sản phẩm của 1ha đất canh tác/năm.
- Thu nhập thuần (N): N = T - CSX
Trong đó:
+ N: Thu nhập thuần túy của 1ha đất canh tác/ năm
+ CSX: Là chi phí sản xuất cho 1ha đất canh tác/năm
- Hiệu quả sử dụng đồng vốn (H): H = N/ CSX
- Giá trị ngày công lao động = N/số ngày công lao động/ha/năm
3.4.3.2. Hiệu quả xã hội
- Giá trị ngày công lao động nông nghiệp
- Thu nhập bình quân/ lao động nông nghiệp
- Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo.
- Mức độ giải quyết công an việc làm và thu hút lao động.
- Sản phẩm tiêu thụ trên thị trường.

3.4.3.3. Hiệu quả môi trường
- Tỷ lệ che phủ
- Khả năng bảo vệ và cải tạo đất.
- Ý thức của người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
3.3.4. Phương pháp đánh giá tính bền vững
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, được thị
trường chấp nhận.
- Bền vững về mặt xã hội: Nâng cao đời sống nhân dân, phù hợp với tập
quán canh tác của người dân.
- Bền vững về mặt môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ độ
màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái.
3.4.5. Phương pháp tính toán phân tích số liệu
- Số liệu được kiểm tra, xử lý tính toán trên máy tính bằng phần mềm
Mcrosoft office excell và máy tính tay.


21

Phần 4
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình

4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1.Vị trí địa lý
Huyện Kim Sơn là huyện nằm ở cực nam của tỉnh Ninh Bình, là huyện
ven biển duy nhất của tỉnh, có tọa độ 9056’10’’ đến 20014’20’’ vĩ độ Bắc và
10601’45’’ đến 106010’10’’ kinh độ Đông. Huyện có hai thị trấn và 27 xã,
trung tâm huyện là thị trấn Phát Diệm cách thành phố Ninh Bình 27km.
- Phía Đông giáp với Sông Đáy, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Phía Tây, Tây Nam giáp với Sông Càn và huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

- Phía Bắc, Tây Bắc giáp với huyện Yên Khánh và huyện Yên Mô.
- Phía Nam giáp với biển với chiều dài đường bờ biển dài gần 18km.
Huyện Kim Sơn là vùng đất ra đời từ công cuộc khai khẩn vùng bãi
biển đầy lau sậy và sú vẹt dưới sự điều hành và tổ chức của Doanh Điền sứ
Nguyễn Công Trứ năm 1829. Là vùng đất nằm giữa hai dòng sông là Sông
Càn và Sông Đáy, ngoài ra còn giáp với Bển Đông. Hàng năm tốc độ bồi tụ ra
biển từ 80 -100m. Hơn nữa, trên địa bàn có tuyến đường giao thông chính
chạy qua đó là tuyến đường quốc lộ 10, nối liền giao thông với các huyện
trong tỉnh và các huyện ngoại tỉnh, ngoài ra còn rất nhiều tuyến đường giao
thông quan trọng khác. Qua đây, ta có thể thấy huyện có rất nhiều lợi thế và
tiềm năng để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
4.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Nhìn chung địa hình của huyện Kim Sơn là tương đối thấp, có xu
hướng thoái dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Phần lớn
địa hình của huyện có độ cao trung bình khoảng 1,5m so với mực nước biển
và vì gần biển nên địa hình của huyện chủ yếu là vàn và vàn thấp, trũng nên
thường hay bị gập úng.


22

4.1.1.3. Điều kiện khí hậu
Khí hậu của huyệnKim Sơn nằm trong hệ khí hậu nhiệt đới gió mùa có
mùa đông lạnh và khô, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Chế độ nhiệt được phân
hóa ra hai mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hạ, nhịp điệu khí hậu của vùng
được thể hiện cụ thể như sau:
- Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm (trùng với mùa hè),
chiếm 70% lượng mưa hàng năm của khu vực trong đó mùa mưa chủ yếu tập
trung vào tháng 8 và tháng 9 còn lại thất thường vào tháng 6 và tháng 10 (do
ảnh hưởng do bão mang lại). Lượng mưa trung bình khoảng 1658mm, riêng

tháng 8 và tháng 9 là 347 - 395mm/tháng có lúc mưa rất lớn lượng mưa vào
khoảng 1149 mm/tháng, trong khi đó mùa khô chỉ đạt 208 mm/tháng (tháng
11 và tháng 4 năm sau).
- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau (trùng
với mùa đông) trong đó mùa khô hạn tập trung vào tháng 3 hoặc tháng 4.
- Độ ẩm bình quân tương đối đạt 86% trung bình trong năm, trong đó
nhỏ nhất là tháng 7, tháng 9 đạt 82%/ tháng và lớn nhất là tháng 2, tháng 4 đạt
90%/tháng.
- Tổng số giờ nắng cả năm là 1927 giờ, tháng số có giờ nắng trung bình
cao nhất là tháng 7 với 217 giờ, còn lại là tháng 8 là 174 giờ, tháng 9 là 168
giờ, tháng có giờ nắng trung bình thấp nhất là tháng 3 với 85 giờ nắng.
Nhìn chung điều kiện khí hậu có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát
triển của cây trồng trên địa bàn và ảnh hưởng mạnh mẽ tới cơ cấu mùa vụ,
năng suất cây trồng vật nuôi trong huyện.


23

Bảng 4.1. Một số đặc trưng khí hậu của vùng năm 2009
TT

Đặc trung khí hậu của vùng

1 Vận tốc gió
2

Nhiệt độ
không khí

Trung bình

Trung bình năm
Trung bình tháng giêng
Trung bình tháng bảy

Mùa Đông
Mùa Hè
Biên độ nhiệt độ Trung bình năm
4
Nhỏ nhất
trong ngày
Lớn nhất
Nhiệt độ mặt
5
Trung bình năm
đất
3 Nhịp điệu mùa

6 Lượng mưa

Mùa mưa nhiều
Các tháng mưa lớn
Các tháng mưa ít

Trung bình năm
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Trong mùa mưa
Trong tháng 7
8 Tổng giờ nắng
Trong tháng 8

Trong tháng 9
Độ ẩm
7
không khí

9

Tổng lượng
bốc hơi

Đông xuân:
+ Nhỏ nhất
+ Lớn nhất
Hè thu:
+ Nhỏ nhất
+ Lớn nhất

Đơn vị
m/s
o

C

ngày/tháng
o

C

o


C

Trị số ở vùng
nghiên cứu
3,8
23,2
16,5
29,0
4/tháng 12-20/tháng 3
2/tháng 5-16/tháng 10
5,0
4,5/tháng 3
6,4/tháng 11
26

mm
mm/tháng
mm/tháng

1658
347/tháng 8395/tháng 9
208/tháng 3-tháng 11
%
86
%/tháng
82/tháng 7, 9
%tháng
90/tháng 2,4
1120
217

Giờ
174
168

mm/tháng

302/tháng 11 – 4
35/tháng 3
61/tháng 11
487/tháng 5 - 10
72/tháng 5 - 9
94/tháng 7

(Nguồn: Trung tâm khí tượng thuỷ văn tỉnh Ninh Bình)


24

4.1.1.4. Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Kim Sơn là 21.327,48 ha, trong
đó đất bãi bồi ven biển của huyện chiếm 6.601,73 ha (30,95%) đất đai của
toàn huyện. Huyện Kim Sơn hình thành do quá trình bồi đắp phù sa sông Đáy
(trong đó là 30% lượng phù sa của sông Hồng) trên nền biển nông và phù sa
bồi đắp của sông Càn, sông Vạc nên thành phần đất đai của huyện tương đối
phong phú và đa dạng thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp.
4.1.1.5. Chế độ thủy văn, nguồn nước
* Chế độ thủy văn
Chế độ thuỷ văn của huyện là chế độ thuỷ văn biển Đông và thuỷ văn
cửa sông. Chế độ thuỷ văn cửa sông chịu ảnh hưởng lớn nhất là cửa sông
Đáy, một trong những cửa sông quan trọng của hệ thống sông Hồng, đóng vai

trò quan trọng trong vận tải nước và bùn cát từ đất liền ra biển Đông (khoảng
23% lượng nước lũ và bùn cát của sông Hồng).
Về chế độ thuỷ văn biển, dao động mực nước phát sinh do nhiều yếu tố
như: Thiên văn, thay đổi trường gió, trường khí áp, lũ, bão... Chế độ thuỷ
triều của vùng biển Kim Sơn là chế độ nhật triều không đều, với biên độ lớn
nhất có thể đạt là 2,0 - 2,5 m, trung bình là 1,4 m. Trong tháng có 2 kỳ con
nước lớn, mỗi kỳ kéo dài từ 8 - 9 ngày, với biên độ dao động từ 1,5 - 2,2 m.
Giữa 2 kỳ nước lớn là kỳ nước kém kéo dài 5 - 6 ngày với biên độ dao động
0,5 - 1,3 m
Hàng năm có 2 - 3 trận bão đổ bộ trực tiếp và 4 - 5 trận bão khác ảnh
hưởng đến vùng này. Tốc độ gió trong bão đạt từ cấp 7 đến cấp 12 đôi khi đạt
trên cấp 12 với hướng di chuyển của tâm bão là Tây và Tây Tây Bắc. Đặc
điểm này cũng ảnh hưởng đến điều kiện nước biển ven bờ dâng hoặc rút đối
với vùng.
* Nguồn nước
Huyện Kim Sơn nằm giữa 2 con sông: sông Đáy và sông Càn. Ngoài ra,
trong vùng còn có một số hệ thống kênh mương nội đồng, nhưng chưa đồng bộ.
- Sông Đáy: Chiều dài sông Đáy khoảng 240 km, diện tích tập trung
nước của sông Đáy là 5.800 km 2, trong đó diện tích vùng đồng bằng là 2.500
km2, chiếm 45% tổng diện tích lưu vực. Sau khi có đập Đáy, sông Đáy chỉ
nhận nước của sông Hồng qua cửa Hát Môn trong những ngày phân lũ. Vì


25

vậy, nguồn nước cung cấp chủ yếu cho sông Đáy là do các sông nhỏ như sông
Tích, sông Thanh Hà, sông Hoàng Long và sông Nam Định.
- Sông Càn: Bắt nguồn từ miền rừng núi Thanh Hoá và chảy qua rất nhiều
vùng dân cư, chiều dài sông Càn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình là 39,5 km.
- Hệ thống sông nội địa: Sông Vạc và sông Ghềnh là nguồn tiếp nước

chính cho sông Cà Mau dẫn nước ra vùng Bình Minh. Nguồn nước này cung
cấp cho người dân trong vùng, đồng thời cũng là nơi nhận nước thải của các
khu dân cư trong vùng đưa xuống.
- Nước ngầm: Tầng chứa nước ngầm của vùng bãi bồi có độ sâu từ vài
mét đến vài trăm mét. Đây là tầng chứa nước áp lực, với cột nước áp lực cách
nóc tầng chứa nước từ vài mét đến vài chục mét, độ sâu của cột nước tăng dần
từ trong ra đến ngoài mép bờ biển. Nguồn nước ngầm này phụ thuộc vào
nước mưa và nước sông theo mùa.
4.1.1.6. Tài nguyên nhân văn
Huyện Kim Sơn là huyện có bề dày lịch sử hình thành và phát triển, có
nhiều di tích lịch sử văn hóa truyền thống như: Nhà thờ Phát Diệm là một
công trình kiến trúc nổi tiếng xây dựng tư năm 1875 và hoàn thành vào năm
1889, đền thờ cụ Nguyễn Công Trứ, Chùa Đồng Đắc,…Dân cư ở đây mang
nét đặc trưng của vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, dân cư sống quần tụ, tập
trung theo kiểu làng, thôn, xóm và mang những đặc trưng cơ bản đó là truyền
thống yêu nước, cần cù chịu khó lao động, tự hào dân tộc, dũng cảm mưu trí
trong chiến đấu, lạc quan yêu đời, coi trọng giá trị văn hóa tinh thần…Đây là
truyền thống quý báu giúp nhân dân huyện Kim Sơn nói riêng và nhân dân
Ninh Bình nói chung phấn đấu vì thực hiện mục tiêu chung của đất nước là:
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
4.1.1.7. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên huyện Kim Sơn
* Thuận lợi
- Huyện có vị trí giao lưu thuận tiện với các huyện trong địa bàn tỉnh và
các huyện thuộc tỉnh bạn thông qua hệ thống giao thông đường bộ và đường
thủy tạo điều kiện phát triển kinh tế, tiếp thu trao đổi văn hoá.
- Được hình thành do quá trình bồi đắp phù sa, hệ thống sông ngòi dày
đặc cộng thêm việc đa dạng về thực vật nên đất đai của huyện rất màu mỡ giúp
cho phát triển mạnh về nông nghiệp với đa dạng các loại cây trồng vật nuôi.



×