Tải bản đầy đủ (.docx) (13 trang)

Đề cương ôn tập lịch sử văn minh thế giới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (137.11 KB, 13 trang )

Câu 1.
Kim Tự Tháp có nghĩa là tháp hình chữ Kim. Kim Tự Tháp là một hình chóp
có đáy là hình vuông, bốn mặt bên hình tam giác đều. Bốn mặt Kim Tự Tháp
tượng trưng cho bốn yếu tố cấu thành vũ trụ: Thiêng Hỏa, Đại Thủy,Thần
Phong, Thổ Mộc. Kim tự tháp Kheops hay kim tự tháp Kê ốp, kim tự tháp
Khufu hoặc Đại kim tự tháp Giza, là một trong những công trình cổ nhất và duy
nhất còn tồn tại trong số Bảy kì uan thế giới cổ đại. Các nhà Ai Cập học nói chung
đã đồng ý rằng kim tự tháp được xây trong khoảng thời gian 20 năm từ khoảng
năm 2560 TCN. Mọi người cũng cho rằng Đại kim tự tháp được xây dựng làm lăng
mộ cho pharaon Kheops.
Kim tự tháp Giza được xây dưng vào năm 2.800 TCN thuộc vương triều thứ
IV.Các kim tự tháp này đều được xây dựng bằng đá trắn mài nhẵn đã có cách đây
4.500 năm, nhưng đến nay hư hại không đáng kể.Kim tự tháp Kheops có chiều cao
nguyên thủy 146m.Với kim tự tháp Kheops các nhà khoa học khám phá ra rằng
nếu lấy tháp Kheops để làm chuẩn để xác định kinh tuyến, thì kinh tuyến Kheops
là kinh tuyến chuẩn xác nhất cho các hoạt động định hướng của nhân loại.Bốn
cạnh đáy của tháp Kheops chỉ đúng 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc là chiếc la bàn
khổng lồ của thế giới.
Các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng kim loại để trong kim tự tháp
không bị hoen rỉ, thực phẩm để trong kim tự tháp bảo quản lâu hơn.Cây trồng
trong kim tự tháp sinh trưởng nhanh hơn.Người mắc bệnh ngoài da, suy nhược
thần kinh vào ở trong kim tự tháp sẽ khỏi.
Cũng theo giáo sư Redford, các pharaoh đều bắt đầu xây dựng các kim tự
tháp dành cho mình ngay khi họ lên ngôi. Đầu tiên, pharaoh phải thành lập một ủy
ban xây dựng kim tự tháp bao gồm một đốc công, một kỹ sư trưởng và một kiến
trúc sư. Thường thường các kim tự tháp được đặt bên bờ tây sông Nile với quan
niệm rằng linh hồn của các pharaoh sẽ hòa cùng với ánh mặt trời khi mặt trời lặn
xuống trước khi tiếp tục chu trình bất diệt cùng vầng thái dương. Giáo sư Redford
thêm rằng, hai yếu tố quyết định đến vị trí xây dựng kim tự tháp là các kim tự tháp
phải hướng đến chân trời phía tây nơi mặt trời lặn, đồng thời phải gần thành phố
trung tâm Memphis của Ai Cập cổ đại.


Có ba phòng bên trong Đại kim tự tháp. Chúng đều được bố trí ở vị trí trung tâm,
trên trục đứng của kim tự tháp. Phòng thấp nhất ("phòng chưa hoàn thiện") được
đục vào đá xây kim tự tháp. Phòng này là phòng lớn nhất, nhưng hoàn toàn chưa
hoàn thành, chỉ mới được đục thô vào đá.
Phòng giữa, hay Phòng Nữ hoàng, là phòng nhỏ nhất, có kích thước khoảng 5,74 ×
5,23 mét, và cao 4,57 m. Bức tường phía đông phòng có một ô cửa góc hay hốc


tường lớn, và hai ống thông hơi hẹp, chỉ rộng khoảng 20 cm, kéo dài từ phòng này
đến bề mặt ngoài kim tự tháp, nhưng bị các "cánh cửa" đá vôi chặn ở nhiều đoạn.
Nhà Ai Cập học Mark Lehner tin rằng Phòng Nữ hoàng được dự định dùng làm
một serdab— một cấu trúc được tìm thấy trong nhiều kim tự tháp Ai Cập khác—
và rằng hốc tường có lẽ đã từng chứa một pho tượng. Người Ai Cập cổ đại tin rằng
tượng sẽ được dùng làm một con tàu "dự trữ" cho Ka (linh hồn) của pharaoh, nếu
xác ướp bị phá huỷ. Tuy vậy, mục đích thực sự của căn phòng vẫn còn là điều bí
ẩn.
Ở cuối hoàng loạt những lối dài dẫn vào trong kim tự tháp là cấu trúc của phòng
chính Phòng Hoàng đế. Phòng này ban đầu có kích thước 10 × 20 × 5V5 cubit, hay
khoảng 17 × 34 × 19 ft, gần kiểu hình khối kép.
Phần trung tâm của các kim tự tháp thường được xây dựng từ đá vôi lấy trong
vùng. Đá vôi có chất lượng tốt hơn được dùng để xây lớp ngoài của kim tự tháp
khiến chúng có một màu trắng lấp lánh có thể nhìn được từ cách xa hàng dặm. Đá
đặt trên đỉnh thường là đá granit, bazan hoặc bất kì loại đá cứng nào khác có thể
mạ được vàng, bạc hoặc electrum – hợp kim vàng và bạc. Đặc biệt những viên đá
đó phải phản chiếu tốt ánh sáng mặt trời.
Phương pháp cắt và vận chuyển đá của người Ai Cập cổ đại hiện vẫn đang được
nghiên cứu. Các học giả đã tìm được bằng chứng người Ai Cập cổ sử dụng những
cái đục bằng đồng đỏ để khai thác sa thạch và đá vôi. Một nhóm người hoặc một
đàn bò sẽ kéo những tảng đá trên một đường trượt được bôi trơn bằng dầu đã
chuẩn bị sẵn. Khi các khối đá được vận chuyển đến công trường, những con dốc

nhỏ được xây dựng để đưa đá lên kim tự tháp. Người ta dùng gạch làm từ bùn để
tạo những con dốc đó rồi phủ vữa lên trên để làm cứng bề mặt.
Kim tự tháp Ai Cập là một công trình khoa học một di sản văn hóa của nhân loại,
là kết tinh của những khổ đau khủng khiếp tột cùng và là sự hi sinh vô bờ bến của
hàng triệu, triệu nô lệ trong hàng chục năm ròng rã, nưng nó cũng là bản anh hùng
ca ngợi ca thành quả lao động sáng tạo của nhân dân Ai Cập.


Câu 2. Vị trí của ai Cập cổ trung đại trong hệ thống văn minh thế giới.
1.Chữ viết
Từ khi xã hội có giai cấp bắt đầu hình thành, chữ viết ở Ai Cập đã ra đời. Chữ viết
của Ai Cập lúc đầu là chữ tượng hình, tức là muốn viết chữ để biểu thị một vật gì
thì vẽ hình thù của vật ấy. Vào thiên niên kỷ II TCN, người Hichxot đã học tập chữ
cái của người Ai Cập để ghi ngôn ngữ của mình. Về sau, loại chữ viết ấy được
truyền sang Phenixi, trên cơ sở ấy, người Phenixi đã sáng tạo ra vần chữ cái đầu
tiên trên thế giới. Sau đó các dân tộc Do Thái, Ả Rập, Hy Lạp và La-Tinh đã dựa
theo mẫu tự Phoenix để thành lập chữ viết của mình. Ngày nay, các xứ dùng mẫu
tự La Tinh, trong đó có Việt Nam, Pháp, Anh; các xứ dùng mẫu tự Hi Lạp, trong đó
có Nga đều thừa hưởng di sản của chữ viết Ai Cập !
Tôn giáo :
Người Ai Cập cổ đại theo đa thần giáo, họ thờ rất nhiều thần. Ban đầu, mỗi vùng
thờ mỗi vị thần riêng của mình, chủ yếu là những vị thần tự nhiên. Đến thời kì
thống nhất quốc gia, bên cạnh những vị thần riêng của mỗi địa phương còn có các
vị thần chung như thần Mặt trời ( Ra ), thần sông Nin (Osiris ).
Người Ai Cập cổ tin rằng con người có hai phần : hồn và xác. Khi con người chết
đi, linh hồn thoát ra ngoài nhưng có thể một lúc nào đó lại tìm về nơi xác ( Họ tin
rằng như khi bị ngất , hồn thoát ra ngoài tạm thời ). Vì vậy những người giàu có
tìm mọi cách để giữ gìn thể xác. Kĩ thuật ướp xác vì vậy cũng rất phát triển.
Kiến trúc điêu khắc :
Người Ai Cập cổ đại đã xây dựng rất nhiều đền đài, cung điện, nhưng nổi bật nhất

phải kể đến là các kim tự tháp hùng vĩ, vĩnh cửu. Người thiết kế ra Kim tự tháp đầu
tiên để làm nơi yên nghỉ cho các pharaon là Imhotép. Người ta đã phát hiện ra
khoảng 70 Kim tự tháp lớn nhỏ khác nhau trong đó có 3 Kim tự tháp nổi tiếng nằm
ở gần thủ đô Cairo. Lớn nhất là Kim tự tháp Kêôp ( Kheops ) cao tới 146m, đáy
hinh vuông , mỗi cạnh tới 230m. Đã mấy ngàn năm qua các Kim tự tháp vẫn sừng
sững với thời gian. Vì vậy người Ai Cập có câu “ Tất cả mọi vật đều sợ thời gian,
nhưng riêng thời gian phải nghiêng mình trước Kim tự tháp”.
Ngoài việc xây dựng các lăng mộ, người Ai Cập cổ còn để lại ấn tượng cho đời sau
qua các công trình điêu khắc. Đặc biệt nhất là tượng Nhân Sư (Sphinx ) hùng vĩ ở
gần Kim tự tháp Khephren. Bức tượng mình sư tử với gương mặt Khephren cao
hơn 20m này có lẽ muốn thể hiện Khephren là chúa tể với trí khôn của con người


và sức mạnh của sư tử.

Khoa học tự nhiên :
Về thiên văn, người Ai Cập cổ đã vẽ được bản đồ sao, họ đã xác định 12 cung
hoàng đạo và sao Thuỷ,Kim, Hoả, Mộc, Thổ. Người Ai Cập cổ làm ra lịch dựa vào
sự quan sát sao Lang ( Sirius ). Một năm của họ có 365 ngày, đó là khoảng cách
giữa hai lần họ thấy sao Lang xuất hiện đúng đường chân trời. Họ chia một năm
làm 3 mùa, mỗi mùa có 4 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. Năm ngày còn lại được xếp
vào cuối năm làm ngày lễ. Để chia thời gian trong ngày, họ đã chế ra đồng hồ mặt
trời và đồng hồ nước.
Về toán học, do yêu cầu làm thuỷ lợi và xây dựng nên kiến thức toán học của
người Ai Cập cổ cũng sớm được chú ý phát triển. Họ dùng hệ đếm cơ số 10. Họ rất
thành thạo các phép tính cộng trừ, còn khi cần nhân và chia thì thực hiện bằng cách
cộng trừ nhiều lần. Về hình học, họ đã tính được diện tích của các hình hình học
đơn giản; đã biết trong một tam giác vuông thì bình phương cạnh huyền bằng tổng
bình phương hai cạnh góc vuông. Pi của họ tính = 3,14 .
Về Y học, người Ai Cập cổ đã chia ra các chuyên khoa như khoa nội, ngoại , mắt,

răng, dạ dày ... Họ đã biết giải phẫu và chữa bệnh bằng thảo mộc. Các tài liệu cũng
ghi lại nhiều bài thuốc và phương pháp chữa trị. Ví dụ, để chữa bệnh đường ruột,
người ta dùng phương pháp rửa ruột hay cho nôn mửa. Các thầy thuốc Ai Cập còn
biết dùng phẫu thuật để chữa một số bệnh.

Câu 3.Tính nhân văn của bộ truyện nghìn lẻ một đêm.
Cũng như truyện dân gian của các nước khác, những câu chuyện trong Nghìn lẻ
một đêm phản ánh nguyện vọng và ước mơ của quần chúng nhân dân trong xã hội
bị áp bức, đè nén. Họ luôn luôn mong muốn được sống trong cảnh thái bình yên
vui, được gặp nhiều may mắn, hạnh phúc ấm no. Khát vọng này thể hiện qua
những truyện nổi tiếng nhất của tập truyện, chẳng hạn truyện Aladdin và cây đèn
thần kể về chàng trai Aladdin, con của một người thợ may Trung Hoa. Bị một con
phù thủy dẫn xuống hang ngầm, tại đây chàng tìm thấy một cây đèn, trong đó có
nhốt vị thần có thể biến mọi ước mơ thành hiện thực, nhờ đó chàng trở nên giàu có
và được cưới công chúa Badroulboudour. Nhiều truyện phản ánh bản chất tốt đẹp
của nhân dân lao động cần cù, chăm chỉ, kiên cường dũng cảm và thông minh tài


trí, giàu lòng thương người đồng thời vạch trần bản chất tàn ác của bọn vua chúa,
quan lại, phú thương, phù thủy,... thể hiện chân lý thiện thắng ác, chính thắng tà, ở
hiền gặp lành, và mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Cuộc hành trình trên mặt biển của
thủy thủ Sinbad là một ví dụ, với những cuộc phiêu lưu kỳ thú của chàng Sinbat
lên một hòn đảo nhưng thực chất là một con cá khổng lồ, lạc đến một thung lũng
đầy đá quý và chàng đã mưu trí trốn ra được, đâm mù mắt gã khổng lồ ăn thịt
người và giết chết chúa tể của biển cả. Truyện Ali Baba và 40 tên cướp ca ngợi tài
trí thông minh và dũng cảm của cô gái Morgiana đã cứu sống gia đình bác tiều phu
Ali Baba khỏi những tên cướp. Câu chuyện Người câu cá với vị thần kể về một
ngư phủ vớt chiếc lọ có nhốt một vị thần, nhờ tài trí mà gã ta đã khiến vị thần
khuất phục và trung thành phục vụ cho mình. Với sự giúp đỡ của vị thần, gã đã cứu
hoàng tử khỏi pháp thuật và được tưởng thưởng xứng đáng.

Với hàng trăm câu chuyện hoàn chỉnh, bao gồm truyện lịch sử, truyện tình, bi kịch,
hài kịch, thơ, truyện hài và truyền thuyết Hồi giáo cấu thành tác phẩm, Nghìn lẻ
một đêm có một giá trị hết sức to lớn trong việc phản ánh một thế giới muôn mặt
trong đời sống hiện thực xã hội Arap thời Trung cổ, thông qua một óc tưởng tượng
cực kỳ phong phú, chủ đề vô cùng khác lạ, nhân vật đủ mọi loại vẻ, với những
khung cảnh vừa rộng lớn vừa luôn luôn thay đổi. Về nghệ thuật, Nghìn lẻ một đêm
hết sức hoàn chỉnh về kết cấu, bất ngờ trong việc dẫn dắt mạch truyện, phức tạp mà
rất chặt chẽ trong các tình tiết và cũng rất điêu luyện trong việc sử dụng ngôn ngữ,
mặc dù có một số truyện qua tay nhiều người, được nhiều thế hệ ghi chép nên đã ít
nhiều bị pha tạp hoặc bị hiện đại hóa. Với giá trị về nhiều mặt như vậy, từ khi ra
đời đến nay, Nghìn lẻ một đêm đã trở thành tài sản văn hóa chung của nhân loại, có
ảnh hưởng sâu sắc từ Đông sang Tây. Nhiều người đã dùng những câu chuyện
trong tác phẩm để làm đề tài sáng tác cho những hình thức nghệ thuật khác như
phim, kịch, vũ ba-lê, ca vũ kịch,...

Câu 4. Ảnh hưởng của văn minh TQ cổ trung đại với lịch sử văn minh thế
giới.
Ảnh hưởng về chính trị, xã hội: thiết lập các bộ máy nhà nước chuyên chế tập
quyền.
- Ảnh hưởng về văn hoá, chữ viết, KHKT, tôn giáo (Nho giáo).
+ Nho giáo: ra đời ở Trung Quốc, do Khổng Tử sáng lập. Du nhập vào nước ta từ
thời Bắc thuộc và được nhà Lý chính thức thừa nhận khi cho xây dựng Văn Miếu
thờ Khổng Tử. Từ thời Lê trở thành tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị.
Nho giáo đã trở thành một nhu cầu tư tưởng thiết yếu cho việc xây dụng một thiết
chế quân chủ tập quyền theo mô hình Đông Á Trung Hoa, cũng như những nguyên


lý cơ bản của phép trị nước, trong đó một biện pháp chiến lược là chế độ khoa cử.
Về chế độ khoa cử được tổ chức mộ cách quy cũ ví dụ thời Trần có tất cả 14 khoa
thi (10 khoa chính thức và 4 khoa phụ), lấy đỗ 282 người đại khoa, có học vị Thái

học sinh. Năm 1374, có tổ chức thi Đình cho các tiến sĩ. 3 người đỗ đầu được gọi
là Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. (Sau đặt thêm một học vị cấp
cao nữa là Hoàng giáp).
Tầng lớp nho sĩ ngày một phát triển, trong đó có những gương mặt nổi bật đều là
những nhân tài của đất nước như Lê Văn Hưu, Đoàn Nhữ Hài, Nguyễn Trung
Ngạn, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An…
+Kiến trúc: Văn Miếu - Quốc Tử Giám, hoàng thành Thăng Long, thành nhà Hồ và
một số công trình đền đài, tượng điêu khắc, tứ linh (long, ly, quy, phượng), … có
sự pha trộn phong cách kiến trúc của Trung Hoa.
+ Văn học- nghệ thuật: Cơ sở tư tưởng của văn học nghệ thuật dựa trên Phật giáo
và Nho giáo. Trong đó, tư tưởng nho giáo ảnh hưởng đến dòng văn học yêu nước
dân tộc.
Chữ Hán là chữ viết chi phối rất lớn đến hệ thống văn học nghệ thuật và đời sống
văn hoá của nhân dân.
+ Ngoài ra, các thành tựu về khoa học tự nhiên như bàn tính, lịch can chi, chữa
bệnh bằng châm cứu… đều có tác động sâu rộng đến nền văn minh Đại Việt cũng
như nền văn minh nước ta trong giai đoạn hiện tại.
Câu 5. Vai trò của văn minh TQ cổ trung đại với lịch sử văn minh thế giới.
Nhắc đến cống hiến của vh Trung Hoa cổ đại đối với lịch sử nhân loại không thể
không nhắc đến tứ đại phát minh, đó là la bàn, kĩ thuật làm giấy, kĩ thuật in ấn và
thuốc súng.
Từ cuối TK 12 đến đầu TK 13, la bàn được truyền sang Arap, từ đó sang châu Âu
và đã đóng góp rất nhiều cho ngành hàng hải thế giới.
Sau TK 6, kĩ thuật làm giấy của TQ được truyền sang Triều Tiên, VN, Nhật
Bản.Đến TK 8, phương pháp này qua Thổ Nhĩ Kì truyền vào Arap, sau đó được
truyền sang châu Âu.
Kĩ thuật in ấn của TQ cũng dần được truyền sang các nước láng giềng như Triều
Tiên, Nhật Bản, sau đó truyền sang Arap và châu Âu.
Vào TK 8, thuốc súng và vũ khia mang thuốc súng của TQ đã lần lượt được đưa
vào Ấn Độ, Arap và vào cuối TK 13 đầu TK 14 được truyền sang Châu Âu.

Ngoài bốn phát minh trên, một số thành tựu KHKT khác của TQ cũng có ảnh
hưởng nhất định đối với văn minh nhân loại.Thuật luyện đơn (bào chế thuốc) của
TQ sau khi truyền vào Arap, đã góp phần thúc đẩy kĩ thuật chế biến thuốc của


nước này phát triển, thuật chế biến thuốc của châu Âu lại chịu ảnh hưởng của Arap
và nền hóa học hiện đại sau này chính là được phát triển trên cơ sở chế biến thuốc
của châu Âu thời trung cổ.
Đỗ sứ tinh xảo của TQ từ lâu đã nổi tiếng trên TG. Vào nửa cuối TK 15 kĩ thuật
làm đồ sứ của TQ đã được truyền sang Italia, mở ra một kỉ nguyên mới cho lịch sử
chế tạo đồ sứ của châu Âu và còn ảnh hưởng cho tới ngày nay. Không phải ngẫu
nhiên mà từ tiếng anh China vừa có nghĩa là TQ lại vừa có nghĩa là đồ sứ.
Nền văn học rực rỡ và đồ sộ của TQ cũng ảnh hưởng vô cùng rộng lớn trên phạm
vi toàn TG. Nhũng tác phẩm văn học nổi tiếng như “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, “Tây
Du Ký”, “Hồng Lâu Mộng”, “Thủy Hử”, “Liêu Trai Chí Dị”, “Kim Bình Mai”…đã
được dịch ra rất nhiều thứ tiếng và được các học giả nước ngoài đánh giá rất cao.
Triết học TQ có ảnh hưởng sâu sắc ở châu Âu vào TK 17-18 Gottfried Withelm
von Leibniz, người tiên phong của triết học cổ điển Đức, là triết gia đầu tiên nhậ ra
tầm quan trọng của văn hóa TQ vs sự phát triển của Châu Âu. Khi nghiên cứu về
phép toán cơ số 2, “Chu dịch” cổ đại của TQ đã cho ông những gợi mở vô cùng
quan trọng . Năm 1703, ông đã triển khai phép cơ số 2 sang bốn lĩnh vực cộng trừ
nhân chia. Phép tính cơ số 2 có vai trò vô cùng quan trọng. Không phải ngẫu nhiên
mà mà nhiều người cho rằng không có sự ra đời của phép tính cơ số 2, thì sẽ không
thể xuất hiện logic toán học và khao học máy tính hiện đại ngày nay.
Nho giáo TQ có ảnh hưởng sâu sắc đến các nước phương Tây.Các nhà khải mông
tư tưởng Pháp hy vọng sau khi xóa bỏ được nền “tôn giáo thần học” dựa vào mê
tín, sẽ xây dựng một nền “tôn giáo lý tính” đề cao lý tính, tự nhiên và đạo đức.
Trong con mắt họ, Nho giáo của TQ chính là hình mẫu cho thứ “tôn giáo lý tính”
này.Họ đặc biệt ngợi ca Nho giáo, chỉ ra rằng Nho giáo chủ trương lấy “lý tính” và
“chân lý” để trị quốc bình thiên hạ. Ở Đức, trào lưu “tôn giáo triết học” thay thế

“tôn giáo thần học” cũng chịu ảnh hưởng của triết học TQ. Ở Anh các nhà khải
mông cũng trích dẫn “lập luận của người TQ” để phản đối “Kinh Thánh”. Triết
học truyền thống của TQ cũng có ảnh ưởng rất lớn ở Nga TK 19.
Ảnh hưởng của triết học TQ đói vs châu Âu không chỉ dừng lại ở TK 18. Mặc dù
sau đó có những biến động nhất định, nhưn bắt đầu từ giữa TK 19, châu Âu lại
xuất hiện trào lưu tìm hiểu, nhu cầu giao lưu vs văn học, nghệ thuật, triết học của
TQ.
Những ảnh hưởng của văn hóa TQ đối vs khu vực, đặc biệt là các quốc gai láng
giềng vẫn rộng rãi và sâu sắc hơn cả.TQ đóng vai trò quan trọng trên vũ đài lịch sử
châu Á, văn hóa TQ đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quốc ai ở châu lục này, đặc
biệt là Nhật Bản, Triều Tiên, VN và các nước thuộc khu vực ĐNA.Vào thời nhà


Đường, luật pháp của NB cơ bản áp dụng theo luật pháp nhà Đường, chỉ chỉnh sửa
đôi chút để bản địa hóa. NB coi TQ là quê hương của Phật giáo, nhà Đường có
tông phái Phật giáo nào, NB cũng có tông phái Phật giáo tương ứng. Trong xh, các
tầng lớp nhân dân chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Đường, họ ngâm vịnh
Đường thi, phát triển Đường họa, hành Đường lễ, mặc Đường phục, ăn các món ăn
kiểu nhà Đường…
Văn hóa TQ đến VN theo con đường riêng. Năm 111 TCN, nước Âu Lạc khi ấy
thuộc nước Nam Việt bị thôn tính vào đế quốc Hán. Từ đó VN trải qua hơn 10 TK
nằm dưới ách thống tri của đế quốc phong kiến phương Bắc. Đến năm 938, với
chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền đã mở ra một thời kì độc lập cho VN. Trong
hơn 1000 năm Bắc thuộc, các triều vua TQ từ Hán tới Đường đã thi hành chính
sách đồng hóa nhằm vĩnh viễn thôn tính VN vào TQ. Với bối cảnh lich sử nv văn
háo TQ đã có ảnh hưởng sâu sắc đối vs VN, đặc biệt là sự du nhập của Nho giáo,
Đạo giáo và Phật giáo.
Sự ảnh hưởng của văn hóa Hán đối vs VN nói riêng, vh ĐNA nói chung, còn để lại
dấu ấn trong các lĩnh vực khác như ăn, mặc, ở, đi lại, phương thức sx, qh xh, ngôn
ngữ…Về mặt ngôn ngữ, hàng loạt từ tiếng Hán đã được du nhập vào các ngôn ngữ

ĐNA như vào tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Việt, tiếng Khmer…Dấu ấn vh TQ còn
được lưu lại ở các ngôi mộ, gạch cổ được xd từ TK 1 đến TK 6 mà người ta thường
coi là sự nảy sinh một nền vh – nghệ thuật Hán – Việt. Về âm nhạc, một số nhạc cụ
TQ như Khánh, chuông…cũng được người Việt và một số dân tộc ĐNA tiếp nhận.
Có thể nói, đến TK 8, cùng vs sự du nhập ồ ạt của vh Trung Hoa như chũ Hán, Nho
giáo, Phật giáo, chế độ chính trị - xh, KHKT…vào các quốc gia ĐNA, thì giữa các
quốc gai này đã hình thành nên môt lãnh địa vh riêng biệt mà trung tâm là TQ, hay
còn gọi là kv ảnh hưởng của văn hóa Hán. Cho đến TK 19, khi chủ nghĩa tư bản
phương Tây lớn mạnh tiến vào kv ĐNA, lãnh địa này mới bị phá vỡ, nhưng dấu ấn
của nó vẫn còn lưu lại và ảnh hưởng tới các quốc gia này cho đến ngày nay.
Câu 6. Vì sao Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cổ đại và trở thành một tôn giáo lớn trên
TG nhưng lại không phải tôn giáo phổ biến ở Ấn Độ?
Sự suy tàn của Phật giáo tại Ấn Độ có thể đã bắt đầu từ thế kỉ thứ 7 và Phật giáo
thực sự biến mất khỏi Ấn Độ vào thế kỉ thứ 14. ãi cho đến thế kỉ thứ 19 thì phong
trào chấn hưng Phật giáo tại Ấn Độ mới bắt đầu lại.
Lý do thứ nhất liên quan tới quá trình phát triển của Phật giáo về mặt xh. Vào thời
kỳ đầu, Phật giáo có sức lôi cuốn cực kỳ những người thuộc cấp bậc cao trong hệ
thống kinh tế, chính trị và xh Ấn Độ. Thậm chí trong thời cực thịnh, Phật giáo với
truyền thống văn hóa và triết học rất cao, đã nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của giới


cầm quyền chính trị và kinh tế. Điều ấy không có nghĩa Phật giáo tự mình đoạn lìa
với các tầng lớp xh thấp hoặc không thiết lập được cơ sở tại vùng nông thôn nơi
sinh sống của đa số dân chúng Ấn Độ. Tuy thế nó có nghĩa rằng Phật giáo không
trải rộng và thấm sâu vào người dân thường trong xh Ấn Độ. Do đó Phật giáo dễ bị
tổn thương trước các sức mạnh đang làm thay đổi tình trạng kinh tế và chính trị.
Lý do thứ hai liên quan tới sự suy tàn Phật giáo tại Ấn Độ là khaongr cách ngày
càng lớn giữa các tu viện và quần chúng Phật tử tại gia, mà cả hai vốn được giả
định là cùng kết hợp chặt chẽ.Các tu sĩ sẽ giảng giải, thuyết pháp các lý tưởng của
Phật pháp cho dân chúng, còn các Phật tử sẽ hỗ trợ về thực phẩm, y phục, nơi ở.

Tuy nhiên khi các tu viện ngày càng có thể tự cung cấp lương thực bảo đảm cs và
làm chủ đất đai, giới tu sĩ cảm thấy không nhất thiết phải chăm lo vận động sự hỗ
trợ của giới tu sĩ cảm thấy không nhất thiết phải vận đông sự hỗ trợ của các Phật
tử. Hậu quả là mối liên hệ hỗ tương giữa họ dần biến mất.
Khoảng năm 186 TCN, triều đại Sunga nắm quyền ở Bắc Ấn, khước từ Phật giáo
và khích lệ các truyền thống “chính thống” của Ấn giáo. Từ thời điểm đó Phật giáo
phải đối mặt với sự hồi sinh của Ấn giáo. Đạo Bà La Môn là một tôn giáo ra đời từ
thế kỉ 15 trước Công nguyên, với một điểm đặc thù là nó sẵn sàng tiếp thu các
nguyên lý hay khái niệm của đạo khác. Một mặt, trong số tín đồ Phật giáo có rất
nhiều tu sĩ phát gốc từ đạo Bà La Môn nên các tư tưởng và nề nếp của Ấn giáo có
ảnh hưởng ít nhiều đến đạo Phật. Mặt khác quan trọng hơn là việc Ấn giáo đã mặc
nhiên thu nạp các tư tưởng của Phật giáo để làm thành tư tưởng Bà La Môn (Trong
đó có việc Phật Thích Ca Mâu Ni đã trở thành một vị tiên tri quan trọng của tôn
giáo này). Những cuộc tự đổi mới của Ấn Độ giáo kể từ thế kỉ thứ 7 đã đem lại
sinh khí cho tôn giáo này cũng như làm mờ nhạt dần hình ảnh Phật giáo. Sự pha
trộn của các tư tưởng Phật giáo vào Ấn giáo sâu và rộng đến nỗi một người bình
dân rất khó phân biệt được rõ ràng giữa Ấn giáo và Phật giáo.. Người Ấn giáo
cũng đặt ra một hệ thống nghi lễ tôn giáo có tính tổng hợp, trực tếp đáp ứng thỏa
đáng các nhu cầu tôn giáo và xh đa dạng của dân chúng. Trong khi đó, giới Bà la
môn bắt đầu phát động các phong trào tận hiến, ra sức lôi cuốn sự yểm trợ rộng rãi
của người dân Ấn, và Ấn giáo có thể thu hút và bảo lưu được ngày càng nhiều lòng
trung thành của tầng lớp thượng lưu cũng như dân giả. Ngoài ra, trong thời gian
đó, với đặc tính dễ thích nghi và phù hợp với nhu cầu thờ phụng của người bình
dân ở Ấn Độ, đạo Phật đã dần dà trở thành thứ yếu hay trở thành tôn giáo của tầng
lớp trí thức. Đạo Bà la môn tu hành vẫn được ăn uống, tự do vui chơi, lấy vợ trong
khi đó Phật giáo bị cấm đoán nhiều hơn bởi các giáo lý nhà Phật vì vậy Phật giáo ít
tín đồ hơn.Hơn nữa đạo Phật ở Ấn Độ bị coi là tà giáo.
Vào nửa cuối thế kỉ thứ 8, vua An Ma-đi của triều đại Hồi giáo A-ba-sát đã đem
quân tấn công Ấn Độ. Họ đã phá hủy, cướp bóc các tài liệu, công trình, kiến trúc



Phật giáo -- trong đó quan trọng là trung tâm Phật học Va-la-bi . Mặc dù sau đó họ
không tiếp tục bức hại Phật giáo, nhưng dầu sao đây cũng là bước đầu trong việc
hủy hoại Phật giáo tại Ấn Độ, Áp-gan-nts-xtan và Trung Đông.
Cho đến 1178, quân đội Hồi giáo của Mu-ha-mát Gu-ri đã tiến hành nhiều cuộc
chinh phạt Ấn Độ. Hầu hết các công trình Phật giáo đã dần dà bị tiêu hủy. Vào năm
1197, trung tâm Phật giáo Na-lan-đa bị hủy diệt hoàn toàn, kể cả các tăng sĩ. Vicra-ma-si-la cũng bị chiếm năm 1203, chấm dứt hoàn toàn một thời đại lịch sử của
Phật giáo tại Ấn Độ.
Câu 7. Vai trò của văn minh Hy Lạp đối vớ sự phát triển của lịch sử văn minh thế
giới.
* Chữ viết: Về chữ viết, người Hy Lạp cổ đại đã dựa trên hệ thống chữ viết của
người Phênixi (Phoenicia) rồi cải tiến, bổ xung thành một hệ thống chữ cái mới
gồm 24 chữ cái. Từ chữ Hy Lạp cổ sau này đã hình thành nên chữ Latinh và chữ
Slavơ. Đó là cơ sở chữ viết mà nhiều dân tộc trên thế giới ngày nay đang sử dụng.
* Văn học: Văn học Hy Lạp cổ đại có thể chia ra làm ba bộ phận chủ yếu có liên
quan với nhau, đó là thần thoại, kịch, thơ.
- Người Hy Lạp có một hệ thống thần thoại rất phong phú để mô tả thế giới tự
nhiên, nói lên kinh nghiệm cuộc sống và cả tâm tư sâu kín của con người. Hầu như
trong cuộc sống thời đó có việc gì thì đều có thần bảo trợ, lo về công việc đó. Kho
tàng thần thoại Hy Lạp mãi tới ngày nay còn được nhiều môn nghệ thuật ở các
nước trên thế giới khai thác. Đây là một dân tộc có một kho tàng thần thoại mà
nhiều dân tộc lớn trên thế giới phải ghen tị. Về sau, khi có chữ viết, kho tàng thần
thoại này được Hêdiốt ( nhà thơ Hy Lạp sống vào thế kỉ VIII TCN ) hệ thống lại
trong tác phẩm Gia phả các thần.
- Thơ ca là thể loại văn học rất phát triển, đặc biệt nó có thế mạnh khi chưa có chữ
viết. Tiêu biểu nhất phải kể đến tác phẩm Iliat và Ôđixê của Homer ( thế kỉ IX
TCN ). Tới thế kỉ VII-VI TCN xuất hiện nhiều nhà thơ được công chúng ưa thích
như Acsilôcút, Xôlông, Xaphô, Anacrêông...
- Hy Lạp là quê hương của kịch nói phương Tây. Ở đây có cả bi kịch lẫn hài kịch.
Những nhà viết kịch nổi tiếng thời đó như Etsin, Sôphôclơ, Ơripit...

* Sử học: Từ thế kỉ VIII-VI TCN, lịch sử Hy Lạp chỉ được truyền lại bằng truyền
thuyết và sử thi. Đến thế kỉ V TCN lịch sử ở Hy Lạp mới trở thành một bộ môn
riêng biệt. Các nhà viết sử tiêu biểu của Hy Lạp thời đó là Hêrôđôt (Herodotus) với
cuốn Lịch sử chiến tranh Hy-Ba , Tuyxiđit (Thuycudides) cuốn Lịch sử chiến tranh
Plôpônedơ.
* Kiến trúc, điêu khắc: Những công trình kiến trúc của Hy Lạp cổ đại không hùng


vĩ như của Ai Cập cổ đại nhưng nó lại nổi bật ở sự thanh thoát, hài hoà. Các công
trình kiến trúc ở Hy Lạp cổ đại thường được xây dựng trên những nền móng hình
chữ nhật với những dãy cột đá tròn ở bốn mặt. Qua nhiều thế kỉ, người Hy Lạp cổ
đại đã hình thành ra ba kiểu cột mà ngày nay người ta vẫn thể hiện trong trường
phái “cổ điển”.Kiểu Đôric (thế kỉVIITCN), trên cùng là những phiến đá vuông
giản dị không có trang trí; kiểu Lônic (t.kỉ V TCN) cột đá tròn thon hơn, có đường
cong ở bốn góc phiến đá hình vuông như hai lọn tọc uốn; kiểu Côranh ( thế kỉ IV
TCN ) có những cành lá dưới những đường cong, thường cao hơn và bệ đỡ cầu kì
hơn.
- Các công trình kiến trúc tiêu biểu thời bấy giờ là đền Pactơnông (Parthenon) ở
Aten, đền thờ thần Dớt (Zeus) ở núi Olempia, đền thờ nữ thần Atena (Athena).
- Các nhà điêu khắc ở Hy Lạp cổ đại cũng để lại nhiều tác phẩm tới bây giờ vẫn
xứng đáng là mẫu mực cho điêu khắc như các pho tượng Vệ nữ ở Milô, tượng Lực
sĩ ném đĩa, tượng nữ thần Atena, tượng thần Hecmet...Những nhà điêu khắc tiêu
biểu thời đó như Phiđat ( Phidias), Mirông( Miron),Pêliklêt,(Polykleitos)...
* Khoa học tự nhiên: Thế giới Hy Lạp cổ đại còn cống hiến cho nhân loại nhiều
nhà bác học mà đóng góp của họ tới nay vẫn còn giá trị như: Ơclit (Euclide), người
đưa ra các tiên đề hình học đặt cơ sở cho môn hình học sơ cấp. Pitago
( Pythagoras), ông đã chứng minh định lí mang tên ông và ngay từ thế kỉ V TCN
ông đã đưa ra giả thuyết trái đất hình cầu. Talét (Thales), người đã đưa ra Tỉ lệ thức
(Định lí Talét). Đặc biệt là Acsimet (Archimede), người đã đề ra nguyên lí đòn bẩy,
chế ra gương cầu lõm, máy bắn đá và phát hiện ra lực đẩy tác động lên một vật nếu

vật đó trong lòng chất lỏng (lực đẩy Acsimet).
* Triết học: Hy Lạp cổ đại là quê hương của triết học phương Tây, ở đây có cả hai
trường phái triết học duy vật và duy tâm. Đại diện cho trường phái duy vật là các
nhà triết học nổi tiếng như: Talét (Thales), Hêraclit (Heracleitus), Đêmôcrit
(Democritus)... Đại diện cho trường phái duy tâm là các nhà triết học: Platôn,
Arixtôt.
* Luật pháp và tổ chức nhà nước: Các quốc gia ở phương Tây chịu ảnh hưởng
nhiều về hệ thống pháp luật và cách tổ chức nhà nước từ Hy Lạp cổ đại.
- Nhà nước ở Hy Lạp cổ đại hình thành trên cơ sở sự tan rã của xã hội thị tộc. Nhà
nước dân chủ chủ nô ở Hy Lạp ngày càng được hoàn thiện qua những cải cách của
Xôlông (Solon), Clisten (Clisthenes) và Pêliclêt (Pericles).
- Về luật pháp, bộ luật cổ nhất của Hy Lạp là bộ luật Đracông (Dracon), bộ luật
này có những hình phạt rất khắc nghiệt, có khi chỉ ăn cắp cũng bị xử tử. Sau này,
nhờ những cải cách của Xôlông, Clisten, luật pháp Hy Lạp ngày càng mang tính
dân chủ hơn (nhưng cũng chỉ công dân tự do mới được hưởng, nô lệ thì không).
Câu 8. Tính nhân văn của phong trào văn hóa Phục Hưng.
Nguyên nhân.


Do VH Tây Âu dưới thời Trung Đại bị giáo hội thiên chúa cưỡng đoạt, tư tưởng
tình cảm con người bị ràng buộc bởi giáo hội.
- Do sự lỗi thời của hệ tư tưởng phong kiến, sự ra đời của g/c TS và sự phát triển
của g/c TS đang lên cần phải có hệ tư tưởng và nền Vh riêng để phục vụ cho đời
sống tinh thần của mình, để đấu tranh với hệ tư tưởng lỗi thời của giáo hội và g/c
quý tộc phong kiến đang cản trở sự phát triển XH.
/ Điểm tiến bộ của phong trào Vh Phục Hưng.
Phong trào văn hóa phục hưng tuy có tiếp thu và kế thừa một số yếu tố trong nền
văn hóa hy-la cổ đại nhưng thực chất đây không phải là một phong trào làm sống
lại những giá trị văn hóa cổ xưa mà là một phong trào hoàn toàn mới và được chỉ
đạo bởi một hệ tư tưỡng mới.

- Tư tưỡng chỉ đạo của văn hóa phục hưng là chủ nghĩa nhân văn đó là tư tưỡng
chú ý đến con người. chú ý đến cuộc sống hiện tại, chủ trương cho con người được
hửng hạnh phúc
-Dưới sự chỉ đạo của hệ tư tưỡng ấy, tính chất cách mạng của văn hóa phục hưng
được thể hiện ở các mặt sau:
a/ Phong trào thể hiện nội dung chống giáo hội thiên chúa và chống phong kiến,
mang tính chất phản phong khá rõ nét:
- Lê án đã kích châm biếm sự tàn bạo dốt nát dã nhân, dã nghĩa của các giáo sĩ
cũng như quý tộc phong kiến. Nội dung này được thể hiện hầu hết trong các tác
phẩm của thời kì văn hóa phục hưng.
Ví dụ: Như thần khúc của Đan Tê, mười ngày của bô ca xi ô, theo đuổi tình yêu vô
hiệu của Sếch xpia, đông ki sốt của Séc van téc.
- Chống lại quan điểm của giáo hội chỉ chú trọng đến thần linh thế giới bên kia,
xem nhẹ con người đề xướng CN khổ hạnh, bóp chết tình cảm kìm hãm ý chí con
người.
- Chống lại những quan điểm phản khoa học và CN duy tâm của giáo hội và của cả
các nhà KH đương thời được giáo hội ủng hộ, về vũ trụ của triết học.
Dựa trên những thành tựu KH tự nhiên qua đó làm lung lay quyền uy tư tưởng
và lý luận của giáo hội triết học kinh viện được.
b/ Phong trào thể hiện ở quan điểm nhận thức g/c vô sản với tự nhiên đề cao giá trị
con người và quyền tự do cá nhân, chủ trương con người phải được giáo dục toàn
diện, phải được sống thoải mái và được tận hưởng mọi cuộc vui ở đời.
c/ Thể hiện trong việc g/c TS đề cao tinh thần dân tộc tình yêu đối với tổ quốc và
tiếng nói đất nước mình góp phần hình thành dân tộc tư sản ở Tây Âu.
Nhìn chung vẫn chưa triệt để chống giáo hội và chế độ phong kiến.
d/ Đề cao giá trị con người nhưng ủng hộ sự bóc lột sự làm giàu. Con người mà
VH phục Hưng đề cao trước hết là con người tư sản chứ chưa phải là mọi người
lao động.



III/ Lĩnh vực KH và triết học.
a/ Trên những thành tựu của Kh tự nhiên như thiên văn học, toán học, vật lý học,
….. Triết học đã có những bước tiến quan trọng đã phát triển triết học duy vật, tiêu
biểu là Francis BaCon đã đề cao triết học duy vật, kịch liệt phê phán CN duy vật,
công kích CN kinh viện ( gắn liền với giáo hội thiên chúa).
Ngược lại triết học phát triển cũng thúc đẩy sự phát triển của các ngành KH
khác.
b/ Các nhà Kh nổi tiếng và quan điểm của họ.
Nicolas Coprnic đã nêu ra một thuyết về những trụ chống lại thuyết vũ trụ
cảu nhà thiên văn học cổ đại Pto lê mê đã ngự trị Châu Âu suốt nhiều thế kỷ với
những phát hiện mới, Trung tâm vũ trụ là mặt trời, trái đất tựu quay xung quanh nó
và quy xung quanh mặt trời.
Bruno cho rằng vũ trụ là vô tận và Mặt trời chỉ là trung tâm của thái dương
hệ chúng ta. Vật chất luôn luôn vận động và biến đổi và tồn tại vĩnh viễn.
Galilee chứng minh mặt trời là hành tinh phát hiện được cấu tạo của thiên
hà, giải thích cấu tạo sao chỗi, là người mở đầu cho KH thực nghiệm, phát hiện ra
định luật rơi thẳng đứng và giao động của các vật thể.
Kepler cho rằng quan trọng là sự vận hành các hành tinh quay xung quanh
mặt trời.
c/ Ngoài ra những thành tựu về kỹ thuật thời Phục hưng cũng rất to lớn như: ấn
loát, in chữ nổi, sản xuất súng, hỏa pháo, những dụng cụ đi biển mới.



×