PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH THA HÓA VÀ HỒI SINH CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO
A.QUÁ TRÌNH THA HÓA:
Mở Bài:
+Tác phẩm Chí Phèo được ra đời năm 1941.Nguyên có tên là ”cái lò gạch cũ” đến năm 1941 nhà xuất bản
tự đổi tên thành “đôi lứa xứng đôi” đến năm 1946 tác giả đổi tên thành Chí Phèo
+.Chí Phèo là một truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Nam Cao viết về đề tài người nông dân trước cách
mạng.
+Nó là một truyện ngắn có thể “làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời”,đã đưa Nam Cao lên vị trí
hàng đầu trong lớp các nhà văn hiện thực phê phán trong giai đoạn 1930-1945.
+Tác giả đã xây dựng thành công một nhân vật điển hình,nhân vật Chí Phèo,phản ánh một tấn bi kịch có ý
nghĩa sâu sắc vào loại tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam.
+Bi kịch của Chí Phèo là bi kịch của một người nông dân cùng khổ bị xô đẩy vào con đường lưu manh tội
lội,bị cự tuyệt quyền làm người,hay nói cách khác là số phận bi thảm của một con người muốn được làm
người mà không thể được.
+Nam Cao đã viết về tấn bi kịch của Chí Phèo bằng một bút pháp vô cùng sắc sảo:biến hóa lúc kể,lúc
tả,triết lí thì thấm thía,trữ tình thì đau đớn xót xa...đầy ám ảnh nghệ thuật,làm xúc động lòng người hơn
nửa thế kỉ nay.
Thân bài:
1.Hình tượng nhân vật Chí Phèo:
-Hoàn cảnh xuất thân của Chí Phèo(xuất thân là người nông dân nghèo, lương thiện)
+ Chí Phèo bất hạnh ngay từ khi sơ sinh “trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cạnh lò
gạch bỏ không”.Anh thả ống lương “rước lấy và đem cho một người đàn bà góa mù”,sau đó hắn bị đem
bán cho bác phó cối.Chí lớn lên trong cảnh bơ vơ,không cha mẹ,không họ hàng thân thích,không một mái
lều che thân,không một tấc đất cắm dùi “ hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ”,đến năm hai mươi
tuổi làm canh điền cho lí Kiến.Có thể nói cái trang đời thơ ấu và thanh niên của Chí Phèo là hai mươi năm
trời đắng cay không chốn nương thân.
+Chí là một người hiền lành,có lòng tự trong:khi bị bà ba sai bóp chân,hắn “vừa làm vừa run”,Chí” thấy
nhục hơn là thích”trước một việc làm mà Chí cho là “không chính đáng”.Bi kịch của anh canh điền này bắt
đầu từ chuyện bà Ba ông lí còn trẻ lắm mà “lại cứ hay ốm lửng,bắt hắn bóp chân,hay xoa bụng,đấm lưng
gì đấy”.Chí không phải là gỗ đá,nhưng hắn”thấy nhục hơn là thích,huống hồ lại sợ”.Chỉ một chuyện ghen
tuông không đâu,Bá Kiến đã ngấm ngầm cấu kết với quan tên bắt Chí giải lên huyện,bỏ tù hắn bảy,tám
năm trời.Chế đô nhà tù thực dân nửa phong kiến tàn bạo,dã man đã biến Chí Phèo từ một nông dân
lương thiện,hiền lành trở thành một tên lưu manh,một con quỷ dữ của làng Vũ Đại
-Từ khi ra tù đến trước khi gặp Thị Nở(quá trình tha hóa của Chí Phèo)
a.Thay đổi đột ngột cả về nhân tính và nhân hình:
+Nhân tính:trở thành một tên lưu manh,một con quỷ dữ của làng Vũ Đại.
+Nhân hình:bị xã hôi lưu manh vằm nát bộ mặt người.
+ Đi tù”biệt tăm”,bỗng đâu hắn lại”lù lù lần về”.Một Chí Phèo đã hoàn toàn khác hẳn,thay đổi đột ngột
cả về nhân tính và nhân hình”cái đầu thì trọc lốc,cái răng cạo trắng hớn,cái mặt thì đen mà lại rất cơng
cơng,hai mắt gườm gườm trong gớm chết”.Chí mặc cái quấn nái đen,cái áo tây vàng,cái ngực và cái tay
đầy những nét chạm trỗ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy. Đó là hình ảnh Chí Phèo lúc ngồi
uống rượu với thị chó ở chợ từ trưa tới xế chiều,cho đến lúc say khướt.
b.Hành động chửi của Chí Phèo:
+Chí Phèo sống triền miên trong những cơn say,trong mỗi cơn say thì hắn lại chửi.Tất cả dân làng đều sợ
hắn”tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua”.Hắn chửi ai cũng nghĩ”mặc thây cha nó”,ai cũng chẳng thèm
nghe,khác nào”những người say rượu hát”.Hình ảnh Chí Phèo”vừa đi vừa chửi” gây cho người đọc nỗi ám
ảnh về bi kịch của một người điên khùng,mấ trí đang trải qua nỗi cô đơn tuyệt vọng.Hắn chửi suốt,chửi
trời,đấng tối cao của muôn loài,chửi đời”đời là tất cả nhưng chẳng là ai”,chửi cả làng Vũ Đại,cái cộng
đồng gần gũi thiêng liêng của con người,chửi tất cả những ai không chửi nhau với hắn,”tức mình hắn chửi
đứa nào đẻ ra chính hắn”…nhưng không ai lên tiếng cả.Người ta không lên tiếng vì người ta không công
nhận Chí là người.Chí Phòe cứ chửi”chửi rồi lại nghe”.Hắn bị bao vây bởi một”sự im lặng đáng sợ”.Năm
thì mười họa mới”ba con chó dữ với một thằng say rượu.Hắn đã hoàn toàn bị xã hội cự tuyệt không được
nhìn nhận là người.
c.Chí Phèo đến nhà Bá Kiến:
+ Trong cơn say hắn đã hành động một cách dữ dội: xông thẳng đến nhà Bá kiến chửi”mồ tả tổ tiên đến
lộn lên mất”, đập cái vỏ chai vào cái cổng, rạch mặt, kêu trời ăn vạ!Chí Phèo đã hành động như một tên
đầu bò vô cùng ngang ngược.Đó là lối hành động của một kẻ say rượu mà đã có trong tiềm thức của Chí
Phèo. Cộng thêm những năm tháng tù đầy mối thù càng được hun đúc, nuôi dưỡng ngày càng sâu sắc và
đậm hơn. Bao năm ngồi tù Chí đã có dịp nghiền ngẫm cân nhắc trước khi đi đến quyết định đúng đắn.
Cho nên, hơn bao giờ hết, vừa rời khỏi nhà tù là Chí đã sôi sục một ý thức trả thù. Sự căm thù kẻ gây ra
tội lỗi và đẩy mình vào con đường đau khổ đã dẫn đường Chí đến nhà cụ Bá dù là đang trong cơn say
khướt. Hành vi của Chí hoàn toàn liều lĩnh và mang tính bột phát. Hơn nữa dù gì trong sâu xa bản chất
của Chí cũng chỉ là một nông dân thật thà đến mức gần như ngây thơ cho nên sự thất bại của Chí trong
lần đối đầu đầu tiên này là một chuyện rất hiển nhiên. Làm sao qua được kẻ khôn róc đời như Bá Kiến .
Bá Kiến lá kẻ tinh ma xảo quyệt, lắm mưu nhiều kế nên đối phó với Chí chẳng lấy gì là khó khăn. Chỉ
thoáng nhìn qua là Bá Kiến đã hiếu được ý đồ của đối phương. Nên Chí mới thất bại trong ê chề, cay đắng
với những lời vuốt ve, ngon ngọt cộng thêm vài đồng đã làm lóa mắt Chí. Từ một vị trí là kẻ đi hỏi tội kẻ
thù chỉ thoắt một cái ván cờ đã lật ngược: kẻ có tội lại ung dung như một kẻ ra ơn còn người hỏi tội lại
thành tay sai phục dịch cho kẻ thù mà không hay biết.
+ Lần thứ hai cũng trong dáng điệu say mèm Chí ngật ngưỡng đến nhà Bá Kiến gặp hắn để được xin đi tù.
Thật là một chuyện ngược đời. Thuở nay chưa thấy ai làm một chuyện phi lí đến mức dậy chắc chỉ có Chí
Phèo. Tuy là nghịch lí nhưng lại phản ánh đúng thực tại của Chí. Không có cơm ăn, áo mặc, một mảnh đất
cắm dùi cũng khoomg. Cảnh ngộ bi đát của Chí phần nào phản ảnh đúng hiện trạng xã hội lúc bấy giở đó
là người lầm đường lạc lối, trot sa chân vào cũng bùn của tội lỗi thì không sao rút chân ra được. chí bị tù
đến khi được trả về cuộc sồng đời thường thì lại không tìm được kế sinh nhai hay nói đúng hơn là không
được tiếp nhận và vì thế lại tiếp tục bị đẩy vào bước đường cùng. Nghe Chí nói với Bá Kiến mà thấy xót xa
trong dạ:” Bẩm quả đi tù sướng quá đi, ở tù có cơm ăn, bây giờ về làng về nước một thước cắm dùi không
có…”. Sự thật như thế ư? Nhà tù là chốn dung thân ư? Trên câu chử thì ta không thể nghĩ khác được.
Nhưng nếu nghĩ sâu xa một chút ta mới thấy ngỡ ngàng và lương tâm chẳng được thanh thản. Nếu như ý
nghĩa của nhà tù là để canh tỉnh, cải tạo con người, trả con người về với cuộc sống hoàn lương thì nhà tù
ở đây lại thực hiện ngược lại. Nó biến những kẻ lương thiện tơ thành một loại người lưu manh khốn nạn.
Nhà văn Huy-gô rất đúng khi nói” Khi chưa vào tù anh là một cành cây tươi , khi ra tù anh là một cây củi
khô”. Cũng như lần trước, Chí lại thất bại trước cái khôn róc đời của cụ Bá: bị gạt mà không hề nhận ra.
Âm mưu của Bá Kiến mới thâm độc làm sao.” Dùng độc trị độc”, dùng Chí Phèo để trị đội Tảo. Cả Chí và
đội Tảo đều là kẻ thù của hắn, nên và trăng có xảy ra xô xát, ai được, ai mất cụ Bá đều có lợi, vừa thỏa
mản được ý định trả thù vừa không phải mang tiếng là kẻ báo thù nhỏ nhen, đê tiện. Cũng kể từ đấy. Chí
mức phương hướng hẳn, hắn trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến.Hắn chìm ngập vào vũng bùn tâm tối
tội lỗi. Hắn mất dần ý niệm về thời gian, không biết tuổi tác cuộc đời mình”đã dài bao nhiêu năm rồi”.
Năm nối năm, tuổi nối tuổi,” ba mươi tám hay ba mươi chin? Bốn mươi hay ngoài bốn mươi?”. Bộ mặt
Chí Phèo giờ đây như” cái mặt của con vật lạ”với màu” vàng vàng mà lại muốn xạm màu gio” với bao
nhiêu là sẹo” vằn dọc vằn ngang”, vết mảnh chai ăn vạ kêu làng! Cuộc đời hắn chồng chất tội lỗi “ bao
nhiêu việc ức hiếp, phá phách đâm chém., người ta giao cho hắn làm”. Hắn đâm thuê chém mướn dể
kiếm tiền mà uống rượu. Những cơn say của hắn tràn cơn này sang cơn khác, thành một cơn dài, mênh
mông”hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say ,thức dậy hãy còn say, đập đầu, rạch mặt, chửi bới dọa nạt
trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận”.Chí Phèo bị mua chuộc, bị xô đẩy vào
con đường lưu manh,tội lỗi. Muốn giết người, muốn đâm chém và cướp giật cần gan và liều mạng, hắn
đã tìm đến rượu. Mất dần nhân tính, hắn trở thành con quỹ dữ làng Vũ Đại:”hắn biết đâu hắn đã phá bao
nhiêu cơn nghiệt, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước
mắt của bao nhiêu người lương thiện”.
+ Chí Phèo là điển hình cho một quy luật có tính phổ biến trong xã hội cũ đó là quy luật bần cùng hóa dẫn
đến lưu manh hóa. Nỗi đau lớn nhất của Chí Phèo là nỗi đau của một con người bị tàn phá về thể xác, bị
hủy diệt về tâm hồn ,bị xã hội cự tuyệt quyền làm người, đó là giá trị tố cáo, giá trị hiện thực mới mẻ của
tác phẩm.
B.QUÁ TRÌNH HỒI SINH:
-Diễn biến tâm lí,tình cảm của Chí Phèo/từ tỉnh rượu đến tỉnh ngộ:
+ Giữa lúc Chí đang rơi vào ngõ thẳm đêm đen của tội lỗi thì Nam Cao bằng tấm lòng nhân đạo sâu sắc.
Ông mang đến cho Chí một”thiên sứ”- Thị Nở với hi vọng cữu vãn linh hồn Chí Phèo.
+ Chí Phèo gặp Thị Nở ở bờ sông, trong lúc say. Thị Nở là” một người đàn bà dở hơi, xấu xí, ngẩn ngơ, ế
chồng”
+ Con người xấu đến”ma chê quỷ hờn”, kì diệu thay, Thị Nở lại là nguồn ánh sang duy nhất đã rọi vào
chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo để thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo, thắp sang qua bao
này tháng bị dập vùi, hắt hủi. Chính cuộc tình ngắn nủi với Thị Nở tron một đêm trăng đã vô tình thắp lên
ngọn lửa cuộc sống trong Chí. Có nhà phê bình đã cho rằng: thị Nở là một sứ giả mà Nam Cao phái đến để
thức tỉnh Chí Phèo.
+ Sáng hôm ấy, Chí Phèo tỉnh dậy” long buân khuâng mơ hồ buồn.” tiếng chim hót, tiếng ngời đi chợ,
tiếng thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá… Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có, n hưng hôm nay Chí
mới nghe thấy. Lòng hắn buồn” chao ôi là buồn!” Tiếng vọng của đời hường đã đánh thức linh hồn Chi.
Hắn nhớ lại những ngày xưa, một thời từng mơ ước, cái ước mơ bình dị của những người dân cày nghèo
khổ” có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải” nuôi lợn làm vốn liếng, khá giả thì
mua dăm ba xào ruộng. Càng hồi tưởng càng buồn càng lo âu. Ngòai bốn mươi tuổi đầu Chí cảm thấy, đã
tới cái dốc bên kia cuộc đời, và hắn lo, hắn sợ” đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói
rét và ốm đau”.
+ Bát cháo hành của Thị Nở làm cho Chí Phèo gần như thay đổi hẳn.Lần đầu tiên hắn được nếm mùi
cháo”trời ơi cháo mới thơm làm sao!”.Cũng lần đầu tiên hắn được chăm sóc bởi một bàn tay đàn bà.Mấy
chục năm qua hắn muốn ăn thì phải dọa,phải cướp thế mà”lần này là lần thứ nhất hắn được một người
đàn bà cho”. Chí Phèo vừa húp cháo hành vừa trìu mến nhìn Thị Nở, rồi hắn vẩn vơ nghĩ nhìn nghĩ xa. Lâu
nay hắn chỉ đâm chém và cướp giật” nếu không còn sức mà cướp giật, dọa nạt nữa thì sao. Thằng lưu
manh chỉ mạnh về liều. Sẽ có một lúc nào đó” không thể nào liều được nữa” thì bấy giờ mới nguy!
+Chí Phèo vốn là người lao động cùng khổ lương thiện”cái bản tính của hắn ngày thường bị lấp đi”.Cùng
với tình yêu,sự săn sóc của thị Nở,”trận ốm hay đổi hẳn về sinh lí,cũng thay đổi cả về tâm lí nữa”của Chí
Phèo.
-Khát khao hoàn lương và mong ước hanh phúc:
+ Chí mong muốn trở lại làm người lương thiện:” Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với
mọi người biết bao!... Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương
thiện”.
+ Chí khát khao hạnh phúc và có một gia đình:” Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”,” Hay là mình sang đây
ở với tớ một nhà cho vui.” Câu nới ấy là một câu nói “tình tứ”, đã biểu lộ chân tình cái khát khao muốn
được làm người,”thèm lương thiện” và” mốn làm hòa với mọi người” của Chí Phèo. Có nghe hắn chửi, có
nhìn thấy hắn rạch mặt, ăn vạ, có mục kích hắn say rượu vác dao đi đâm người… thì ta mới thấy xúc động
vô cùng trước những khao khát bình dị ấy của Chí Phèo, của con người đau khổ bất hạnh!... Câu trả lời
của Thị Nở sẽ quyết định số phận của hắn.
+ Như một kẻ chết đuối giữa vực sâu,Chí phèo”bám” được thị Nở cứ tưởng là vớ được cọc, đâu ngờ chỉ là rẽ
bèo. Chí Phèo” say thị lắm”, nhưng đến hôm thứ sáu thì Thị nghĩ bụng:” hãy dừng yêu để hỏi cô Thị đã”. Như
ta biết, con đường trở lại làm người của Chí Phèo vừa được hé mở ra đã bị đóng sầm lại! Bà cô đã đay
nghiến Thị Nở, bà thấy cháu sao” sao mà đỉ thế?”. Bà thấy nhục nhã, bà gào lên” như con ma dại”. Bà quyết
không cho phép cháu bà” đi lấy một thằng chỉ có một nghề rạch mặt ăn vạ”. Nhưng trách gì bà ta! Cách nhìn
của bà ta cũng chính là cách nhìn của mọi người ở làng Vũ Đại lâu nay đối với Chí phèo. Chỉ trừ Bá Kiến và thị
Nở ra, chứ còn ai nữa dám đi qua mặt Chí, dám đối diện với Chí! Tất cả quen coi hắn là” quỷ dữ” ,mát rồi.
hôm nay, linh hồn hắn trở về, nhưng không ai nhận ra; hắn” muốn làm hòa với mọi người” nhưng ai nhận!
Chí Phèo thực sự rơi vào bi kịch tinh thần, đau đớn, quằn quại. Hắn” ngẩn người” khi nhìn và nghe Thị nói.
Hắn: sửng sốt” đứng lên gọi Thị. Hắn đuổi theo” nắm lấy tay’ Thị, nhưng bị Thị gạt ra, dúi thêm cho một cái
gã” lăn khoèo xuống sân”. Chí Phèo vật vã trong cơn đau đớn tuyệt vọng. Hắn vớ một hòn gạch toan đập
đầu ăn vạ! Hắn phải “ đâm chết con đĩ Nở kia”, “ đâm chết cái con khọm già nhà nó”. Hắn lại uống, lại uống…
nhưng “ càng uống càng tỉnh ra”, tỉnh ra để thấm thía nỗi đau vô hạn của thân phận mình: quyền làm người
được sống lương thiện đã bị xã hội và đồng loại dứt khoát cự tuyệt. rồi “ hắn ôm mặt khóc rưng rức” cho
đến khi hắn đã say mềm người rồi hắn đi. Hăn sra đi với một con dao ở thắt kuwng với câu nới lảm nhảm:”
Tao phải đâm chết nó”. Chính vào buổi trưa” trời nắng, đường vắng”ấy, chí Phèo lần thứ ba đến gặp Bá
kiến” không đòi tiền” như mọi khi mà đòi lương thiện, đòi quyền” làm người lương thiện!”. câu nới của Chí
Phèo”… Ai cho tao lương thiện? làm thế nào cho mất được hết những vết mảnh chai trên mặt này? Tao
không thể là người lương thiện nữa. Biết không!...” đó là những lời đan thép vạch mặt, kết án tên cường hào
xảo quyệt Bá Kiến, đồng thời là tiếng kêu thương tuyệt vọng của một kiếp người đau khổ! Chí Phèo” văng
dao tới” giết Bá Kiến rồi tự sát. Chí đã giết chết con quỷ dữ làng Vũ Đại đã làm hại đời anh. Chí không muốn
sống nữa, vì giờ đây, ý thức về nhân phẩm đã trở về. Chí không thể sống kiểu lưu manh, không thể làm quỷ
dữ, sống như thú vật được nữa. chí Phèo đã chết bi tảm, quằn quại trên vũng máu của mình, chết trong
tiếng kêu uất hận đau thương, đầy xót xa, ám ảnh. Anh ta đã chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc đời, khi cánh
cửa cuộc đời đóng chặt trước mắt anh.
+Bi kịch của CP là bi kịch của một con người cố gắng vùng vẫy ngoi lên nhưng càng cố gắng thì càng bị đạp
xuống sâu hơn không ngốc đầu lên được.
-Bản cáo trạng tố cáo xã hôi đương thời:
+Tác giả tố cáo xã hội phong kiến bất công, đã khiến con người sinh ra là người mà không được làm người.
+Tố cáo Bá Kiến,Lí Cường,một kẻ cáo già lọc lõi,nham hiểm,đại diên cho bọn địa chủ cường hào ở nước ta
thời TCM.
+Tố cáo làng VĐ là hình ảnh cái xã hội thực dân phong kiến thối ná,cái ác ngự trị,vô tình nhẫn tâm không
xem CP là người,không dám dang tay cứu giúp CP.
+Tác giả muốn thể hiện bản chất tốt đẹp của người dân lao động ngay cả khi tưởng họ đã bị xã hội tàn bạo
cướp đoạt tất cả.Cái chết của CP:đánh đổi sự sống để khẳng định nhân cách cá nhân,quyền làm người.
->Bản cáo trạng đanh thép tố cáo xã hội tàn bạo bất công đã đạp con người xuống vũng bùn,không cho
người ta được làm người lương thiện.
Kết Bài:SGK/156
Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…
- Ý nghĩa nội dung:
+ “Cái lò gạch cũ” vốn là nơi Chí Phèo bị bỏ rơi lúc lọt lòng, giờ đây khi Chí
Phèo vừa chết lại xuất hiện trong ý nghĩ của thị Nở ở kết thúc truyện, đã gợi ra
được sự quẩn quanh, bế tắc trong tấn bi kịch tha hóa và bị cự tuyệt quyền sống
lương thiện của người nông dân.
+ Kết thúc truyện thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao: đồng cảm với
nỗi thống khổ của người nông dân dưới ách thống trị tàn bạo của bọn địa chủ
phong kiến, trân trọng khát vọng được sống lương thiện của họ.
- Ý nghĩa nghệ thuật
+ Truyện kết thúc bằng cách lặp lại hình ảnh ở phần mở đầu tạo nên kết cấu đầu
cuối tương ứng gợi ra vòng tròn luẩn quẩn của thân phận Chí Phèo, giúp tô đậm
chủ đề tư tưởng: cuộc đời Chí Phèo tuy kết thúc nhưng tấn bi kịch Chí Phèo sẽ
vẫn còn tiếp diễn.
+ Kết thúc truyện vừa khép vừa mở dành nhiều khoảng trống cho người đọc tưởng
tượng và suy ngẫm, tạo ra được dư âm sâu bền đối với sự tiếp nhận
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT HUẤN CAO TRONG TÁC PHẨM CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
MB:
+Nguyễn Tuân là cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam cả trước và sau Cách mạng. Trước Cách
mạng, Nguyễn Tuân nổi tiếng với các tác phẩm: Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua, Chùa Đàn…
sau cách mạng nhà văn để lại dấu ấn sâu sắc qua một số tùy bút: Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, Sông Đà…
+Chữ người tử tù là tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Tuân trích trong tập Vang bóng một thời. Nổi bật
trong tác phẩm Chữ người tử tù đó chính là hình tượng người anh hùng Huấn Cao mang vẻ đẹp tài hoa và
khí phách anh hùng lẫm liệt khiến mỗi lần gấp trang sách lại ta không thể nào quên.
TB:
+Huấn Cao là một anh hùng thời loạn hội tụ những phẩm chất tài năng: khí phách hiên ngang – thiên
lương trong sáng – tài hoa uyên bác. Huấn Cao là một nguyên mẫu lịch sử có thật của thế kỉ XIX, là hiện
thân của võ tướng – người anh hùng của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, một nhà thơ, nhà thư pháp Cao Bá
Quát lững lẫy một thời. Qua ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, nguyên mẫu lịch sử này đã tự nhiên đi vào
trang văn và hiện lên lung linh sáng tỏa trên từng con chữ.
+Ngay từ đầu tác phẩm, Huấn Cao đã hiện lên như ánh hào quang phủ kín cả bầu trời tỉnh Sơn. Qua lời
trò chuyện của quản ngục và thơ lại ta thấy tiếng tăm của Huấn Cao đã nổi như cồn. Điều làm cho bọn
ngục quan phải kiêng nể không chỉ là tài viết chữ đẹp mà còn là “tài bẻ khóa, vượt ngục” của ông Huấn.
Tuy nhiên, đây không phải là trò của bọn tiểu nhân vô lại đục tường khoét vách tầm thường mà là hình
ảnh của một người anh hùng ngang tàng, một nam tử Hán đại trượng phu “Đỉnh thiên lập địa” không cam
chịu cảnh tù đày áp bức, muốn bứt phá gông cùm xiềng xích để thoát khỏi vòng nô lệ. Huấn Cao mang cốt
cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu. Những kẻ theo học đạo Nho thường thể hiện lòng
trung quân một cách mù quáng. Nhưng trung quân để rồi “dân luống chịu lầm than muôn phần” thì hóa
ra là tội đồ của đất nước. Ông Huấn đã lựa chọn con đường khác: con đường đấu tranh giành quyền sống
cho người dân vô tội. Bị triều đình phán xét là kẻ tử tù phản nghịch, tội xử chém, là “giặc cỏ” nhưng trong
lòng nhân dân lao động chân chính ông lại là một anh hùng bất khuất, một kẻ ngang tàng “chọc trời
khuấy nước” sống ngoài vòng cương tỏa. Tuy chí lớn của ông không thành nhưng ông vẫn hiên ngang bất
khuất, lung linh sáng tỏa giữa cuộc đời.
+Trước uy quyền của nhà lao, con người ấy càng sáng tỏa. Trò tiểu nhân thị oai, dọa dẫm của bọn tiểu lại
giữ tù càng làm cho ông thêm phần ngang ngạo. Ông vẫn giữ thái độ bình thản, xem thường, dỗ gông,
phủi rệp, hóm hỉnh đùa vui. Huấn Cao “cúi đầu thúc mạnh đầu thang gông xuống đất đánh thuỳnh một
cái” làm vỡ tan đi chốn trang nghiêm của chốn ngục tù. Đó là thái độ ngang tàng, bất chấp luật pháp của
một xã hội dơ bẩn.
+Người xưa thường nói “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” (Một ngày ở trong tù bằng nghìn thu ở
ngoài). Thay vì buồn rầu, chán nản “gậm một mối căm hờn trong cũi sắt” thì ông lại thản nhiên nhận rượu
thịt và ăn uống no say coi như một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình. Chứng tỏ ông nào xem nhà tù là
chốn ngục tăm tối mà chỉ xem nhà tù như một chốn dừng chân để nghỉ ngơi “Chạy mỏi chân thì hẵng ở
tù”.
+Đối với quản ngục, Huấn Cao rất: lạnh lùng, khinh bạc xưng hô "ta - ngươi", miệt thị hạ nhục “Ngươi bảo
ta cần gì, ta chỉ cần ngươi đừng đặt chân vào đây nữa”. Cách trả lời ngang tàng, ngạo mạn đầy trịch
thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn hiên ngang, kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ
nữa là...” Ông không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức
được vị trí của mình trong xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn “cặn bã” của xã
hội. “Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê,
không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông, chỉ có “thiên lương” , bản chất tốt đẹp của con người mới
là đáng quý. Có lẽ chính vì vậy mà khi nghe tin xử trảm: ông vẫn thản nhiên, không sợ hãi, chỉ khẽ mỉm
cười, bất chấp cái chết, coi thường cái chết.
+Bên cạnh dũng khí ngất trời của một bậc hảo hán, vẻ đẹp của Huấn Cao còn là vẻ đẹp của con người tài
hoa. Ông có tài viết chữ đẹp. Tài viết chữ đẹp của Huấn Cao do đó là biểu hiện của nét đẹp của văn hoá
một thời. "Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm". Đẹp đến mức người ta khát khao, ngưỡng vọng "có
được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời". Tuy nhiên, ông lại là người có ý thức giữ gìn cái
đẹp, có lòng tự trọng: “ Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”.
Nỗi khổ của quản ngục là có Huấn Cao trong tay, dưới quyền mình nhưng lại không thể nào có được chữ
ông Huấn. Quản ngục và Huấn Cao là hai con người ở hai thế giới cách biệt, đối lập nhau: Quản ngục đại
diện cho thế lực nhà tù, nắm giữ pháp luật; Huấn Cao là kẻ tử tù . Huấn Cao là người sáng tạo cái đẹp;
quản ngục là người yêu quý cái đẹp lại là người bị ông trời “chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào
giữa một đống cặn bã”. Trên bình diện xã hội họ là hai kẻ đối lập nhưng trên bình diện nghệ thuật họ lại
là tri âm tri kỷ. Tình huống truyện là ở chỗ ấy, cả hai kẻ lại gặp nhau trong cảnh éo le này.
+Lúc hiểu được tấm lòng viên quản ngục: Ông Huấn “lặng nghĩ”, “mỉm cười”, ngạc nhiên “ta cảm cái tấm
lòng biệt nhỡn liên tài... thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Lời nói rất chân tình,
xúc động. Điều này cho thấy Huấn Cao là một người hiên ngang, khí phách nhưng cũng rất có nghĩa khí.
Không thể phụ một “thanh âm trong trẻo chen lẫn giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.
-Cảnh cho chữ:
+Hai con người đồng nhất tỏa sáng trong đêm cho chữ “Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Nguyễn
Tuân đã dồn hết bút lực của mình vào cảnh này. Nhà văn đã huy động vốn ngôn ngữ, tâm huyết và tài
năng của mình dồn tụ lại trong một không khí cổ xưa hoành tráng của nghệ thuật thanh cao: VIẾT THƯ
PHÁP.
Nhà văn dựng cảnh thật tài tình và đầy dụng ý nghệ thuật. Thủ pháp tương phản làm nên cảnh cho chữ bi
tráng chưa từng thấy. Đó là sự đối lập giữa bóng tối và ánh sáng; giữa sự dơ bẩn của xã hội nhà tù và
thiên lương trong sáng, khí phách rạng ngời. Tương phản giữa bó đuốc sáng rực trên vách nhà với đêm
đen thăm thẳm; tương phản giữa vuông lụa trắng, thoi mực thơm và tường nhà, đất đầy mạng nhện, đầy
phân chuột, phân gián. “Ở đây sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối cứ giằng co nhau quyết liệt. Bóng tối
quánh đặc như muốn nuốt tươi ánh sáng. Nhưng không, ánh sáng ở đây vẫn ngời chói vẫn ngời tỏ, sáng
rực, chứ không như ánh sáng leo lét, buồn rầu của ngọn đèn con chị Tý và ánh sáng rực tỏa, chói lọi như
đoàn tàu rồi lại chìm vào hư không của bóng đêm trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam. Song
xét sâu xa hơn thì ánh sáng đó không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa sắc màu vật lý mà ánh sáng đó mang
sắc màu ý nghĩa nhân sinh đậm nét: ánh sáng của sự lương tri, của nhân tâm, của thiên lương trong sáng
đã chiến thắng bóng tối của cường quyền, bạo lực. Sự chiến thắng đó là điều tất yếu sẽ xảy ra, bởi vì mọi
cái thiện, cái cao cả, chính nghĩa cuối cùng sẽ chiến thắng. Với ánh sáng ấy đã cảm hóa con người một
cách mạnh mẽ, nâng đỡ những con người có đức, mến mộ cái tài, nhưng yếu ớt trở về cuộc sống lương
thiện... Sự chiến thắng đó là bản hùng ca, ca ngợi chữ tâm của con người thiên lương”
Viết thư pháp là nơi thư phòng thư sảnh sạch sẽ thoáng mát, có hoa có nguyệt, có men rượu cay nồng.
Nhưng khung cảnh thường thấy ấy lại không hiện diện nơi đây. Ở đây, sự dơ bẩn, phàm tục được hiện
hữu rất rõ: “một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”.
Sự nhem nhuốc, phàm tục lên đỉnh điểm. Nhưng sự xuất hiện của phiến lụa, của thoi mực thơm đã xua
tan đi mùi ô uế. Nhưng sự ô uế dần dần biến mất, bởi “Cái đẹp là địa hạt của sự sống, cái đẹp đã lên ngôi
thay thế cho cái xấu xa, thấp hèn, cái đẹp nâng đỡ con người”. Vì thế dù “Cổ đeo gông chân vướng xiềng”
nhưng ông Huấn vẫn tung hoành ngang dọc cái khát khao của đời mình lên từng vuông lụa trắng. Đó là
thái độ uy nghi, đường hoàng, một thái độ của “hùm thiêng” khi đã “sa cơ” mà chẳng hèn chút nào. Thái
độ ấy, đúng là “Thân thể ở trong lao - Tinh thần ở ngoài lao”. Người tù ấy đã ngự trị nơi bóng tối này với
một dáng vóc uy nghi, lẫm liệt thật đường hoàng làm cho bọn quản lý nhà ngục phải khiếp sợ, kính nể:
“viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa” và “thầy
thơ lại gầy gò run run bưng chậu mực”. Nét chữ của ông như rồng bay phượng múa, thiên lương của ông
tỏa sáng lồng lộng chốn ngục tù. Tài hoa và thiên lương và khí phách đã hợp nhất thành Huấn Cao. Kỳ lạ
thay, trong cảnh cho chữ này, pháp luật và uy quyền của nhà tù đã bị sụp đổ. Uy quyền và bạo lực giờ đây
đã tan biến, nó bị khuất phục bởi cái đẹp, cái thiên lương. Ở đó không còn tử tù và quản ngục, thơ lại. Ở
đó chỉ còn những con người yêu quý và biết thưởng thức cái đẹp. Cái xấu xa, cái ác, cái chết chóc nhường
chỗ cho cái đẹp, cái bất tử. “Điều đó cho thấy rằng trong nhà tù tăm tối, hiện thân cho cái ác, cái tàn bạo
đó, không phải cái ác, cái xấu đang thống trị mà chính cái Đẹp, cái Dũng, cái Thiện, cái cao cả đang làm
chủ. Với cảnh cho chữ này, cái nhà ngục tăm tối đã đổ sụp, bởi vì không còn kẻ phạm tội tử tù, không có
quản ngục và thư lại, chỉ có người nghệ sĩ tài hoa đang sáng tạo cái đẹp trước đôi mắt ngưỡng mộ sùng
kính của những kẻ liên tài, tất cả đều thấm đẫm ánh sáng thuần khiết của cái đẹp, cái đẹp của thiên lương
và khí phách. Cũng với cảnh này, người tử tù đang đi vào cõi bất tử”.
+Lời khuyên của Huấn Cao đối với quản ngục lại một lần nữa khẳng định cái đẹp, cái thiên lương của con
người: “Ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một
bức lụa với những nét chữ vuông vắn, tươi tắn nó nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con
người”. Lời khuyên của Huấn Cao đã khẳng định rằng: cái đẹp, cái thiên lương không bao giờ và không khi
nào lại có thể chung sống với cái xấu, cái ác: “Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững được và rồi cũng
nhen nhuốm mất cả cái đời lương thiện đi”. Một lời khuyên thật thiện tâm, thiện ý của Huấn Cao đã làm
cho viên quản ngục cảm động: “vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ
miệng làm cho nghẹn ngào: - Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Câu nói : “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” đã cho
thấy rằng: cái đẹp, cái thiện, cái tài hoa đã chiến thắng tuyệt đối. Cái đẹp của nghệ thuật đã xóa nhòa mọi
khoảng cách và ranh giới đưa con người đến với nhau trong vẻ đẹp Chân – Thiện – Mỹ.
KB:SGK/115
PHÂN TÍCH NHÂN VẬT LIÊN TRONG TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM.
MB:
+ Thạch Lam là một trong những cây bút văn xuôi xuất sắc nhất văn học Việt Nam trong giai đoạn 19301945.
+ Thạch Lam có quan niệm văn chương tiến bộ lành mạnh, ông có biệt tài về truyện ngắn.
+ Văn phong của Thạch Lam trong treo, nhẹ nhàng, gợi cảm. Và đằng sau những rang văn tinh tế đầy cảm
xúc ấy là tấm lòng trắc ẩn đối với những kiếp người nghèo khổ trong xã hội cũ.
+ Thạch Lam là một gương mặt khá đặc biệt của tự lực văn đoàn. Các tác giả khác của tự lực văn đoàn
thường hướng ngòi bút về những con người “ lá ngọc cành vàng” sang tác của học hường đượm nỗi buồn
lãng mạn. Trong khi đó Thạch Lam lại hướng ngòi bút của mình về những con người nhỏ bé có những bất
hạnh đâu khổ trong cuộc sống, sáng tác của Tach Lam lại chất chứa nỗi đau hiện thực.
+ Tuy được xem là nhà văn thuộc khuynh hướng lãng mạn, nhưng cũng có truyện thiên về hiện thực.
Truyện” Hai đứa trẻ” lại hòa quyện giữa hai yếu tố lãng mạn và hiện thực.
+ Hai đứa trẻ được rút từ tập truyện ngắn” nắng trong vườn” xuất bản năm 1938.
+ Truyện ngắn Hai đứa trẻ là tiêu biểu cho khuynh hướng và phong cách nghệ thuật của Thạch Lam.
+Hai đứa trẻ là một truyện ngắn trữ tình, được Thạch Lam thể hiện nhẹ nhàng mà thấm thía niềm xót
thương đối với những kiếp người sống cơ cực quẫn quanh, bế tắc trong xã hội cũ. Đồng thời ôn thể hiện
sự trân trọng với những ước mong vươn tới mộ cuộc sống tốt đẹp hơn.
+ Truyện ngắn dường như không có cốt truyện dựa trên cơ sở diễn biến tâm trạng nhân vật chính là Liên.
TB:
+ Liên là một cô bé nhỏ tuổi, độ tuổi ngây thơ, trong sang, độ tuổi mà” biết ăn ngủ biết học hành là
ngoan” dưới ngòi bút của Thạch Lam Liên hiện lên với hình ảnh của một cô bé như già đi trước tuổi. Tuổi
thơ chìm trong nỗi buồn của sự tàn tạ của một cuộc sống đầy bong tối. Đối với tâm hồn thơ bé ấy đoàn
tàu đêm từ Hà Nội về chạy qua phố huyện chính là niềm vui nhỏ bé , le lói.
+ Thầy Liên mất việc cả gia đình phải dọn từ Hà Nội về phố huyện nhỏ bé Cẩm Giàng- Hải Dương, một nơi
đói nghèo với những kiếp người nhỏ bé lay lắc. Bản thân gia đình Liên chẳng khá giả gì, mẹ làm hàng sáo,
chị em Liên trông coi gian hàng tạp hóa nhỏ xíu với nhữn món hàng lặt vặt chẳng bán được bao nhiêu.
Liên là một cô bé nhạy cảm hay động lòng trắc ẩn. Tâm trạng của Liên diễn biến theo thời gian từ chiều
hôm cho đến khi đoàn tàu ngang qua phố huyện.
A.CẢNH CHIỀU MUỘN:
-Cảnh ngày tàn:
+Bức tranh phố huyện mở ra với tâm trạng buồn man mác của Liên khi chứng kiến cảnh phố huyện
nghèo lúc chiều muộn nghèo khổ,tiêu điều.Bức tranh mở đầu bằng âm thanh của”tiếng trống thu không
tên cái chòi của huyện nhỏ,từng tiếng một vang ra để gọi chiều về”.Đó là âm thanh báo hiệu ngày tàn và
cũng là âm thanh chấm hết của một ngày đầy ánh sáng thay vào đó là bóng tối,nỗi buồn.Nền của bức
tranh chiều bao trùm bởi”Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than
sắp tàn”.Trên nền trời”dãy tre làn trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt”.Tiếng trống thu không điểm từng
tiếng một đã lôi kéo thêm”tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”.Đấy là cảnh
xa,cảnh nền của”Một chiều êm ả như ru”.Đó cũng là thời khắc mở ra thế giới tâm trạng của Liên”trong
đôi mắt Liên bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngay thơ của
chị.Liên không hiểu sao nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”.Hai chị em
nhìn ra phố”các nhà đã lên đèn cả rồi”.Từ những ngọn đèn ấy người đọc có thể đoán ra người nghèo,kẻ
giàu:”đèn treo trong nhà bác phở Mĩ,đèn dây sáng xanh trong hiệu khách”chắc chắn sáng hơn ngọn “đèn
hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu”,ngọn đèn trong cửa hàng của chị em Liên.Và “những nguồn sáng ấy đều
chiếu ra ngoài phố khiến cát lấp lánh từng chỗ và đường mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ một bên
sáng một bên tối”,đó là cái khéo,cái tinh tế trong miêu tả của TL.
-Cảnh chợ tàn:
-Thêm vào đó là cảnh chợ tàn”Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất.Trên đất chỉ còn rác rưởi,vỏ thị ,vỏ
bưởi,lá nhãn và lá mía”.Một mùi âm ẩm bốc lên lẫn với mùi cát bụi quen thuộc,khiến chị em Liên tưởng là
mùi riêng của đất,của quê hương này.Liên động lòng thương những mảnh đời cơ cực đó chính là hình
ảnh”mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm òi.Chúng nhặt nhanh
thanh nứa,thanh tre hay bất cứ cái gì có thể dùng được”,hình ảnh đó như khắc sâu vào lòng trắc ẩn của
Liên,nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó.
-Cảnh những kiếp người tàn:
+Trong cảnh xác xơ,tiêu đồ hiện lên những mảnh đời lầm lũi,đáng thương:
Cuộc đời mẹ con chị Tí như gắn liền với màn đêm bóng tối.”Thằng cu bé xách điếu đóm và khiên cái ghế
trên lưng ở trong ngõ đi ra.Mẹ của nó,chị Tí đi theo sau”đội cái chõng trên đầu và tay mang không biết
bao nhiêu là đồ đạc”,ngày thì đi mò cua bắt tép,tối đến chị mới dọn cái hàng nước,hàng nước thì ít vốn
,vắng khác,nhưng hôm nào chị cũng dọn ra từ chiều đến đêm,hai mẹ con chị Tí cố gắng cầm cự cuộc sống
trong vô vọng.
Bác phở Siêu thì có nguy cơ phá sản vì không bán được hàng”ở cái huyện nhỏ này,quà bác Siêu là một
thứ quà xa xỉ”
Gia đình bác Xẩm:ngồi tr6n manh chiếu,cái thau sắt trắng để trước mặt,nhưng bác chưa há vì chưa có
khách, sự nghèo khó không thể cứu vãn.
Bà cụ Thi:hơi điên,nghiện rượu,tiếng cười khanh khách,đi lần vào bóng tối.
->Tất cả những con người ấy làm những việc quen thuộc của mình,nhưng dường như không phải vì mục
đích đó.Họ làm vì thói quen?Vì để tránh sự buồn chán vào ban đêm ở phố huyện nghèo?hay làm vì
“chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”
-Đồ vật tàn:
+Bao quanh họ là những đồ vật tồi tàn:ngôi quán ọp ẹp,chõng gãy,chiếu rách,đàn còm, bát sứt…những
con người ,những đồ vật,cảnh vật đó tạo nên gương mặt âm u,ảm đạm,buồn thiu của phố huyện.
=->Cảm nhận TG của 2 đứa trẻ,đặc biệt là Liên là một thế giới như lụi dần và tắt dần.
B.CẢNH ĐÊM VỀ:
+Tâm trạng buồn thấm thía của Liên khi phố huyện lúc đêm về,tất cả đều chìm trong bóng tối,cuộc sống
lặp lại đến buồn tẻ,quẩn quanh,bế tắc.
+Thạch Lam đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật đối lập để miêu tả bóng tối và ánh sáng. Nếu như bóng tối
nuốt chửng tất cả phố huyện vào trong cái dạ dày tối thui của nó thì ánh sáng xuất hiện với tần số thấp.
Đó chỉ là “hột sáng”, “khe ánh sáng”, “đốm sáng”, “vệt sáng”…Hay hình ảnh ngọn đèn nơi hàng nước chị
Tí được nhắc đi nhắc lại nhiều lần vừa mang ý nghĩa thực cho ta thấy cảnh sinh hoạt của phố huyện đồng
thời vừa gơi lien tưởng mang ý nghĩa biểu tượng,ánh sáng ngọn đèn dầu tù mù,leo lét,lay động gợi ta lien
tưởng các kiếp người nhỏ bé cũng sống leo lét,lay lắt trong đêm dài trong xã hội cũ.Mỗi cư dân nơi phố
huyện khi đêm về kiếm sống trong đêmđều mang theo ngọn đèn.Vả chăng,cái số phận kiếp người ấy cũng
giống như ngọn đèn mà họ mang trên tay,nó cũng tù mù leo lét như thế.Tất cả đều hiện lên thật bé nhỏ
tội nghiệp “ mất đi rồi lại hiện ra trong đêm tối”. Và cùng với ánh sáng nhỏ nhoi, yếu ớt đó là những phận
người với cuộc sống bấp bênh, trôi nổi và lụi tàn, le lói như ngọn đèn trước gió. Liên thương hết thảy
những con người nơi phố huyện nhỏ bé này. Đó chính là chị Tý với cuộc đời cơ cực “mò cua bắt ốc”, tối
đến cùng ghánh hàng nghèo xơ xác chỉ với bát nước chè, điếu thuốc lào, thanh kẹo lạc… tất cả gia tài
mưu sinh bên ngọn đèn con chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Liên thương bác phở Siêu với ghánh phở xa
xỉ, ế ẩm nhưng đêm nào cũng thấy bác dọn hàng. Thương bác xẩm với manh chiếu rách tả tơi cùng chiếc
thau trắng trống trơn chưa một niềm hi vọng, thương lắm những tiếng đàn bác góp chuyện bật trong yên
lặng. Thương bà cụ Thi điên đơn chiếc với tiếng cười chìm vào bóng tối … Cuộc sống phố huyện là như
vậy. Đơn điệu, tẻ nhạt. Đêm nào cũng như đêm nào, cứ lặp đi lặp lại:
Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu
Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người
Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười
Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện.
Điều gì có thể làm chị em Liên quên đi được thực tại này ? May ra chỉ có vũ trụ là cơ hội cuối cùng để ru
hai chị em vào những miền cổ tích. Cảnh hai chị em ngẩng mặt lên trời tìm con vịt theo sau ông thần nông
cho thấy: tâm hồn hai đứa trẻ thật hồn nhiên, vô tư trong sáng và rất đỗi trẻ con. Nhưng buồn thay, bầu
trời đầy sao trên kia cũng không thể nào cứu vớt được hai sinh linh bé nhỏ, tội nghiệp ấy. Bởi “vũ trụ bao
la và thăm thẳm như chứa đầy bí mật và xa lạ với hai đứa trẻ”. Để rồi cuối cùng chính chúng lại quay về
với quang cảnh phố chung quanh mà đặc biệt là ngọn đèn con của chị Tý. Và cứ thế trong đêm tối những
con người tội nghiệp ngồi chờ đợi một điều gì đó cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.
C.Cảnh chuyến tàu đêm qua phố huyện và ý nghĩa của đoàn tàu(niềm vui của Liên khi đợi tàu và nỗi
buồn khi đoàn tàu đi qua)
+Và đoàn tàu từ Hà Nội về đã thực sự là ước mơ và khát vọng của người dân phố huyện. Họ thức đợi
chuyến tàu vì mưu sinh hay vì lí do nào khác nữa. Tất cả thao thức, đợi chờ như thể đợi chờ một phép
màu sẽ đến. Họ mong bán được chút hàng để gỡ gạc cho cuộc sống ngày mai. Còn riêng hai đứa trẻ,
chúng không thức đợi chuyến tàu để bán hàng mà vì lí do khác. Chúng muốn được nhìn thấy đoàn tàu
qua phố huyện vì đoàn tàu như mang một thế giới khác đi qua đủ làm cho chúng rạo rực và ánh lên niềm
vui sướng dù chỉ là trong chốc lát. Vì thế đêm nào cũng vậy dù buồn ngủ ríu cả mắt nhưng cả hai chị em
vẫn cố thức để đợi chuyến tàu. Điều đó cho thấy đoàn tàu là một hình ảnh đã trở thành quen thuộc và ăn
sâu trong tâm hồn hai đứa trẻ và chờ tàu đã trở thành một khát vọng mãnh liệt và là một món ăn tinh
thần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng.
+Sự mong mỏi của chị em Liên với đoàn tàu quả thật đã làm người đọc xúc động mãnh liệt. Mới bảy, tám
tuổi mà mẹ bắt trông coi cửa hàng tạp hóa đã là việc làm quá sức lại còn bắt thức cho tới khuya để chờ
bán hàng thì quả là tội nghiệp. Nhưng Liên và An thức tới khi đoàn tàu đi qua phố huyện không phải là
nghe lời mẹ mà là chúng đang hành động theo tiếng gọi của con tàu. “Tàu đến chị đánh thức em dậy
nhé!”. Đó là câu nói của An khi mí mắt đã sụp xuống trong cơn buồn ngủ rồi mà vẫn còn dặn với chị. Câu
nói bình thường thế mà sao mới nghe qua đã thấy xót thương. Nó chứa đựng trong đó là tất cả niềm khát
khao và hi vọng được nhìn thấy đoàn tàu – hoạt động cuối cùng của đêm khuya. An đi vào giấc ngủ, Liên
ngồi im lặng, đầu óc chị bỗng dưng cũng yên tĩnh lạ thường. Yên lặng đến nỗi có thể nghe được “hoa
bàng rụng xuống vai Liên từng đợt một, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”. Dường như nhà văn
muốn cho nhân vật của mình được nghỉ ngơi sau một ngày dài mỏi mệt. Thế rồi thoáng trong tiếng gió xa
xôi là tiếng đoàn tàu vụt đến. Rồi tiếng reo thảng thốt, mừng rỡ của bác Siêu “Đèn ghi đã ra kia rồi!”. Liên
cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại, trong
đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi. Đó là lúc mà Liên vội vã đánh thức em “ dậy đi An, tàu đến rồi!”. Lời
giục dã gấp rút, hối thúc như thể nếu An không dậy thì sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy đoàn tàu
nữa. Thạch Lam không dùng từ ngữ nào để miêu tả sự háo hức của hai chị em mà cái háo hức ấy vẫn cứ
hiện lên thật sống động và giàu chất nhân văn.
+Hai chị em đứng chờ đoàn tàu từ đằng xa. Chúng có dịp chiêm ngưỡng cái kẻ đã làm chúng đợi chờ ấy
bằng cách đứng gần hơn nữa. Và rồi “tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua”.
Đây là phút giây hạnh phúc nhất là lúc mà Liên và An dường như quên hết thảy những nỗi buồn hiện tại,
quên cả những đói nghèo lam lũ, ê chề đang bao vây cuộc đời họ. Trong lòng họ giờ đây chỉ có đoàn tàu.
Đoàn tàu mang thứ ánh sáng mạnh mẽ, khác thường ngang qua phố huyện “các toa đèn sáng trưng,
chiếu ánh cả xuống đường… những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh,
và các cửa kính sáng”. Đó là ánh sáng của sự sang trọng, văn minh, thứ ánh sáng khác xa với những ánh
sáng yếu ớt, nhỏ bé nơi phố huyện. Đoàn tàu giống như một tia chớp, một ngôi sao băng rạch ngang qua
bầu trời phố huyện rồi mất hút vào đêm tối nhưng cái ánh sáng của nó là ước mơ và khát vọng của biết
bao nhiêu số phận con người bé nhỏ đang mong ngóng. Đoàn tàu mang một thế giới khác đi qua, chính là
khát vọng muốn được đổi đời của họ. Họ gửi theo chuyến tàu cả tâm hồn của mình, họ muốn được đến
với những chân trời mới, nơi đó có ánh sáng của văn minh của no đủ. Nơi đó sẽ không còn cảnh đói
nghèo lam lũ, không có cảnh đơn điệu và buồn tẻ mà ăm ắp niềm vui. Họ xứng đáng được nhận một cuộc
sống như thế, tại sao không? Nhưng ước mơ chỉ là ước mơ. Tất cả lại quay về với quầng sáng thân mật
xung quanh ngọn đèn con chị Tý. Chấm hết cho một đêm đợi chờ trong khát vọng và kết thúc bằng nỗi
buồn rưng rưng nước mắt.
+Liên và An đứng lặng người trong bóng tối dù chuyến tàu đã “đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ
bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa
xa mãi rồi khuất sau rặng tre”. Sự nuối tiếc của họ dường như đã phơi bày tất cả một cuộc sống nghèo
nàn, bế tắc. Nhất là khi họ tự nhận thức rằng “ Tàu đêm nay không đông và dường như kém sáng hơn ”.
Nghĩa là đoàn tàu cũng chỉ xoa dịu một chút nỗi đau trong tâm hồn hai đứa trẻ chứ không thể nào phá vỡ
bức tường thành mang tên “nỗi buồn” của chúng. Và Liên lặng người đi trong suy tưởng, đằng sau ánh
sáng của đoàn tàu và tiếng động cơ gầm vang đó là một thế giới rất riêng tư. Đó chính là nỗi nhớ về Hà
Nội nơi có ánh sáng của những ngọn đèn, nơi vui vẻ và huyên náo. Nơi đó là vùng sáng trong tâm tưởng
và cũng là vầng sáng trong ký ức tuổi thơ. Nơi mà ngày xưa chị em Liên được đi chơi bờ Hồ, được uống
những cốc nước lạnh xanh đỏ. Ký ức tươi đẹp thế nhưng giờ họ lại bị cầm tù giữa biết bao nhiêu là buồn
bã. Chính đoàn tàu đã mang lại cho Liên liều thuốc an thần và khơi dậy trong tiềm thức biết bao điều tươi
đẹp. Cuộc sống ấy thực sự khác xa với cuộc sống ở nơi này nhiều lắm nhưng biết làm sao được khi ký ức
không thể trở về. “ Một quá khứ huy hoàng. Một hiện tại mong manh. Một tương lai mù mịt”. Đáng buồn
thay!
Cuối cùng Liên cũng đi vào giấc ngủ, một giấc ngủ chập chờn hình ảnh ngọn đèn con của chị Tý . Một giấc
ngủ tịch mịch và đầy bóng tối. Đó chính là một sự ám ảnh về cuộc sống bế tắc, tù đọng không lối thoát mà
biết đến bao giờ chị em Liên mới có thể đổi thay
Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐƠI TÀU:Trong tập
Gía trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm:trong tập
KB:
+Với lối viết nhẹ nhàng, mỗi truyện tựa như một bài thơ trữ tình đầy xót thương, Thạch Lam đã mang
đến cho người đọc sự đồng cảm sâu sắc về những thân phận cuộc đời trong xã hội cũ. Qua nhân vật Liên
nhà văn đã làm toát lên những giá trị nhân văn cao đẹp, giúp chúng ta thấu hiểu nỗi buồn đau của dân tộc
trong thế kỷ bạo tàn dưới ách đô hộ của bọn thực dân và đế quốc. Trang văn khép lại rồi mà ta còn thấy
trước mắt mình hình ảnh hai đứa trẻ ngồi đấy giữa phố huyện nhỏ nghèo tăm tối đang đợi chờ chuyến
tàu đi qua trong khát vọng mỏi mòn.