Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TP CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (484.12 KB, 25 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
Khoa Khoa học xã hội
--------   --------

BÀI TIỂU LUẬN

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Quế Thanh
Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Sửu
Lớp : Đại học Sư phạm Ngữ văn Liên thông K57

Quảng Bình, tháng 05/ 2016
1


Lời cảm ơn!
Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin được gửi đến cô
giáoNguyễn Thị Quế Thanh- người đã tận tình hướng dẫn, động viên,
giúp đỡ em trong suốt quá trình học tậpcũng như quá trình thực hiện
bài tiểu luận lời cảm ơn chân thành nhất!
Cảm ơn quý thầy cô giáo khoa Khoa học xã hội, quý thầy cô giáo
của trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em
bồi dưỡng tri thức trong thời gian qua. Đó không chỉ là nền tảng cho
quá trình nghiên cứu tiểu luận mà còn là hành trang quý báu để em có
thể vững bước, tự tin hơn trên con đường đời đầy chông gai của mình.
Cảm ơn gia đình - nơi nuôi dưỡng tâm hồn và khát vọng của em.
Cảm ơn bạn bè đã chia sẻ, động viên và giúp đỡ mình trong suốt thời
gian qua.


Kính chúc quý thầy cô và các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và
thành công trong cuộc sống!

Sinh viên thực hiện

Lê Xuân Sửu

2


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................................3
2. Lịch sử vấn đề...........................................................................................................................4
3. Phương pháp nghiên cứu .........................................................................................................6
4. Giới hạn đề tài..........................................................................................................................6

PHẦN NỘI DUNG....................................................................................................7
CHƯƠNG 1...............................................................................................................7
NGUYỄN MINH CHÂU VÀ TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA............7
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Minh Châu......................................................7
1.2. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.....................................................................................10

CHƯƠNG 2.............................................................................................................13
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN
NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU...........................................................13
2.1. Hình tượng người phụ nữ trong văn học.............................................................................13
2.2. Hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”...................................17
2.2.1. Người phụ nữ cần cù, lam lũ, chịu thương chịu khó....................................................17
2.2.2. Người phụ nữ giàu lòng vị tha và đức hi sinh..............................................................19

2.2.3. Người phụ nữ thủy chung ............................................................................................20
2.2.4. Người phụ nữ mẫu tính ................................................................................................21
2.2.5. Người phụ nữ chịu những nỗi đau thời hậu chiến .......................................................22
2.3. Ý nghĩa của hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn
Minh Châu..................................................................................................................................23

PHẦN KẾT LUẬN..................................................................................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................25

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguyễn Minh Châu (1930-1989) thuộc thế hệ nhà văn xuất hiện và trưởng
thành trong những năm chống Mỹ cứu nước. Trước năm 1975, ông đã khẳng định
vị trí của mình trên văn đàn với tiểu thuyết đầu tay “Cửa sông” (1966), và tiếp đó là
những tác phẩm nổi tiếng khác vươn tới đỉnh cao của văn xuôi nước ta hồi bấy giờ,
3


như “Mảnh trăng cuối rừng”(1970),“Dấu chân người lính” (1972)... Sau ngày đất
nước hoàn toàn thống nhất, khi nền văn học nước nhà chuyển mình bước vào vận
hội đổi mới và hội nhập, nói như nhà văn Nguyên Ngọc, trong “cuộc trở dạ đau
đớn và sinh thành ấy”, Nguyễn Minh Châu “thuộc trong số những nhà văn mở
đường tinh anh và tài năng nhất”. Trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu,
nhất là trong các truyện ngắn giàu chất tiểu thuyết ra đời sau 1975, thế giới hình
tượng nhân vật với nhiều số phận và tâm trạng khác nhau, thường hiện lên rất
phong phú, sinh động và mới lạ, giàu sức mạnh ám ảnh, khó quên trong người đọc.
Bên cạnh hình tượng người lính với chân dung nối tiếp các thế hệ, người nông dân
với bản chất cố hữu được khắc họa đầy ấn tượng, ngòi bút Nguyễn Minh Châu còn
dành nhiều nhiều tâm huyết biểu hiện hình tượng người phụ nữ với những phẩm
chất và đức hy sinh cao cả, sâu lắng vẻ đẹp nhân văn. Vì vậy, tìm hiểu “ Hình

tượng người phụ nữ trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh
Châu” là đi sâu khám phá một phương diện nội dung nổi bật và tâm huyết của nhà
văn, đồng thời qua đó còn thấy được tiến trình vận động đổi mới của văn xuôi nước
ta sau 1975. Mặt khác, Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn hiện đại có
tác phẩm được giảng dạy trong nhà trường. Ở bậc trung học cơ sở: lớp 9 giảng văn
truyện ngắn Bức tranh ; Ở cấp trung học phổ thông, trước đây học truyện ngắn
Mảnh trăng cuối rừng, hiện nay là tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa... Đây là những
tác phẩm khá tiêu biểu cho phong cách sáng tạo của tác giả ở từng thời điểm khác
nhau, có ý nghĩa đánh dấu sự đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà văn nói riêng và
của văn học nước nhà nói chung. Trong những tác phẩm ấy đều có những hình
tượng nhân vật nữ rất ấn tượng. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này còn mong muốn
cung cấp thêm tư liệu, góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học Văn ở nhà
trường phổ thông, một trong những vấn đề thời sự đang được quan tâm hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Minh Châu là một trong những tác giả văn xuôi đương đại có sức hấp
dẫn với bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình. Hầu hết các bài viết về cuộc đời và
4


sự nghiệp của của Nguyễn Minh Châu đã được tập hợp trong “Nguyễn Minh Châucon người và tác gia”, “Nguyễn Minh Châu-tài năng và sáng tạo nghệ thuật”,
“Nguyễn Minh Châu -Về tác gia và tác phẩm”. Sau đây, chúng tôi chỉ điểm lại một
số công trình và bài viết có liên quan trực tiếp đến đề tài tiểu luận. Trên báo Văn
nghệ số 32 năm 1984, nhân “Đọc Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” Huỳnh
Như Phương đã thấy được, những mảnh đời, những tâm trạng, những số phận khác
nhau và nhận xét truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành là “một thể
nghiệm mới về nghệ thuật của nhà văn”. Năm 1985, trên Tạp chí văn học số 3,
Nguyễn Thị Minh Thái trong bài “Ấn tượng về nhân vật nữ của Nguyễn Minh
Châu” 5 cũng nhân đọc “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, đã nêu nhận xét:
“Ấn tượng về truyện ngắn ấy thuộc về một người đàn bà, “Trong tất cả các tác
phẩm văn xuôi của Nguyễn Minh Châu, dù nhân vật nữ ở bất cứ vị trí nào đều là

những nhân vật khó quên” GS.Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết “Nguyễn Minh
Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người” (Tạp chí Văn học số 3
năm 1993) đã cảm nhận: Phần lớn những người đàn bà trong tác phẩm của Nguyễn
Minh Châu đều có một số phận éo le, vất vả, ít gặp may mắn trong tình yêu, sự yên
ổn trong cuộc sống gia đình… Trên báo Văn nghệ, số 42 năm 1993, Chu Văn Sơn
trong bài viết “Đường tới Cỏ lau” đã nói đến “vẻ đẹp mẫu tính…phần sâu thẳm như
một thiên phú riêng của tâm hồn nữ giới” trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu.
Tác giả Tôn Phương Lan trong công trình nghiên cứu về Phong cách nghệ thuật của
Nguyễn Minh Châu (Nxb Khoa học xã hội,H.1999), có nhận xét chung là cả hai
nhân vật Thai và Quỳ đều giàu thiên tính nữ, được rọi chiếu và mang nhiều vẻ đẹp
của ánh sáng nhân văn từ tâm hồn của nhà văn. Mai Thục trong “Nhà văn Nguyễn
Minh Châu và những trang viết về đời thường” khi nói đến hình ảnh người mẹ
trong Mùa trái cóc ở miền Nam cũng đã cảm nhận: “ Nỗi đau, nỗi giận và tình
thương hòa quyện trong tâm hồn người đàn bà ấy là tứ thơ buồn về thân phận người
phụ nữ Việt Nam, cái đẹp nghệ thuật tỏa ra từ sự thật đắng cay ấy Giáo sư N.I. Nicu-lin trong lời bạt cho tập truyện ngắn được dịch sang tiếng Nga “Người đàn bà
5


trên chuyến tàu tốc hành” đã cho rằng:đây là một:đề tài mà văn học Việt Nam mới
chiếm lĩnh, đề tài 6 về người phụ nữ trong chiến tranh và số phận của họ sau chiến
tranh, một số phận không giản đơn, không ngọt ngào. Trong “Nguyễn Minh Châu
và di sản văn học của ông”, qua hình tượng những nhân vật phụ nữ, Mai Hương đã
nêu nhận xét: “Có lẽ không ai có thể nói về những di chứng của chiến tranh, những
mất mát, éo le, những bi kịch khủng khiếp của chiến tranh hằn sâu trong từng số
phận con người một cách da diết, đau đớn và sâu sắc được như Nguyễn Minh
Châu”. Tuy vậy, những công trình và bài viết nói trên phần lớn cũng chỉ mới dừng
lại phân tích một vài khía cạnh và ở một số tác phẩm nhất định. Tiếp thu ý kiến của
người đi trước, trên có sở khảo sát sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975, bài
tiểu luận này muốn có một cái nhìn hệ thống toàn diện về hình tượng người phụ nữ
trong thế giới nghệ thuật của ông trong một tác phẩm cụ thể là Chiếc thuyền ngoài

xa, để từ đó có dịp tìm hiểu sâu sắc thêm chiều sâu vẻ đẹp nhân văn của một tác gia
lớn trong nền văn xuôi hiện đại luôn “bị ngập chìm trong lo âu, một nỗi lo âu sao
mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người”.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã vận dụng kết hợp một số các phương
pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp
phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh…
4. Giới hạn đề tài
Giới hạn của đề tài chủ yếu ở những sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau
1975 được in trong “Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu”, Nhà xuất bản
Văn học, Hà Nội, 2004.

6


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NGUYỄN MINH CHÂU VÀ TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Minh Châu
Nhà văn Nguyễn Minh Châu (20/10/1930 – 23/01/1989) trong một gia đình
nghèo thuộc xã Huỳnh Hải, huyện Lưu Ninh, tỉnh Nghệ An. Ông là cây bút trưởng
thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và là một trong những nhà văn có tầm
ảnh hưởng đối với nền văn học Việt Nam.
Trưởng thành trong những năm bom đạn kháng chiến đã tạo cho nhà văn một
nguồn sống, nguồn cảm thụ sâu sắc đối với nỗi đau của đất nước bị chia cắt. Ông
luôn trăn trở, tìm tòi trong những tác phẩm của mình để thể hiện một cách đúng đắn
và chân thật nhất hơi thở của lịch sử. Nhà văn luôn đi cùng bước đi của đất nước,
7



mỗi một thời kỳ, ông đều chiêm nghiệm sâu sắc, viết thật cẩn thận và không bao
giờ vội vàng.
Trước Cách mạng tháng Tám, ông học Trường Kỹ nghệ Huế, tốt nghiệp bậc
Thành Chung vào năm 1945 và tiếp tục học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc
Kháng ( Hà Tĩnh).
Năm 1950, ông gia nhập quân đội và học tại trường Sĩ quan Trần Quốc Tuấn.
Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban Tham mưu Tiểu đoàn 772, 706 thuộc
Sư đoàn 320.
Từ năm 1956 đến năm 1958, ông làm Trợ lý văn hóa Trung đoàn 64 thuộc sư
đoàn 320. Năm 1962, ông về công tác tại phòng Văn nghệ Quân đội, sau chuyển
sang Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam
năm 1972.
Tác phẩm văn học của Nguyễn Minh Châu khởi đầu bằng truyện ngắn Sau
một buổi tập (1960) và khép lại với truyện vừa Phiên chợ Giát (1989). Suốt một
chặng đường 29 năm – một hành trình không phải là dài so với những nhà văn
khác: Nguyễn Khải, Hồ Phương…, song với mười ba tập văn xuôi, một tập tiểu
luận phê bình, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã để lại một sự nghiệp văn chương đủ
sức vượt qua thời gian. Với một số tác phẩm chính như:
· Cửa sông (tiểu thuyết, 1966)
· Những vùng trời khác nhau (truyện ngắn, 1970)
· Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972)
· Miền cháy (tiểu thuyết, 1977)
· Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977)
· Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982)
· Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn, 1983)
· Bến quê (truyện ngắn, 1985)
· Mảnh dất tình yêu (tiểu thuyết, 1987)
· Cỏ lau (truyện vừa, 1989)
8



Lớn lên trong thời kì đất nước bị chia cắt, chiến tranh gây bao đau thương,
phần nào mà hoàn cảnh hằn vào trong nhà văn, để từ đó ông viết lên những tác
phẩm mang màu sắc hiện thực, Mỗi tác phẩm là một khía cạnh khác nhau, cả trong
góc khuất nơi tâm hồn con người vẫn thường bị chôn kín đến những thực tại ngoài
đời sống, Tất cả đều được ông đưa vào văn học, tạo ra một sắc mới cho văn xuôi
cách mạng. Chủ đề trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu viết trong thời kỳ
chiến tranh thường tập trung phản ánh và miêu tả chiến tranh, về phẩm chất yêu
nước, tinh thần gan dạ của các chiến sĩ trong cuộc kháng chiến trường kì của dân
tộc ta như các cuốn tiểu thuyết Cửa sông, Dấu chân người lính, Lửa từ những ngôi
nhà, Mảnh trăng cuối rừng, … Sau chiến tranh, Nguyễn Minh Châu đã chuyển
mình từ những trang viết về người lính mang đậm cảm hứng lãng mạn và sử thi
sang hiện thực sang chủ nghĩa hiện thực như các tác phẩm Miền cháy, Người đàn
bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa,… Ngòi bút của
Nguyễn Minh Châu đã đi đến từng tầng sâu thẳm trong tâm hồn con người, những
cái đẹp cao cả của nhân tâm.
Tuy nhiên, số mệnh nghiệt ngã với căn bệnh hiểm nghèo ung thư máu đã làm
cho hành trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu phải đột ngột dừng lại khi vừa đạt
tới độ chín của tài năng. Ngày 23 tháng 1 năm 1989 Nguyễn Minh Châu trút hơi
thở cuối cùng tại viện quân y 108 Hà Nội, sau gần một năm chống chọi với bạo
bệnh, để lại nhiều dự định sáng tác còn đang ấp ủ.
Với những đóng góp của mình cho nên văn học Việt Nam, Nguyễn Minh
Châu xứng đáng là một nhà văn tiêu biểu cho nền văn học hiện đại như lời của nhà
văn Nguyễn Khải đã nói : “Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc, bậc thầy
của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút
trẻ tài năng sau này.”
Ông đã được nhận các giải thưởng trong hoạt động văn học nghệ thuật như:
giải thưởng Bộ quốc phòng năm (1984 -1989) cho toàn bộ tác phẩm của ông viết về
chiến tranh và người lính, giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm (1988 – 1989)
9



cho tập truyện Cỏ lau và giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II
năm 2000 cho cụm tác phẩm: Dấu chân người lính, Cửa sông, Cỏ lau, Người đàn
bà trên chiến tàu tốc hành…
Như vậy, qua những chặng đường sáng tác nghệ thuật, tác phẩm của Nguyễn
Minh Châu luôn có tấm lòng hướng về con người, khả năng giải mã những mặt
phức tạp của cuộc đời, với quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của
con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu. Ông đã mang
đến một cái nhìn đa diện về số phận con người. Và cũng từ cái nhìn ấy, nhà văn đã
khắc họa rất thành công hình tượng người phụ nữ trong những sáng tác của mình
để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.
1.2. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được in lần đầu tiên trong tập " Bến quê ",
sau được tác giả lấy làm tên chung cho cả tuyển tập truyện ngắn của mình, in năm
1983.Đây là một tác phẩm thuộc dạng truyện luận đề với việc Nguyễn Minh Châu
đã đặt ra vấn đề mối quan hệ giữa văn học và đời sống. Tuy vậy, nhà văn không
biến nhân vật thành cái loa phát biểu luận đề. Thông qua câu chuyện kể về chuyến
đi của một nghệ sĩ nhiếp ảnh đến một vùng biển miền Trung để chụp ảnh nghệ
thuật, với một cốt truyện nhiều tình huống bất ngờ với hệ thống nhân vật đa dạng,
nhà văn đề cập đến tính trung thực của người nghệ sĩ, nêu lên mối quan hệ chặt chẽ
giữa văn học và hiện thực cũng như những vấn để phức tạp của cuộc sống, kể cả bi
kịch số phận con người.
Câu chuyện được bắt đầu bằng một chuyến đi của phóng viên Phùng - một
nghệ sĩ nhiếp ảnh tài hoa,có niềm đam mê với nghề và có một tâm hồn nhạy
cảm,được trưởng phòng giao nhiệm vụ đi chụp một tấm ảnh về cảnh biển có sương
để bổ sung vào bộ ảnh lịch. Anh đến một vùng biển miền Trung vào giữa tháng
bảy. Ngoài Đẩu, người đồng đội cũ giờ làm chánh án tòa án huyện, anh đã quen
thân với Phác, một cậu bé thường đi cùng ông ngoại chở gỗ từ trên rừng về bán cho
xưởng đóng tàu. Sau khoảng tuần lễ chưa chụp được bức ảnh ưng ý, tình cờ anh

10


thấy cảnh một chiếc thuyền ngoài xa,đang lái vó trong làn sương sớm "mũi thuyền
in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa pha đôi chút màu hồng
hồng do ánh mặt trời chiếu vào,vài bóng người ngồi yên phăng phắc như tượng trên
chiếc mui khum khum đang hướng mặt vào bờ" tạo nên một khung cảnh "từ đường
nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích".
Phùng nhanh chóng bấm liên thanh một hồi, thu vào chiếc máy ảnh của anh "cái
đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh",một vẻ đẹp thật đơn giản nhưng đạt đến sự hoàn mỹ
và toàn bích khiến cho tâm hồn Phùng như được gội rửa và trong ngần trong
khoảnh khắc.
Tuy nhiên, khi chiếc thuyền vào bờ, Phùng chứng kiến một cảnh tượng nghiệt
ngã, phi thẩm mỹ: hai vợ chồng người dân chài bước vào bờ, người đàn bà mặt rổ
dáng người thô kệch, người đàn ông đôi mắt nhìn chằm chằm vào lưng người đàn
bà đang đi như mắt con gấu khổng lồ, rồi người chồng rút thắt lưng ra đánh vào
lưng người đàn bà tới tấp.Vừa đánh hắn vừa chửi chúng mày chết hết đi, chết hết đi
cho ông nhờ, rồi Phác, chính là đứa con của cặp vợ chồng kia, xông vào ngăn cản,
đánh lại bố. Cảnh tượng này những ngày sau đó lại tiếp diễn, chỉ khác là lần này
khi lão đàn ông vừa rời khỏi thuyền thì có thêm đứa con gái cũng bơi vào bờ, rượt
theo em nó và giành được con dao găm thằng bé giấu trong cạp quần. Phóng viên
Phùng đánh nhau với lão đàn ông và bị thương nhẹ. Tòa án gọi người đàn bà đến.
Tại đây, chánh án Đẩu vì căm giận người đàn ông vũ phu nhiều lần đánh vợ
"ba ngày một trận nhẹ năm ngày một trận nặng", đã khuyên người đàn bà ly hôn,
nhưng bà ta còn xin Đẩu đừng bắt tù chồng bà mà hãy bắt bà bỏ tù. Nhưng không
ngờ người đàn bà đã van xin Đẩu con lạy tòa tòa đừng bắt con bỏ nó. Sau đó, chị kể
lại cuộc đời, gia cảnh của mình, lí do chị không muốn bỏ chồng vì gia đình họ cần
một người đàn ông để chèo chống lúc phong ba và nuôi cả một đàn con. Người đàn
bà chấp nhận sống nhẫn nhục trong sự ngược đãi của chồng là vì những đứa con.
Một người đàn bà có tình thương con vô bờ bến, sự cảm thông cho chồng, thấu

hiểu lẽ đời đó chính là quyền uy có sức công phá lớn nhất để cảm thông cả pháp
11


luật mà một người lao động lam lũ có được. Qua đó, chánh án Đẩu vỡ lẽ ra nhiều
điều trong cách nhìn nhận cuộc sống còn phóng viên Phùng lại hiểu thêm về mối
quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.Cuộc đời còn nhiều góc khuất mà nghệ thuật
chưa vươn tới,ẩn chứa nhiều ngang trái oái oăm mà khi đến gần mới có thể nhận
được, chỉ có lòng tốt và kiến thức sách vở thì không thể giải quyết được vấn đề
thực tế,mà phải có một cái nhìn sâu sắc đa diện và nhiều chiều về một vấn đề trong
cuộc sống. Tấm ảnh của Phùng trong năm ấy và nhiều năm về sau vẫn còn được
treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Nhưng cứ mỗi lần
Phùng nhìn bức ảnh, những ám ảnh, trăn trở về hình ảnh người đàn bà vùng biển lại
đến với anh.
Như vây, từ việc dựng lên sự đối lập giữa hình ảnh chiếc thuyền trên bức ảnh
nghệ thuật và tấn bi kịch của gia đình người ngư dân bên trong chiếc thuyền đẹp đẽ
ấy, nhà văn thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật của mình: nghệ thuật chân chính bao
giờ cũng bắt nguồn tử cuộc sống, phục vụ cuộc sống; tài năng và tấm lòng của
người nghệ sĩ là những nhân tố không thể thiếu được trong sự sáng tạo nghệ
thuật.Ở đay, Nguyễn Minh Châu đã không trực tiếp phát ngôn cho quan niệm nghệ
thuật của mình nhưng hệ thống nhân vật của tác phẩm và đặc biệt quá trình tự ý
thức của người nghệ sĩ nhiếp ảnh (ở đoạn kết) đã toát ra điều đó. Bằng hành động
tự ý thức, Phùng đã nhận ra cái chưa đến được của mình để rồi đấu tranh tự hoàn
thiện. Đây cũng chính là khát vọng kết nối Chân – Thiện – Mĩ mà suốt đời nhà văn
Nguyễn Minh Châu luôn khao khát và tìm kiếm.
Có thể nói “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là tác phẩm giàu
giá trị nhân đạo. Viết truyện ngắn này, Nhà văn muốn bày tỏ sự thông cảm đối với
cuộc sống của con người nơi vùng biển vắng. Tư tưởng nhân đạo của truyện ngắn
thể hiện ở thái độ quan tâm đến con người đến con người bất hạnh của nhà văn. Phê
phán hành động vũ phu của người chồng, đồng thời Nguyễn Minh Châu muốn cho

người đọc thấy rõ tình trạng bạo lực trong gia đình, một mảng tối của xã hội đương
đại. Nhà văn còn mạnh dạn nêu lên phản ứng dữ dội của đứa con để nhấn mạnh hậu
12


quả trầm trọng của tệ nạn này. Chính người vợ đã gửi đứa con lên ở với ông ngoại
để khỏi chứng kiến cái ác hoành hành ngay trong gia đình. Người vợ hy sinh cũng
để bảo vệ cho hạnh phúc gia đình. Dẫu viết về bạo lực gia đình, nhưng Nguyễn
Minh Châu đã báo động những vấn đề xã hội nhức nhối. Gióng lên một tiếng
chuông báo hiệu điều ác, Nguyễn Minh Châu đã đấu tranh cho cái thiện. Ngoài ra,
giá trị nhân đạo còn được thể hiện qua việc xây dựng nhân vật người đàn bà. Hình
ảnh người đàn bà vùng biển xấu xí, nhẫn nhục vẫn toát lên vẻ đẹp của tình mẫu tử,
một vẻ đẹp đầy nữ tính, vị tha của người phụ nữ ở một miền biển còn nghèo đói,
lạc hậu. Như vậy ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Minh Châu đã thể hiện nhưng khát
khao hạnh phúc bình dị của người lao động. Dẫu nghiệt ngã những phận đời, dẫu
còn nhiều nghịch lý, nhưng ẩn chìm trong những trang văn của Nguyễn Minh Châu
vẫn là chất nhân văn lấp lánh.

CHƯƠNG 2
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN
NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
2.1. Hình tượng người phụ nữ trong văn học
Từ xa xưa, những cuộc hành trình đi tìm vẻ đẹp đích thực của người phụ nữ
vẫn luôn luôn là “miền đất hứa” cho các công trình nghiên cứu không phải chỉ của
văn học, mà còn là của nhiều ngành nghệ thuật khác (hội hoạ, kiến trúc, sân khấu,
điện ảnh, phim truyền hình, kịch truyền thanh...). Trong thực tế, con người bao giờ
cũng là đối tượng nhận thức trung tâm của văn học. Lịch sử văn học thực chất là
lịch sử của việc nhận thức, khám phá, thể hiện con người thông qua những nhân vật
văn học. Từ điển thuật ngữ văn học từng quan niệm: “Nhân vật văn học chính là
con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học”.Ttrong văn học dân gian

(chủ yếu là trong truyện cổ tích và trong ca dao) người phụ nữ đã được nhìn nhận,
13


miêu tả rất chi tiết với chủ đề: quyền sống, quyền làm người, từ đó nhằm bộc lộ tư
tưởng dân chủ và bình đẳng. Với người phụ nữ đó còn là tiếng nói khát khao được
tự do yêu đương, giải phóng khỏi sự ràng buộc của xã hội phong kiến vì chính
nghĩa và tình yêu. Trong văn học dân gian, truyện cổ tích là hiện thân của những
giấc mơ đẹp của người Việt cổ hướng tới một xã hội công bằng, con người được
sống trong no ấm, dân chủ và hạnh phúc. Các tác giả dân gian đã thể hiện những
ước mơ đó qua hai tuyến nhân vật rõ ràng đó là cái thiện và cái ác.
Có một thể loại tiêu biểu nữa của văn học dân gian hay hướng điểm nhìn tới
người phụ nữ - đó là ca dao. Ca dao là hình thức để người xưa thổ lộ tâm tình. Mà
phụ nữ thường hướng nội và có nhu cầu tâm tình, có lẽ vì thế trong ca dao những
cung bậc về cõi lòng người phụ nữ thường được giãi bày nhiều hơn nam giới.
Trong ca dao, nhân vật phụ nữ hiện lên thông qua những tâm trạng, những nỗi niềm
riêng tư và mang dấu ấn xã hội rất rõ nét. Hai tình cảm nổi bật trong những lời ca
của người phụ nữ xưa có thể tập trung trong hai từ “than” và “thương”. Xã hội
phong kiến với quan niệm “trọng nam khinh nữ” đã xô đẩy nhiều phụ nữ đến với
sự bất hạnh và đắng cay. Họ phải sống trong cảnh phụ thuộc và không tự quyết
định được số phận của mình. Có thể nói, ca dao miêu tả thật thấm thía tâm trạng
đau đớn của những cô gái bị ép duyên, những người vợ có chồng ăn chơi, bạc tình
bạc nghĩa, cảnh làm lẽ, cảnh những nàng dâu có mẹ chồng ác nghiệt v.v... Chú ý đi
sâu mô tả những nỗi niềm riêng, những khổ sở bất hạnh của người phụ nữ, ca dao
xứng đáng là những bài ca mẫu mực về giá trị nhân đạo… Đặc biệt trong hôn nhân,
họ là những người nhân hậu, vị tha và chung thuỷ hết mực: "Chồng em áo rách em
thương/ Chồng người áo gấm, xông hương mặc người", hoặc: "Anh đi làm mộc nơi
nao/ Để em gánh đục, gánh bào đi theo"..
Trong văn học trung đại Việt Nam khi viết về người phụ nữ, một mặt vẫn có
sự kế thừa tư tưởng của văn học dân gian, song mặt khác, “Hồng nhan bạc phận”

cũng được xem là tư tưởng chủ đạo của các tác giả. Nàng Vũ Nương hiếu thảo,
đảm đang, chung thuỷ thì bị ngờ oan là ngoại tình, đến nỗi phải lấy cái chết để
14


minh oan - mà khi chết đi rồi trong lòng vẫn mang nặng nỗi oan uổng đó (Chuyện
người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ). Người cung nữ xinh đẹp, tài hoa, khát
khao hạnh phúc thì bị nhà vua bỏ rơi, sống cô đơn, mòn mỏi, lạnh lẽo nơi cung
cấm, chôn vùi tuổi thanh xuân trong cung điện thâm u (Cung oán ngâm khúc Nguyễn Gia Thiều). Người phụ nữ chỉ có một khát vọng rất bình thường là được
chung sống cùng với người chồng thân yêu, song lại rơi vào cảnh đau đớn “tử biệt
sinh li”, đằng đẵng chờ đợi không biết có ngày gặp lại. (Chinh phụ ngâm - Đặng
Trần Côn). Nàng Kiều của Nguyễn Du xinh đẹp tài hoa là thế, nhưng lại bị dập vùi
trong cảnh "Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần", liên tiếp bị đầy đọa cả về thể xác
lẫn tinh thần để rồi phải thốt lên (thực tế là sự đầu hàng hoàn cảnh) rằng: "Thân
lươn bao quản lấm đầu/ Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!". Đây không chỉ là bi
kịch của riêng nàng Kiều, mà còn là bi kịch chung của những người phụ nữ trong
xã hội phong kiến. Mặt khác văn học trung đại Việt Nam, bước đầu đã phản ánh
được quan niệm về con người cá nhân trong xã hội. Nhiều nhân vật nữ trong giai
đoạn này cũng thể hiện sự phản kháng, sự tố cáo xã hội cũ, nêu lên nhiều suy nghĩ,
nhiều quan điểm chống đối lại quan điểm của xã hội phong kiến (tiêu biểu hơn cả
là thơ Hồ Xuân Hương). Đặc biệt văn học đã chú ý khám phá nội tâm nhân vật.
Bước sang thế kỉ XX (thế kỉ của nền văn học hiện đại), các nhà văn Tự lực
văn đoàn đã mở đầu cho phương pháp miêu tả thế giới nội tâm con người - đặc biệt
là người phụ nữ - thật sâu sắc và tinh tế. Tiêu biểu là nhân vật Mai (Nửa chừng
xuân - Khái Hưng), nhân vật Loan (Đoạn tuyệt - Nhất Linh). Những người phụ nữ
này đòi hỏi quyền được yêu, được bình đẳng, chống đối tư tưởng đa thê và gia
trưởng trong các gia đình phong kiến.
Với dòng văn học hiện thực phê phán, chúng ta bắt gặp quan niệm: con người
là sản phẩm, là tiêu bản của hoàn cảnh, khi phân tích, mổ xẻ con người, các nhà
văn đã khám phá những tác động của hoàn cảnh đối với con người. Tuy nhiên quan

niệm đó được thể hiện ở những cấp độ rất khác nhau đối với từng tác giả. Ngô Tất
Tố vốn xuất thân là một nhà Nho, lại thấm nhuần đạo đức truyền thống của dân tộc,
15


nên hình ảnh nhân vật nữ nổi tiếng của ông (chị Dậu) vừa mang cái nhìn hiện thực,
đồng thời lại vẫn mang dấu ấn của cái nhìn về người phụ nữ trong văn học dân gian
("Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn") và văn học trung đại. Chị chịu bao nhiêu
sự chèn ép tàn bạo của hoàn cảnh: đói ăn triền miên, chạy vạy vay nợ, lo sưu thuế
(cho cả người đang sống lẫn người đã chết). Chị hết bán con, rồi bán chó, mà sắc
đẹp và phẩm chất vẫn không thay đổi. Còn Nam Cao, quá trình sáng tác của ông
giống như một cuộc hành trình đi tìm kiếm, khám phá vẻ đẹp còn tiềm ẩn, còn sót
lại trong con người. Ông quan niệm: “Cái bản tính tốt của con người ta thường bị
những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ, che lấp mất” (Đời thừa) và với nguyên tắc “cố
tìm hiểu họ”, Nam Cao đã phát hiện được ra những phẩm chất tốt đẹp của những
người phụ nữ - như nhân vật Nhu (ở hiền), Dần (Một đám cưới), Thị Nở (Chí
Phèo)...
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỉ nguyên mới
cho dân tộc. Cùng với sự thay đổi của lịch sử, và sự đi lên của đất nước, cách nhìn
nhận, mô tả về con người của các nhà văn thời kì này có sự chuyển biến rõ rệt.
Hình tượng người phụ nữ không còn là những nhân vật chịu nhiều bất hạnh vì bị xã
hội cũ vùi dập, không còn là những người phụ nữ “nổi loạn” đòi bình đẳng như
trong các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn nữa. Con người Việt Nam thời kì này là
“con người mới”, “con người cộng đồng” gắn liền với cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc. Vì vậy các nhân vật nữ đều được xây dựng theo cảm quan: con người cộng
đồng. Họ là những “o du kích nhỏ gương cao súng", những "người mẹ cầm súng",
những "người con gái Việt Nam"... Đây là những cô gái, những người vợ, người
mẹ rất đỗi bình thường, trong cuộc sống hàng ngày, dịu dàng, nhân hậu, yêu
thương chồng con hết mực. Song, mặt khác trong chiến đấu lại là những phụ nữ
dũng cảm. Đó là cô Mẫn (Mẫn và tôi - Phan Tứ), là chị út Tịch (Người mẹ cầm

súng - Nguyễn Thi), là Mẹ Suốt (Mẹ Suốt - Tố Hữu), là chị Sứ (Hòn Đất - Anh
Đức)... Có thể coi đây là những nhân vật phụ nữ yêu nước điển hình của văn học
trong suốt 30 năm chiến tranh (1945 - 1975).
16


Tiếp nối văn học 30 năm chiến tranh trước đó, văn học thời kỳ hậu chiến
những năm sau 1975 chủ yếu nói về những vấn đề sau chiến tranh. Thời kì trước,
nếu các nhân vật nữ được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ anh hùng trong chiến đấu,
thì trong văn học 10 năm sau chiến tranh, sự nhìn nhận các nhân vật nữ đều
nghiêng nhiều về khía cạnh đời tư, về những nỗi đau thời hậu chiến. Họ là những
con người chịu nhiều mất mát, đau thương sau chiến tranh (nhân vật Thai trong Cỏ
lau, Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, mẹ Êm trong Miền cháy của
nhà văn Nguyễn Minh Châu, một số nhân vật nữ trong Bi kịch nhỏ của Lê Minh
Khuê)… Nằm trong thế hệ những nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng
chiến, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tiếp nối và thể hiện rất thành công hình
tượng người phụ nữ trong những tác phẩm của mình. Đó là những người phụ nữ
được khai thác trên nhiều phương diện khác nhau. Nhưng nhìn chung thì họ luôn
mang trong mình những vẻ đẹp của truyền thống: cần cù, chịu thương, chịu khó,
giàu lòng vị tha, đức hi sinh, thủy chung son sắt, yêu chồng thương con với những
vẻ đẹp rất đáng trân trọng…
2.2. Hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”
2.2.1. Người phụ nữ cần cù, lam lũ, chịu thương chịu khó
Trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975, đa phần có sự xuất hiện
các nhân vật nữ trong hoàn cảnh khó khăn, vất vả và làm nổi bật lên tính cách cần
cù, lam lũ, chịu thương chịu khó của họ. Có thể kể đến mụ Huệ trong Phiên Chợ
Giát, là một “ bà ké miền rừng” với sự gắn bó sâu nặng với công việc, với gia đìnhHay như trong Chợ Tết, hình ảnh những người đàn bà khốn khó cũng được tác giả
đặt trong một không gian với những: nhếch nhác, bẩn thỉu. Hay trong tác phẩm
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng lên một
mẫu hình nhân vật nữ hết sức độc đáo chịu thương chịu khó trong chiến tranh cũng

như hoà bình. Trong Bức tranh, nhân vật bà mẹ chỉ xuất hiện thoáng qua thôi, song
17


cũng để lại những ấn tượng rất sâu sắc về tính cách chịu thương chịu khó, ngay cả
khi đôi mắt mình không còn. Hoặc như Liên trong Bến Quê, suốt một đời gắn bó
với chồng, ngay những khi khó khăn hoạn nạn nhất. Những minh chứng trên cho
thấy nhà văn rất ưu ái khi viết về hình ảnh những nhân vật nữ, đặc biệt là những
ngưòi vợ, người mẹ tảo tần.
Đặc biệt trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, tác giả đã dựng nên một bức
tranh hết sức sinh động từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ ấy bước ra một
người đàn bà xấu xí mệt mỏi và cam chịu, nhẫn nhục. Với những nét vẽ tinh tế, nhà
văn đã phác họa nên một hình ảnh giàu sức gợi “người đàn bà chạc ngoài 40, một
thân hình quen thuộc của đàn và vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch.
Mụ rỗ mặt khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt, dường
như đang buồn ngủ”. Một người phụ nữ gây ấn tượng cho người đọc ngay từ những
dòng đầu tiên, đầy nhọc nhằn, đầy khổ sở và đầy thương cảm. Người đàn bà ấy tiếp
tục ám ảnh người đọc bằng chi tiết “tấm áo bạc phếch có miếng vá, bửa thân dưới
ướt sũng”, đã phần nào gợi lên sự chua xót, khốn cùng. Giữa cảnh biển mênh mông
lại xuất hiện một con người khiến người khác phải trằn trọc như thế này.
Người đàn bà ấy còn đầy vẻ cam chịu và nhẫn nhục khi người chồng hằn học
và mắng nhiếc. Đôi mắt của chị như xuyên sâu vào lòng người đọc, nó ám ảnh cho
đến khi gấp trang sách lại. Ánh mắt của chị đầy thương xót, đầy ai oán và cũng đầy
tình yêu thương dành cho những đứa con cho mình.
Dọc theo hình trình đi tìm cái đẹp của nhiếp ảnh Phùng, người đàn bà đã trở
thành tâm điểm cho vẻ đẹp ấy. Một vẻ đẹp đầy sự khó khăn, nhọc nhằn và đau khổ.
Hành động bạo lực của người chồng khiến chị cứ câm lặng, không ai oán một lời.
Và sự cam chịu ấy được lặp lại khi chị được gọi đến hầu tòa. Mặc dù “ba ngày một
trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng người phụ nữ ấy vẫn “không hé răng một
lời”. Hình dáng “mụ ngồi ghé vào mép ghế và cố thu người lại” càng khiến cho

Phùng, cho Đẩu, và cho người đọc một nỗi ám ảnh khó bỏ. Tuy nhiên chỉ một lát,

18


“người đàn bà lại lúng túng và sợ sệt”. Có lẽ cuộc sống của chị quá nặng nề, quá
thê lương trong những năm qua.
Tình tiết người đàn bà vái lạy để con trai không làm điều dại dột với bố, cũng
như vái lạy quan tòa càng toát lên vẻ cam chịu, sự nhẫn nại, giàu đức hi sinh “Quý
tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Khi đi đến
tận cùng của nỗi đau, khi có một con đường giải thoát thì người đàn bà ấy vẫn lặng
lẽ và cam tâm chịu đựng đau khổ? Chính lời tâm tình của người đàn bà về cuộc
sống, về người chồng, về những đứa con khiến người khác vừa thưỡng xót vừa
khâm phục. Một người đàn bà yêu chồng, thương chồng mặc dù bị chồng ngược
đãi. Người đàn bà yêu con, thương con vô điều kiện, không đòi hỏi bất cứ điều gì.
Khi chị kể đến chi tiết “vui nhất là lúc được ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó đã
ăn no” thì có lẽ người đọc ứa nước mắt. Những đứa con là sức mạnh để chị có thể
tồn tại, có thể sống sót và kiên cường đến bây giờ. Một người mẹ lặng lẽ hi sinh
cuộc đời mình vì những đứa con, một người mẹ đã nhẫn nhục tất cả chỉ vì miếng
cơm manh áo cho con. Một người mẹ nghèo, cố chấp nhưng yêu thương con vô bờ
bến. Cuộc đời của chị nhiều đau thương và nước mắt nhưng lại có biết bao nhiêu
phẩm chất cao đẹp, đáng trân trọng.
2.2.2. Người phụ nữ giàu lòng vị tha và đức hi sinh
Mặc dù chịu nhiều khổ đau bất hạnh nhưng ở người phụ nữ này luôn toát lên
vẻ đẹp của lòng vị tha giàu đức hi sinh. Chị cũng hiểu và thông cảm cho chồng của
mình, chị không hề oán trách chồng mà ngược lại chị rất thông cảm và vị tha, chị
hiểu nỗi khốn khổ bế tắc của chồng: chỉ vì cuộc sống cơ cực nên chồng chị mới
sinh ra thói vũ phu như vậy. Có thể nói, chị là một người phụ nữ từng trải và hiểu
biết lẽ đời: “Ông trời sinh ra đàn bà là để đẻ con và nuôi con khôn lớn”, chị hiểu
cuộc sống trên thuyền cần phải có một người đàn ông mạnh khỏe và biết nghề, cần

có một chỗ dựa vững chắc trong cuộc sống mưu sinh vất vả. Vì vậy, chị luôn sẵn
sàng hi sinh bản thân mình vì chồng con. Chị đã cảm ơn Phùng và chánh án Đẩu về
19


lời khuyên của hai người nhưng chị đã nói: “Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu
có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của người làm
ăn lam lũ khó nhọc…” Có thể nói, thấp thoáng trong bóng dáng người đàn bà ấy là
bóng dáng của người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức
hi sinh.
2.2.3. Người phụ nữ thủy chung
Ở một đất nước mà huyền thoại để tạo nên giang sơn Tổ quốc là những cuộc
chia ly, năm mươi người con theo cha xuống biển, năm mươi người con theo mẹ
lên rừng; và suốt trường kỳ lịch sử chống ngoại xâm thì chia ly là số phận thường
trực của dân tộc. Vì vậy, trong những phẩm chất truyền thống của người phụ nữ
Việt Nam, chung thuỷ là một phẩm chất làm nên sức mạnh giúp họ vượt qua mọi
gian lao cách trở. Tuy nhiên, không giống những tác phẩm khác, “Người phụ nữ
trong chếc thuyền ngoài xa” có một thân phận đặc biệt. Đó là một người đàn bà đã
có chồng, có con. Mặc dù cuộc sống nghèo khổ khiến chị phải chịu cảnh “ba ngày
một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng chưa bao giờ chị có ý định ly hôn,
thậm chí là cương quyết từ chối con đường giải thoát cho mình bằng ly hôn. Trong
tác phẩm này, Nguyễn Minh Châu đem đến cho ta những bất ngờ. Người chồng ấy
đâu chỉ là một tội nhân. Anh ta còn là ân nhân đã đem đến cho người đàn bà thô
mộc xấu xí với gương mặt rỗ vì đậu mùa ấy một gia đình mà chị ta khao khát. Anh
ta vốn cũng hiền lành. Anh ta còn là người chồng, người cha đã gồng lưng chèo
chống con thuyền- gia đình hàng chài- giữa biển cả khi trời yên cũng như khi biển
động để nuôi sống cả đàn con. Trên vai anh ta là cả một gánh nặng mưu sinh nhọc
nhằn. Và, sự gồng gánh ấy chưa hề đứt đoạn. Còn người đàn bà, tưởng như ít học,
mông muội (giơ lưng chịu đòn không một tiếng kêu la), lại là một người rất thấu
hiểu lẽ đời, biết cảm thông và biết hy sinh. Chị chia sẻ cùng chồng gánh nặng mưu

sinh bằng cách chìa tấm lưng ra chịu những trận đòn, hiểu rằng ấy là một cách giải
tỏa những ấm ức cuộc sống. Chị chắt chiu cho mình và cho con những khoảnh khắc
20


hạnh phúc hiếm hoi và quý giá. Chị biết giữ gìn cho con một tâm hồn hướng thiện
khi xin chồng đưa mình lên bờ, đến quãng vắng mà đánh. Chị lại giữ cho con một
gia đình trọn vẹn, một người cha gánh vác bằng một lời cầu xin thống thiết “đừng
bắt con bỏ nó”. Rõ ràng, đằng sau cái vẻ xù xì thô mộc ấy là những vẻ đẹp bất ngờ
của con người, như một niềm tin của Nguyễn Minh Châu vào con người và cuộc
đời. Chính đức tính thủy chung ấy là bến đỗ bình yên cho biết bao gia đình, tạo nên
một nét đặc trưng của cuộc sống và tâm hồn Việt…
2.2.4. Người phụ nữ mẫu tính
Vẻ đẹp ấy, trước hết biểu hiện ở lòng vị tha, đức hy sinh, luôn sống vì người
khác của những người mẹ, người chị, người em gái trong sáng tác của Nguyễn
Minh Châu. Trong truyện ngắn Bức tranh, hình ảnh người mẹ hiện lên trong tình
mẫu tử đầy thương cảm. Chưa có ai bị chồng đánh đập và chịu cảnh bạo lực trong
gia đình phũ phàng như nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc
thuyền ngoài xa. Người phụ nữ ở đây đã sống cho con hơn là cho mình. Bởi chị ý
thức được thiên chức của người phụ nữ :”Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con
và nuôi con cho đến khi khôn lớn”. Trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa
biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Sự cần thiết của việc có người
đàn ông làm chỗ dựa, để chèo chống khi phong ba bão táp, cùng nuôi dạy các con:
Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con, không thể sống cho mình như trên
đất được. Tình tiết người đàn bà vái lạy để con trai không làm điều dại dột với bố,
cũng như vái lạy quan tòa càng toát lên vẻ cam chịu, sự nhẫn nại, giàu đức hi sinh
“Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Khi
đi đến tận cùng của nỗi đau, khi có một con đường giải thoát thì người đàn bà ấy
vẫn lặng lẽ và cam tâm chịu đựng đau khổ? Là vì điều gì? Chẳng phải vì đức hi
sinh của người mẹ đó sao? Lời tâm tình của người đàn bà về cuộc sống, về người

chồng, về những đứa con khiến người khác vừa thưỡng xót vừa khâm phục. Một
người đàn bà yêu chồng, thương chồng mặc dù bị chồng ngược đãi. Người đàn bà
21


yêu con, thương con vô điều kiện, không đòi hỏi bất cứ điều gì. Khi chị kể đến chi
tiết “vui nhất là lúc được ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó đã ăn no” thì có lẽ người
đọc ứa nước mắt. Những đứa con là sức mạnh để chị có thể tồn tại, có thể sống sót
và kiên cường đến bây giờ. Một người mẹ lặng lẽ hi sinh cuộc đời mình vì những
đứa con, một người mẹ đã nhẫn nhục tất cả chỉ vì miếng cơm manh áo cho con.
Một người mẹ nghèo, cố chấp nhưng yêu thương con vô bờ bến. Cuộc đời của chị
nhiều đau thương và nước mắt nhưng lại có biết bao nhiêu phẩm chất cao đẹp, đáng
trân trọng.
Ở đây nhà văn đã nhận ra một điều rất sâu sắc, trong tình yêu thương vô tận
đầy hy sinh của người phụ nữ đối với con người hình như bao giờ cũng chứa đựng
cả tình mẫu tử.
2.2.5. Người phụ nữ chịu những nỗi đau thời hậu chiến
Người phụ nữ với bi kịch do chiến tranh và đói nghèo lạc hậu là đặc điểm vừa
có từ trong truyền thống mà cũng vừa rất thời sự diễn ra ngay trong thời hậu chiến.
Khi viết về hình tượng người phụ nữ, trong sáng tác của truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu, bi kịch chiến tranh và đói nghèo lạc hậu được thể hiện một cách tập trung
hơn, day dứt hơn, dưới những góc nhìn nhân bản hơn. Hầu hết những nhân vật phụ
nữ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu đều có chồng, con hoặc người yêu của
mình đi bộ đội, mỗi người một cảnh ngộ, đều chịu nhiều đau thương, mất mát do
chiến tranh gây ra. Tác phẩm ra đời vào thời hậu chiến nên ít nhiều chịu ảnh hưởng
của bối cảnh lịch sử. Người phụ nữ trong tác phẩm dù đang ở vào thời bình nhưng
cũng mang trong mình những nỗi đau.Thông qua cách thể hiện tài tình của nhà văn,
chúng ta thấy ẩn đằng sau đó là nỗi lo cơm áo gạo tiền, chồng, con, nỗi lo về hạnh
phúc gia đình và nhiều mối quan hệ khác nữa…Tất cả đều được nhà văn thể hiện
một cách thành công, để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc.


22


2.3. Ý nghĩa của hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài
xa của Nguyễn Minh Châu
Thông qua hình tượng người phụ nữ mà cụ thể là người phụ nữ trong tác
phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Chúng ta thấy được
cái nhìn sâu sắc và nhân hậu của nhà văn về cuộc đời. Ở đây, ông đã phát hiện ra
rằng đằng sau câu chuyện buồn của gia đình người lao động vùng biển là vẻ đẹp
của tình mẫu tử, lòng bao dung và đức hi sinh của người phụ nữ. Số phận phẩm
chất của người phụ nữ hàng chài này cũng là số phận và phẩm chất của những
người phụ nữ vùng biển nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung. Đồng thời
cũng qua đó ta thấy được quan niệm về nghệ thuật của tác giả: “Nghệ thuật chân
chính phải luôn gắn liền với cuộc đời vì cuộc đời cần phải nhìn nhận cuộc sống và
con người một cách đa diện đa chiều và góp một tiếng nói cảnh báo về tình trạng
bạo lực gia đình và lí giải nguyên nhân của tình trạng ấy”. Chính điều đó đã nói lên
giá trị của tác phẩm và tầm vóc to lớn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong văn
xuôi Việt Nam hiện đại. Với những đóng góp to lớn của mình, ông xứng đáng là
“người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người
mở đường tinh anh cho những cây bút trẻ tài năng sau này".
PHẦN KẾT LUẬN
Trong suốt hành trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu, nhất là trong thể loại
truyện ngắn ra đời sau năm 1975, nhà văn đã thể hiện rất thành công hình tượng
nhân vật nữ trên nhiều bình diện. Ý nghĩa lớn lao, cao cả và đầy tính nhân văn mà
nhà văn muốn gửi gắm qua thế giới nhân vật này rất phong phú và sâu sắc, thể hiện
sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người và cả tài năng, tâm huyết của người
sáng tạo. Đi sâu tìm hiểu hình tượng nhân vật người phụ nữ trong tác phẩm Chiếc
thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, dù chỉ là một phần trong sự
nghiệp sáng tác của nhà văn, nhưng qua đó, người đọc cũng có thể thấy được hành

23


trình sáng tác, và khát vọng đổi mới của nhà văn nền văn học nước nhà trước yêu
cầu của thời đại mở cửa và hội nhập với văn học nhân loại. Thông qua hình tượng
nhân vật nữ trong tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa, chúng ta còn có thể cảm nhận
được những đặc điểm và phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam nói riêng
và cũng là của cả dân tộc ta nói chung. Không chỉ vậy, với ngòi bút chân thực và
đầy bản lĩnh của nhà văn, người đọc nhạy cảm sẽ còn thấy được biết bao vấn đề
trong quá khứ chiến tranh và cả trong cuộc sống thời hậu chiến đã và đang đặt ra
đòi hỏi mọi người phải quan tâm góp phần giải quyết để làm cho những người phụ
nữ Việt Nam cùng với cả dân tộc thực sự được giải phóng ra khỏi đói nghèo lạc
hậu và hướng tới một đời sống thực sự ấm no và hạnh phúc. Trong thủ pháp nghệ
thuật xây dựng hình tượng nhân vật trong truyện ngắn này, nhà văn Nguyễn Minh
Châu cũng đã rất mạnh dạn thể nghiệm những biện pháp nghệ thuật mới mẻ, độc
đáo, làm nên sự hấp dẫn và phong cách riêng biệt. Tính đa giọng điệu, việc đan xen
các điểm nhìn của nhân vật, đan xen các trục thời gian, việc sử dụng các biểu
tượng, đặc biệt là nghệ thuật khắc họa nội tâm nhân vật, khám phá đến tận những
góc khuất tâm hồn... đã làm nên những thành công nghệ thuật cho câu chuyện. Tất
cả những cố gắng tự vượt lên chính mình của Nguyễn Minh Châu, cùng với sự
nghiệp của nhà văn để lại là một bài học lớn về tình người, là “niềm hãnh diện của
những người cầm bút về một đời văn trong sáng và trọn vẹn” (Nguyễn Khải) mà
chúng ta còn phải tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu.

24


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Minh Châu (2004), Chiếc thuyền ngoài xa, Nhà xuất bản Văn học.
2. Nguyễn Trọng Hoàn (2007),Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm, Nhà

xuất bản Giáo dục.
3. Mai Hương (2001), Nguyễn Minh Châu tài năng và sáng tạo nghệ thuật, Nhà
xuất bản Văn hóa thông tin.
4. Thao Nguyễn (2013), Nguyễn Minh Châu một giọng văn nhiều trắc ẩn, Nhà xuất
bản Văn hóa thông tin.
5. Nguyễn Huy Thắng (2011), Nguyễn Minh Châu - từ Dấu chân người lính đến
lão Khúng ở quê, Nhà xuất bản Kim Đồng.
25


×