Tải bản đầy đủ (.doc) (94 trang)

Luận văn nâng cao hiệu quả đánh giá rủi ro trong quá trình kiểm toán năm đầu tiên, số dư đầu năm do VACO thực hiện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (801.29 KB, 94 trang )

LI M U
1- Tính cấp thiết của đề tài:
Kiểm toán đang dần khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế phát
triển của Việt Nam. Cùng với sự phát triển không ngừng của kiểm toán nớc nhà,
Công ty Kiểm toán Việt Nam VACO tự hào là công ty kiểm toán đầu tiên đợc
thành lập, đã và đang là lá cờ đầu của Kiểm toán độc lập Việt Nam.
Theo Nghị định 105/2004/NĐ-CP của Chính phủ thì phạm vi của
các doanh nghiệp đợc kiểm toán mở rộng hơn so với Nghị định số
07/NĐ-CP trớc đây. Do đó khách hàng thực hiện kiểm toán năm đầu tiên
tăng lên rõ rệt. Trong thời gian này em có cơ hội đợc thực tập tại VACO
đồng thời với việc nhận thức đợc vai trò của việc đánh giá rủi ro kiểm
toán năm đầu tiên, em hoàn thành báo cáo thực tập này với đề tài: "Nâng cao
hiệu quả đánh giá rủi ro trong quá trình kiểm toán năm đầu tiên, số d đầu
năm do VACO thực hiện".
2- Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu lý thuyết kiểm toán đặc biệt gắn với việc đánh giá rủi ro kiểm
toán năm đầu tiên, đồng thời vận dụng vào thực tiễn công tác kiểm toán của
VACO. Từ đó, giúp em có thể rút ra bài học kinh nghiệm và đa ra kiến nghị
nhằm hoàn thiện hơn nữa quy trình kiểm toán năm đầu tiên tại VACO.

3- Nội dung của đề tài:
Kết cấu báo cáo tổng hợp gồm 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận của đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo
cáo tài chính năm đầu tiên.
Chơng 2: Thực trạng công tác đánh giá rủi ro kiểm toán Báo cáo tài chính
năm đầu tiên tại VACO.
Chơng 3: Bài học kinh nghiệm, kiến nghị và đề xuất công tác đánh giá rủi
ro kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên.

4- Đối tợng, phạm vi và phơng pháp nghiên cứu:
Đối tợng nghiên cứu: Quy trình đánh giá rủi ro năm đầu tiên, số d tài


chính đầu tiên.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu quy trình trên do VACO thực hiện trên
hai khách hàng cụ thể, gắn với hoạt động của kiểm toán độc lập tại Việt Nam.
-1-


Phơng pháp nghiên cứu: Với những kiến thức đã đợc học và tự nghiên cứu
tại trờng Đại học Kinh tế quốc dân, em nghiên cứu đề tài này bằng:
-

Lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

-

Phơng pháp t duy khoa học, phơng pháp toán học trong các
nghiệp vụ kế toán, kiểm toán.

Thực hiện tổng hợp và phân tích thông qua cách diễn giải bằng lời văn và
sơ đồ, biểu bảng cùng với phơng pháp diễn giải - quy nạp.

5- Đóng góp của đề tài:
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, em nhận thấy đây là một đề tài
hay, có tính thực tế cao. Chính vì vậy, em đã tập hợp đợc nhiều tài liệu có liên
quan nhằm hỗ trợ trong việc xây dựng đề tài. Đồng thời, khi tiếp cận với thực tế
tại VACO cùng với khả năng phân tích của bản thân, em hy vọng sẽ có một đề
tài mang tính thực tế và khả thi cao.
Do thời gian và khả năng còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi thiếu
sót, em rất mong sự đóng góp ý kiến của các thày, cô giáo.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện


Bùi Thị Thanh Nga

-2-


Phần nội dung
Chơng I
cơ sở lý luận của đánh giá rủi ro
kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính
năm đầu tiên, số d đầu năm
------------

1.1- Lý luận chung về đánh giá
rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính
năm đầu tiên, số d đầu năm
1.1.1- Kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên chi phối rủi ro kiểm toán

Báo cáo tài chính đợc doanh nghiệp lập và trình bày cho những ngời quan
tâm. Mặc dù các Báo cáo tài chính này ở một số nớc có thể giống nhau, song
chúng vẫn khác nhau vì nhiều nghuyên nhân nh hoàn cảnh kinh tế, xã hội và
pháp luật. Để đạt đợc sự nhất quán trong các nguyên tắc kế toán hiện đang đợc
các tổ chức kinh doanh và nhiều tổ chức khác trên thế giới áp dụng để lập Báo
cáo tài chính, ngời ta đã cùng thống nhất những nguyên tắc chung. Trong những
nguyên tắc đợc chấp nhận chung có nguyên tắc kỳ kế toán.
Kỳ kế toán là khoảng thời gian nhất định mà trong đó các Báo cáo tài
chính đợc lập. Chúng ta thừa nhận một khoảng thời gian không nhất định cho
hầu hết các thực thể kinh doanh. Nhng kế toán lại phải đánh giá quá trình hoạt
động và những thay đổi về tình hình kinh tế của doanh nghiệp trong những thời
kỳ tơng đối ngắn. Những ngời sử dụng các Báo cáo tài chính đòi hỏi phải có sự

đánh giá thờng kỳ về tình hình hoạt động để đề ra các quyết định và chính những
yêu cầu này đã dẫn đến sự cần thiết phải phân chia hoạt động của một doanh
nghiệp thành nhiều phân đoạn nh thành từng năm, từng quý, từng thángThông
thờng, trong kế toán năm tài chính kéo dài 12 tháng bắt đầu từ ngày 01/01 đến
ngày 31/12 của năm đó. Trong kiểm toán, kiểm toán viên coi năm tài chính cần
kiểm toán nh khái niệm trong kế toán.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam là quá trình vận dụng Những chuẩn mực
và nguyên tắc kiểm toán quốc tế phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam
đa ra khái niệm nh sau: "Năm đầu tiên là năm đợc kiểm toán mà Báo cáo tài
chính năm trớc đó:
- Cha đợc kiểm toán; hoặc
- Đợc công ty khác kiểm toán".
Và số d đầu năm đợc định nghĩa: "Là số d trên tài khoản kế toán vào thời
điểm đầu năm tài chính. Số d đầu năm đợc lập dựa trên cơ sở số d cuối năm tài
chính trớc"(6, 34).
(Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 510 - Kiểm toán năm đầu tiên số d đầu năm tài chính).
Nh vậy, bản chất thuật ngữ năm đầu tiên trong kiểm toán tài chính đều
đợc hiểu là công ty kiểm toán lần đầu tiên đến thực hiện kiểm toán cho một đơn
vị mà đơn vị này trớc đây cha đợc kiểm toán hoặc đã đợc kiểm toán nhng do
-3-


công ty kiểm toán khác thực hiện. Do đó, có một điểm khác biệt giữa kiểm toán
năm đầu tiên và kiểm toán những năm tiếp theo, đó là: Khách hàng của cuộc
kiểm toán năm đầu tiên là khách hàng mới, khách hàng của cuộc kiểm toán
những năm tiếp theo là khách hàng quen thuộc. Điều đó chi phối toàn bộ qui
trình thực hiện kiểm toán, nói chung, và việc đánh giá rủi ro của kiểm toán viên,
nói riêng.
Đặc thù của kiểm toán năm đầu tiên ảnh hởng đến việc xác định rủi ro kiểm toán.
"Năm đầu tiên thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính với một khách hàng

mới, tức là lần đầu tiên tiếp cận với một ngành nghề kinh doanh mới, một đơn vị
mới, cụ thể hơn, kiểm toán viên phải tìm hiểu những thông tin về phơng pháp sản
xuất, cơ cấu bộ máy tổ chức, tình hình tài chính của công ty khách hàng...Trớc
tiên, kiểm toán viên cần phải tìm hiểu sơ bộ về khách hàng để đánh giá tổng
quan rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, qua đó đa ra kết luận chung có chấp
nhận Hợp đồng kiểm toán hay không. Trên thực tế công việc này rất khó khăn vì
việc thu thập thông tin là khó khăn. Tiếp đó, trong quá trình thực hiện kiểm toán,
kiểm toán viên phải bằng kinh nghiệm và xét đoán nghề nghiệp để đánh giá quá
trình thực hiện chế độ, chính sách về tài chính có phù hợp với pháp luật Việt
Nam không. Chính vì vậy, kiểm toán viên sẽ phải chú trọng hơn đến phơng thức
và thời gian để đánh giá. Nh vậy, chỉ cần một sơ suất nhỏ trong quá trình kiểm
toán, sự hạn chế trong việc hiểu biết về khách hàng cũng có thể làm chất lợng và
uy tín của công ty kiểm toán giảm sút.
Còn khi thực hiện kiểm toán cho khách hàng quen thuộc, tức là đã kiểm
toán ở năm trớc đó về cơ bản vẫn phải thực hiện theo trình tự nh với năm đầu
tiên. Tuy nhiên, do kiểm toán viên có thể vận dụng những hiểu biết về khách
hàng và có kinh nghiệm trong các lần kiểm toán trớc nên có thể giảm bớt một số
thủ tục nhất định.
Do đó, kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên đợc đánh giá là có mức
độ rủi ro cao hơn bình thờng. Chính mức độ rủi ro đó đã chi phối toàn bộ cuộc
kiểm toán, cụ thể chi phối việc áp dụng các phơng pháp kiểm toán nhằm thu thập
bằng chứng kiểm toán đầy đủ và hợp lý. Nhng rủi ro là gì và rủi ro kiểm toán cần
phải đợc hiểu nh thế nào? Những thắc mắc đó sẽ đợc trình bày cụ thể ở phần tiếp
sau đây.
1.1.2- Rủi ro và qui trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán Báo cáo tài
chính năm đầu tiên
1.1.2.1- Khái niệm rủi ro:
Xét trên phơng diện chung nhất: rủi ro ám chỉ một số hình thức không
chắc chắn về hậu quả của một tình huống nhất định. Tạm thời cha nói đến ý
nghĩa của từ không chắc chắn, chúng ta thờng hiểu rõ mình định nói gì khi dùng

thuật ngữ rủi ro trong câu chuyện hằng ngày. Một sự kiện có thể xảy ra, nếu nó
xảy ra sẽ không có lợi cho chúng ta, hoặc không phải là kết quả mà chúng ta
-4-


mong đợi. Từ rủi ro không những ám chỉ mối ngờ vực về tơng lai mà còn ám chỉ
cả một thực tế là hậu quả có thể khiến cho chúng ta lâm vào hoàn cảnh khó khăn
hơn hiện tại.
ở nhiều nớc đã đa ra một số định nghĩa về rủi ro và thờng kèm theo những
cuộc tranh luận để khẳng định quan điểm của mình là đúng đắn. Sau đây là một
số quan điểm đợc chọn lọc từ cuốn sách Bảo hiểm quốc tế, nguyên tắc và thực
hành:
Rủi ro là khả năng xảy ra một số sự cố không may.
Rủi ro là sự kết hợp các nguy cơ.
Rủi ro là sự không thể đoán trớc một tình huống, một khuynh hớng dẫn
đến kết quả thực tế khác với kết quả dự đoán.
Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất.
Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất.
(Học viện Bảo hiểm Hoàng gia Anh xuất bản năm 1993) (13,17).
Khi nghiên cứu các định nghĩa này dờng nh có mối liên hệ giữa chúng với nhau:
Thứ nhất, các định nghĩa đều đề cập đến sự không chắc chắn mà chúng ta
coi là mối ngờ vực đối với tơng lai.
Thứ hai, ở đây ngời ta cũng ám chỉ rằng những cấp độ hay mức rủi ro là
khác nhau. Việc sử dụng những từ nh: khả năng và không thể đoán trớc đợc dờng nh để chỉ ra mức độ nào đó về sự không chắc chắn do có mối ngờ
vực nói trên.
Thứ ba, các định nghĩa đều nói đến hậu quả do một hay nhiều nguyên
nhân gây ra. Điều này dờng nh có mối quan hệ chặt chẽ với định nghĩa
mà chúng ta đã sử dụng trớc đó, theo định nghĩa này rủi ro là không chắc
chắn về hậu quả trong một tình huống cụ thể.
ở Việt Nam, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam Hội đồng ban chỉ đạo

biên soạn từ điển Bách Khoa Việt Nam (Tập 3 2003) thì:
"Rủi ro: là hậu quả gây thiệt hại ít nhiều có thể dự kiến đợc của một hành vi
mà việc thực hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các bên đơng sự. Ngời thực
hiện hành vi phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây nên cho ngời kia"(14, 859).
Trên thực tế, các hoạt động kinh tế thờng gặp những rủi ro đặc trng. Mỗi
ngành nghề có một rủi ro riêng, chẳng hạn: rủi ro hối đoái, rủi ro đầu t, rủi ro
kinh doanh... và kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Theo Uỷ ban Thực hành Kiểm toán quốc tế (IAPC) thuộc Liên đoàn Kế toán
quốc tế IFAC thì rủi ro kiểm toán đợc hiểu nh sau: Rủi ro kiểm toán là khả
năng mà kiểm toán viên đa ra ý kiến không xác đáng về đối tợng đợc kiểm toán.
Chẳng hạn, kiểm toán viên đa ra ý kiến rằng Báo cáo tài chính của đơn vị đựơc
thực hiện trung thực và hợp lý dựa trên các khía cạnh trọng yếu, tuy nhiên trên
thực tế các Báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán này vẫn tồn tại các sai phạm
trọng yếu mà kiểm toán viên không phát hiện trong quá trình kiểm toán..."(15, 23).
-5-


Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 thì: "Rủi ro kiểm toán là rủi
ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đa ra ý kiến nhận xét không thích hợp
khi Báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro
kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát
hiện"(6, 78).
Nh vậy rõ ràng là các hiệp hội nghề nghiệp về kiểm toán, kế toán đều có
chung một nhận định về rủi ro kiểm toán. Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà kiểm
toán viên khi đa ra kết luận là các Báo cáo tài chính đợc trình bày trung thực và
hợp lý dựa trên các khía cạnh trọng yếu, và đa ra ý kiến chấp nhận toàn phần,
trong khi trên thực tế thì chúng có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kinh doanh,
theo bài này, là rủi ro mà kiểm toán viên (hoặc công ty kiểm toán) sẽ phải chịu
thiệt hại vì mối quan hệ với khách hàng, cho dù báo cáo kiểm toán cung cấp cho
khách hàng đó là đúng.

1.1.2.2- Mô hình rủi ro kiểm toán:
Mô hình rủi ro kiểm toán trọng tâm bàn về các yếu tố cấu thành khác nhau
của mô hình và mối quan hệ của chúng với các nhu cầu về bằng chứng kiểm
toán. Nguồn gốc đầu tiên của mô hình rủi ro kiểm toán là văn bản chuyên môn
SAS 39, về chọn mẫu kiểm toán và SAS 47, về tính trọng yếu và rủi ro. Hình
thức chủ yếu của mô hình từ các văn bản này nh sau:
DAR =

IR x CR x DR

Trong đó:
- DAR : Rủi ro kiểm toán mong muốn (Desire Audit Risk).
- IR
: Rủi ro cố hữu (Inherent Risk).
- CR
: Rủi ro kiểm soát (Control Risk).
- DR
: Rủi ro phát hiện (Detection Risk).
Công dụng của mô hình:
Mô hình rủi ro kiểm toán đợc dùng khi lập kế hoạch kiểm toán theo một
hoặc cả hai cách. Một cách là mô hình rủi ro kiểm toán đợc dùng để giúp kiểm
toán viên đánh giá liệu kế hoạch kiểm toán có hợp lý hay không. Thí dụ, với một
cuộc kiểm toán khả dĩ, giả sử một kiểm toán viên tin rằng rủi ro cố hữu có thể sẽ
là 80%, rủi ro kiểm soát là 50%, và rủi ro phát hiện là 10%. Rủi ro kiểm toán
tính đợc sẽ là 4% (0,8 x 0,5 x 0,1). Nếu kiểm toán kết luận là rủi ro kiểm toán
mong muốn thích hợp đối với hợp đồng không thấp hơn 4% thì kế hoạch đó sẽ đợc chấp nhận.
Mặc dù một kế hoạch kiểm toán nh trên có thể giúp kiểm toán viên tìm đợc rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận, nó có thể không hiệu quả. Để có đợc một
kế hoạch hiệu quả hơn, kiểm toán viên thờng sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán
theo cách thứ hai để xác định rủi ro phát hiện và số lợng bằng chứng thích hợp
-6-



phải thu thập. Nhằm mục đích này, mô hình rủi ro kiểm toán đợc sử dụng theo
công thức sau:
DR

DAR
IR x CR

=

Tiếp tục thí dụ trên, giả sử kiểm toán viên xây dựng tỷ lệ rủi ro kiểm toán
mong muốn là 5%, kế hoạch kiểm toán có thể đợc thay đổi để thu thập bằng
chứng phù hợp với một mức rủi ro phát hiện là 12%, vì 0,5 / (0,8 x 0,5) bằng
0.125. Sử dụng hình thức này của mô hình rủi ro, yếu tố chính là rủi ro phát hiện
và nó xác định số lợng bằng chứng cần thiết. Số lợng bằng chứng thích hợp có
quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro phát hiện. Nhu cầu bằng chứng tăng lên khi rủi ro
phát hiện giảm xuống.
Cách thứ ba, thông dụng hơn, mà một số kiểm toán viên sử dụng mô hình
rủi ro kiểm toán là chỉ mối quan giữa các rủi ro khác nhau và mối quan hệ của
chúng với bằng chứng. Một sự hiểu biết về các mối quan hệ này là cần thiết để
lập kế hoạch thu thập bằng chứng thích hợp. Mỗi một yếu tố cấu thành mô hình
rủi ro kiểm toán đợc bàn đến một cách chi tiết trong phần dới đây.
Các yếu tố của mô hình rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán mong muốn (DAR - Desire Audit Risk)
Rủi ro kiểm toán mong muốn là rủi ro đợc xác định một cách chủ quan mà
kiểm toán viên sẵn sàng cho rằng các Báo cáo tài chính đợc trình bày trung thực
là hợp lý dựa trên các khía cạnh trọng yếu khi kết thúc kiểm toán, và đa ra ý kiến
chấp nhận toàn phần. Khi kiểm toán viên quyết định một tỷ lệ rủi ro kiểm toán
mong muốn thấp hơn nghĩa là kiểm toán viên chắc chắn rằng: các Báo cáo tài

chính không bị sai phạm trọng yếu. Rủi ro bằng 0% là chắc chắn, và rủi ro bằng
100% là hoàn toàn không chắc chắn. Do đó, rủi ro có thể nằm trong khoảng giữa
0% và 100%.
Nhìn chung, rủi ro kiểm toán mong muốn là khả năng mà kiểm toán viên đa
ra ý kiến không xác đáng về đối tợng đợc kiểm toán. Chẳng hạn, kiểm toán viên
đa ra ý kiến rằng Báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán đã trình bày trung
thực và hợp lý dựa trên các khía cạnh trọng yếu; Tuy nhiên, trên thực tế các báo
cáo đã đợc kiểm toán này vẫn còn tồn tại các sai phạm trọng yếu mà kiểm toán
viên không phát hiện ra trong suốt quá trình kiểm toán. Loại rủi ro nh vậy luôn
luôn có thể tồn tại, ngay cả khi cuộc kiểm toán đợc lập kế hoạch chu đáo và thực
hiện một cách thận trọng. Rủi ro này sẽ tăng lên nếu việc lập kế hoạch kiểm toán
kém và thực hiện thiếu thận trọng.
Kiểm toán viên có phải nỗ lực để có rủi ro kiểm toán thấp hơn trong một số
trờng hợp nhất định? Các chuyên gia kiểm toán thì cho rằng một tỷ lệ rủi ro
kiểm toán thấp một cách hợp lý luôn luôn đợc mong đợi. Nhng trong một số trờng hợp, một tỷ lệ rủi ro rất thấp đợc yêu cầu để bảo vệ cho ngời sử dụng Báo
-7-


cáo tài chính và cho kiểm toán viên. Nh vậy, rủi ro kiểm toán mong muốn phụ
thuộc vào mức độ ngời sử dụng bên ngoài tin vào các Báo cáo tài chính và khả
năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi công bố Báo cáo tài chính.
Mức độ những ngời sử dụng tin vào các Báo cáo tài chính: Khi những
ngời bên ngoài đặt niềm tin vào các Báo cáo tài chính cao thì tỷ lệ rủi ro kiểm
toán mong muốn phải giảm mới thích hợp. Khi ngời sử dụng bên ngoài đặt niềm
tin vào các Báo cáo tài chính thì mức độ tác hại trên phạm vi toàn xã hội sẽ càng
lớn nếu có một sai sót không đợc phát hiện trên Báo cáo tài chính. Do vậy trong
trờng hợp này kiểm toán viên cần xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp, từ đó
tăng số lợng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và tăng độ chính xác trong các
kết luận đa ra của mình. Một số dấu hiệu quan trọng để giúp kiểm toán viên
nhận ra mức độ ngời sử dụng bên ngoài tin vào các Báo cáo tài chính:

Quy mô của công ty khách hàng: Nói chung hoạt động của khách hàng
càng lớn, các Báo cáo tài chính càng đợc sử dụng rộng rãi. Quy mô của
một doanh nghiệp khách hàng đợc đo lờng bằng tổng số tài sản hoặc tổng
thu nhập sẽ có một ảnh hởng lớn đến rủi ro kiểm toán mong muốn.
Sự phân phối quyền sở hữu: Các Báo cáo tài chính của các công ty sở hữu
công cộng thờng đựoc nhiều ngời sử dụng tin tởng hơn các Báo cáo tài
chính của các công ty có quyền sở hữu hẹp hơn.
Bản chất và quy mô của công nợ: Khi các Báo cáo tài chính có một số lợng lớn các công nợ thì chúng có khả năng đợc sử dụng rộng rãi hơn bởi
các chủ nợ.
Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi công bố
báo cáo kiểm toán: Trong những tình huống mà kiểm toán viên tin rằng khách
hàng có nguy cơ gặp khó khăn về tài chính và có thể phải chịu thiệt hại cao, khi
đó rủi ro kinh doanh của khách hàng tăng, rủi ro kiểm toán mong muốn sẽ giảm
xuống. Đối với kiểm toán viên, dự đoán khả năng khách hàng có thể gặp khó
khăn trong tài chính là một điều khá phức tạp, tuy nhiên có một số yếu tố giúp
họ có thể nhận biết đợc điều này:
Khả năng hoán chuyển thành tiền mặt: Nếu một khách hàng thờng xuyên
thiếu tiền và vốn lu động, điều này là dấu hiệu cho thấy có thể doanh
nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán. Kiểm toán viên cần phải đánh
giá khả năng hoán chuyển thành tiền mặt yếu kém trong tình huống xấu
nhất.
Các khoản lãi (lỗ) trong các năm trớc: Khi một doanh nghiệp giảm nhanh
các khoản lãi hoặc tăng nhanh các khoản lỗ trong vài năm, kiểm toán viên
phải nhận biết các vấn đề thanh toán của khách hàng có thể sẽ gặp phải
trong tơng lai.
Các phơng pháp làm tăng quá trình tài trợ: Công ty khách hàng càng phụ
-8-


thuộc vào các khoản tài trợ, rủi ro gặp khó khăn trong tơng lai của doanh

nghiệp về mặt tài chính sẽ càng lớn (nếu công ty sản xuất kinh doanh hoặc
cung cấp dịch vụ kém hiệu quả trong tơng lai). Việc xem xét liệu tài sản
của doanh nghiệp có thờng xuyên đợc tài trợ nợ ngắn hạn hay nợ dài hạn
hay không cũng là một yếu tố quan trọng. Nhu cầu chi tiền mặt thờng
xuyên với số lợng lớn trong thời gian ngắn có thể buộc công ty đi đến phá
sản.
Bản chất hoạt động của công ty khách hàng: Một số loại hình doanh
nghiệp nhất định vốn có nhiều rủi ro hơn các doanh nghiệp khác, chẳng
hạn trong cùng một điều kiện nh nhau thì khả năng phá sản ở một công ty
môi giới chứng khoán cao hơn ở một công ty điện, nớc.
Năng lực của ban quản trị: Ban quản trị có năng lực thờng xuyên đối phó
đợc những khó khăn, sửa đổi nhằm phù hợp với hoàn cảnh thì sẽ giảm
thiểu đợc những hạn chế của doanh nghiệp trong ngắn hạn.
Kiểm toán viên phải tìm hiểu công ty khách hàng và đánh giá tầm quan trọng
của từng yếu tố trong các yếu tố có ảnh hởng đến mức độ mà ngời sử dụng tin tởng vào Báo cáo tài chính và khả năng gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo
kiểm toán đợc công bố. Căn cứ vào quá trình điều tra và đánh giá này, kiểm toán
viên phải có khả năng thiết lập một mức rủi ro có tính thăm dò và chủ quan cao.
Khi thực hiện kiểm toán, thông tin bổ sung về khách hàng sẽ đợc thu thập và
mức rủi ro kiểm toán mong muốn có thể đợc sửa đổi.
Các mức rủi ro kiểm toán khác nhau:
Có một số tình huống khiến kiểm toán viên khác nhau chọn mức rủi ro kiểm
toán khác nhau trong điều kiện tơng tự nh nhau. Đó là:
Khó khăn khi đánh giá rủi ro kiểm toán: Khi đánh giá rủi ro kiểm toán gặp
khó khăn thì việc kiểm toán viên chọn số lợng mẫu giống nhau cho những trờng hợp tơng tự nhau là không hợp lý. Nguyên nhân là do khi đó kiểm toán
viên sẽ bị động trong việc thu thập các bằng chứng bổ sung.
Tránh các mức rủi ro khác nhau: Mức rủi ro mà kiểm toán viên lựa chọn phải
tính đến cân đối giữa chi phí và mức rủi ro kiểm toán mà kiểm toán viên sẵn
sàng chấp nhận.
Trình độ thành thạo khác nhau: Do năng lực và kinh nghiệm nghề nghiệp của
kiểm toán viên khác nhau là khác nhau nên thờng có nhiều khả năng đi đến

mức rủi ro kiểm toán là khác nhau.
Mối quan hệ giữa mức rủi ro kiểm toán mong muốn với bằng chứng kiểm
toán
Khi sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán, ta thấy mối quan hệ trực tiếp giữa rủi
ro kiểm toán mong muốn với rủi ro phát hiện, và mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa
-9-


rủi ro kiểm toán mong muốnvới bằng chứng kiểm toán.
Rủi ro tiềm tàng (IR - Inherent Risk)
Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản thân
các đối tợng kiểm toán (cha tính đến sự tác động của bất cứ hoạt động kiểm toán
nào kể cả kiểm soát nội bộ). Tức là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục
trong Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính
gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.
Mức rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh và cả
năng lực nhân viên của khách thể kiểm toán. Kiểm toán viên không tạo ra và
cũng không kiểm soát rủi ro tiềm tàng mà họ chỉ đánh giá chúng.
Theo Mục 13 - Nguyên tắc 25 về Trọng yếu và rủi ro kiểm toán - Những
Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế, do IAPC phê chuẩn thì: "Rủi ro
tiềm tàng là những yếu điểm của số d tài khoản hoặc của một loại nghiệp vụ đối
với những sai sót có thể là nghiêm trọng, những sai sót này có thể đơn lẻ hoặc có
thể kết hợp với các sai sót ở những số d, các nghiệp vụ khác (ở đây giả định là
không có các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan). Rủi ro tiềm tàng nằm trong
chức năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trờng kinh doanh
cũng nh nằm trong bản chất của các số d tài khoản hoặc các loại nghiệp
vụ"(7,249).
Theo Mục 04 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ, quy định nh sau: Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do
khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính chứa đựng sai

sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống
kiểm soát nội bộ"(6, 77).
Mô hình rủi ro kiểm toán cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát. Việc đa rủi ro tiềm tàng vào mô hình rủi ro kiểm toán là một
trong những khái niệm quan trọng nhất của kiểm toán. Điều đó nhằm giúp kiểm
toán viên dự đoán nơi nào trên các Báo cáo tài chính có nhiều khả năng sai sót
nhất và nơi nào có ít khả năng sai sót hơn. Do đó có tác động đến tổng số bằng
chứng kiểm toán mà kiểm toán viên cần thu thập và tác động đến việc phân bổ số
lợng bằng chứng cho các khoản mục khác nhau trên Báo cáo tài chính.
Rủi ro kiểm soát (CR - Control Risk)
Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị kiểm
toán không phát hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu.
kiểm toán viên không tạo ra và cũng không kiểm soát rủi ro kiểm soát. Họ chỉ có
thể đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đợc kiểm toán và từ đó đa ra
mức rủi ro kiểm soát dự kiến.
- 10 -


Theo Mục 14 - Nguyên tắc số 25 về Trọng yếu và rủi ro kiểm toán - Những
Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế, cho rằng: "Rủi ro kiểm soát là rủi
ro do xác định sai, có thể xảy ra với một số d tài khoản hoặc một nghiệp vụ và
có thể là sai sót nghiêm trọng. Những sai sót này xảy ra đơn lẻ hoặc có thể kết
hợp với các sai sót của các số d, các nghiệp vụ khác mà hệ thống kiểm soát nội
bộ đã không ngăn chặn hoặc không phát hiện kịp thời. Rủi ro kiểm soát sẽ luôn
luôn xuất hiện và khó tránh khỏi vì những hạn chế có tính bản chất của bất cứ
một hệ thống kiểm soát nội bộ nào"(7,250).
Theo Mục 05 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ lại nhận định rằng: "Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót
trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không

ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời."(6, 77).
Nh rủi ro tiềm tàng, mối quan hệ giữa rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện là
quan hệ tỷ lệ nghịch trong khi mối quan hệ giữa rủi ro kiểm soát và bằng chứng
là quan hệ tỷ lệ thuận. Thí dụ, nếu kiểm toán viên kết luận là hệ thống kiểm soát
nội bộ tồn tại và hoạt động có hiệu quả, rủi ro phát hiện có thể tăng lên, số lợng
bằng chứng kiểm toán giảm xuống. Kiểm toán viên có thể tăng mức rủi ro phát
hiện khi các hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả vì một cơ cấu kiểm soát nội
bộ hiệu quả làm giảm khả năng sai sót trong các Báo cáo tài chính.
Rủi ro phát hiện (DR - Detection Risk)
Rủi ro phát hiện là khả năng xảy ra các sai sót trọng yếu hoặc gian lận trên
Báo cáo tài chính mà không đợc ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát
nội bộ và cũng không đợc kiểm toán viên phát hiện trong quá trình kiểm toán.
Rủi ro phát hiện đợc tính từ ba rủi ro trên trong mô hình kiểm toán.
Theo Mục 15 - Nguyên tắc số 25 - Trọng yếu và rủi ro kiểm toán, Những
Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế khẳng định rằng: "Rủi ro phát hiện
là những rủi ro mà kiểm toán viên không phát hiện ra các sai sót hiện có trong
các số d tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ. Những sai sót này có thể là nghiêm
trọng xảy ra đơn lẻ hoặc có thể kết hợp với các sai sót trong các số d, các
nghiệp vụ khác"(7,250).
Mức độ rủi ro phát hiện có quan hệ trực tiếp với phơng pháp kiểm toán của
kiểm toán viên. Một số rủi ro phát hiện sẽ thờng xảy ra cho dù có kiểm tra 100%
các số d và các loại nghiệp vụ vì kiểm toán viên có thể lựa chọn và áp dụng các
phơng pháp kiểm toán không phù hợp, áp dụng sai các phơng pháp kiểm toán
thích hợp hoặc giải thích sai các kết quả kiểm toán.
Theo Mục 06 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ, thì: "Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong
từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc
- 11 -



tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán
không phát hiện đợc"(6, 77).
Rủi ro phát hiện xác định bằng chứng mà kiểm toán viên có kế hoạch thu
thập. Khi rủi ro phát hiện thấp, kiểm toán viên sẽ không sẵn sàng chấp nhận
nhiều rủi ro của bằng chứng không phát hiện sai sót; do đó, cần thu thập một số
lợng bằng chứng đáng kể. Khi kiểm toán viên sẵn sàng chấp nhận thêm rủi ro,
thì bằng chứng cần sẽ ít hơn. Một phơng pháp tiếp cận đặc thù mà kiểm toán
viên sử dụng để vận dụng rủi ro phát hiện nhằm xác định số lợng bằng chứng
kiểm toán phải thu thập là chọn mẫu thống kê.
1.1.2.3- Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài
chính năm đầu tiên
Do đặc thù của kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên có nhiều khác
biệt với kiểm toán cho khách hàng quen thuộc nên các thủ tục kiểm toán nhằm
đánh giá rủi ro kiểm toán thờng đợc thực hiện đa dạng và phức tạp hơn. Công
việc này thờng do chủ nhiệm kiểm toán - những ngời có nhiều kinh nghiệm
trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán. Mỗi cuộc kiểm toán có những đặc thù
khác nhau tuy nhiên nhìn chung trình tự thực hiện cuộc kiểm toán Báo cáo tài
chính năm đầu tiên thờng nh sau:

- 12 -


Sơ đồ số 01: Trình tự thực hiện cuộc kiểm toán năm đầu tiên
Kiểm toán năm đầu tiên
Thu thập những thông tin cơ sở về bản chất hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và những chủ sở hữu
Đảm bảo rằng các thủ tục chấp nhận khách hàng đã đợc hoàn tất và phê chuẩn
đúng đắn.
Thảo luận với Ban Giám đốc của khách hàng, thống nhất quan điểm và thảo Th
cam kết kiểm toán.

Tiến hành một số thủ tục đặc biệt cho cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính năm
đầu tiên.
Xem xét tính rủi ro trong lĩnh vực hoạt động của công ty khách hàng và ảnh h
ởng của nó đến việc bố trí kiểm toán viên, giám sát và phỏng vấn.
Đạt đợc những bản sao các văn bản chứng tỏ đã có những thay dổi, biến động
lớn trong năm của công ty khách hàng.
Đảm bảo rằng các thủ tục chấp nhận khách hàng đã đợc hoàn tất và phê
chuẩn đúng đắn.
Thu thập những hiểu biết về hoạt động kinh doanh, tổ chức quản lý, sản phẩm,
nhà cung cấp và các biện pháp trả công cho công nhân viên của khách hàng
Đánh giá sự tác động của các yếu tố kinh tế và sự thay đổi trong môi trờng luật
pháp tới rủi ro kiểm toán
Xem xét các vấn đề trong hoạt động kế toán của khách hàng (biểu mẫu các
báo cáo tài chính, những thay đổi trong các chính sách kế toán)
Xem xét kinh nghiệm của Công ty kiểm toán ở kỳ trớc, lu ý đến những ảnh hởng
của các dịch vụ phi kiểm toán tới hoạt động của khách hàng
Tiến hành các thủ tục phân tích trong bớc lập kế hoạch dựa vào những thông
tin tài chính gần nhất
Thiết lập mức trọng yếu ban đầu lập kế hoạch và mức trọng yếu điều chỉnh

Xem tiếp trang16

- 13 -


Tiếp theo trang 15

Đánh giá tính chất phức tạp của hệ thống máy tính. Xem
xét nhu cầu thuê chuyên gia máy tính cho kiểm toán


Tìm hiểu hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ, cập nhật
các tài liệu về hai hệ thống quan trọng này

Khẳng định những hiểu biết của kiểm toán viên bằng việc
tiến hành các thủ tục kiểm tra từ đầu đến cuối

Đánh giá rủi ro tiềm tàng ở mức độ ảnh hởng đến toàn bộ
Báo cáo tài chính và xác định những khu vực có rủi ro kiểm
toán chủ yếu cần đợc tập trung xem xét.
Ghi vào kế hoạch.

Đánh giá rủi ro tiềm tàng đối với số d từng tài khoản
(nếu rủi ro thấp hơn mức tối đa)

Quyết định xem việc áp dụng các thử nghiệm kiểm soát có
hiệu quả và lập kế hoạch phù hợp với mục tiêu kiểm toán

Kiểm toán viên có đợc khách hàng yêu cầu báo caó về tính
hiệu kực của HT KSNB không?



Xem xét công việc
phụ và mức phụ
phí cần thiết

Không

Rủi ro kiểm soát có đợc đánh giá ở mức cao nhất không?


Đánh giá những mục tiêu kiểm soát chủ chốt và thiết kế
các thử nghiệm thích hợp với hoạt động kiểm soát có liên
quan đến mục tiêu kiểm toán



Thiết kế chơng trình phân tích
và các thủ tục kiểm toán cơ
bản khác đáp ứng mục tiêu
kiểm toán

Quy trình đánh giá rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán khi chấp
nhận hợp đồng kiểm toán năm đầu tiên
ThiếtTrớc
kế chơng
theovới
hớngmột
hạn chế
thủ tụchàng mới, công ty kiểm toán cần phải
khitrình
ký kiểm
hợptoán
đồng
khách
phân tích và cơ bản đáp ứng mục tiêu kiểm toán
điều tra khách hàng để khẳng định có nên chấp nhận Hợp đồng kiểm toán mới
- Các thủ tục kiểm toán chi
hay không. Với khách hàng năm đầu tiên đã đợc kiểm toántiết
bởi một công ty kiểm
Hoàn

thànhhệ
cuộc
kiểm
toán
trong
tài và
chính
trớc
thìlầnkiểm
thểvàliên
với
kiểm
Phêkhác
duỵệt kế
hoạchnăm
ngân sách
thời gian
chi tiết
cuối toán viên cótoán
phát hành báo cáo
cùng,
đồng
ý
trên
Th
hẹn
kiểm
toán
với
khách

hàng
toán viên tiền nhiệm để có thêm thông tin về khách hàng. Với khách hàng lần
- 14 -


đầu tiên thực hiện hoạt động kiểm toán, kiểm toán viên có thể điều tra thông
qua: các ngân hàng, các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân có liên quan.
Trong quá trình điều tra sơ bộ về khách hàng, kiểm toán viên hoặc công ty
kiểm toán cần tìm hiểu các thông tin về: Tính chính trực của Ban Giám đốc, độ
tin cậy của các Báo cáo tài chính của đơn vị khách hàng, sự phù hợp của hệ
thống bộ máy tổ chức. Bên cạnh đó kiểm toán viên cũng cần tìm hiểu và đánh
giá sơ bộ tình hình tài chính của doanh nghiệp khách hàng.
Việc đánh giá rủi ro để chấp nhận Hợp đồng kiểm toán đòi hỏi kiểm toán
viên giàu kinh nghiệm và có trình độ nghiệp vụ cao, thông thờng là các chủ
nhiệm kiểm toán hay thành viên của Ban Giám đốc.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên cần dựa vào các yếu tố ảnh hởng sau đây:
Bản chất kinh doanh của khách hàng: rủi ro tiềm tàng thờng bị tăng lên
bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh mà nó tạo nên những khó khăn
cho kiểm toán do tồn tại những khoản không chắc chắn hoặc khả năng tồn tại
một cách tiềm tàng các gian lận và sai sót trên Báo cáo tài chính.
Tính trung thực của Ban Giám đốc: Ban Giám đốc không thể xem là
hoàn toàn trung thực trong mọi trờng hợp. Khi Ban Giám đốc bị kiểm soát bởi
một hay một số cá nhân thiếu trung thực thì khả các Báo cáo tài chính bị báo cáo
sai sẽ tăng lên, do vậy rủi ro tiềm tàng sẽ đợc đánh giá ở mức cao.
Kết quả các cuộc kiểm toán trớc: Qua xem xét hồ sơ kiểm toán, kiểm
toán viên nhận thấy: một số tài khoản đã đợc phát hiện có sai phạm thì rủi ro
tiềm tàng đợc xác định ở mức cao. Lý do là nhiều sai phạm có tính chất hệ thống
và các đơn vị thờng chậm chạp trong quá trình sửa chữa nên các sai phạm năm
trớc vẫn có thể tiếp tục trong các năm tiếp theo.

Hợp đồng kiểm toán năm đầu tiên: Trong các hợp đồng kiểm toán năm
đầu tiên, kiểm toán viên thờng thiếu hiểu biết và kinh nghiệm về các sai sót của
đơn vị khách hàng nên họ thờng đánh giá rủi ro tiềm tàng cao hơn so với hợp
đồng kiểm toán dài hạn.
Các nghiệp vụ kinh tế không thờng xuyên: Các nghiệp vụ này có khả
năng đợc vào sổ sai nhiều hơn là các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày do khách hàng
thiếu kinh nghiệm trong việc hạch toán các nghiệp vụ đó, do đó rủi ro tiềm tàng
đối với các tài khoản chứa đựng các nghiệp vụ này thờng đợc đánh giá cao.
Các ớc tính kế toán: Rủi ro tiềm tàng của các tài khoản phản ánh các ớc
tính kế toán (dự phòng các khoản phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn
kho...) thờng đợc đánh giá là cao vì việc vào sổ đúng đắn các khoản mục này
không những đòi hỏi sự hiểu biết về bản chất các khoản mục, về lý thuyết liên
quan mà còn đòi hỏi kinh nghiệm và sự phán xét chủ quan của ngời có trách
nhiệm.
- 15 -


Qui mô của các số d tài khoản: Các tài khoản có số d bằng tiền lớn thờng đợc đánh giá là có rủi ro tiềm tàng cao hơn so với tài khoản có số d nhỏ.

Quy trình đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phơng diện Báo cáo tài chính .
Nguyên tắc số 29 - Những Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế có hớng dẫn: Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên dùng khả năng chuyên
môn của mình để đánh giá hàng loạt các nhân tố, ví dụ:
Giai đoạn lập Báo cáo tài chính:
Tính liêm chính của ban Giám đốc;
Kinh nghiệm, trình độ và những thay đổi của Ban Giám đốc trong giai đoạn
kiểm toán: Sự thiếu kinh nghiệm của Ban Giám đốc có thể ảnh hởng tới việc
lập Báo cáo tài chính của doanh nghiệp;
Sức ép không bình thờng đối với Ban Giám đốc: áp lực từ các cơ quan chức
năng, điều kiện và hoàn cảnh tác động khiến Ban Giám đốc phảI trình bày sai
các Báo cáo tài chính;

Công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
Các nhân tố ảnh hởng tới ngành nghề mà doanh nghiệp đang hoạt
động"(7,295)
Theo Mục 16 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ chỉ dẫn nh sau: Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phơng diện
Báo cáo tài chính:
Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng nh sự
thay đổi thành phần Ban quản lý trong niên độ kế toán;
Trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ kế toán và kiểm toán viên nội bộ;
áp lực bất thờng đối với Ban Giám đốc;
Đặc điểm hoạt động của đơn vị;
Các nhân tố ảnh hởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị"(6, 81)
Nh vậy về cơ bản không có sự khác nhau giữa cách thức thực hiện để đánh
giá rủi ro tiềm tàng trên phơng diện Báo cáo tài chính của thế giới và tại Việt
Nam. Kiểm toán viên cần đánh giá lần lợt các yếu tố trên và quyết định mức rủi
ro tiềm tàng thích hợp với từng khoản mục trên Báo cáo tài chính.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phơng diện số d tài khoản và loại nghiệp vụ.
Kiểm toán viên thờng cho rằng các tài khoản có số d bằng tiền lớn sai sót
nhiều hơn so với các tài khoản có số d nhỏ. Hầu hết kiểm toán viên sẽ xác định
mức rủi ro tiềm tàng trên 50%, kể cả trong trờng hợp tốt nhất, và ở mức 100%
khi có bất kỳ khả năng hợp lý nào của các sai sót đáng kể. Kiểm toán viên sẽ
xem xét các vấn đề sau: bản chất số d, các nghiệp vụ kinh tế không thờng xuyên,
các ớc tính kế toán. Riêng với kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên, kiểm
toán viên cần lu ý đến những nghiệp vụ phức tạp và bất thờng diễn ra trong năm
trớc có ảnh hởng đến số d đầu năm đang tiến hành kiểm toán.
- 16 -


Theo Mục 8 - Nguyên tắc 29 - Những Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm
toán quốc tế, thì việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trong giai đoạn số d tài khoản và

loại nghiệp vụ, cần xem xét các vấn đề sau:
Các khoản trong Báo cáo tài chính cần điều chỉnh: Một khoản của Báo
cáo tài chính cần có sự điều chỉnh cho một khoảng thời gian trớc;
Sự phức tạp của các nghiệp vụ chủ chốt: Điều đó đòi hỏi việc sử dung các
chuyên gia để tiến hành công việc;
Khối lợng và phạm vi xét đoán;
Tài sản dễ bị thất thoát hoặc dễ bị đánh cắp;
Các nghiệp vụ bất thờng và phức tạp: Thờng kết thúc vào thời điểm cuối
năm hay kết thúc năm" (7, 291).
Theo Mục 16 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ chỉ dẫn nh sau:
"Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, nh: Báo cáo tài chính
có những điều chỉnh liên quan đến niên độ kế toán trớc; Báo cáo tài chính
có nhiều ớc tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính
sách kế toán;
Việc xác định số d và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế,
nh: Số d các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế phát sinh sau khi ghi
nhận ban đầu tài sản cố định tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá tài
sản cố định;
Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, nh: phát sinh nhiều nghiệp vụ thu,
chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lợng lớn, thời gian thanh toán dài;
Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có
ý kiến của chuyên gia, nh: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp...;
Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thờng và phức tạp, đặc biệt là gần thời
điểm kết thúc niên độ kế toán;
Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thờng khác" (6, 82).
Quy trình đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm toán Báo cáo tài chính năm
đầu tiên
Đánh giá rủi ro kiểm soát: đợc thực hiện theo một trình tự nhất định và có
thể khái quát qua bốn bớc cơ bản sau:

Bớc 1: Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi tiết hệ
thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc:
Trong giai đoạn này kiểm toán viên tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ
của đơn vị đợc kiểm toán trên hai mặt chủ yếu: thiết kế kiểm soát nội bộ bao
gồm thiết kế về quy chế kiểm soát và bộ máy kiểm soát; hoạt động liên tục và có
hiệu lực của kiểm soát nội bộ.
Có nhiều phơng pháp tiếp cận để thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát


- 17 -


nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát, trong đó có hai cách phổ biến:
- Tiếp cận theo khoản mục;
- Tiếp cận theo chu trình nghiệp vụ.
Để đạt đợc sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên tiến
hành: thẩm vấn nhân viên của công ty khách hàng, xem xét sổ tay về thủ tục và
chế độ liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ mà khách hàng đang sử dụng,
kiểm tra các chứng từ và sổ sách kế toán hoàn tất, quan sát các hoạt động và quá
trình hoạt động của công ty khách hàng...
Để mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên sử dụng một trong
ba phơng pháp hoặc kết hợp cả ba phơng pháp tuỳ thuộc vào đơn vị đợc kiểm
toán và quy mô kiểm toán: vẽ các Lu đồ (Flowchart); lập Bảng câu hỏi về hệ
thống kiểm soát nội bộ (Questionaire); lập Bảng tờng thuật về kiểm soát nội bộ
(Narrative). Trong thực tế, các kiểm toán viên thờng sử dụng kết hợp các hình
thức này để cung cấp cho kiểm toán viên hình ảnh rõ nét nhất về hệ thống kiểm
soát nội bộ.
Trong Mục 12 - Những Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế nhận
định: "Trong quá trình tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ để vạch kế hoạch
cho một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên cần nắm chắc cấu trúc của hệ thống

kiểm soát nội bộ và việc chúng hoạt động có hiệu quả không thông qua biện
pháp kiểm tra từ đầu đến cuối một nghiệp vụ (7,294).
Trong Mục 20 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ hớng dẫn: "Khi tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên sẽ hiểu biết đợc việc thiết
kế và thực hiện của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng. Điều đó
giúp cho kiểm toán viên xác định đợc khối lợng các nghiệp vụ kinh tế tài chính
cần đợc kiểm tra cũng nh thiết lập các thủ tục kiểm tra cần thiết"(6, 84).
Bớc 2: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho từng
khoản mục
Sau khi thu thập đợc một sự hiểu biết về cách thiết kế và sự vận hành của
hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên sẽ đa ra đánh giá ban đầu về rủi ro
kiểm soát cho từng mục tiêu kiểm soát chi tiết. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ đợc thiết kế và vận hành hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát đợc đánh giá ở mức thấp, và
ngợc lại. Công việc này đợc làm riêng rẽ cho từng nghiệp vụ kinh tế chủ yếu
trong từng chu trình nghiệp vụ theo các bớc sau:
Nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận
dụng: kiểm toán viên vận dụng các mục tiêu kiểm soát nội bộ cho từng loại
khoản mục để đánh giá rủi ro kiểm soát với từng loại khoản mục.
Nhận diện quá trình kiểm soát đặc thù: kiểm toán viên không nhất thiết
phải xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉ tập trung phân tích các quá trình
kiểm soát chủ yếu.
Nhận diện và đánh giá các nhợc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ: Nh- 18 -


ợc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ đợc hiểu là thiếu những quá trình kiểm
soát thích đáng hoặc có tồn tại nhng hoạt động không có hiệu quả làm tăng khả
năng rủi ro.
Đánh giá rủi ro kiểm soát: kiểm toán viên có thể đánh giá rủi ro kiểm soát
theo yếu tố định tính (cao, thấp, trung bình), hoặc theo yếu tố định lợng (tỷ lệ
phần trăm).

Mối quan hệ giữa việc đánh giá rủi ro kiểm soát và việc xác định các thử
nghiệm áp dụng;
Trong kiểm toán Báo cáo tài chính việc đánh giá rủi ro kiểm soát có ảnh hởng trực tiếp đến việc xác định các phép thử nghiệm áp dụng.
Trong Mục 18, 19, 20 - Nguyên tắc 29 - Những Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm
toán quốc tế hớng dẫn cụ thể nh sau:
"Khi dự kiến phơng pháp kiểm toán, kiểm toán viên cần cân nhắc các đánh
giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát để xác định các kiểm toán viên trong việc phát
hiện có trong các cơ sở dẫn liệu của Báo cáo tài chính và xác định bản chất,
thời gian và phạm vi của phơng pháp kiểm toán cơ bản đối với các cơ sở dẫn
liệu.
Kiểm toán viên thờng đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức cao ở một số hay tất cả
cơ sở dẫn liệu khi kiểm toán viên tin rằng:
Các chế độ và các biện pháp của doanh nghiệp đối với một số cơ sở dẫn
liệu không có tác dụng;
Hay sự đánh giá tác dụng của các chế độ và biện pháp của doanh nghiệp
không có cơ sở dẫn liệu.
Kiểm toán viên có thể đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát ở mức thấp hơn chỉ
khi:
Kiểm toán viên có thể xác định các chế độ và các biện pháp của hệ
thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán liên quan đến các cơ sở dẫn liệu cụ
thể có khả năng ngăn cản hay phát hiện các sai sót quan trọng trong Báo cáo tài
chính.
Kiểm toán viên có kế hoạch tiến hành các biện pháp thử nghiệm về
tính tuân thủ để khẳng định sự đánh giá của mình"(7,294)
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ thì "Dựa trên sự hiểu biết hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát
nội bộ, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đánh giá ban đầu về rủi ro
kiểm soát với cơ sở dẫn liệu cho từng số d tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ
kinh tế chủ yếu"(6, 89).
Tuy nhiên đó chỉ là đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát. Việc đánh giá lại

rủi ro kiểm soát và thiết kế lại các thử nghiệm cơ bản trên số d và các nghiệp vụ
sẽ chỉ thực hiện trên kết quả của việc thực hiện thu thập bằng chứng kiểm toán
bằng phơng pháp tuân thủ nhằm giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số d.
Bớc 3: Thu thập bằng chứng kiểm toán bằng phơng pháp tuân thủ nhằm
- 19 -


hỗ trợ cho việc đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ thấp hơn
Theo Mục 25 - Nguyên tắc 29 - Những Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán
quốc tế:
"Sau khi hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ và kế toán và đã đánh giá rủi ro
kiểm soát, kiểm toán viên có thể tìm kiếm thêm các bằng chứng về cơ cấu và
tính hiện hữu trong hoạt động để hỗ trợ cho sự đánh giá đánh giá ở mức thấp
hơn đối với các cơ sở dẫn liệu nhất định. Do vậy, kiểm toán viên có thể thay đổi
nội dung và thời hạn của phơng pháp kiểm toán cơ bản hay giảm bớt phạm vi
của các biện pháp đó. Trong các trờng hợp nh vậy, kiểm toán viên cần phải xem
xét liệu các bằng chứng cần có để hỗ trợ cho sự đánh giá này đã đủ hay cha và
liệu việc tiến hành các biện pháp kiểm tra về tính tuân thủ để thu thập bằng
chứng có cần không (có nghĩa là các công việc kiểm toán dành cho phơng pháp
tuân thủ ít hơn các công việc kiểm toán có thể giảm bớt đợc do hạn chế bớt
phạm vi của phơng pháp cơ bản)"(7,300).
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội
bộ quy định kiểm toán viên phải thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để thu
thập bằng chứng về sự đầy đủ, về tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ
và kế toán trên các phơng diện:
Thiết kế: Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của đơn vị đợc thiết kế
sao cho có khả năng ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu.
Thực hiện: Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại và hoạt
động một cách hữu hiệu trong suốt niên độ kế toán.
Thử nghiệm kiểm soát đợc thực hiện với những phơng pháp khác nhau

tuỳ thuộc từng trờng hợp cụ thể. Phơng pháp kiểm tra tài liệu đợc áp dụng nếu
các thủ tục để lại các dấu vết trực tiếp trên tài liệu phê duyệt. Trong trờng hợp
các dấu vết để lại là gián tiếp, kiểm toán viên thực hiện lại các thủ tục kiểm
soát. Nếu các thủ tục kiểm soát không để lại dấu vết trong tài liệu, kiểm toán
viên tiến hành quan sát các hoạt động liên quan đến kiểm soát nội bộ hoặc
phỏng vấn nhân viên đơn vị về các thủ tục kiểm soát của những ngời thực thi
công việc kiểm soát nội bộ.
Ngoài thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên có thể thực hiện các thủ tục
kiểm toán khác để thu thập bằng chứng về tính hiệu quả của hệ thống kế toán
và hệ thống kiểm soát nội bộ.
Bớc 4: Lập bảng đánh giá kiểm soát nội bộ
Theo những thông tin và các tiêu chuẩn đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ
đợc tổng hợp qua các bớc trên, kiểm toán viên đa ra ý kiến đánh giá cuối cùng
về hệ thống kiểm soát nội bộ. Việc tổng hợp kết quả khảo sát về hệ thống kiểm
soát nội bộ có thể thực hiện qua việc lập Bảng đánh giá kiểm soát nội bộ hoặc
hình thức khác tuỳ thuộc vào xem xét của kiểm toán viên trong từng cuộc kiểm
toán cụ thể.
Theo Mục 31 về Soát xét lại các đánh giá về rủi ro kiểm soát - Những
- 20 -


Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế, thì: "Trớc khi kết thúc kỳ kiểm
toán, kiểm toán viên cần cân nhắc xác định xem các đánh giá về rủi ro kiểm
soát đã khẳng định cha. Nếu các đánh giá đó cần phải sửa lại, thì cần tiến
hành các biện pháp kiểm tra khác. Kiểm toán viên cần tập hợp thành tài liệu
mọi sự sửa đổi đối với đánh giá ban đầu"(7,301).
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 về Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ quy định về Đánh giá cuối cùng về rủi ro kiểm soát nh sau: "Trớc
khi rút ra kết luận kiểm toán, kiểm toán viên phải dựa vào kết quả các thử
nghiệm cơ bản và những bằng chứng kiểm toán khác để khẳng định lại quá

trình đánh giá của mình về rủi ro kiểm soát" (6, 94).
Sau khi lập Bảng đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên
tiến hành đánh giá lại rủi ro kiểm soát và thiết kế lại các thử nghiệm cơ bản trên
các số d và các nghiệp vụ. Nếu sau khi thực hiện các thử nghiệm kiểm soát,
kiểm toán viên không thu đợc bằng chứng về sự hữu hiệu của hệ thống kiểm
soát nội bộ, kiểm toán viên phải điều chỉnh lại đánh giá về rủi ro kiểm soát trên
cơ sở kết quả các thử nghiệm trên. Kiểm toán viên chỉ giữ lại đánh giá ban đầu
của mình về rủi ro kiểm soát nếu kết quả thử nghiệm kiểm soát cho thấy các thủ
tục kiểm soát thực sự hữu hiệu nh đánh giá ban đầu của kiểm toán viên.
Đánh giá rủi ro phát hiện trong kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên
Với một mức rủi ro kiểm toán nhất định, sau khi đánh giá rủi ro kiểm soát
và rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên cần dựa vào xét đoán của mính, lựa chọn các
phơng pháp kiểm toán cơ bản thích hợp để cân nhắc mức độ rủi ro phát hiện có
thể chấp nhận đợc. Ma trận sau đây thể hiện mức độ thông thờng chấp nhận đợc
của rủi ro phát hiện trên cơ sở đánh giá rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng:
Biểu số 01: Ma trận rủi ro phát hiện
Đánh giá của kiểm toán viên
về rủi ro kiểm soát
Cao
Trung bình
Thấp
Đánh giá
Cao
Thấp nhất
Thấp
Trung bình
Trung bình Thấp
Trung bình
Cao
của kiểm

toán viên về
Trung bình
Cao
Cao nhất
rủi ro tiềm Thấp
tàng
Trong đó:
Mỗi loại rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng đều đựoc chia thành rủi ro mức:
cao, trung bình, thấp.
Vùng tô đậm thể hiện mức độ rủi ro phát hiện.
Loại rủi ro phát hiện đợc chia thành rủi ro tiềm tàng mức: Cao nhất, cao,
trung bình, thấp, và thấp nhất.
Rủi ro phát hiện xác định bằng chứng mà kiểm toán viên có kế hoạch thu thập.
- 21 -


Khi rủi ro phát hiện thấp, kiểm toán viên sẽ không sẵn sàng chấp nhận nhiều rủi
ro của bằng chứng không phát hiện sai sót; do đó, cần thu thập một số lợng
bằng chứng kiểm toán với số lợng lớn. Khi kiểm toán viên sẵn sàng chấp nhận
thêm rủi ro, thì số lợng bằng chứng kiểm toán sẽ ít đi.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ, thì: "Kiểm toán viên phải dựa vào đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát để xác định nội dung, lịch trình và phạm vi thử nghiệm cơ
bản để giảm rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể
chấp nhận đợc"(6, 95).
1.2- Đặc điểm của vấn đề "Đánh giá rủi ro kiểm toán
năm đầu tiên, số d tài chính đầu năm"
trong phạm vi nghiên cứu.
Do có điều kiện đợc thực tập tại VACO, một công ty kiểm toán độc lập,
nên trong bài viết này em chỉ nghiên cứu vấn đề đánh giá rủi ro năm đầu tiên đợc thực hiện bởi một công ty kiểm toán độc lập. Việc đánh giá kiểm toán rủi ro

ảnh hởng đến quy trình cuộc kiểm toán, chất lợng cuộc kiểm toán, và xa hơn đó
là uy tín của công ty kiểm toán. Lịch sử ngành kiểm toán đã chứng kiến nhiều
vụ kiện các công ty kiểm toán do không phản ánh đúng thực trạng tài chính của
doanh nghiệp, bởi đã thiếu thận trọng trong việc đánh giá rủi ro kiểm toán.
Về cơ bản, đánh giá rủi ro kiểm toán trong hoạt động kiểm toán độc lập
cũng đợc xác định giống nh trong kiểm toán Nhà nớc. Theo Chuẩn mực Kiểm
toán Nhà nớc số 3 - Nhóm Chuẩn mực thực hành quy định các khái niệm về rủi
ro nh sau:
"Rủi ro tiềm tàng: là những sai sót vợt quá giới hạn cho phép tồn tại
ngay trong chức năng hoạt động và môi truờng quản lý của đơn vị.
Rủi ro kiểm soát: Là những sai sót vợt quá giới hạn cho phép mà hệ
thống kiểm soát nội bộ của đơn vị do yếu kém nên không phát hiện và ngăn
chặn đợc.
Rủi ro phát hiện: Là những sai sót vợt quá giới hạn cho phép trong các
thông tin tài chính của đơn vị mà kiểm toán viên không phát hiện ra"(10, 228).
Và quy trình kiểm toán khi xem xét rủi ro kiểm toán cũng đợc thực hiện
nh sau:
"Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên ớc lợng sơ bộ
về tính trọng yếu cho tổng thể và phân bổ cho từng nội dung, bộ phận cần kiểm
toán, đồng thời dự kiến rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận và từng loại rủi ro
kiểm toán ở từng bộ phận, nội dung kiểm toán. Căn cứ vào sự phân bổ và dự
kiến ban đầu kiểm toán viên phân tích mối quan hệ giữa tính trọng yếu và rủi
ro kiểm toán theo từng nội dung, bộ phận sẽ kiểm toán; từ đó, xác định nội
dung, thời gian, và phơng pháp kiểm toán.
Trong giai đoạn thực hiện, căn cứ vào bằng chứng kiểm toán đã thu
thập đợc, kiểm toán viên đánh giá các sai phạm về định lợng, định tính, nguyên
nhân. Khi xét thấy các sai phạm lớn làm ảnh hởng đến tính chính xác và ý kiến
- 22 -



nhận xét, kết luận kiểm toán, kiểm toán viên cần xem xét lại để điều chỉnh tính
trọng yếu và rủi ro kiểm toán và điều chỉnh lại kế hoạch kiểm toán.
Căn cứ vào kết quả thu thập bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên ớc
tính tổng số hoặc đánh giá tính chất của sai phạm trong từng nội dung, bộ phận
kiểm toán và sai phạm kết hợp của Báo cáo tài chính, từ đó so sánh với sai
phạm ớc tính trong kế hoạch để đa ra đánh giá, kết luận thích hợp đối với Báo
cáo tài chính và các thông tin tài chính có liên quan, hoặc thực hiện các thủ tục
tiếp theo nh mở rộng quy mô, phạm vi điều tra, thay đổi phơng pháp kiểm
toán..."(10, 230).
Tuy nhiên do quyền hạn và trách nhiệm của hai lĩnh vực khác nhau nên
giữa chúng có một số điểm khác biệt. Chẳng hạn, khi đánh giá rủi ro kiểm soát
hay rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên độc lập nhận thấy có những hạn chế trong
hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng. Khi đó, kiểm toán viên hoặc
công ty kiểm toán có thể tổng hợp và đánh giá, rồi đa ra kết luận kiểm toán. Sau
đó công ty kiểm toán có thể kiến nghị với khách hàng về hệ thống kiểm soát nội
bộ có những hạn chế và cách khắc phục dới hình thức Th quản lý. Ngợc lại,
kiểm toán viên Nhà nớc sau khi đánh giá rủi ro và đa ra kiến nghị theo hớng:
chấn chỉnh quản lý, tăng cờng công tác kế toán, xử lý các quan hệ tài chính,
hoặc cao hơn là đề nghị lên Chính phủ để có biện pháp xử lý kịp thời.
Chính vì vậy trong chuyên đề này mọi khía cạnh có liên quan đến vấn đề
đánh giá rủi ro kiểm toán đều đợc nghiên cứu trong phạm vi của lĩnh vực kiểm
toán độc lập.
Chơng II
Thực trạng công việc đánh giá rủi ro kiểm toán năm
đầu tiên do vaco thực hiện.
-----------

2.1. Đặc điểm của VACO ảnh hởng đến công tác
đánh giá rủi ro kiểm toán năm đầu tiên


2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của VACO
Tên đầy đủ tiếng Việt: Công ty Kiểm toán Việt Nam TNHH.
Tên viết tắt tiếng Việt: Công ty Kiểm toán Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế: Viet Nam Auditing Company Ltd.
Tên viết tắt tiếng Anh: VACO.
Trụ sở chính: Số 8 - Phạm Ngọc Thạch - Hà Nội - Việt Nam.
Tel: (844)852 2104/4118
- 23 -

Fax: (844)852 4119


Email:
VACO là công ty chuyên ngành kiểm toán đầu tiên của Việt Nam cung
cấp các dịch vụ về kế toán, kiểm toán, tài chính, thuế và quản lý đạt trình độ
quốc tế. Quá trình phát triển của VACO gắn liền với những thành tựu đổi mới
của ngành tài chính nói riêng và của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của Việt Nam nói chung.
VACO đợc thành lập theo Quyết định số 165 TC/QĐ/TCCB ngày 13
tháng 5 năm 1991 của Bộ trởng Bộ Tài chính.
VACO đã bắt đầu hợp tác với DTT từ năm 1992 và đã xác định đợc DTT
là một đối tác tốt để hợp tác cùng phát triển trên thị trờng Việt Nam. Ngày 01
tháng 04 năm 1993, theo Quyết định số 194/TC/TCCB của Bộ trởng Bộ Tài
chính, Công ty thành lập chi nhánh của mình tại Đà Nẵng. Công ty đã không
ngừng lớn mạnh, đã ký kết đợc nhiều hợp đồng kiểm toán với khách hàng ở mọi
miền của đất nớc. Tháng 4/1994 VACO đã liên doanh với DTT thành lập công
ty liên doanh VACO-DTT, đánh dấu một bớc phát triển mới của ngành kiểm
toán Việt Nam. Đến ngày 04/4/1995 theo Quyết định số 1187/GP của UBNN về
HTĐT cho phép một bộ phận của VACO liên doanh với Công ty Kiểm toán
hàng đầu thế giới Deloitte Touch Tomashu (DTT) thành lập Công ty liên doanh

VACO - DTT (còn gọi là Phòng Dịch vụ quốc tế - ISD) đã đánh dấu một bớc
ngoặt đối với sự phát triển của công ty VACO trở thành công ty kiểm toán Việt
Nam đầu tiên liên doanh với nớc ngoài.
Theo Quyết định số 1187/GPĐT ngày 21 tháng 09 năm 1995 của Uỷ ban
Nhà nớc về Hợp tác Đầu t (UBNN về HTĐT) cho phép công ty liên doanh
VACO-DTT mở chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 27 tháng 5 năm
1996, Công ty đã thành lập chi nhánh tại Hải Phòng theo Quyết định số
488/TC/QĐ/TCCB của Bộ Tài chính.
Nhằm tiếp thu và đón nhận những kỹ thuật kiểm toán tiên tiến của thế
giới, ngay từ khi mới thành lập, VACO đã tăng cờng hợp tác với tất cả các Hãng
kiểm toán hàng đầu thế giới nh Deloitte Touche Tohmatsu (DTT), Price
Waterhouse (PW), KPMG, Ernst & Young (E & Y), Arthur Andersen (A&A).
Ngày 01/10/1997 VACO đã chính thức công nhận là thành viên của hãng
kiểm toán quốc tế DTT và là đại diện hợp pháp duy nhất của DTT tại Việt Nam.
Nh vậy, VACO là công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc
tế và trở thành thành viên của một hãng kiểm toán và t vấn hàng đầu thế giới.
Năm 2003 mở ra một trang mới với VACO khi Công ty chính thức chuyển
thành công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên theo Quyết định số
152/2003/QĐ-BTC ngày 19/9/2003 của Bộ trởng Bộ Tài chính. Đây là công ty đầu
- 24 -


tiên thuộc khối dịch vụ và là một trong 18 công ty thuộc Bộ Tài chính chuyển thành
công ty TNHH một thành công ty viên. Đó là bớc đầu tiên trong lộ trình của Công
ty để chuyển thành thành viên của DTT vào tháng 9/2004.
Trong suốt quá trình phát triển hơn mời năm qua, VACO luôn khẳng định
và giữ vững vị trí là công ty kiểm toán đầu tiên và lớn nhất của Việt Nam.
VACO tự hào là công ty kiểm toán với chất lợng dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế
và là công ty chiếm thị phần lớn trong lĩnh vực kiểm toán các tổng công ty hàng
đầu của nhà nớc.

2.1.2. Đặc điểm các dịch vụ cung cấp của VACO
VACO là Công ty kiểm toán đầu tiên và lớn nhất ở Việt Nam cung cấp các
dịch vụ chuyên ngành cho nhiều khách hàng lớn thuộc mọi thành phần kinh tế
nh các doanh nghiệp sở hữu nhà nớc, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
100% vốn nớc ngoài, các dự án quốc tế... Hiện nay VACO là Công ty trong nớc
đầu tiên của Việt Nam đạt trình độ quốc tế cung cấp các dịch vụ chuyên ngành.
Dịch vụ kiểm toán:
Bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ kiểm toán Báo cáo tài chính hàng năm, VACO
có thể cung cấp các dịch vụ nh thực hiện việc soát xét khả năng sáp nhập và mua bán
doanh nghiệp, soát xét báo cáo tài chính hàng quý, thực hiện hợp nhất Báo cáo tài chính
trong tập đoàn quốc tế.
Với việc áp dụng phơng pháp và kỹ thuật tiên tiến của DTT, VACO đã thực hiện
các công việc kiểm toán Việt Nam và các quy định về kiểm toán phù hợp với các Chuẩn
mực Kiểm toán Quốc tế, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam và các quy định về kiểm toán
độc lập hiện hành tại Việt Nam.

VACO cũng thờng xuyên cung cấp dịch vụ kiểm toán cho các doanh
nghiệp trong nớc, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và công ty đa quốc gia,
đặc biệt trong các ngành sản xuất, khái thác mỏ dầu lửa, viễn thông, ngân hàng,
bảo hiểm, khách sạn và dịch vụ phần mềm, dịch vụ công cộng...
Dịch vụ kế toán:
Bộ phận chuyên cung cấp dịch vụ kế toán của VACO có những chuyên gia giỏi đã
đợc đào tạo về kế toán quốc tế ở trong nớc và nớc ngoài.
VACO có thể cung cấp các dịch vụ kế toán bao gồm việc ghi chép, giữ sổ, lập
báo cáo thuế, lập các báo cáo tài chính quý, năm theo yêu cầu của các cơ quan nhà nớc Việt

- 25 -



×