Tải bản đầy đủ (.doc) (56 trang)

Luận văn tìm hiểu chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp phường trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (248.13 KB, 56 trang )

mục lục
phần mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài.................................................................4
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................7
Đối tợng và khách thể nghiên cứu.................................................7
Phạm vi nghiên cứu.......................................................................8
Phơng pháp nghiên cứu.................................................................8
Giả thuyết nghiên cứu....................................................................9
Phần cơ sở lý luận
I.Hệ khái niệm
1. Khái niệm cán bộ, công chức.............................................10
2. Khái niệm quản lý và quản lý nhà nớc ..............................11
3. Khái niệm phờng và chính quyền cấp phờng.....................14
II. Các hớng tiếp cận lý thuyết
1. Lý thuyết hệ thống..............................................................17
2. Lý thuyết tơng tác xã hội....................................................19
Kết quả nghiên cứu
I. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu..............................................21
II. Thực trạng chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền
cấp phờng.............................................................................24
1.Độ tuổi..................................................................................25
2. Trình độ học vấn..................................................................28
3. Trình độ quản lý nhà nớc và lý luận chính trị....................32
III. Đánh giá của quần chúng nhân dân về đội ngũ cán bộ, công
chức phờng..............................................................................38
IV.So sánh chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức phờng của hai
quận Ba Đình và Cầu Giấy......................................................47
Kết luận và khuyến nghị
1. Kết luận......................................................................................62
2. Khuyến nghị..............................................................................64
Tài liệu tham khảo.............................................................................66




2


phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Với đờng lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo của Đảng cộng sản Việt Nam,
đất nớc ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoách hoá tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng,
theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nớc. Bằng những cải
cách mạnh mẽ về kinh tế, chúng ta đã vợt qua khủng hoảng, ổn định chính trị,
phát triển kinh tế xã hội, đa đất nớc vững bớc đi lên chủ nghĩa xã hội, hội
nhập vào sự phát triển của khu vực và thế giới.
Cùng với công cuộc cải cách kinh tế, công cuộc đổi mới tổ chức và phơng
thức hoạt động của hệ thống chính trị cũng từng bớc đợc triển khai. Hệ thống
pháp luật ngày càng phát triển và từng bớc đợc hoàn chỉnh để điều chỉnh ngày
một có hiệu quả các quan hệ kinh tế - xã hội. Bộ máy nhà nớc dần dần đợc
chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong điều hành và quản lý xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, trong quá trình phát triển, nền
hành chính nhà nớc cũng đã bộc lộ nhiều khuyết tật, bất cập trớc những yêu
cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội, công tác quản lý hành chính nhà nớc của các cấp chính quyền trong cả nớc còn bị buông lỏng ở nhiều khâu,
hiệu quả, hiệu lực quản lý của chính quyền cha cao, tập trung chủ yếu ở cấp
chính quyền cơ sở, trong đó chính quyền phờng là cấp có nhiều khó khăn
phức tạp khi thực hiện các nhiệm vụ đợc giao. Đứng trớc tình hình đó, Đảng
cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trơng cải cách nền hành chính nhà nớc và coi
đó là trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Một trong những nội dung quan trọng của công cuộc cải cách hành chính
là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính vừa có phẩm chất đạo dức

tốt, vừa có năng lực, trình độ chuyên môn cao, có kĩ năng quản lý, vận hành
bộ máy hành chính để thực hiện có hiệu quả các chủ trơng , đờng lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc.
Đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định chất
lợng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp nói chung và chính quyền
cấp cơ sở nói riêng. Hiệu lực quản lý nhà nớc đợc thực hiện bởi số lợng và
chất lợng của đội ngũ cán bộ, công chức, nh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
3


dẫn " Cán bộ nào thì phong trào ấy ". Do vậy, nhận biết đợc thực trạng của đội
ngũ cán bộ, công chức phờng là yếu tố cơ bản có tính quyết định góp phần đa
ra những giải pháp hữu hiệu cho việc nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công
chức nhằm đạt đợc hiệu quả cao trong công tác quản lý nhà nớc ở chính
quyền cấp phờng.
Quận Ba Đình là trung tâm hành chính, chính trị quốc gia, nơi đặt trụ sở
của nhiều cơ quan trung ơng Đảng và Nhà nớc, có nhiều đại sứ quán các nớc
đóng trên địa bàn và cũng là nơi diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nớc.Cùng với sự nghiệp phát triển đất nớc sau hơn 15 năm đổi mới, quận Ba
Đình đã phát huy đợc vai trò tiên phong là hạt nhân thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội của thủ đô, có tốc độ tăng trởng kinh tế và tốc độ đô thị hoá
diễn ra nhanh chóng, bộ mặt đô thị ngày một thay đổi, đời sống nhân dân
ngày càng đợc cải thiện . Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, chính quyền
cơ sở ở quận Ba Đình cũng còn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế, mà chất lợng
đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những vấn đề tạo ra những mặt yếu
kém trong tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp phờng, gây ảnh hởng
không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội của quận nói riêng và của thành
phố nói chung.
Cầu Giấy là một quận mới của thủ đô Hà Nội, đợc thành lập năm 1997
trên cơ sở sát nhập 4 thị trấn và 3 xã của huyện Từ Liêm. Do đặc điểm thành
lập của mình, quận Cầu Giấy có những đặc trng rất riêng, khác với các quận

khác của thủ đô. Quận có tỷ lệ dân sống bằng sản xuất nông nghiệp rất cao.
Mặc dù tốc độ đô thị hoá về nhà ở phát triển mạnh nhng hệ thống hạ tầng kĩ
thuật còn thấp, quan hệ cộng đồng vẫn theo nền nếp làng xóm, trình độ dân
trí không đồng đều.
Trong suốt một thời gian dài kể từ khi có khái niệm " quận " ( với ý nghĩa
tơng đơng khái niệm quận hiện nay ) trong công tác phân chia địa giới hành
chính và quản lý nhà nớc của nớc ta ( 1981 ), thành phố Hà Nội vẫn bao gồm
4 quận là Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa và Hai Bà Trng. Xuất phát từ tình
hình phát triển mới, trong 3 năm 1995, 1996, 1997 thành phố đã lần lợt mở
thêm các quận mới là Tây Hồ, Thanh Xuân và Cầu Giấy. Những thay đổi về
đơn vị hành chính của thành phố Hà Nội đã đem lại không ít những thay đổi
trong nhiều lĩnh vực. Giữa các quận mới và cũ tồn tại sự khác biệt trên nhiều
lĩnh vực, một trong số đó là lĩnh vực công tác quản lý nhà nớc của chính
4


quyền cấp phờng mà chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức là một khía cạnh cơ
bản.
Trên cơ sở những nhận định trên, tôi lựa chọn đề tài " Bớc đầu tìm hiểu
chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp phờng trong giai đoạn
hiện nay " để nghiên cứu và tiến hành trên địa bàn hai quận Ba Đình và Cầu
Giấy nhằm tìm hiểu thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền phờng
thuộc hai quận này cũng nh phát hiện những điểm tơng đồng và khác biệt
giữa đội ngũ cán bộ, công chức của hai quận, góp phần đa ra những giải pháp
hữu hiệu để nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền phờng
vì mục tiêu tăng cờng hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nớc của chính quyền
cấp này.
2. mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng một số kiến thức xã hội học để tìm hiểu thực trạng chất lợng

đội ngũ cán bộ , công chức của chính quyền cấp phờng trong giai đoạn hiện
nay.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm hớng đến làm sáng tỏ những vấn đề sau :
Tìm hiểu thực trạng chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức của chính
quyền cấp phờng tại các phờng thuộc quận Ba Đình, Cầu Giấy.
Xem xét chất lợng của đội ngũ cán bộ, công chức phờng thông qua
đánh giá của quần chúng nhân dân .


So sánh thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của hai quận Ba Đình
và Cầu Giấy nhằm rút ra kết luận về những khác biệt và tơng đồng
trong tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp cơ sở tại hai quận
này.

Đa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất
lợng đội ngũ cán bộ, công chức của chính quyền cấp phờng trong giai
đoạn hiện nay.
3. Đối tợng và khách thể nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu : chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức của
chính quyền cấp phờng.
5


Khách thể nghiên cứu : Cán bộ, công chức nhà nớc làm việc trong
chính quyền cấp phờng.

4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát : Địa bàn quận Ba Đình và quận Cầu Giấy, thành
phố Hà Nội.



Giới hạn lĩnh vực nghiên cứu : Mô tả và so sánh thực trạng chất lợng đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp phờng của hai quận
qua phân tích các tiêu chí độ tuổi, trình độ học vấn, trình độ quản lý
nhà nớc và trình độ lý luận chính trị cũng nh qua đánh giá của quần
chúng nhân dân.
5. Phơng pháp nghiên cứu
* Đề tài sử dụng phơng pháp chủ yếu là phân tích tài liệu trên cơ sở nghiên
cứu các báo cáo, các bảng số liệu thống kê về chất lợng đội ngũ cán bộ, công
chức tình hình tổ chức và hoạt động của chính quyền các phờng thuộc quận
Ba Đình và Cầu Giấy cũng nh các báo cáo về tình hình kinh tế xã hội của các
phờng trên địa bàn hai quận.
* Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phơng pháp điều tra bằng bảng hỏi đối
với quần chúng nhân dân trên địa bàn hai quận Ba Đình và Cầu Giấy nhằm
tìm hiểu nhận thức của quần chúng nhân dân về công tác quản lý của đội ngũ
cán bộ, công chức phờng cũng nh đánh giá của họ về hiệu quả hoạt động của
đội ngũ này.
Bảng hỏi đợc xây dựng gồm 8 câu hỏi nhằm làm rõ những thông tin cơ
bản sau :
- Đặc điểm cá nhân
- Đánh giá về những hạn chế và nguyên nhân của chúng trong hoạt động
của chính quyền phờng tại địa phơng
- Nhận thức về những yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức phờng
- Đánh giá về hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức phờng
6


- Đề xuất những biện pháp để nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức
phờng
Mẫu đợc chọn bao gồm 300 đơn vị mẫu là ngời dân sống trên địa bàn hai

quận Ba Đình và Cầu Giấy. Mẫu đợc chọn theo nguyên tắc hoàn toàn ngẫu
nhiên, chia đều cho địa bàn 12 phờng của quận Ba Đình và 7 phờng của quận
Cầu Giấy.
Số liệu thu đợc đợc xử lý theo chơng trình Acessory for Windows, sau đó
đợc phân tích dựa trên tần suất của các phơng án trả lời trong từng câu hỏi.
* Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phơng pháp phỏng vấn sâu đối với một số
đồng chí là cán bộ lãnh đạo hoặc nhân viên thuộc UBND một số phờng trên
địa bàn quận Ba Đình cũng nh Cầu Giấy, phòng Tổ chức chính quyền quận và
văn phòng Thành Uỷ Hà Nội nhằm thu thập thêm những thông tin chi tiết, sâu
sắc về vấn đề nghiên cứu.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp phờng hiện nay còn
cha thực sự cao, cụ thể là :
- Cơ cấu độ tuổi ở mức trung bình, còn thiếu đội ngũ cán bộ, công chức trẻ.
- Mặt bằng chung về trình độ học vấn, trình độ quản lý nhà nớc và trình độ
lý luận chính trị còn thấp.
Tồn tại sự khác biệt trong chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền
phờng giữa quận cũ và quận mới thành lập. Đội ngũ cán bộ, công chức của
các phờng thuộc quận mới đã đợc trẻ hoá và có mặt bằng chung về trình độ
cao hơn.

7


phần cơ sở lý luận
I.
hệ khái niệm
1. Khái niệm cán bộ, công chức
Điều 1, chơng 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức do Uỷ ban thờng vụ Quốc
Hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 / 2 / 1998

quy định :
Cán bộ , công chức là công dân Việt Nam, làm việc trong biên chế và
hởng lơng từ ngân sách nhà nớc, bao gồm :
- Những ngời do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong
các cơ quan nhà nớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
- Những ngời đợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đợc giao nhiệm vụ thờng xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội.
- Những ngời đợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ
thờng xuyên, đợc phân loại theo trình độ đào tạo ngành, chuyên
môn, đợc xếp vào ngạch hành chính sự nghiệp trong các cơ quan
nhà nớc, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ,
có chức danh tiêu chuẩn riêng.
- Thẩm phán Toà án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
- Những ngời đợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đợc giao nhiệm vụ thờng xuyên làm việc trong các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân
dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công dân
quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
Nh vậy, cán bộ, công chức chính quyền phờng là những cán bộ, công
chức nhà nớc làm việc trong cơ cấu tổ chức của chính quyền cấp phờng, là
những ngời đợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một vị trí nhất định trong bộ
máy chính quyền phờng.
2. Khái niệm quản lý và quản lý nhà nớc.
2.1 Khái niệm quản lý

8


Xã hội loài ngời xuất hiện, nhu cầu tổ chức , điều hành xã hội cũng hình
thành nh một tất yếu lịch sử. Trong lịch sử, trình độ, tính chất quản lý xã hội
phát triển từ thấp đến cao theo sự phát triển của xã hội. Xã hội đợc quản lý

tốt bằng những cơ chế, biện pháp tiến bộ thì ổn định, không ngừng phát triển
và ngợc lại. Hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ quản
lý. Có quan niệm cho rằng quản lý là hành chính, là cai trị. Có quan niệm
khác lại cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển , chỉ huy. Các cách nói này
nhìn chung không có gì khác nhau về nội dung mà chỉ khác về cách dùng
thuật ngữ, khác về cách diễn giải. Quản lý đợc hiểu theo hai góc độ : một là
góc độ tổng hợp mang tính chính trị xã hội ; góc độ khác mang tính hành
động thiết thực. Hai quan niệm này đều có cơ sở khoa học và thực tế. Nhìn
chung, quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp ngời, công cụ, phơng
tiện, tài chính.v.v để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt đợc mục tiêu
định trứơc.
Dới góc độ xã hội học, quản lý là một khái niệm chỉ chức năng của các hệ
thống có tính tổ chức, chức năng này có trong giới sinh học, trong đời sống
xã hội và trong quản lý kĩ thuật. Quản lý nói chung là chức năng nhằm bảo
vệ và duy trì các cơ cấu xác định của một tổ chức, đồng thời duy trì chế độ
hoạt động thực hiện một chơng trình và một mục đích của hoạt động đã đợc
ý thức hoá của một tập đoàn ngời, của một tổ chức xã hội hoặc của một cá
nhân nào đó với t cách là một chủ thể của hoạt động quản lý.
Tóm lại, khái niệm quản lý có thể đợc hiểu là : Sự tác động liên tục, có tổ
chức, có ý thức hớng mục đích của chủ thể vào đối tợng nhằm đạt đợc hiệu
quản tối u so với yêu cầu đặt ra.
Mô hình hoạt động quản lý
Liên hệ trực tiếp
Lệnh từ cấp trên

Chủ thể

Đối tợng

9



Liên hệ ngợc ( thông tin phản hồi )
Trong khuôn khổ của đề tài, khái niệm quản lý đợc cụ thể hoá với chủ
thể là đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp phờng, đối tợng quản lý
là quần chúng nhân dân trên địa bàn phờng.
2.2 Khái niệm quản lý nhà nớc
Quản lý nhà nớc là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nớc,
sử dụng quyền lực nhà nớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi
hoạt động của con ngời. Quản lý nhà nớc khác với dạng quản lý của các
chủ thể khác ở chỗ các chủ thể này không dùng quyền lực pháp luật của
nhà nớc để điều chỉnh các quan hệ quản lý mà chỉ dùng phơng thức giáo
dục, vận động quần chúng. Quản lý nhà nớc cũng có nội dung nh quản lý
hành chính nhà nớc vì hành chính nhà nớc là một dạng hoạt động tổ chức
và điều hành để thực hiện quyền lực nhà nớc.
Quản lý hành chính nhà nớc là hoạt động hành chính của các cơ quan
thực thi quyền lực nhà nớc ( quyền hành pháp ) để quản lý, điều hành các
lĩnh vực của đời sống xã hội theo pháp luật. Đó là Chính phủ và các cơ
quan chính quyền địa phơng các cấp, không kể các tổ chức thuộc nhà nớc
nhng không nằm trong cơ cấu quyền lực nh các doanh nghiệp và các đơn
vị sự nghiệp. Quyền hành pháp có hai nội dung : một là lập quy, đợc thực
hiện bằng việc ra văn bản pháp quy, quy phạm pháp luật để chấp hành
luật, hai là quản lý hành chính tức là tổ chức, điều hành , phối hợp các
hoạt động kinh tế xã hội để đa luật pháp vào đời sống.
Hoạt động quản lý nhà nớc là điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi
hoạt động của con ngời bằng quyền lực của nhà nớc. Hoạt động đó đợc thể
hiện bằng các quyết định của các cơ quan nhà nớc dới hình thức các văn
bản pháp lí. Trong đó, các nguyên tắc, quy tắc,tiêu chuẩn, biện pháp đợc
quy đinh chặt chẽ để không ngừng đáp ứng sự phù hợp giữa chủ thể và
khách thể quản lý, bảo đảm sự cân đối hài hoà về sự phát triển của quá

trìnhh xã hội.
Tóm lại, chúng ta có thể định nghĩa quản lý hành chính nhà nớc nh sau :
Quản lý hành chính nhà nớc là hoạt động thực thi quyền hành pháp của
nhà nớc, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật nhà nớc đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngời để duy
10


trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nớc trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa do các cơ quan trong
hệ thống chính phủ từ trung ơng đến cơ sở tiến hành.

3. Khái niệm phờng và chính quyền cấp phờng
3.1 Khái niệm phờng
Thuật ngữ " phờng " đã xuất hiện từ năm 1010 khi Lý Công Uẩn dời
đô từ Hoa L ra Đại La lấy tên là Thăng Long, cả kinh thành đựơc xem
nh một phủ gồm 61 phờng. Thể chế phờng này đợc giữ nguyên qua các
đời Trần , Lê. Dới thời nhà Nguyễn, năm 1831 vua Minh Mạng tiến
hành cải cách hành chính và đã chia nhỏ các phờng của kinh thành
Thăng Long. Từ khi chính phủ lâm thời nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra đời cho đến tận năm 1981, trong cơ chế hành chính của nớc ta không
có khái niệm phờng mà chỉ tồn tại khu phố, khối và tiểu khu. Từ năm
1981 tiểu khu đợc đổi thành phờng và duy trì cho đến nay. ( Hỏi đáp
1000 năm Thăng Long Hà Nội, Tô Hoài - Nguyễn Vinh Phúc, NXB Trẻ
- 2000 )
Theo Từ điển tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học - Uỷ ban khoa học xã
hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, năm 1998, phờng đợc định nghĩa
nh sau :
- Là khối dân c gồm những ngời cùng một nghề và là đơn vị hành
chính thống nhất ở kinh đô Thăng Long và một số thị trấn thời

phong kiến ( Ba mơi sáu phờng của Thăng Long )
- Là tổ chức gồm những ngời ( thờng là thợ thủ công ) cùng một
nghề thời phong kiến ( Phờng vải, phờng săn, phờng chèo...)
- Là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị, tổ chức theo khu
vực dân c ở đờng phố, dới quận ( UBND phờng )
Định nghĩa nêu trên đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của phờng.
Đó là tổ chức của một cộng đồng ngời đợc giới hạn bởi những công
việc nhất định, cùng sinh sống và và tồn tại trong địa giới tự nhiên
hoặc do nhà nớc quy định, ở đó có những quy ớc, quy định và thiết
11


chế riêng đợc mọi ngời trong phờng thống nhất và cùng nhau thực
hiện.
Hiến pháp 1980 quy định việc phân chia các đơn vị hành chính của
nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nh sau :
- Nớc chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng và các đơn vị
hành chính tơng đơng.
- Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã .
- Thành phố trực thuộc trung ơng chia thành quận, huyện.
- Huyện chia thành xã và thị trấn.
- Thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phờng và xã .
- Quận chia thànhh phờng.
Nh vậy, phờng là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị đợc
công nhận từ năm 1981, đợc quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn theo quyết định số 94/HĐBT năm 1981 của Hội Đồng Bộ Trởng
và luật tổ chức HĐND và UBND đợc Quốc hội thông qua ngày
30/6/1983.
3.2 Khái niệm chính quyền cấp phờng
Theo tinh thần Hiến pháp 1992 , các cơ quan hành chính nhà nớc hợp

thành một chỉnh thể thống nhất, toàn vẹn, có quan hệ chặt chẽ với nhau,
và quyết định tính thống nhất về nhiệm vụ, chức năng hoạt động quản lý
nhà nớc, chức năng chấp hành và điều chỉnh. Các cơ quan hành chính
nhà nớc bao gồm :
- Cơ quan hành chính nhà nớc cao nhất là chính phủ.
- Cơ quan hành chính nhà nớc trực thuộc chính phủ ( các bộ, uỷ ban
nhà nớc, các cơ quan thuộc chính phủ )
- Cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng.
Cũng theo Hiến pháp 1992, uỷ ban nhân dân đợc quy định là cơ quan
hành chính nhà nớc ở địa phơng, không chỉ chịu trách nhiệm chấp hành
những nghị quyết của Hội đồng nhân dân mà cả những nghị quyết của cơ
quan chính quyền cấp trên, thi hành pháp luật thống nhất của nhà nớc. UBND
là cơ quan trong hệ thống thực hiện quyền hành pháp, hệ thống hành chính

12


nhà nớc thống nhất, là cơ quan hoạt động thờng xuyên, thực hiện quản lý nhà
nớc, chỉ đạo , điều hành công việc hàng ngày của nhà nớc ở địa phơng.
Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp phờng - Ban hành
theo quyết định số 3940/QĐ - UB ngày 25/8/1990 của UBND thành phố Hà
Nội đã chỉ rõ : " Phờng là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị ; là nơi
trực tiếp thực hiện mọi chủ trơng, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nớc, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân. Chính quyền cấp phờng có chức
năng chủ yếu là quản lý hành chính nhà nớc, quản lý xã hội và chăm lo phục
vụ đời sống dân c. "

II. Cơ sở lý thuyết
1. Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống đợc viết và công bố thành sách năm 1927 của tác

giả Bertalanffy và đến những năm 60, 70 của thế kỉ 20 thì lý thuyết này
đợc áp dụng rất phổ biến trong khoa học quản lý.
Lý thuyết hệ thống coi các tổ chức, thiết chế hay quá trình xã hội là
các hệ thống tồn tại trong một môi trờng, lấy input từ môi trờng, chế
biến các input, đa output ra môi trờng và kiểm tra quá trình đó thông
qua các cơ chế phản hồi ( hình )
môi trờng

13


input

Quá trình hoạt động

output

phản hồi
những khái niệm quan trọng về các hệ thống dùng trong lĩnh vực quản
lý là :
- Các hệ thống con : là các bộ phận tạo thành một tổng thể, chúng
cũng có thể có những hệ thống con khác. Ví dụ các khoa là hệ
thống con của một trờng đại học, các bộ môn lại là hệ thống con
của các khoa.
- Synergy : là khái niệm do Aritstot đa ra, nói lên rằng một tổng thể
lớn hơn tổng các bộ phận của nó. Ví dụ nếu chia một nhà máy
thành những đơn vị nhỏ cùng thực hiện một chức năng thì sẽ làm
giảm sản lợng hoặc tăng chi phí.
- Hệ thống mở và hệ thống đóng : theo lý thuyết hệ thống có hai loại
hệ thống mở và đóng. Hệ thống mở tác động tơng hỗ với môi trờng

còn hệ thống đóng thì không. Trong thực tế thì mọi hệ hệ thống
đều mở nhng ở mức độ khác nhau.
- Đờng biên của hệ thống : Mỗi hệ thống đều có một đờng biên để
tách nó với môi trờng. Hệ thống càng mở thì đờng biên của nó
càng linh hoạt.
- Luồng ( flow ) : Có thể quan sát mọi hệ thống theo các luồng vật t,
năng lợng và thông tin.
- Sự phản hồi : Mọi hệ thống đều có các cơ chế phản hồi để cung
cấp thông tin về sự tiến triển của hệ thống và về sự điều chỉnh cần
thiết.
Lý thuyết hệ thống đợc áp dụng rất hiệu quả trong quản lý đặc biệt là việc
thiết kế các hệ thống thông tin hay thiết kế ma trận tổ chức.
Dới góc độ xã hội học , lý thuyết hệ thống của nhà xã hội học Mỹ nổi
tiếng T. Parsons đợc hầu hết các nhà nghiên cứu sử dụng làm cơ sở cho việc
nghiên cứu đời sống xã hội.
14


Theo Parsons :
- Xã hội là một hệ thống tơng đối khép kín có phần đồng bộ của
những hành động.
- Hệ thống tổng thể cũng giống nh một cá thể, luôn tự bảo tồn.
- Nó hớng tới một trạng thái cân bằng.
Nh vậy, " hệ thống xã hội đợc hình thành nhờ những trạng thái và quá
trình tơng tác mang tính xã hội của những cá nhân hành động " đồng thời đợc
dựa trên bốn hệ thống phân hệ hành động của con ngời ( hệ thống hành vi, hệ
thống cá nhân, hệ thống xã hội và hệ thống văn hoá ) và mỗi hệ thống này
mang lại hiệu suất, chức năng khác nhau phù hợp với bốn phân hệ trên, đó là :
- Chức năng phù hợp ( Adoptation ) : giải quyết những nhu cầu về
môi trờng và tài nguyên thiên nhiên sẵn có - chức năng thuộc lĩnh

vực lao động và kinh tế.
- Chức năng hớng đích ( Goal attainment ) : chức năng chính trị
- Chức năng hoà nhập ( Integration ) : chức năng pháp luật
- Chức năng bảo toàn cấu trúc ( Latency ) : chức năng giáo dục
Nội dung của lý thuyết này có thể đợc khái quát nh sau : xã hội ở tầm vĩ
mô hay vi mô đều luôn tồn tại với t cách một hệ thống toàn vẹn, mọi bộ phận
cấu thành hệ thống đều phụ thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ, mỗi yếu tố
riêng lẻ chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong tổng thể, các mối tơng tác, cơ cấu và
trạng thái cũng phải đợc đặt trong tổng thể nếu muốn hiểu rõ về chúng.
Trên cơ sở đó, khi xem xét thực trạng chất lợng độ ngũ cán bộ, công chức
của chính quyền cấp phờng ta phải đặt nó trong mối quan hệ biện chứng và
thống nhất với cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền phờng
cũng nh phải đặt nó trong bối cảnh chung của nền kinh tế xã hội nớc ta trong
thời kì đổi mới.
2. Lý thuyết tơng tác xã hội
Các nhà xã hội học George Simmel, V. Đobrianop, K. Marx....đều cho
rằng :
" Chúng ta phải chấp nhận nh một nguyên tắc hợp thức cho cả thế giới là
tất cả đều nằm trong một mối quan hệ qua lại nào đó, rằng giữa mỗi điểm của
thế giới và mỗi lực khác nhau đều có quan hệ qua lại " và nh vậy " xã hội là
15


kết quả của tác động qua lại giữa các cá thể, các nhóm và các thành phần xã
hội khác nhau cấu tạo nên. "
Xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng của K. Marx, theo Đobrianop
thì loài ngời có 5 loại hoạt động xã hội là : hoạt động sản xuất vật chất, hoạt
động văn hoá, hoạt động tái sản sinh xã hội, hoạt động quản lý xã hội và hoạt
động giao tiếp xã hội, đó là quan hệ giữa các chủ thể xã hội diễn ra trong quá
trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng các giá trị vật chất và tinh

thần, năng lợng và thông tin. Và ông cho rằng " Mỗi hoạt động có mục đích
của con ngời chỉ có thể trở thành hoạt động xã hội khi nó nằm trong và thông
qua một số mối quan hệ giữa các chủ thể hoạt động ", " mỗi quan hệ xã hội
đều gắn liền với một hoạt động nhất định "
Và nh vậy, muốn giải thích các mối quan hệ xã hội, các hoạt động, các quá
trình và hiện tợng xã hội, phải đặt nó trong mối quan hệ tơng tác lẫn nhau
giữa các quan hệ, quá trình và hiện tợngđó.
Do đó, trong quá trình phân tích chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức
chính quyền phờng trong giai đoạn hiện nay, ta không thể không đặt nó trong
sự tác động qua lại với các yếu tố khách quan cũng nh chủ quan đã dẫn đến
thực trạng này nh các chủ trơng, đờng lối của Đảng và Nhà nớc nói chung và
chủ trơng, đờng lối về công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ,công chức nói riêng;
điều kiện kinh tế - xã hội của các phờng, quận, thành phố cũng nh cả nớc.
Bên cạnh đó, ta cũng không thể bỏ qua sự tác động trở lại của thực trạng đội
ngũ cán bộ, công chức tới hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp phờng.

kết quả nghiên cứu
I. tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1. Những đặc điểm cơ bản về phờng ở nớc ta hiện nay

16


Cho đến nay, ở nớc ta tổng số các đơn vị chính quyền cấp phờng là
1002, chiếm 9,56% về cơ cấu đơn vị chính quyền cơ sở. Thành phố Hà
Nội với diện tích 927,4 km2, tổng dân số là 2,697 triệu ngời đợc chia
thành 228 xã, phờng, thị trấn trong đó phờng là 102 ( chiếm 45 % ) và dân
số của phờng là 1,43 triệu ngời ( chiếm 53 % ), diện tích địa giới hành
chính phờng là 82,87 km2 ( chiếm 8,94 % )
Về lãnh thổ, phờng hiện nay ở nớc ta chủ yếu đợc cấu thành từ các

vùng đô thị nhỏ, các làng nghề truyền thống, các khu buôn bán tập trung,
các khu đô thị tự phát hoặc các khu dân c do mở rộng trung tâm của các
thị xã, thành phố.....Phờng có vị trí địa lý đợc giới hạn trong địa giới hành
chính của các quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, là địa bàn đô thị thu nhỏ,
có mật độ dân c cao. Các công trình kinh tế, văn hoá, phúc lợi xã hội chỉ
có thể xây dựng theo quy hoạch chung của cả đô thị.
Về dân c, cộng đồng dân c ở phờng có sự gắn bó trực tiếp và chặt chẽ
với nhau về các nhu cầu và lợi ích vật chất cũng nh tinh thần. Dân c của
phờng về cơ bản đợc tập hợp từ nhiều vùng, miền khác nhau, đa dạng,
phức tạp và tập trung với mật độ cao, chủ yếu có lối sống phi nông nghiệp
có trình độ học vấn và nhận thức xã hội cao.
Về tổ chức, chính quyền cấp phờng là chính quyền địa phơng ở một
đơn vị hành chính xác định. Tổ chức bộ máy hành chính cấp phờng bao
gồm toàn bộ các cơ quan, tổ chức hành chính đợc tổ chức và hoạt động
theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản
lý hành chính nhà nớc tại địa phơng.
Về kinh tế, chính quyền phờng là một đơn vị ngân sách ở địa phơng,
hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, thơng
mại và dịch vụ.
Với những đặc điểm trên, hoạt động của chính quyền cấp phờng có
những điểm phức tạp riêng, đòi hỏi phải có những giải pháp hữu hiệu để
tăng cờng vị trí và vai trò của chính quyền cấp phờng trong hệ thống chính
trị nớc ta giai đoạn hiện nay.
2. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Quận Ba Đình nằm ở trung tâm thành phố, có diện tích 9,3 km2 với dân
số là 202.700 ngời ( tính đến ngày 31/12/1999 ), mật độ dân số trung bình
là 21.797 ngời/km2.
17



Quận Ba Đình đợc chia thành 12 phờng : Cống Vị, Đội Cấn, Điện Biên,
Giảng Võ, Ngọc Khánh, Ngọc Hà, Kim Mã, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá,
Quán Thánh, Thành Công, Trúc Bạch. Từ năm 1996 đến nay các đơn vị
hành chính của quận Ba Đình đợc tổ chức tơng đối ổn định. ( năm 1995, 3
phờng Bởi, Trúc Bạch, Thuỵ Khuê của quận Ba Đình đợc tách ra để cùng
một số xã của huyện Từ Liêm thành lập quận mới Tây Hồ )
Ba Đình là quận có nhiều cơ quan trung ơng, tổ chức quốc tế, cơ quan
đại diện ngoại giao của nhiều nớc chọn đặt trụ sở, đợc coi là trung tâm
hành chính - chính trị quốc gia. Điều này tạo nhiều nét đặc thù riêng cho
hoạt động quản lý của UBND. Quận cũng là nơi có nhiều danh lam thắng
cảnh, di tích lịch sử văn hoá, nơi thờng xuyên diễn ra những sự kiện chính
trị trọng đại của đất nớc. Nhìn chung dân c trên địa bàn quận có lối sống
phi nông nghiệp, trình độ dân trí cao. Tuy nhiên, ở một số khu vực trên địa
bàn các phờng Phúc Xã, Ngọc Hà, Cống Vị.....còn có một số hộ dân sống
bằng nghề canh tác rau, hoa. Do vậy, việc quản lý của chính quyền cũng
còn mang nhiều điểm riêng biệt, nhất là về lĩnh vực quản lý đất đai, quản
lý dân c và quản lý đô thị.
Quận Cầu Giấy là quận mới đợc thành lập năm 1997 trên cơ sở sát nhập
4 thị trấn và 3 xã của huyện Từ Liêm, chủ yếu các phờng nằm ở ven đô ( 1
phờng thuộc khu tập thể nhà cao tầng, 6 phờng ven đô ), không có phờng
thuộc khu thơng mại, phố cổ hoặc khu hành chính. Quận là cầu nối giữa
sân bay quốc tế Nội Bài qua vùng ven đô để vào trung tâm thành phố nên
đợc coi là cửa ngõ của nội đô đón chào khách quốc tế và trong nớc đến
thủ đô Hà Nội.
Quận Cầu Giấy có diện tích 11,955 km2 với số dân 140.331 ngời, mật
độ dân số trung bình là 11. 738 ngời / km2 ( chỉ bằng một nửa so với quận
Ba Đình )
Quận Cầu Giấy chia làm 7 phờng : Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Quan Hoa,
Dịch Vọng, Mai Dịch, Yên Hoà, Trung Hoà. Trong đó, không có phờng
nào có quy mô dân số nhỏ hơn 10.000 dân, đông nhất là phờng Dịch Vọng

với hơn 24.000 dân.
Là quận nội thành mới, đợc thành lập từ các xã ven đô, quận Cầu Giấy
có tốc độ đô thị hoá cao, đặc biệt trong lĩnh vực nhà ở, trên địa bàn quận
tập trung nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học và các trờng đại học. Tuy
18


nhiên, điều kiện cơ sở hạ tầng của quận còn nghèo nàn, kinh tế địa phơng
kém phát triển, chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp
hầu nh không có gì đáng kể. Hiện nay quận đang từng bớc dịch chuyển cơ
cấu kinh tế theo hớng công nghiệp và thơng mại, dịch vụ, dần dần phát
triển kinh tế - xã hội để xứng đáng là một quận nội thành của thủ đô Hà
Nội.

II. Thực trạng chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức
của chính quyền cấp phờng
Nền hành chính nhà nớc bao gồm ba bộ phận cấu thành là cơ cấu tổ chức
bộ máy hành chính, cơ cấu tổ chức nhân sự và cơ chế vận hành nền hành
chính ( luật pháp ). Ba bộ phận đó liên hệ chặt chẽ với nhau, quy định lẫn
nhau, trong đó cơ cấu tổ chức nhân sự có vị trí quan trọng đặc biệt, nhất là đội
ngũ công chức nhà nớc hoạt động trong bộ máy hành chính nhà nớc từ trung ơng đến địa phơng. Đội ngũ công chức đợc xem là trung tâm của hệ thống
chính trị, của bộ máy nhà nớc, của nền hành chính, có vị trí hết sức quan
trọng trong việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển xã hội, bảo đảm cho nền
hành chính nhà nớc hoạt động liên tục. Toàn bộ đội ngũ công chức trong bộ
máy hành chính nhà nớc tạo thành một nguồn nhân lực to lớn phục vụ cho
quá trình tổ chức và hoạt động của nhà nớc. Hiệu lực, hiệu quả quản lý của
nền hành chính nhà nớc nói chung và của chính quyền cấp phờng nói riêng
phụ thuộc vào đội ngũ công chức nhà nớc và hoạt động của đội ngũ đó.
Chất lợng của đội ngũ cán bộ, công chức đợc thể hiện qua nhiều tiêu chí,
tiêu biểu là các tiêu chí về độ tuổi, trình độ văn hoá, trình độ quản lý nhà nớc

và trình độ lý luận chính trị. Thống kê về các tiêu chí trên đối với cán bộ,
công chức chính quyền phờng thuộc quận Ba Đình và Cầu Giấy cho ta những
kết quả sau đây :

19


1. Độ tuổi
Bảng 1 : Thống kê độ tuổi cán bộ, công chức chính quyền cấp phờng
thuộc quận Ba Đình
STT

Độ tuổi

Số lợng

Phần trăm

1

Dới 30 tuổi

53

23,4 %

2

30 - 40 tuổi


53

23,4 %

3

40 -50 tuổi

68

30 %

4

Trên 50 tuổi

53

23,4 %

5

Tổng số

226

( Nguồn : Báo cáo công tác xây dựng chính quyền cấp phờng của Phòng tổ
chức chính quyền quận Ba Đình, 7 / 2001 )
Bảng 1 cho thấy đa phần cán bộ công chức phờng của quận Ba Đình thuộc
độ tuổi lao động sung sức từ 30 đến 50 tuổi ( 53,4 % ). Số cán bộ công chức

trẻ ( dới 30 tuổi ) và cán bộ công chức sắp đến tuổi về hu ( trên 50 tuổi )
chiếm một tỉ lệ nh nhau là 23,4 %. Nh vậy, có thể nói độ tuổi trung bình của
cán bộ công chức chính quyền phờng của quận Ba Đình thuộc mức trung
bình.

Bảng 2 : Thống kê độ tuổi cán bộ, công chức chính quyền cấp phờng
thuộc quận Cầu Giấy
STT

Độ tuổi

Số lợng

Phần trăm

1

Dới 30 tuổi

30

21,9 %

2

30 - 40 tuổi

29

21,2 %


20


3

40 -50 tuổi

44

32,1 %

4

Trên 50 tuổi

34

24,8 %

5

Tổng số

137

( Nguồn : Báo cáo công tác xây dựng chính quyền cấp phờng của Phòng tổ
chức chính quyền quận Cầu Giấy, 8 / 2001 )
Đối với quận Cầu Giấy, các con số có chênh lệch chút ít nhng không đáng
kể. Điều đó có nghĩa là về cơ bản độ tuổi của đội ngũ cán bộ, công chức

chính quyền phờng quận Cầu Giấy cũng thuộc cấp độ trung bình.
Điểm mạnh đối với cán bộ công chức phờng tuổi cao là họ đã thực sự trởng thành trong phong trào của địa phơng, giàu kinh nghiệm trong cuộc sống,
trong quản lý, trong quan hệ giao tiếp, dễ tạo đợc uy tín và sự tin tởng từ cấp
dới. Tuy nhiên, điểm yếu của họ lại là dễ nặng về chủ nghĩa kinh nghiệm,
giáo điều, chậm thích nghi với cơ chế thị trờng, ngại học tập để tiếp thu
những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, có thể hạn chế về điều kiện sức
khoẻ. Trong khi đó, lớp cán bộ, công chức trẻ tuy còn ít kinh nghiệm, có thể
còn thiếu chín chắn trong một số quyết định nhng lại là những ngời hết sức
năng nổ, ham học hỏi, dám nghĩ, dám làm và đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ. Là
một cấp chính quyền, hoạt động của cấp phờng là hoạt động hành chính, nhng
trong thực tế thì hoạt động của chính quyền cấp phờng có thể coi là hoạt
động" hành chính vận động " : trực tiếp ban hành và vận động nhân dân thực
hiện các quyết định hành chính. Hơn nữa, chính quyền phờng là cấp chính
quyền " gần dân " nhất, các công việc, sự vụ đều mang tính tức thời, đòi hỏi
phải đợc giải quyết ngay. Vì vậy, yêu cầu ngời cán bộ công chức hoạt động
trong bộ máy chính quyền cấp phờng phải có độ bền bỉ nhất định về sức khoẻ
và đặc biệt là cần có sự năng động, nhiệt tình để thực hiện tốt những nhiệm vụ
phức tạp diễn ra trên địa bàn quản lý.
Tóm lại, cơ cấu độ tuổi của cán bộ, công chức chính quyền phờng thuộc
hai quận Ba Đình và Cầu Giấy đều ở cấp độ trung bình và điều này cha tạo đợc động lực mạnh mẽ cho sự phát triển hiệu quả hoạt động của chính quyền
phờng bởi cấp chính quyền này cần đợc trẻ hoá hơn nữa để đội ngũ cán bộ,
công chức có thể thích nghi và thích hợp hơn với nhiệm vụ công tác.
21


2. Trình độ học vấn
Bảng 3 : Thống kê trình độ học vấn của cán bộ, công chức chính quyền
phờng thuộc quận Ba Đình
STT
1


Trình độ học vấn
Cha hết cấp II

Số lợng
0

Phần trăm
0%

2

Cha hết cấp III

11

5,1 %

3

Hết cấp III

85

39,5 %

4

Đại học và trên đại học


126

58,6 %

( Nguồn : Báo cáo công tác xây dựng chính quyền cấp phờng của Phòng tổ
chức chính quyền quận Ba Đình, 7/ 2001 )
Bảng 4 : Thống kê trình độ học vấn của cán bộ, công chức chính quyền
phờng thuộc quận Cầu Giấy
STT
1

Trình độ học vấn
Cha hết cấp II

Số lợng
0

Phần trăm
0%

2

Cha hết cấp III

6

4,3 %

3


Hết cấp III

86

61,4 %

22


4

Đại học và trên đại học

48

34,3 %

( Nguồn : Báo cáo công tác xây dựng chính quyền cấp phờng của Phòng tổ
chức chính quyền quận Cầu Giấy, 8 / 2001 )
Bảng 3 và 4 cho ta thấy tỷ lệ tốt nghiệp cấp II của đội ngũ cán bộ, công
chức chính quyền cấp phờng thuộc hai quận Ba Đình và Cầu Giấy là 100 %.
Đối với cấp chính quyền cơ sở của địa phơng thuộc thủ đô đây không phải
một con số đáng mừng hay một chỉ tiêu cần phấn đấu mà phải là điều kiện
bắt buộc. Nh vậy, nếu chỉ xét tơng quan giữa các quận của thành phố Hà Nội
thì con số này không nói lên điều gì, tuy nhiên nếu xét trong tơng quan với
đội ngũ cán bộ, công chức của chính quyền cấp xã thuộc các huyện ở Hà Nội
nói riêng và cả nớc nói chung thì đó đã là một sự tiến bộ hơn hẳn bởi chính
quyền cấp xã ở nhiều nơi còn rất nhiều cán bộ, công chức có trình độ học vấn
cha hết cấp II hoặc cấp I, thậm chí không loại trừ cả những chức vụ cao nh
chủ tịch UBND hay HĐND. Tuy nhiên, bảng số liệu trên cũng cho thấy còn

tồn tại nhiều vấn đề bất cập trong chất lợng cán bộ, công chức chính quyền
cấp phờng hiện nay xét về phơng diện trình độ học vấn, bởi ngay trong quận
Ba Đình - một quận thuộc trung tâm thủ đô, là trung tâm văn hoá, hành chính
của cả nớc mà vẫn tồn tại một số lợng không nhỏ cán bộ công chức phờng
chỉ có trình độ phổ thông trung học ( 39,5 % ) hoặc thậm chí cha hết phổ
thông trung học ( 5,1 % ). Những con số này ở quận Cầu Giấy cũng không có
gì khả quan nếu không nói là còn đáng lo ngại hơn. Quả thực con số 61,4 %
cán bộ, công chức chính quyền phờng thuộc quận Cầu Giấy mới chỉ học xong
phổ thông trung học là một vấn đề thực sự đáng lo ngại đối với chất lợng đội
ngũ cán bộ, công chức của quận nói riêng và của thành phố nói chung. Tỷ lệ
cán bộ , công chức có trình độ học vấn đại học hoặc trên đại học của quận Ba
Đình là 58,6 %. Đây là một điều đáng khích lệ bởi xét trong tơng quan với
các quận khác trong thành phố hay thậm chí với các quận , huyện trong cả nớc thì đây vẫn là một con số đáng tự hào của quận Ba Đình ( ví dụ : tỷ lệ này
ở quận Hai Bà Trng thành phố Hà Nội và quận 3 thành phố Hồ Chí Minh lần
lợt là 30,6 % và 10,9 % ).
Trong khi đó, số cán bộ, công chức chính quyền phờng của quận Cầu Giấy có
trình độ đại học và trên đại học là 34,3 %, chỉ bằng hơn một nửa so với quận
23


Ba Đình.
Trình độ học vấn là cơ sở để cán bộ, công chức có điều kiện tiếp xúc với
những nội dung quản lý mới và có điều kiện tốt hơn để thực thi công việc
quản lý của chính quyền ở cơ sở. Nhìn chung, công việc hàng ngày ở phờng
là giải quyết các sự vụ đơn thuần, không đòi hỏi sâu về chuyên môn. Do đó,
không nhất thiết đòi hỏi ngời cán bộ,công chức phải có một trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ thật thông thạo. Tuy nhiên, xét về tổng quan, toàn bộ các hoạt
động văn hoá, kinh tế, chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội lại chủ yếu
diễn ra trên địa bàn phờng. Do vậy, nếu ngời cán bộ, công chức của phờng chỉ
dừng lại ở mức trình độ học vấn là trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông

sẽ gây ra những khó khăn cho chính quyền cơ sở khi có những diễn biến phức
tạp trên địa bàn mà phờng phải quản lý. Hơn nữa, hiện nay trong bối cảnh thế
giới và quốc gia đang biến chuyển và phát triển từng ngày về mọi mặt , địa
bàn phờng ở các thành phố lớn có trình độ dân trí cao, các vấn đề lớn nh quản
lý nhà đất, quản lý kinh tế, bảo đảm an ninh trật tự.....có rất nhiều yêu cầu
mới đa dạng và phức tạp đòi hỏi ngời cán bộ, công chức phải có trình độ học
vấn ở một mức độ cao nhất định để đáp ứng đợc với những nhu cầu ngày càng
phát triển của đời sống xã hội không chỉ còn bó hẹp ở một địa phơng hay
trên một địa bàn.
Trình độ học vấn không phải là yếu tố quyết định chất lợng của đội ngũ
cán bộ, nhng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ và năng lực của
cán bộ. Hạn chế về trình độ học vấn làm hạn chế khả năng tiếp thu, lĩnh hội
chủ trơng, đờng lối của Đảng, các chính sách, luật pháp và các quy định của
Nhà nớc cũng nh các nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ và chínhh quyền cấp trên.
Do đó cũng làm hạn chế khả năng phổ biến đờng lối, chủ
trơng của Đảng và Nhà nớc cho nhân dân, hạn chế năng lực tổ chức thực
hiện, kiểm tra, đôn đốc, vận động quần chúng thực hiện chủ trơng, chính sách
và cuối cùng là hạn chế năng lực quản lý, điều hành, thực thi nhiệm vụ. Do
vậy, trình độ học vấn cha cao, cha đồng đều ở đội ngũ cán bộ, công chức phờng là một điểm yếu của tổ chức bộ máy chính quyền phòng hiện nay.

24


3. Trình độ quản lý nhà nớc và lý luận chính trị
Bảng 5 : Thống kê trình độ quản lý nhà nớc và lý luận chính trị của cán
bộ, công chức chính quyền phờng thuộc quận Ba Đình
STT
1

Trình độ đào tạo


Phần trăm

42

25,8 %

55

28,1%

57

35 %

Cha qua đào tạo :
1.Quản lý nhà nớc
2.Lý luận chính trị

2

Số lợng

Sơ cấp :
1. Quản lý nhà nớc

25



×