Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Tiểu luận giáo dục công dân: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG TÌNH HUỐNG NHẰM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG THPT HƯƠNG KHÊ, HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (228.02 KB, 26 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

TIỂU LUẬN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG TÌNH
HUỐNG NHẰM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC
SINH PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO
DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG THPT HƯƠNG KHÊ,
HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên: Trần Thị Nha Trang
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A

Hà Tĩnh, năm 2015


A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn giáo dục công dân được xem
là một trong những phương tiện hiệu quả nhất cung cấp kiến thức và rèn luyện cho
học sinh ý thức công dân. Giúp các em có thể hiểu, đánh giá và lý giải các vấn đề đặt
ra trong thực tiễn.Trên cơ sở kế thừa và phát triển nội dung môn Giáo dục công dân
ở bậc tiểu học và THCS, chương trình Giáo dục công dân ở bậc THPT cung cấp cho
học sinh những kiến thức về nhiều lĩnh vực: Triết học, đạo đức, kinh tế- chính trị xã hội, pháp luật
Tại Hội thảo quốc gia về Giáo dục đạo đức- công dân trong giáo dục phổ
thông Việt Nam, ngày 10.8.2013, Thứ trưởng Bộ GD - ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho
rằng, việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa môn giáo dục công dân là cần
thiết. Nội dung sách giáo khoa phải thay đổi sao cho hấp dẫn học sinh, phát huy
được ý thức tự học, tự chịu trách nhiệm của học sinh đối với bản thân, gia đình và
tương lai của đất nước. Mặt khác, Robinson có viết: “Học là việc chuẩn bị cho người


học vào các tình huống của thực tiễn cuộc sống”. Vì thế, việc dạy học không chỉ
trang bị cho học sinh một lượng kiến thức tối đa làm nền tảng vững chắc cho cuộc
sống sau này mà còn rèn luyện cho các em những kĩ năng xử lý các vấn đề nảy sinh
trong cuộc sống. Bởi vì với lượng thông tin và tri thức ngày càng tăng và thay đổi
nhanh chóng thì việc dạy học nếu chỉ với mục đích trang bị kiến thức cho học sinh là
chưa đủ mà cần dạy cho các em cách học, cách tiếp cận, vận dụng tri thức vào trong
cuộc sống và sáng tạo tri thức mới. Do đó, nội dung giảng dạy ngày nay cần chú
trọng kiến thức cơ bản và cốt lõi là rèn luyện kĩ năng tự học, tự nghiên cứu để giúp
các em tự học tập trong tương lai và học tập suốt đời. Phương pháp xây dựng nội
dung bài học bằng bài tập tình huống phần nào đáp ứng được yêu cầu đó.
Mặt khác, trong quá trình dạy học cụ thể là trong nội dung chương trình lớp
12 chủ yếu là tìm hiểu về pháp luật, chẳng những phải truyền thụ cho các em hiểu
những kiến thức cơ bản về pháp luật mà còn phải giúp các em biết vận dung kiến
thức đó vào thực tiễn, đồng thời trong qua trình học cần phải phát huy tính tích cực,
chủ động đón nhận kiến thức của học sinh, thu hút được sự say mê, hứng thú, khơi
gợi được tiềm năng sáng tạo của HS trong môn GDCD. Bên cạnh đó phương pháp
này còn rèn cho HS một số kĩ năng cần thiết như: kĩ năng hợp tác, kĩ năng tư duy
sáng tạo, kĩ năng thu thập và xử lí thông tin, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng trình
bày quan điểm trước tập thể, kĩ năng sáng tạo khi đưa ra các giải pháp cho vấn đề, kĩ
năng giao tiếp… thu hút được sự say mê, hứng thú, khơi gợi được tiềm năng sáng
2


tạo của HS trong môn GDCD, giúp cho các em có ý thức nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật, biết đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và đặc biệt là tạo được
hứng thú, sự chủ động, tích cực của các em trong học tập.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn: “Vận dụng phương pháp dạy
học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học
môn Giáo dục công dân ở trường THPT Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà
Tĩnh” làm tiểu luận khoa học

2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu cơ sở lý luận liên quan đến phương pháp nghiên cứu tình
huống và những đặc thù của môn Giáo dục công dân, đề tài đi sâu nghiên cứu việc áp
dụng phương pháp này trong dạy học mảng kiến thức pháp luật thuộc môn Giáo dục
công dân với mục đích góp phần hình thành và phát triển năng lực thực tiễn, thái độ,
hành vi đúng đắn cho học sinh.
3. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy học tình huống trong môn Giáo dục công dân tại trường
THPT Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
4. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu áp dụng PPNCTH vào giảng dạy mảng kiến thức pháp luật ở môn Giáo
dục công dân theo qui trình hợp lý, khoa học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học
môn Giáo dục công dân.
5. Nhiệm vụ và giới hạn phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng việc dạy và học môn GDCD tại trường THPT Hương Khê, huyện
Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
- Nghiên cứu, tổng hợp và khái quát hóa các cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng PPNCTH vào dạy học môn Giáo dục công
dân ở trường THPT Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
- Xây dựng tuyển tập hệ thống bài tập tình huống trong dạy học môn Giáo dục công
dân
5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Những năm gần đây
- Không gian: Tại THPT Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
- Nội dung: nghiên cứu phương pháp dạy học tình huống và áp dụng vào thực tiễn
giảng dạy môn GDCD hiện nay.
6. Phương pháp nghiên cứu

3



6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, nghiên cứu tài liệu và tổng kết lý
thuyết.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thực nghiệm, khảo sát điều tra,
đo đạc xử lý kết quả bằng thống kê toán học và các phương pháp khác như phỏng vấn
sâu, tổng kết kinh nghiệm, quan sát, lịch sử, logic.
7. Những đóng góp của đề tài
7.1 Đề tài nghiên cứu tổng kết, hệ thống hóa các cơ sở lý luận, các quan điểm về
PPNCTH trong dạy học.
7.2. Bước đầu vận dụng và rút ra kinh nghiệm cho công việc giảng dạy của giáo viên
GDCD
7.3. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học sinh.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, phụ lục, Tiểu luận kết cấu thành 02 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương II: Tiến trình thực hiện nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG TÌNH HUỐNG NHẰM GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD
1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống trong
dạy học môn GDCD ở trường THPT Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà
Tĩnh
1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống
1.1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học
Trong các tác phẩm về lý luận dạy học, ta có thể tìm thấy nhiều định nghĩa về
phương pháp dạy học như:
Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp
thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt

tới mục đích dạy học .
Bất cứ phương pháp nào cũng là hệ thống những hành động có mục đích của
giáo viên, là hoạt động nhận thức và thực hành có tổ chức của học sinh nhằm đảm bảo
cho trò lĩnh hội được nội dung trí dục.
Phương pháp dạy học đòi hỏi có sự tương tác tất yếu của thầy và trò, trong quá
trình đó thầy tổ chức sự tác động của trò đến đối tượng nghiên cứu, mà kết quả là trò
lĩnh hội được nội dung trí dục.

4


Những định nghĩa này đã nêu lên được một cách khái quát về phương pháp dạy
học. Qua quá trình nghiên cứu về phương pháp dạy học ta thấy rằng giữa dạy và học
có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học, chúng là
hai hoạt động khác nhau về đối tượng, nhưng thống nhất với nhau về mục đích, tác
động qua lại với nhau và là hai mặt của một quá trình dạy học. Trong sự thống nhất
này phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học có tính độc lập tương
đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh hưởng trở
lại đối với phương pháp dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp học
cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằng
lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánh
giá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy, hai chức năng này gắn bó
hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên
chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai
chức năng trên đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầy
vừa giảng vừa truyền đạt), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việc tự
học của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho phương

pháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa phải
tự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp thu nội
dung do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của thầy mà tự lực
chỉ đạo sự học tập của bản thân (tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra đánh giá). Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt được lôgic cơ bản của bài
giảng của thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic của bản thân. Vậy, trong
phương pháp học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó chặt chẽ với nhau, thâm
nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, như hai mặt của cùng một hoạt động.
Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với học,
và đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động truyền
đạt và chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác, dạy học tối
ưu phải là sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm được cùng một lúc
ba phép biện chứng:
Giữa dạy và học.
Giữa truyền đạt và chỉ đạo trong dạy.
Giữa tiếp thu và tự chỉ đạo trong học.

5


Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và tổ hợp ba phương pháp học
ứng với ba giai đoạn học tập.
Giai đoạn 1: Tiếp thu ban đầu các thông tin.
Trong giai đoạn này thầy giảng bài mới. Trò nghe, nhìn, hiểu, ghi chép và sơ bộ
nhớ những điều thầy giảng.
Giai đoạn 2: Xử lý thông tin khi tự học.
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là sự tự học để xử lý thông tin, biến nó
thành học vấn riêng. Ở đây trò phải sử dụng toàn bộ các thao tác tư duy.
Giai đoạn 3: Vận dụng thông tin để giải bài tập.
Đây là bước kết thúc của quá trình lĩnh hội một vấn đề. Nhiệm vụ của nó là vận

dụng kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo việc giải quyết các bài tập nhận thức.
Trong quá trình dạy và quá trình học thì quá trình dạy có vai trò chỉ đạo trong
cả ba giai đoạn của quá trình học, quá trình dạy hợp lý thì quá trình học sẽ đạt kết quả
cao.
1.1.1.2. Quan niệm về tình huống và phương pháp dạy học bằng tình huống
* Quan niệm tình huống:
“Tình huống là một hoàn cảnh thực tế, trong đó chứa đựng những mâu thuẫn
xung đột. Người ta phải đưa ra một quyết định trên cơ sở cân nhắc các phương án giải
quyết khác nhau. Tình huống cũng có thể là một hoàn cảnh gắn với câu chuyện có cốt
truyện, nhân vật, có chứa đựng xung đột, có tính phức hợp được viết ra để minh chứng
một vấn đề hay một số vấn đề của cuộc sống thực tế. Tình huống dạy học là những
tình huống thực hoặc mô phỏng theo tình huồng thực, được cấu trúc hóa nhằm mục
đích dạy học”.
Tình huống bao giờ cũng là tình huống có vấn đề.
“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài
toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết
được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn đề học tập là những tình
huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái (kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải
quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta
chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới
mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con người
tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt
động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động
tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề”.

6



Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của con
người gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải quyết
mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi sáng tạo tích
cực đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp giành kiến
thức và cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là:
tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thức
được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thì
hy vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề đó. Nghĩa là
tình huống đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và
giải quyết vấn đề đã đề xuất.
Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm
vụ cần giải quyết, một vướng mắt cần tháo gỡ. Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu
và giải quyết tình huống sẽ là những tri thức mới , nhận thức mới hoặc phương thức
hành động mới đối với chủ thể.
Có ba yếu tố tạo thành tình huống có vấn đề:
Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học.
Sự tìm kiếm những tri thức và phương thức hành động chưa biết.
Khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực.
Đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề trong dạy học là những lúng túng về
cách giả quyết vấn đề, tức là vào thời điểm đó, tình huống đó thì những tri thức và kỹ
năng vốn có chưa đủ để tìm ra ngay lời giải. Tất nhiên việc giải quyết vấn đề không
đòi hỏi quá cao đối với trình độ hiện có của học sinh.
* Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống
Phương pháp dạy học bằng tình huống là phương pháp dạy học mà trong đó
giáo viên đặt học sinh vào một trạng thái tâm lý đặc biệt khi họ gặp mâu thuẫn khách
quan của bài toán nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tự họ chấp nhận và có nhu
cầu, có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó là bằng tìm tòi, tích cực, sáng tạo, kết quả là
họ giành được kiến thức và cả phương pháp giành kiến thức .
Với phương pháp này giáo viên đặt trước học sinh một vấn đề sau đó cho các

em thấy rõ lợi ích về mặt nhận thức hay mặt thực tế của việc giải quyết nó nhưng đồng
thời cảm thấy có một số khó khăn về mặt trí tuệ do thiếu kiến thức cần thiết nhưng
thiếu sót này có thể khắc phục nhờ một số nỗ lực của nhận thức.
Dạy học bằng tình huống có những đặc điểm sau:
Giáo viên phải tạo ra được mâu thuẫn nhận thức, có điều học sinh chưa biết cần
tìm hiểu, việc đi tìm lời giải đáp chính là đi tìm kiến thức, kỹ năng, phương pháp mới.

7


Giáo viên gây được sự chú ý ban đầu, từ đó kích thích sự hứng thú tạo nên nhu
cầu nhận thức, khởi động tiến trình nhận thức của học sinh. Học sinh chấp nhận mâu
thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.
Tình huống và vấn đề nêu ra phải rõ ràng, phù hợp với khả năng của học sinh.
Từ những điều quen thuộc, bình thường đã biết phải đi đến cái mới (mục đích cần đạt
được) học sinh cảm thấy có khả năng giải quyết được vấn đề.
Dạy học bằng tình huống là một trong những yêu cầu quan trọng của đổi mới
nội dung, phương pháp dạy học, dạy học bằng tình huống là một trong những phương
pháp dạy học hiện đại, hay phương pháp dạy học tích cực.
Giảng dạy theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức rộng cả về
lý luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không đưa ra
được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc không
sát thực tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải quyết tình
huống, hoặc giải quyết sai.
1.1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
1.1.2.1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huống
Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung
tâm, dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và dễ
nhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận, người

học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này một
cách dễ dàng trong thời gian dài. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào tình
trạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên thì phương pháp
giảng dạy tình huống giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn liền với
quá trình giải quyết tình huống đó.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học nâng cao khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo”. Nếu trong phương pháp dạy học truyền thống, quá
trình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giáo viên và học sinh, trong
đó giáo viên là người truyền đạt tri thức và học sinh là người tiếp nhận tri thức đó thì
phương pháp dạy học bằng tình huống tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương
tác giữa học sinh và giáo viên, giữa các học sinh với nhau. Trong đó, học sinh được
đặt vào trong một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họ
phải dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ quan
điểm đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo viên khi giải quyết
một tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án giải quyết sáng tạo. Bên cạnh
đó, dạy học bằng tình huống còn giúp người học có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệm
8


cho nhau; học được những ý kiến, quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làm
phong phú hơn vốn tri thức của họ.
Thứ ba: “Dạy và học bằng tình huống giúp người học có cơ hội để liên kết, vận
dụng các kiến thức đã học được”. Để giải quyết một tình huống, học viên có thể phải
vận dụng đến nhiều kiến thức lý thuyết khác nhau trong cùng một môn học hoặc của
nhiều môn học khác nhau.
Thứ tư: “Dạy học bằng tình huống thông qua việc giải quyết tình huống giúp
người học có thể phát hiện ra những vấn đề cuộc sống đặt ra nhưng bản thân chưa đủ
kiến thức giải quyết”. Cuộc sống vốn đa dạng và phong phú nên không loại trừ khả
năng phát sinh những tình huống mà người học và thậm chí cả người dạy chưa gặp bao
giờ. Trong tình huống này, người dạy phải định hướng và khơi gợi khả năng tư duy

độc lập, sáng tạo của người học được vận dụng, phát huy tối đa và không loại trừ khả
năng người học sẽ tìm ra được những các lý giải mới làm bổ sung thêm kiến thức cho
cả người học lẫn người dạy.
Thứ năm: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho người học có thể
rèn luyện một số kỹ năng cơ bản như kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận và thuyết
trình”. Đây là những kỹ năng quan trọng giúp cho người học có thể thành công trong
tương lai. Học bằng tình huống giúp người học dễ dàng nhận ra những ưu điểm và hạn
chế của bản thân khi họ luôn có môi trường thuận lợi để so sánh với các học viên khác
trong quá trình giải quyết tình huống. Từ đó họ sẽ có cơ hội học hỏi kỹ năng làm việc
nhóm, tranh luận và thuyết trình từ những học viên khác. Phương pháp học bằng tình
huống cũng giúp người học phát triển các kỹ năng phát biểu trước đám đông một cách
khúc chiết, mạch lạc, dễ hiểu; phân tích vấn đề một cách lôgic; hiểu biết thực tế sâu
rộng, biết vận dụng linh hoạt lý thuyết để giải quyết các tình huống thực tế; biết phản
biện, bảo vệ quan điểm cá nhân, đồng thời có khả năng thương lượng và dễ dàng chấp
nhận các ý kiến khác biệt, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác để làm
phong phú hơn vốn kiến thức của mình.
Nếu mục tiêu của giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay là dạy kiến thức, kỹ
năng và thái độ thì phương pháp dạy học bằng tình huống nếu được áp dụng tốt có thể
đạt được cả ba mục tiêu này.
Thứ sáu: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho học sinh có khả năng
nghiên cứu và học tập suốt đời, tăng cường khả năng tự định hướng trong học tập của
học sinh, phù hợp với nhu cầu và sở thích của cá nhân người học”. Thông qua việc
phân tích và thảo luận vấn đề, học sinh học được cách tiếp cận và giải quyết các vấn
đề khác nảy sinh trong tương lai, biết cách tìm kiếm thông tin và trở thành người có
thể tự định hướng học tập và nghiên cứu sau khi đã tốt nghiệp.

9


Thứ bảy: “Phương pháp dạy học bằng tình huống làm tăng sự hứng thú của

phần lớn học sinh đối với môn học”. Trong phương pháp học bằng tình huống, học
sinh là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên
cứu và học hỏi. Việc thảo luận cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học
vì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu,
tìm ra giải pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình.
Sau khi thảo luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả
lời những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.
Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng
tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, đồng thời
họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viên
để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những học
sinh có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo. Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tình
huống, giáo viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình
huống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.
1.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huống
còn có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng dạy bằng
tình huống, các vấn đề xã hội thường được giải thích theo nhiều quan điểm khác nhau
tùy thuộc vào quan điểm, quan niệm sống, vào vốn kiến thức xã hội và kinh nghiệm
của người học. Vì vậy, đôi khi cuộc thảo luận về tình huống sẽ không hướng theo con
đường và dẫn đến một kết cục như người soạn thảo tình huống mong muốn, nhất là
trong những lớp học mà học viên đa dạng về trình độ và đến từ những vùng miền khác
nhau, và giáo viên không có kinh nghiệp trong việc điều phối, dẫn dắt cuộc thảo luận”.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi tinh thần tự học, thái
độ làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng động. Tuy nhiên,
hiện nay có khá nhiều học sinh không quen với phương pháp học bằng tình huống, họ
không có kỹ năng làm việc nhóm, thụ động, ỷ lại, không hợp tác từ đó làm giảm hiệu
quả của phương pháp dạy học bằng tình huống”.
Thứ ba: “Phương pháp dạy học bằng tình huống tốn nhiều thời gian của người

học”. Trong phương pháp học truyền thống, trong một khoảng thời gian nhất định,
giáo viên có thể cung cấp một lượng kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hệ thống, logic
cho học sinh. Cùng lượng kiến thức đó, trong phương pháp học bằng tình huống, học
sinh phải tự mình tìm kiếm và đọc tài liệu, xử lý thông tin nên sẽ tốn thời gian hơn gấp
nhiều lần so với phương pháp học truyền thống. Phương pháp dạy học bằng tình
huống đòi hỏi giảng viên phải là người tích cực, luôn đổi mới, cập nhật thông tin, kiến
10


thức và kỹ năng mới. Trong xã hội hiện đại, các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội
và pháp luật thay đổi một cách nhanh chóng nên “tuổi thọ” của một tình huống rất
ngắn. Có khi giảng viên mới xây dựng xong một tình huống, giảng dạy được một lần
đã phải thay đổi cho phù hợp.
Có ý kiến cho rằng dạy học bằng tình huống là cách để thầy “nghỉ ngơi” vì
trong khi người học phải làm việc, người dạy không có việc gì để làm. Đây là một ý
kiến sai lầm vì phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi những kỹ năng phức tạp
hơn trong giảng dạy, như cách tổ chức lớp học, bố trí thời lượng, đặt câu hỏi, tổ chức
và khuyến khích người học thảo luận, dẫn dắt mạch thảo luận, nhận xét, phản biện…
Đây thật sự là những thách thức lớn đối với giáo viên trong quá trình ứng dụng
phương pháp này.
1.1.3. Các loại tình huống và cách thức xây dựng một tình huống
1.1.3.1. Các loại tình huống dạy học
Áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống cho phép giáo viên sử dụng
tình huống một cách rất linh hoạt. Tình huống có thể được dùng trong quá trình thuyết
giảng hay để phục vụ giờ thảo luận như là trọng tâm của bài học. Tùy thuộc vào từng
bối cảnh sử dụng, có thể chia tình huống theo mức độ phức tạp của nó thành những
loại như sau:
Loại 1 – Tình huống đơn giản: “Loại này bao gồm các tình huống dưới dạng
các ví dụ minh họa với tình tiết đơn giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉ
khoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng của

giáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và
(2) kích thích học sinh tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp hơn
Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ thuyết
giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn đề nhằm
gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống này
cần được giao trước cho học sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Các
tình huống không cần quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứu
và ghi nhớ những khái niệm khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp nhất
và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để học sinh áp
dụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc trong thực
tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại tình huống này yêu cầu học sinh không
những phải nghiên cứu tài liệu được giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bị
theo yêu cầu của giáo viên. Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tình
huống, trong đó học sinh là người làm việc chính và giáo viên là người hướng dẫn cho
11


học sinh. Về nội dung, tình huống này có độ phức tạp cao nhất. Nó thường bao gồm ít
nhất ba vấn đề xuyên suốt trong một hay nhiều bài học và do đó yêu cầu về sự chuẩn
bị của cả học sinh và giáo viên cũng ở mức độ cao nhất”.
Ngoài ba loại tình huống này ta cũng có thể phân chia các tình huống theo độ
mở của vấn đề trong tình huống. Theo cách phân loại này, giáo viên có thể xây dựng
các tình huống mở và các tình huống đóng. Tình huống mở là các vụ việc mà trong đó
lời giải để ngỏ hoặc có nhiều cách giải khác nhau. Loại tình huống này rất tốt trong
việc kích thích khả năng tư duy và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Khi học sinh xử lý
các tình huống thuộc loại này, vấn đề mấu chốt không phải là bản thân kết luận mà là
cách thức để đi đến kết luận đó. Ngược lại, tình huống đóng là các tình huống dẫn tới
một kết quả cố định. Học sinh vẫn có thể chủ động xử lý tình huống xong giáo viên sẽ

định hướng cho học sinh tới kiến thức chính thống. Loại tình huống này rất tốt để giáo
viên bổ sung thêm cho học sinh kiến thức nội dung.
1.1.3.2. Cách thức xây dựng một tình huống dạy học
Đối với giáo viên tình huống được xây dựng nên là đề giải quyết một vấn đề
nào đó và qua quá trình đó giúp học sinh tiếp thu kiến thức. Vì vậy, quy trình xây
dựng bài tập tình huống của giáo viên thường đi theo chiều ngược lại với quy trình giải
quyết bài tập tình huống của học sinh. Quy trình này có thể được mô tả bằng các bước
sau:
Bước 1 - Xác định kiến thức cần truyền đạt.
Bước 2 - Hình thành vấn đề.
Bước 3 – Hình thành tiểu vấn đề.
Bước 4 – Xây dựng tình tiết sự kiện của tình huống.
“Việc xây dựng tình huống luôn bắt đầu từ nội dung kiến thức cần truyền đạt
tới học sinh. Nội dung kiến thức này có thể là một khái niệm nào đó giáo viên muốn
học sinh nắm bắt được và phân biệt được với những khái niệm khác hay cũng có thể là
một nguyên tắc ứng xử nào đó mà giáo viên muốn học sinh hiểu và áp dụng được vào
thực tiễn. Dựa trên những kiến thức này, giáo viên xây dựng nên những vấn đề mà
thông thường chính là những câu hỏi xuất phát từ bản thân kiến thức cần học sinh tiếp
thu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề
nhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấn
đề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tình
huống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có hai cách để xây dựng
tình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên những vụ việc đã xảy ra và đã
được giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có những vụ việc liên quan tới những nội dung
kiến thức mà giáo viên đang muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiết
của vụ việc đó rồi điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứ
12


hai, nếu không tìm được vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một tình

huống giả định. Trong trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt như phân
tích trên đây phải được tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá trình
dạy học bằng tình huống .
1.2. Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn
GDCD ở trường THPT Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh
1.2.1 Đặc điểm của địa bàn khảo sát
Trường THPT Hương Khê thành lập năm 1964 . Quy mô hiện nay của trường gồm 44 lớp
Trường có một Đảng bộ với 4 chi bộ trực thuộc với 78 đảng viên, Đảng bộ luôn được
công nhận đơn vị vững mạnh xuất sắc. Đảng bộ thực sự là hạt nhân lãnh đạo toàn diện
phong trào nhà trường.
Các tổ chức quần chúng trong nhà trường hoạt động hiệu quả: Công đoàn cơ sở
là đơn vị vững mạnh xuất sắc được Công đoàn giáo dục Việt Nam tặng Bằng khen.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đơn vị vững mạnh tiêu biểu được TW Đoàn tặng bằng
khen. Tổ chức Đoàn là điểm hẹn là nơi tập hợp thanh niên tu dưỡng đạo đức, rèn luyện
phẩm chất cách mạng. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ với các phong trào
tình nguyện sôi nổi: “Lập thân lập nghiệp, Tuổi trẻ giữ nước, Thanh niên với sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nước nhà, tuổi tre học tập và làm theo lời Bác...
Trường THPT Hương Khê đóng ở trung tâm huyện Hương Khê diện tích mặt
bằng 24265 m2 quy mô 44 lớp với 1755 học sinh. Có 116 cán bộ công nhân viên. Ban
giám hiệu có 4 đồng chí có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn. Giáo viên 100% đạt
chuẩn trong đó có 7 thạc sỹ trên chuẩn (02 thạc sỹ toán, 02 thạc sỹ Văn, 01 vật lý, 01
hoá học, 01sinh học ). Trình độ năng lực chuyên môn đạt yêu cầu khá có chiều hướng
phát triển tốt. Được sự chỉ đạo chặt chẽ từ ngành GD - ĐT Hà tĩnh. Nhà trường càng
ngày càng ổn định và không ngừng phát triển.
Đến nay nhà trường đã có 46 phòng học cao tầng kiên cố đủ để học một ca cho
44 lớp. Xây dựng được 07 phòng học bộ môn đạt chuẩn, trong đó có 02 phòng bộ môn
vật lý, 01 phòng bộ môn sinh công nghệ, 01 phòng bộ môn hoá, phòng máy vi tính còn
100 máy. Nhìn tổng thể CSVC đảm bảo đạt chuẩn hiện tại củng như lâu dài trong
chiến lược phát triển của trường.

1.2.2 Thực trạng của việc sử dụng các PPDH nhằm giáo dục pháp luật cho học
sinh trong dạy học môn GDCD ở trường trường THPT Hương Khê
1.2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân
Ban giám hiệu nhà trường đã quan tâm tổ chức triển khai vận dụng các phương
pháp dạy học tích cực vào giảng dạy, thông qua việc cử giáo viên tham dự các lớp tập
huấn phương pháp dạy học và viết sáng kiến kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy.
13


Với chủ trương đó giáo viên bộ môn Giáo dục công dân cũng tiến hành đổi mới
phương pháp phương pháp dạy học trong đó áp dụng phương pháp dạy học bằng tình
huống vào quá trình giảng dạy môn Giáo dục công dân.
Từ chủ trương đổi mới phương pháp dạy học từ sử dụng phương pháp dạy học
truyền thống sang sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại, trong đó có vận dụng
phương pháp dạy học bằng tình huống đã nâng chất lượng học tập môn Giáo dục công
dân của học sinh lên cao hơn nhiều so với trước.
Về kết quả học tập:
Qua thống kê kết quả học tập môn Giáo dục công dân năm học 2013- 2014
chúng tôi thu được kết quả như sau: Giỏi, khá chiếm 76%, trung bình chiếm 20%, yếu
4%.
Về nhận thức của học sinh đối với môn Giáo dục công dân:
Khi tổng hợp ý kiến của 100 học sinh lớp 12 trả lời nội dung câu hỏi số 1 trong
mẫu phiếu M1 và xử lý số liệu điều tra chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1.1: Nhận thức về vai trò môn Giáo dục công dân của học sinh trường THPT
Hương Khê
Rất quan trọng

Quan trọng

Bình thường


24

41

25

Không có ý Tổng số
kiến
10
100

Từ kết quả bảng 1.1 cho thấy đa số học sinh lớp 12 trường THPT Hương Khê
đều nhận thức môn Giáo dục công dân là quan trọng (chiếm 24 %) và rất quan trọng
(chiếm 41%), điều này cho thấy học sinh có sự quan tâm tích cực đối với môn học.
Chỉ có 25 % học sinh lớp 12 cho rằng môn Giáo dục công dân là môn bình thường và
10% học sinh không nêu chính kiến của mình. Như vậy chỉ có 35% học sinh chưa thấy
được tầm quan trọng của môn học này.
Về sự hiểu biết của học sinh về phương pháp dạy học bằng tình huống trong
học tập môn Giáo dục công dân.
Việc học sinh hiểu về phương pháp dạy học bằng tình huống là một yếu tố quan
trọng để giáo viên thành công khi sử dụng phương pháp này. Bên cạnh đó, điều này
cũng phản ánh mức độ mà giáo viên tổ chức thực hiện phương pháp dạy học bằng tình
huống khi dạy học nhằn giáo dục pháp luật cho học sinh.
Bảng 1.2: Sự hiểu biết của học sinh về phương pháp dạy học bằng tình huống trong
môn Giáo dục công dân tại trương THPT Hương Khê.
TT
1
2


Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống
Giáo viên đưa ra tình huống, học sinh chủ động, trao đổi giải
quyết tình huống, giáo viên hướng dẫn, điều chỉnh và kết luận.
Giáo viên đưa ra tình huống cho học sinh tự giải quyết
14

Tổng số
52
12


3
4

Giáo viên đặt ra tình huống và giáo viên giải quyết tình huống
cho học sinh hiểu
Giáo viên đặt ra tình huống và cùng học sinh giải quyết

1
35

Từ bảng thống kê trên cho thấy có đến 52% học sinh hiểu biết đầy đủ thế nào là
phương pháp dạy học bằng tình huống. Để áp dụng phương pháp dạy học này có hiệu
quả thì đa số giáo viên trong trường đã hướng dẫn cách giải quyết tình huống. Để hiểu
rõ hơn về vấn đề này chúng tôi đã tiến hành điều tra, tìm hiểu thực trạng hướng dẫn
cách giải quyết tình huống cho học sinh của giáo viên trong dạy học môn Giáo dục
công dân
Việc hướng dẫn học sinh biết cách thảo luận nhóm, chủ yếu được giáo viên
thông qua hoạt động dạy học bằng tình huống trong giờ học. Do vậy, chúng tôi tiếp tục
lấy ý kiến học sinh để tìm hiểu mức độ tổ chức dạy học bằng tình huống của giáo viên

trong quá trình dạy học môn Giáo dục công dân
Việc vận dụng phương pháp này đã tạo ra được sự hứng thú của học sinh trong
môn học này, đây cũng là một nhân tố quan trọng làm cho chất lượng môn học được
nâng lên. Từ đó ta thấy rằng nếu giáo viên sử dụng phương pháp này sẽ kích thích
được sự hứng thú và phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh trong quá
trình tiếp thu kiến thức của bài học.
Những kết quả trên đã cho thấy tính hiệu quả của phương pháp dạy học bằng tình
huống trong dạy học phần công dân với đạo đức trong chương trình Giáo dục công dân
lớp 10. Những kết quả trên xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
Lực lượng giáo viên dạy môn Giáo dục công dân của trường đa phần trẻ có 03
giáo viên dưới 35 tuổi và 1 giáo viên trên 50 tuổi, được đào tạo chính quy và dạy đúng
chuyên ngành đào tạo, trường có 04 giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, không có
giáo viên dạy trái môn, các giáo viên rất tâm huyết với nghề. Cùng với việc vận dụng
các phương pháp dạy học tích cực khác, phương pháp dạy học bằng tình huống cũng
được giáo viên áp dụng trong dạy học các bài học ở môn Giáo dục công dân. Đây là
điều kiện hết sức thuận lợi để trường thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nói
chung, phương pháp dạy học bằng tình huống nói riêng trong dạy học môn Giáo dục
công dân. Sự đầu tư về chuyên môn của giáo viên cũng là nhân tố quan trọng góp phần
vào sự thành công của phương pháp này. Các giáo viên thường xuyên tìm tòi, nghiên
cứu để đưa ra các tình huống phù hợp với nội dung, có giá trị thực tiễn và phù hợp với
đối tượng từ đó kích thích được sụ hứng thú của học sinh đối với nội dung bài học.
Về phía học sinh, các em rất nhạy bén với việc tiếp nhận phương pháp dạy học
mới đặc biệt là đối với các phương pháp phát huy tính chủ động tích cực của học sinh.
Các em rất thích thú với việc tự mình khám phá tri thức mới cho mình vì theo các em
thì như thế sẽ giúp các em nhớ lâu hơn, mặc dù đôi lúc các em giải quyết tình huống
15


không đúng. Phương pháp này giúp các em tránh được sự nhàm chán khi nội dung một
số mục mang tính khô khan như kiến thức pháp luật.

Sự quan tâm của Ban giám hiệu đối với môn học cũng là một yếu tố tác động
đến hiệu quả của của phương pháp này. Các giáo viên bộ môn Giáo dục công dân
thường xuyên được tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học, trong các phương
phương pháp được tập huấn thì phương pháp dạy học bằng tình huống cũng được nhấn
mạnh. Ngoài ra, Ban giám hiệu cũng thường xuyên bổ sung thêm các sách, báo, tạp
chí, văn bản pháp luật đây là nguồn tư liệu quan trong cho việc xây dựng các tình
huống mang tính thực tiễn. Sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học hiện đại như máy vi
tinh, đèn chiếu cũng đã làm cho các tình huống trở nên đa dạng phong phú và sinh
động hơn.
1.2.2.2. Một số hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
Qua thực tế điều tra cũng cho thấy mức độ giáo viên vận dụng phương pháp
dạy học bằng tình huống trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp chưa nhiều, có
giáo viên còn ít khi thực hiện. Nội dung các tình huống còn đơn giản thiếu tính thực
tiễn từ đó không thu hút được các em vào nội dung bài dạy. Một số giáo viên chưa
hướng dẫn cách giải quyết tình huống cho các em nên khi dạy học bằng phương pháp
này mất nhiều thời gian dẫn đến ít sử dụng phương pháp này. Bản thân học sinh nhiều
em chưa hiểu về phương pháp dạy học bằng tình huống, nên còn thái độ thờ ơ hoặc e
ngại, không chủ động và tích cực tham gia học tập. Qua tìm hiểu, trao đổi với các giáo
viên bộ môn Giáo dục công dân, và học sinh chúng tôi nhận thấy hạn chế này do các
nguyên nhân chủ yếu như sau:
Đối với giáo viên, tuy đa số giáo viên đều cho rằng phương pháp dạy học bằng
tình huống được áp dụng trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp có những thuận
lợi là nội dung môn học phong phú, hấp dẫn, phương pháp này phù hợp với môn học,
nhưng vì phương pháp này đòi hỏi do giáo viên phải tốn nhiều thời gian và công sức
trong việc nghiên cứu, thiết kế bài học, hướng dẫn giải đáp… nên mức độ sử dụng ít.
Đối với học sinh, do trường đóng trên địa bàn có đặc điểm là kinh tế - xã hội
phát triển chưa cao, hoàn cảnh và điều kiện sống đại bộ phận nhân dân còn khó khăn,
trình độ dân trí chung còn hạn chế nên ảnh hưởng không ít đến sự quan tâm của cha
mẹ đối với việc học của con em, ý thức tự giác học tập ở nhiều học sinh chưa cao, các
em còn quen với cách học đọc chép, ghi chép ở cấp Trung học cơ sở và nhất là ít được

học theo phương pháp dạy học bằng tình huống nên các em thường tỏ ra còn rụt rè,
thiếu tự tin khi học theo phương pháp này.
Bản thân một số giáo viên và cả học sinh vẫn còn coi môn giáo dục công dân là
môn học phụ, không thi tốt nghiệp nên giáo viên chưa đầu tư hết công sức cho việc
giảng dạy môn giáo dục công dân nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nói
16


riêng, học sinh còn lơ là trong học tập môn học, do đó dẫn đến những hạn chế trong
việc thực hiện phương pháp dạy học bằng tình huống trong dạy học môn Giáo dục
công dân lớp 10 phần Công dân với đạo đức.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Dạy hoc bằng tình huống là một trong những phương pháp dạy học tích cực
trong nhà trường hiện nay. Đối với các môn khoa học xã hội nói chung, môn Giáo dục
công dân nói riêng, phương pháp dạy học bằng tình huống có nhiều ưu điểm trong việc
phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Thông qua việc tổ chức cho học sinh
chiếm lĩnh kiến thức bằng cách thức đặt học sinh vào những tình huống có vấn đề, vận
dụng những hiểu biết của bản thân và suy luận từ nội dung bài học cùng trao đổi, chia
sẻ quan điểm của các bạn cùng nhóm, cùng lớp và qua sự định hướng, điều chỉnh của
giáo viên, học sinh tiếp thu kiến thức vững chắc, nhớ lâu hơn, hình thành cho học sinh
tinh thần hợp tác, kỹ năng làm việc tập thể trong học tập và cuộc sống sau này, đồng
thời biết cách để khám phá kiến thức mới trong học tập ở lớp cũng như tự học ở nhà.
Do đó, dạy học bằng tình huống cần được giáo viên sử dụng một cách thường xuyên,
phổ biến hơn trong quá trình dạy học bộ môn Giáo dục công dân.
Việc vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống trong giáo dục pháp luật
cho học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Hương Khê là hành động cụ
thể hóa chủ trương đổi mới phương pháp dạy học của ngành giáo dục. Trong quá trình
dạy học, giáo viên của trường đã chú ý vận dụng các phương pháp dạy học tích cực,
trong đó có dạy học bằng tình huống để nâng cao chất lượng môn Giáo dục công dân.
Để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Giáo dục công dân và qua đó

nâng cao ý thức của học sinh trong chấp hành, thực hiện pháp luật thì đòi hỏi giáo viên
cần phải có cái nhìn đúng đắn hơn về phương pháp dạy học này.
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD
NHẰM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT HƯƠNG KHÊ
2.1. Thiết kế giáo án vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống
BÀI 8: PHÁP LUẬT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG DÂN (Tiết 1)
I. Mục tiêu bài học.
Học xong tiết 1 bài 8 học sinh cần nắm được
1. Về kiến thức.
Giúp học sinh nắm được nội dung, ý nghĩa quyền học tập, quyền sáng tạo VÀ quyền
phát triển của công dân.
2. Về kĩ năng.

17


- Biết thực hiện và có khả năng nhận xét việc thực hiện quyền học tập, quyền
sáng tạo và quyền phát triển của công dân theo quy định của pháp luật.
- Các KNS cần giáo dục trong tiết học:
+ Kĩ năng tư duy, phê phán
+ Kĩ năng giải quyết vấn đề
+ Kĩ năng ứng phó
+ Kĩ năng ứng xử trong giao tiếp
3. Về thái độ.
Có ý thức thực hiện quyền học tập, quyền sáng tạo và quyền phát triển của
mình và tôn trọng các quyền đó của người khác.
II. Tài liệu và phương tiện dạy học.
- SGK, SGV GDCD 12
- Sách dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng GDCD 12
- Tài liệu giảm tải, KNS

- Các tài liệu và phương tiện khác liên quan đến tiết học
- Bài tập tình huống, Luật giáo dục (2005)
III. Tiến trình lên lớp.
1. Ổn định tổ chức lớp.
2. Kiểm tra bài cũ.
Không có
3. Học bài mới.
3. 1. Giới thiệu bài mới: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Vì lợi ích mười năm
trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Em hiều như thế nào về câu nói này? HS:
trả lời.Căn cứ câu trả lời của HS, GV định hướng để giới thiệu bài 8 tiết 1
3.2. Dạy bài mới
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung kiến thức cần đạt
Hoạt động 1: Giáo viên sử dụng phương 1. Quyền học tập, sáng tạo và phát
pháp thuyết trình kết hợp với hoạt động triển của công dân.
nhóm và đàm thoại tìm hiểu quyền học tập
của công dân
a. Quyền học tập của công dân.
Học tập là quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân. Nhưng phạm vi bài học này chúng - Quyền học tập được ghi nhận ở Điều 39
ta chỉ đi tìm hiểu nội dung quyền học tập.
của Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp
? Em hiểu như thế nào về đoạn thư luật khác.
này của Bác Hồ?
? Tại sao học tập được coi là quyền cơ
bản của công dân?
18


Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo

luận nhóm; chia lớp làm bốn nhóm và tiến
hành thảo luận theo nội dung các tình
huống sau.
Tình huống thảo luận
Quyền học tập
Nhóm 1: Hoài nói với Thảo: Nói công dân
có quyền học không hạn chế là không đúng
đâu! Hạn chế rõ ràng quá đi chứ. Chẳng hạn
như tụi mình, sau khi học xong trung học
phổ thông thì có đứa vào trường đại học,
cao đẳng, có đứa chỉ vào trường trung cấp
chuyên nghiệp, trường dạy nghề, có đứa lại Quyền học tập
chẳng được học hành gì nữa mà phải đi lao không hạn chế
động ngay.
Câu hỏi :
Em có đồng ý với suy nghĩ của Hoài
không? Vì sao? Thế nào là quyền học không
hạn chế, học từ thấp đến cao?
Nhóm 2: Trong hội thi “Khi tôi 18” do
Đoàn trường tổ chức, khối 12 đưa đến cho
khán giả tiểu phẩm “Táo quân hướng
nghiệp” trong đó có nêu về việc chọn
trường của các HS: thi TCCN, Thi CĐ
nghề, thi đại học.
Qua nội dung đó em rút ra được nội
dung thứ 2 của quyền học tập là gì?
Nhóm 3: Tuấn và Trọng bàn với nhau về
chuyện học hành sau khi tốt nghiệp phổ
thông.
- Tuấn : Tớ sẽ thi vào ngành Sinh

học của Đại học quốc gia Hà Nội, rồi sau
này tớ sẽ cố gắng theo học sau đại học để
trở thành tiến sĩ.
- Trọng : Còn tớ thì mơ ước ngắn
thôi. Được vào đại học đối với tớ là quá tốt
rồi, học thêm làm gì nữa.
19

Quyền học bất cứ
ngành nghề nào

Quyền học
thường xuyên,
học suốt đời

Nội dung

Từ Tiểu học đến
Trung học, Đại học và
sau đại học theo quy
định của pháp luật

Phù hợp với khả
năng, năng khiếu, sở
thích và điều kiện của
mình

Có thể học bằng nhiều
hình thức khác nhau
và các loại hình

trường lớp


- Tuấn : Nhưng cậu học giỏi mà. Sao
không nghĩ đến chuyện học cao hơn?
Chúng mình có thể học suốt đời mà.
Câu hỏi :
1.
Em có nhận xét gì qua cuộc trao
đổi của Tuấn và Trọng ?
2.
Em mong muốn được thực hiện
quyền học tập của mình như thế nào ?
Nhóm 4: Một số HS trong trường mong
muốn làm hồ sơ thi vào trường Học viện
cảnh sát nhân dân nhưng lo ngại vì các bạn
là người theo đạo Thiên chúa giáo.
Câu hỏi: Sử dụng nội dung quyền học tập
và điều kiện tuyển sinh của Bộ công an, em
hãy giải thích cho các bạn hiểu vấn đề này?
Đây cũng là nội dung gì của quyền học
tập?

Quyền bình đẳng
về cơ hội học tập

Không bị phân biệt
bởi dân tộc, tôn giáo,
tín ngưỡng, điều kiện
kinh tế, nguồn gốc gia

đình...

HS: - Thảo luận nội dung theo nhóm
- Đại diện nhóm trình bày kết quả
- Các nhóm khác bổ sung
GV: - Định hướng để HS trả lời
- Nhận xét và bổ sung
- Kết luận nội dung
Hoạt động 2: Giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình kết
hợp với hoạt động nhóm và đàm thoại tìm hiểu quyền sáng tạo b. Quyền sáng tạo của công
của công dân
dân.
Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận theo các tình
huống để tìm ra nội dung kiến thức. Giáo viên đưa ra tình
huống sau.
- Huy hỏi Thành: Có phải chỉ những người học ở
bậc cao mới có quyền sáng tạo không ?
- Thành trả lời : Ồ! Ai chẳng có quyền sáng tạo,
chú tớ làm công nhân còn được nhận chứng chỉ về sáng
20

- Quyền sáng tạo được ghi
nhận ở Điều 40 Hiến pháp
2013
- Quyền sáng tạo gồm:
+ Quyền tác giả


tạo trong nhà máy mà.
- Nhưng học sinh chúng mình thì có thể sáng tạo

gì? – Huy hỏi tiếp.
- Thành : Học sinh cũng có thể sáng tạo, điều quan
trọng là phải chịu khó suy nghĩ tới mới sáng tạo được.
Các em khối 10 và 11 trường mình vừa rồi đạt 2 giải
trong cuộc thi sáng tạo kỹ thuật do Sở giáo dục và đào
tạo tổ chức đó.
Câu hỏi :
Theo em, có phải mọi công dân đều có quyền sáng
tạo không? Quyền sáng tạo bao gồm những lĩnh vực nào?
HS: - Thảo luận nội dung theo cặp đôi
- Trình bày kết quả
- HS khác bổ sung
GV: - Định hướng để HS trả lời
- Nhận xét và bổ sung
- Kết luận nội dung

+ Quyền sở hữu công nghiệp
+ Quyền hoạt động KH-CN
- Công dân có quyền sáng
tạo:
+ Tác phẩn văn học nghệ thuật
+ Báo chí
+ Kiểu dáng công nghiệp
+ Nhã hiệu hàng hóa
- Sáng tạo trong các lĩnh
vực:
+ Khoa học tự nhiên
+ Khoa học xã hội
+ Khoa học kĩ thuật
- Vai trò pháp luật:

+ Khuyến khích tự do sáng
tạo, ứng dụng khoa học.
+ Bảo vệ quyền sáng tạo của
công dân.

GV: Trong thời gian vừa qua các em nghe nhiều
đến sáng chế thuốc trừ sâu bằng thảo dược của người
nông dân Lê Văn Đáo ở Khoái Châu- Hưng Yên. Mong
muốn lớn nhất của bác là được nhà nước có những chính
sách để sản phẩm phổ biến rộng rãi trong sản xuất nông
nghiệp.
Câu hỏi: Theo em pháp luật nước ta khuyến khích và bảo
vệ quyền sáng tạo của công dân như thế nào?
HS: Trả lời cá nhân
GV: Kết luận

Hoạt động 3: Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận
theo tình huống để tìm hiểu nội dung quyền phát triển
của công dân
Đào rất muốn được vào học trường chuyên của
tỉnh để có điều kiện học tập tốt hơn.
- Đào thắc mắc: Cúc này, nghe nói công dân có
quyền được phát triển mà sao tớ muốn vào trường chuyên
21

c. Quyền được phát triển của
công dân.
* Khái niệm: SGK
* Nội dung
- Được hưởng đời sống vật

chất và tinh thần
+ Đời sống vật chất: có mức
sống đầy đủ để phát triển thể


lại không được?
- Cúc: Ai cũng có quyền được phát triển, nhưng
muốn vào trường chuyên thì phải thi và được điểm cao
mới được chọn vào chứ.
- Đào thở dài: Thế thì còn gì là quyền được phát
triển của công dân nữa! Muốn học ở trường tốt hơn cũng
không được.
Câu hỏi :
1. Em có đồng ý với cách suy nghĩ của Đào
không? Vì sao?
2. Em hiểu thế nào là quyền được phát triển của
công dân? Nội dung của quyền này như thế
nào?
HS: Trả lời cá nhân
GV: Kết luận

chất, được chăm sóc sức khỏe
+ Đời sống tinh thần: được
tiếp cận với các phương tiện
thông tin, được vui chơi giải
trí
- Quyền được khuyến khích,
bồi dưỡng để phát triển tài
năng.
+ Học giỏi, có năng khiếu =>

bồi dưỡng
+ Các nhà khoa học giỏi được
tạo điều kiện làm việc, phát
triển, cống hiến

4. Củng cố.
Giáo viên tóm tắt những kiến thức cơ bản của bài
Câu hỏi thảo luận: Suy nghĩ, quan điểm, thái độ (mặt tích cực và tiêu cực) của
các vấn đề học tập, sáng tạo, đời sống vật chất và tinh thần.
Hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi và làm bài tập ở nhà.
5. Hoạt động nối tiếp.
Về nhà học bài cũ, trả lời những câu hỏi cuối bài học và đọc trước tiết 2 bài này
2.2. Tiến hành dạy học và kết quả thực nghiệm
Cách tiến hành như sau: Giáo viên chọn 2 lớp có trình độ ngang nhau.
Lớp thực nghiệm sẽ dạy theo giáo án đã được thiết kế và vận dụng các phương
pháp dạy học tích cực mà trong đó chủ yếu là phương pháp dạy học bằng tình huống.
Lớp đối chứng dạy theo phương pháp truyền thống chủ yếu là thuyết trình và vấn đáp.
Địa điểm: Tại trường Trung học phổ thông Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh
Hà Tĩnh
Lớp 12A1 là lớp dạy đối chứng.
Lớp 12A2 là lớp dạy thực nghiệm.
Qua tiến hành cho học sinh các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng kiểm tra 15
phút, chúng tôi thu được kết quả như sau:
- Lớp đối chứng
22


Lớp

Sĩ số


12A1

46

TB trở lên/ Tỉ lệ
26/56,5%

Dưới TB/Tỉ lệ

Ghi chú

20/43,4 %

- Lớp thực nghiệm
Lớp

Sĩ số

TB trở lên/ Tỉ lệ

Dưới TB/Tỉ lệ

12A2

47

43/91,4%

4/8,6%


Ghi chú

2.3. Phân tích đánh giá kết quả thực nghiệm và tổng hợp ý kiến của học sinh
So sánh kết quả thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy kết quả học tập của học sinh
lớp thực nghiệm đều cao hơn học sinh lớp đối chứng
Xét về sự hứng thú của học sinh trong giờ học qua phương pháp dạy học mà
giáo viên đã thực hiện thì mức độ rất hứng thú và hứng thú của học sinh lớp thực
nghiệm cao hơn lớp đối chứng. Kết quả này chứng tỏ tuy cùng bài học nhưng nếu giáo
viên thực hiện phương pháp dạy học bằng tình huống thì sẽ tạo sự hứng thú của học
sinh cao hơn nhiều khi được học theo phương pháp thuyết trình.
Xét về thái độ tham gia của học sinh vào quá trình trình dạy và học, nhìn tổng
quát ta thấy sự tham gia phát biểu ý kiến, trao đổi của học sinh trong việc tìm hiểu nắm
bắt kiến thức bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên ở lớp thực nghiệm tốt hơn học
sinh lớp đối chứng. Kết quả này cho thấy, phương pháp dạy học bằng tình huống được
thực hiện ở lớp thực nghiệm tạo điều kiện cho học sinh chủ động tìm hiểu bài nhiều
hơn phương pháp thực hiện cho lớp đối chứng.
Kết quả này phản ánh một cách rõ ràng tính ưu việt cũng như hạn chế của việc
lựa chọn phương pháp dạy học mà giáo viên đã thực hiện đối với các lớp thực nghiệm.
Bằng việc vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống trong dạy học bài số 8 (tiết
1), nhằm kích thích sự hứng thú và phát huy sự tích cực học tập của học sinh đã giúp
các em nắm bắt tốt kiến thức bài học và khả năng vận dụng vào thực tế những nội
dung đã học. Trong khi đó, các bài học này nếu giáo viên áp dụng phương pháp thuyết
trình là chủ đạo để dạy cho cùng đối tượng thì trong giờ học đại bộ phận học sinh chủ
yếu chỉ lắng nghe và ghi chép, hoạt động phát biểu ý kiến và trao đổi thảo luận tìm
hiểu bài học hầu như không xảy ra. Do vậy, sự hiểu biết bài học của các em bị hạn chế
nên kết quả học tập qua kiểm tra là không cao. Như vậy, trong dạy học môn Giáo dục
công dân nếu giáo viên đầu tư đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là vận dụng tốt
phương pháp dạy học bằng tình huống thì sẽ phát huy được tính tích cực và nâng cao
được chất lượng học tập môn Giáo dục công dân của học sinh.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Nội dung môn Giáo dục công dân lớp nói chung và kiến thức pháp luật nói riêng
trong chương trình lớp 12, giáo viên có thể vận dụng các phương pháp dạy học khác
23


nhau để đảm bảo đạt được mục tiêu bài học đề ra. Kiến thức các bài học trong phần
Công dân với pháp luật môn Giáo dục công dân lớp 12 chủ yếu là nội dung khá trừu
tượng, khó hiểu, khô khan vì thế muốn học sinh nắm vững kiến thức, hình thành kỹ
năng vận dụng và sự yêu thích môn học, không thể đơn thuần là giáo viên diễn giảng,
thuyết trình mà học sinh đạt được. Với sự thúc đẩy học sinh tham gia tích cực vào quá
trình giải quyết tình huống mà giáo viên đặt ra ở các bài học thông qua dạy học bằng
tình huống thì kết quả thực hiện mục tiêu bài học sẽ tốt hơn nhiều.
Qua so sánh kết quả thực hiện thực nghiệm phương pháp dạy học bằng tình
huống ở bài học số 8 (tiết 1) môn Giáo dục công dân lớp 12 tại trường THPT Hương
Khê cho thấy, khi giáo viên thực hiện dạy các bài này theo phương pháp truyền thống
đối với các lớp đối chứng thì kết quả mục tiêu bài học đạt được còn nhiều hạn chế so
với giáo viên dạy cùng bài học này thông qua việc vận dụng phương pháp dạy học
bằng tình huống ở các lớp thực nghiệm. Kết quả trưng cầu ý kiến học sinh lớp thực
nghiệm phản ánh một thực tế là học sinh rất thích khi giáo viên thực hiện phương pháp
dạy học bằng tình huống trong giờ học và qua kiểm tra 15 phút chung đề cho cả hai
lớp thực nghiệm và đối chứng thì kết quả lớp thực nghiệm đạt cao hơn lớp đối chứng
rất nhiều.
Thông qua kết quả tổ chức thực nghiệm sư phạm, chúng tôi đã chứng minh
được giả thuyết khoa học mà luận văn đề ra: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình
huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục
công dân sẽ tạo được hứng thú và phát huy được tính tích cực cho học sinh, qua đó
nâng cao được chất lượng và hiệu quả môn học. Trong điều kiện thực tế hiện nay ở
trường THPT Hương Khê, việc vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống vào
dạy học môn Giáo dục công dân là đúng đắn và mang lại hiệu quả.


24


C. KẾT LUẬN
Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đang ra sức
phấn đấu, nhưng muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Để có
được con người xã hội chủ nghĩa thì đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải có sự thay đổi,
trong đó tất yếu có đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường.
Đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường hiện nay là thay đổi cách dạy và
học từ thụ động sang dạy và học tích cực. Trong quá trình dạy học, giáo viên không
đơn thuần thực hiện truyền đạt kiến thức, mà còn trở thành người thiết kế, tổ chức,
hướng dẫn học sinh lĩnh hội nội dung học tập; học sinh không còn trong trạng thái thụ
động ngồi nghe, ghi chép, học thuộc mà trở thành người chủ động, tích cực, sáng tạo
trong quá trình học tập.
Dạy học bằng tình huống là một phương pháp dạy học tích cực, thông qua đó
không chỉ giúp học sinh lĩnh hội tri thức một cách vững chắc mà còn góp phần hình
thành nên những phẩm chất con người theo yêu cầu phát triển xã hội. Dạy học bằng
tình huống là một phương pháp đã được Bộ Giáo dục và đào tạo chỉ đạo triển khai
thực hiện trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở nhiều môn học trong trường
phổ thông trong đó có môn giáo dục công dân và đã phát huy hiệu quả trong thực tế
dạy và học.
Môn Giáo dục công dân lớp 12 có vai trò quan trọng trong việc trang bị những
hiểu biết cơ bản về quyền và nghĩa vụ pháp lí của ngườ công dân trên một số lĩnh vực
cơ bản và biết vận dụng tri thức đó để giải quyết đúng đắn các vấn đề trong học tập,
bước vào cuộc sống đõ bở ngỡ hơn, thích ứng nhanh chóng hơn với đời sống xã hội;
thực hiện một cách chủ động, sáng tạo cả quyền và nghĩa vụ của người công dân. Thực
tế cho thấy, việc dạy và học môn Giáo dục công dân lớp 12 tại trường trường THPT
Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh hiệu quả còn chưa cao, học sinh chưa
thật sự thích thú với môn học, nhất là kiến thức pháp luật. Thực trạng này có nhiều

nguyên nhân như: học sinh cho rằng đây là môn học phụ; kiến thức trừu tượng, rộng,
v.v.. Song nguyên nhân cơ bản nhất là do là giáo viên chưa tích cực đổi mới phương
pháp dạy học, chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, đàm thoại, vấn đáp. Các
phương pháp dạy học tích cực, trong đó phương pháp dạy học bằng tình huống ít được
các giáo viên sử dụng vì ngại phải tốn nhiều thời gian, công sức cho việc thiết kế,
hướng dẫn,... Do vậy, học sinh thụ động tiếp thu bài giảng và có cảm giác ức chế, mệt
mỏi, chán nản trong quá trình lĩnh hội tri thức phần này.
Với những thực trạng và những nguyên nhân đã được phân tích, để góp phần
thực hiện có hiệu quả việc vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm giáo
dục pháp luật cho học sinh trong dạy môn Giáo dục công dân trường THPT Hương
Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, đề tài đã làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận của
25


×