Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

skkn THÔNG QUA VIỆC GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TẾ - TẠO NIỀM ĐAM MÊ, YÊU THÍCH HỌC BỘ MÔN.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (252.28 KB, 29 trang )

SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THÔNG QUA VIỆC GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG
THỰC TẾ - TẠO NIỀM ĐAM MÊ, YÊU THÍCH HỌC BỘ MÔN



Người thực hiện : NGUYỄN HOÀNG THƯỢNG
Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp dạy học bộ môn hoá

Năm học 2014– 2015


SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Hoàng Thượng
2. Ngày tháng năm sinh: 29/03/1982
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Quảng Phát – Quảng Tiến – Trảng Bom – Đồng Nai
5. Điện thoại DĐ: 0989597099
6. Fax :……………. E-mail :
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Ngô Sĩ Liên
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Đại học Sư phạm TPHCM
- Năm nhận bằng: 2005
- Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm Hoá
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy hóa học


- Số năm có kinh nghiệm: 10
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây :
+ Sử dụng phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm khách quan môn hoá.
+ Quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực.

MỤC LỤC


I. Lý do chọn đề tài

Trang 1

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Trang 2

1. Cơ sở lý luận

Trang 2

2. Thuận lợi

Trang 3

3. Khó khăn

Trang 3

III. Tổ chức thực hiện các giải pháp


Trang 3

III.1. Một số hình thức áp dụng các hiện tương thực tiễn trong tiết dạy

Trang 3

III.1.1. Đặt tình huống vào bài mới .

Trang 3

III.1.2. Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy.

Trang 3

III.1.3. Liên hệ thực tế trong bài dạy.

Trang 4

III.2. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương trình hóa lớp 11.

Trang 4

III.2.1. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương I: sự điện li

Trang 4

III.2.2. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương II: Nitơ - photpho


Trang 5

III.2.3. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương III: Cacbon – silic

Trang 9

III.2.4. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương IV: Đại cương về hóa học hữu cơ

Trang 13

III.2.5. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương V: Hiđrocacbon no

Trang 14

III.2.6. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương VI: Hiđrocacbon không no

Trang 15

III.2.7. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương VII: Hiđrocacbon thơm. Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên. Hệ thống hóa về
hiđrocacbon

Trang 15



III.2.8. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương VIII: Dẫn xuất halogen – ancol – phenol

Trang 17

III.2.9. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng trong
chương IX: Anđehit – xeton – axit cacboxylic

Trang 19

III.3. Phương pháp thực hiện

Trang 21

IV. Hiệu quả của đề tài

Trang 21

V. Đề xuất, Khuyến nghị khả năng áp dụng

Trang 23

VI. Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 23


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng


TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THÔNG QUA VIỆC GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG
THỰC TẾ - TẠO NIỀM ĐAM MÊ, YÊU THÍCH HỌC BỘ MÔN
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Theo định hướng chỉ đạo đổi mới giáo dục trung học: Giáo dục phổ thông nước
ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp
cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái
gì đến chỗ quan tâm học sinh làm được cái gì qua việc học. Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “
tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo
hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “tập trung phát
triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi
dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại
ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát
triển khả năng sáng tạo, tự học”. Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục
trong nhà trường trung học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới.
Môn hoá học trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng
trong việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn học là giúp
cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu
biết về thế giới, con người thông qua các bài học, giờ thực hành... của hoá học. Học
hoá là để hiểu, để giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên
tử, phân tử, sự chuyển hoá của các chất bằng các phương trình phản ứng hoá học...
Đồng thời là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ
trong đời sống của con người. Hoá học góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch
làm phương hại đến đời sống, tinh thần của con người.
Để đạt được mục đích của học hoá học trong trường phổ thông theo hướng đổi
mới thì giáo viên dạy hoá học phải là người tạo cho học sinh có được niềm đam mê,
yêu thích học bộ môn. Vì khi đã yêu thích thì học sinh sẽ chủ động tìm hiểu và tiếp

thu kiến thức. Trong sáng kiến kinh nghiệm này, Tôi đề cập đến một khía cạnh nhằm
giúp học sinh hứng thú, yêu thích bộ môn hóa hơn đó là “thông qua việc giải thích
các hiện tượng thực tế - tạo niềm đam mê, yêu thích học bộ môn” với mục đích xây
dựng hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn cho các bài giảng trong chương trình
hóa học lớp 11, nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh.
Để hoá học không còn mang tính đặc thù khó hiểu như một “thuật ngữ khoa học”.
Đồng thời hi vọng những kinh nghiệm này có thể góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao
chất lượng dạy và học tại trường THPT Ngô Sĩ Liên.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 1


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Môn hóa học ở trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong
việc hình thành và phát triển trí tuệ của học sinh. Mục đích của môn học là giúp cho
học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức về thế
giới, con người thông qua các bài học, các bài thực hành, ngoại khóa, chuyên đề...
Học sinh học tập hóa học không những để làm các bài tập tính toán, nhận biết, viết
phương trình hóa học của các phản ứng mà còn để biết được những ứng dụng phong
phú, thiết thực của hóa học trong đời sống để giúp đỡ mọi người xung quanh. Hiểu
biết hóa học, học sinh có thể vận dụng kiến thức bảo vệ môi trường xung quanh, có
niềm tin và tự tạo lập cho mình một hướng đi trong tương lai. Muốn quá trình dạy học
có hiệu quả, giáo viên phải có những bài giảng với phương pháp dạy học phát huy
tính tích cực, tự lực cao của học sinh. Trong tình hình hiện nay, đổi mới phương pháp

dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học hóa học nói riêng đã và đang
thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy
có hiệu quả và tiến bộ là phải kết hợp linh hoạt giữa bài giảng và thực tế.
Có những vấn đề hóa học giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong tự
nhiên, tránh việc mê tín dị đoan. Thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học, hóa học
trong những câu ca dao – tục ngữ, mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong
thực tiễn đời sống thường ngày mà không gây nhàm chán, xa lạ, lại có tác dụng kích
thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học hóa học.
Trong việc dạy môn hoá học ở trường trung học, người giáo viên phải có vốn
kiến thức về thực tế sâu, rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực tế, tạo ra được
những giờ học sinh động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê học tập của
học sinh.
Tôi cũng yêu thích môn hóa học từ các hoạt động thực tiễn và nhận thấy những
điều bổ ích từ các hoạt động thực tiễn. Vì vậy, tôi cũng muốn trong mỗi bài dạy làm
cho học sinh thấy thích các bài học từ việc đưa các hiện tượng thực tiễn để tạo niềm
say mê học tập tìm tòi của học sinh. Để đạt được mục đích của môn Hoá học, ngoài
việc phải tiếp thu đầy đủ những kiến thức từ trên lớp, từ sách giáo khoa, từ giáo viên,
học sinh còn tìm hiểu những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Vận
dụng những kiến thức đã học được để giải thích những hiện tượng đó, nhờ vậy mà
học sinh được củng cố kiến thức sâu sắc hơn. Và cũng nhờ đó mà học sinh thấy học
môn Hóa dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn hơn.
Tuy nhiên để dạy theo cách tích hợp như trên, người giáo viên phải biết chọn
những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất của chương trình để giảng dạy còn phần kiến
thức dễ hiểu nên hướng dẫn học sinh về nhà đọc SGK hoặc các tài liệu tham khảo.
Ngoài ra giáo viên phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễn phù hợp với nội dung bài
mới tăng hứng thú, say mê học tập, tìm hiểu bộ môn.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 2



Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

2. THUẬN LỢI.
Được sự quan tâm chỉ đạo của Ban giám hiệu trường THPT Ngô Sĩ Liên về
việc đổi mới phương pháp giảng dạy, và tham gia các lớp bồi dưỡng về phương pháp
do sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
Trong tổ chuyên môn có nhiều Giáo viên có kinh nghiệm nên có điều kiện tham
khảo và trao đổi với đồng nghiệp về các phương pháp giúp học sinh nắm bắt nhanh
kiến thức và yêu thích bộ môn hơn.
Do sự phát triển của công nghệ thông tin nên việc trao đổi kiến thức diễn ra rất
thuận lợi và nhanh chóng.
Đa số học sinh đã có ý thức học tập để trang bị cho mình những kiến thức cần
thiết để chuẩn bị cho tương lai.
3. KHÓ KHĂN.
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi cũng không tránh khỏi những khó khăn
nhất định:
- Phần lớn các em gặp phải khó khăn trong việc nhận thức nắm vững các khái
niệm cơ bản. Đặc biệt là kỹ năng vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn cuộc
sống cũng như giải thích một số hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống còn hạn chế.
- Nhiều học sinh khối 11 của trường có lực học còn yếu vì chưa có niềm say
mê, yêu thích bộ môn hóa.
- Thực tế giảng dạy cho thấy: Môn hóa học trong trường phổ thông là một trong
những môn học khó đặc biệt là ở lớp 11, nếu không có những bài giảng và phương
pháp hợp lý, phù hợp sẽ dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
III.1. Một số hình thức áp dụng các hiện tượng thực tiễn trong tiết dạy.
III.1.1. Đặt tình huống vào bài mới.

Tiết dạy có gây sự chú ý của học sinh hay không chính là nhờ vào người hướng
dẫn (giáo viên) rất nhiều. Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biết đặt ra
một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu,
giải thích qua bài học sẽ cuốn hút được sự chú ý của học sinh trong tiết dạy.
III.1.2. Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy.
Vấn đề môi trường: nước, không khí, đất,...đang được con người nhắc đến rất
nhiều. Trong cuộc sống hằng ngày các hiện tượng thường xuyên bất gặp như: nước
thải của một ao cá, chuồng heo, chuồng vịt...; khói bụi của các nhà máy xay lúa, các
lò gạch, các cánh đồng sau thu hoạch, khói bụi của các nhà máy công nghiệp, xe cộ,...
có liên quan gì đến những diễn biến bất thường của thời tiết hiện nay không. Giáo
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 3


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

viên dạy học bộ môn hóa có thể lồng ghép các hiện tượng đó vào phần sản xuất các
chất, hay ứng dụng của một số chất...
III.1.3. Liên hệ thực tế trong bài dạy.
Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn cho cuộc sống thì
các em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớ hơn. Do đó, trong
mỗi bài học giáo viên đưa ra được một số ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú
ý của học sinh.
III.2. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng
trong chương trình hóa học lớp 11.
III.2.1. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng
trong chương I: SỰ ĐIỆN LI.

Câu 1. Tại sao nước không dẫn điện nhưng khi cho dây điện xuống nước ao, hồ,
sông... thì các sinh vật như cá, tôm... lại bị điện giật?
Giải thích: nước nguyên chất là chất điện li rất yếu nên không dẫn điện, nhưng
nước có trong tự nhiên như ở ao hồ, sông suối thì có hòa tan các loại ion như Fe 3+,
Mg2+.... nên các ion này làm cho nước trong tự nhiên có khả năng dẫn điện.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi này khi dạy bài sự điện li.
Câu 2. Tại sao để bảo vệ răng con người phải ăn thức ăn ít chua, ít đường, đánh răng
sau khi ăn?
Giải thích: Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng 2 mm. Lớp men
này là hợp chất Ca5(PO4)3OH và được tạo thành bằng phản ứng :
5Ca2+ + 3PO43- + OH- → Ca5(PO4)3OH (1)
Quá trình tạo lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người chống lại bệnh
sâu răng. Sau bữa ăn, vi khuẩn trong miệng tấn công các thức ăn còn lưu lại trên răng
tạo thành các axit hữu cơ như axit axetic, axit lactic.... Thức ăn có hàm lượng đường
cao tạo điều kiện cho việc sản sinh các axit đó. Lượng axit trong miệng tăng, pH
giảm, làm cho phản ứng sau xảy ra:
H+ + OH- → H2O
Khi nồng độ pH giảm, theo nguyên lí lơ sa –tơ – li – e, cân bằng (1) chuyển
dịch theo chiều nghịch và men răng bị mòn tạo điều kiện cho sâu răng phát triển.
Trong thuốc đánh răng người ta trộn thêm NaF vì ion F- tạo điều kiện cho phản ứng:
5Ca2+ + 3PO43- + F- → Ca5(PO4)3F.
Hợp chất Ca5(PO4)3F là men răng thay thế một phần cho Ca5(PO4)3OH
Áp dụng: lồng ghép vào bài: Sự điện li của nước, pH, Chất chỉ thị axit- bazơ.
Câu 3: Vì sao khi ăn trái cây không nên đánh răng ngay ?
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 4


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm


Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Giải thích: Vì chất chua (tức axit hữu cơ) có trong trái cây sẽ kết hợp với
những thành phần trong thuốc đánh răng theo bàn chải sẽ tấn công các kẽ răng và gây
tổn thương cho lợi. Bởi vậy người ta đợi đến khi nước bọt trung hòa lượng axit trong
trái cây nhất là táo, cam, nho, chanh…
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học
của axit khi tác dụng với bazơ tạo phản ứng trung hòa bài axit, bazơ và muối.
Câu 4: Vì sao nước rau muống đang xanh khi vắt chanh vào thì chuyển sang màu đỏ?
Giải thích: Có một số chất hóa học gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm cho dung
dịch thay đổi khi độ axit thay đổi. Trong rau muống (và vài loại rau khác) có chất chỉ
thị màu này, trong chanh có 7% axit xitric. Vắt chanh vào nước rau làm thay đổi độ
axit, do đó làm thay đổi màu của nước rau. Khi chưa vắt chanh nước rau muống màu
xanh lét là chứa chất kiềm.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học
của axit khi tác dụng với quỳ tím ở bài axit, bazơ và muối hoặc bài phản ứng trao đổi
ion.
Câu 5: Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?
Giải thích: Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là
người có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO 3 dùng để chế
thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản
ứng:
NaHCO3 + HCl → NaCl + CO2 + H 2O

Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng kiến thức này vào bài phản ứng trao đổi
ion.
III.2.2. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng cho các bài giảng
trong chương II: NITƠ – PHOTPHO.
Câu 1: Ca dao Việt Nam có câu:

“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Mang ý nghĩa hóa học gì ?
Giải thích: Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận
mưa rào kèm theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao. Vì sao vậy ?
Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi. Khi có sấm chớp (tia lửa
điện) thì:




N 2 + O2 ¬ 
2NO

Sau đó: 2NO + O2 → 2NO2
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 5


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Khí NO2 hòa tan trong nước: 4NO2 + O2 + H2O → 4HNO3
HNO3 hòa tan trong đất được trung hòa bởi một số muối tạo muối nitrat cung
cấp N cho cây. Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi ha
đất được cung cấp khoảng 6-7 kg nitơ.
Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang ý nghĩa thực tiễn rất thường gặp trong
đời sống. Đây quả là một kinh nghiệm được ông cha ta rút ra qua những tháng năm

canh tác nông nghiệp. Học sinh cũng dễ dàng quan sát để kiểm nghiệm và giải thích
được một cách khoa học về vấn đề trên. Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên ở bài Nitơ,
axit nitric và muối nitrat hoặc phân bón hóa học.
Câu 2: Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, người ta thường ngửi
thấy mùi khai?
Giải thích: Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu chất
đạm, như: nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ,… lượng Ure trong các chất hữu cơ
sinh ra nhiều. Dưới tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, ure bị phân hủy
thành CO2 và NH3.
( NH 2 )2 CO + 2 H 2O → CO2 + 2 NH 3

Lượng NH3 sinh ra hoà tan trong nước dưới dạng một cân bằng động:
NH 3 + H 2 O ⇔ NH 4+ + OH − ( pH < 7)

Như vậy, khi trời nắng (nhiệt độ tăng), cân bằng trên sẽ dịch chuyển theo chiều
nghịch, tức là NH3 sinh ra do phản ứng phân hủy ure không bị hoà tan trong nước mà
bị tách ra, bay vào không khí làm cho không khí xung quanh sông, hồ có mùi khai
khó chịu.
Áp dụng: Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào bài Amoniac.
Câu 3: Bột nở là chất gì mà có thể làm cho bánh to ra và xốp được ?
Giải thích: NH4HCO3 được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm bột mì hoặc các
bột khác, lúc nướng bánh NH4HCO3 phân hủy thành các chất khí và hơi làm cho bánh
xốp và nở.
0

t
NH4HCO3 → NH3 ↑ + CO2 ↑ + H2O ↑

Áp dụng: Đây là một tính chất của muối amoni khi dạy bài amoniac và muối
amoni.

Câu 4. “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Giải thích: Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong ( ô tô,
xe máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi
nước trong không khí nhờ xúc tác oxit kim loại ( có trong khói, bụi nhà máy) hoặc
ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 6


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
2NO + O2 → 2NO2
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò chính của mưa
axit là H2SO4 còn HNO3 đóng vai trò thứ hai.
Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới. Mưa axit
làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá
cẩm thạch, đá vôi, đá phiến ( các loại đá này thành phần chính là CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây nên
những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển. Vấn đề
ô nhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam chúng ta đang rất chú
trọng đến vấn đề này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh những hiểu
biết về hiện tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường. Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời sau khi dạy xong

bài Axit nitric và muối nitrat.
Câu 5:Thuốc nổ đen có thành phần như thế nào?
Giải thích: Chính xác, hỗn hợp có thành phần khối lượng như sau: 74,64% kali
nitrat, 13,51% bột cacbon, 11,85% lưu huỳnh. Trước đây, các thành phần hỗn hợp
được trôn theo tỷ lệ không đúngnên ảnh hưởng nhiều đến khả năng bắt cháy, tốc dộ
cháy, năng lượng cháy. Giữa thế kỷ 18 ở châu Âu trộn hỗn hợp theo tỷ lệ 75% diêm
sinh, 15% bột than củi, 10% lưu huỳnh.
Phản ứng cháy của hỗn hợp rất phức tạp, đơn giản có thể viết:
2 KNO3 + S + 3 C → K2S + N2 + 3 CO2
Một cách viết phức tạp hơn, nhưng vẫn chưa mô tả được hết phản ứng:
10 KNO3 + 3 S + 8 C → 2 K2CO3 + 3 K2SO4 + 6 CO2 + 5 N2
Áp dụng: phần ứng dụng của bài axit nitric và muối nitrat.
Câu 6: Nguyễn Du trong " Văn chiêu hồn thập loại chúng sinh" có câu:
Lập loè ngọn lửa ma chơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.
“Ma chơi” là gì ? Ma chơi thường xuất hiện ở đâu ?
Giải thích: Trong xương của động vật luôn có chứa một hàm lượng photpho.
Khi cơ thể động vật chết đi, nó sẽ phân hủy một phần thành photphin PH 3 và lẫn một
ít điphotphin P2H4. Photphin không tự bốc cháy ở nhiệt độ thường. Khi đun nóng đến
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 7


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

150oC thì nó mới cháy được. Còn điphotphin P2H4 thì tự bốc cháy trong không khí và
tỏa nhiệt. Chính lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình này làm cho photphin bốc cháy:

2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2O
Quá trình trên xảy ra cả ngày lẫn đêm nhưng do ban ngày có các tia sáng của
mặt trời nên ta không quan sát rõ như vào ban đêm. Hiện tượng ma trơi chỉ là một quá
trình hóa học xảy ra trong tự nhiên. Thường gặp ma trơi ở các nghĩa địa vào ban đêm.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng “
thần bí ” nào đó, tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho cuộc sống thêm lành mạnh.
Vấn đề này có thể được đề cập ở trong bài photpho.
Câu 7: Tại sao những con chuột sau khi ăn thuốc chuột lại đi tìm nước uống. Vậy,
thuốc chuột là gì ? Cái gì đã làm chuột chết ? Nếu sau khi ăn thuốc mà không có nước
uống nó chết mau hơn hay lâu hơn ?
Giải thích: Thuốc chuột là Zn3P2 sau khi ăn Zn3 P2 bị thuỷ phân rất mạnh, làm
hàm lượng nước trong cơ thể chuột giảm, nó khát và đi tìm nước:
Zn3P2 + 6H2O → 3Zn(OH)2+ 2PH3↑
Chính PH3 đã giết chết chuột.
Càng nhiều nước đưa vào → PH3 thoát ra càng nhiều → chuột càng nhanh chết.
Nếu không có nước chuột chết lâu hơn.
Áp dụng: Khi dạy phần ứng dụng của photpho trong cuộc sống nhằm kích
thích hứng thú học tập của học sinh.
Câu 8: Tại sao những người có thói quen ăn trầu thì luôn có lợi và hàm răng chắc
khỏe?
Giải thích: Trong miếng trầu có vôi Ca(OH)2 chứa Ca2+ và OH- làm cho quá
trình tạo men răng (Ca5(PO4)3OH) xảy ra thuận lợi:
5Ca2+ + 3PO43- + OH- → Ca5(PO4)3OH
Chính lớp men này chống lại sâu răng.
Áp dụng: Đạt câu hỏi khi dạy bài Axit photphoric và muối photphat.
Câu 9: Người ta biết chất diệp lục trong cây xanh có công thức phân tử
C55H70O5N4Mg. Cây xanh tạo chất này nhờ CO2 (trong không khí), hiđro (từ nước
trong đất) và các chất vô cơ là nitơ, magie (từ đất lên). Khi cây bị vàng lá người ta
nghi là không đủ chất diệp lục. Vậy theo em nên bón loại phân nào giúp cây tạo chất
diệp lục hiệu quả nhất ?

Giải thích: Nên dùng phân như phân magie sunfat MgSO 4 và amoni sunfat
(NH4)2SO4 vì 2 loại phân này có Mg và N cung cấp cho cây.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi này cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc
liên hệ thực tế trong bài phân bón hóa học.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 8


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Câu 10: Vì sao người ta dùng tro bếp để bón cho cây ?
Giải thích: Trong tro bếp có chứa muối K 2CO3 cung cấp nguyên tố kali cho
cây.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi này cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc
liên hệ thực tế trong bài phân bón hóa học.
Câu 11: Tại sao khi nông nghiệp phát triển thì các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống
trong đất, nước… giảm đi rất nhiều, thậm chí nơi không còn nữa ?
Giải thích: Một số phân bón có thể tiêu diệt các loại sinh vật có hại này. Ví dụ
trước khi trồng khoai tây một tuần người ta đưa vào đất một lượng urê (1,5 kg/m 2) thì
các mầm bệnh bị tiêu diệt hoàn toàn. Hiện tượng dễ thấy là không còn đỉa trong nước
ở nhiều nơi như ngày trước nữa.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần tích hợp bảo vệ môi
trường trong bài phân bón hóa học.
Câu 12: Tại sao để cải tạo đất ở một số ruộng chua người ta thường bón bột vôi ?
Giải thích: Thành phần của bột vôi gồm CaO và Ca(OH) 2 và một số ít CaCO3.
Ở ruộng chua có chứa axit, pH < 7, nên sẽ có phản ứng giữa axit với CaO, Ca(OH) 2
và một ít CaCO3 làm giảm tính axit nên ruộng sẽ hết chua.

Áp dụng: Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức các bài đã
học trước để trả lời dẫn vào bài phân bón hóa học.
III.2.3. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương III: Cacbon - silic
Câu 1: Vì sao than chất thành đống lớn có thể tự bốc cháy ?
Giải thích: Do than tác dụng với O2 trong không khí tạo CO2, phản ứng này tỏa
nhiệt. Nếu than chất thành đống lớn phản ứng này diễn ra nhiều làm nhiệt tỏa ra được
tích góp dần khi đạt tới nhiệt độ cháy của than thì than sẽ tự bốc cháy.
Áp dụng: Khi dạy phần tính chất hóa học của cacbon trong bài cacbon.
Câu 2: Tại sao khi cơm bị khê, ông bà ta thường cho vào nồi cơm một mẫu than củi ?
Giải thích: Do than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ hơi khét của cơm làm
cho cơm đỡ mùi khê.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài
cacbon.
Câu 3: “Hiệu ứng nhà kính” là gì?
Giải thích: Khí cacbonic CO2 trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những tia
hồng ngoại (tức là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước
sóng từ 50000 đến 100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những bức xạ nhiệt
phát ra ngược lại từ mặt đất có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO 2 hấp thụ mạnh và
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 9


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

phát trở lại Trái Đất làm cho Trái Đất ấm lên. Theo tính toán của các nhà khoa học thì
nếu hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng lên gấp đôi so với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt

đất tăng lên 4oC.
Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO 2 ở trong khí quyển tương đương với lớp thủy
tinh của các nhà kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện tượng làm
cho Trái Đất ấm lên bởi khí CO2 được gọi là hiệu ứng nhà kính.
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” trở thành một vấn đề có
ảnh hưởng mang tính toàn cầu. Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được nguyên nhân
và tác hại của hiệu ứng nhà kính nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Giáo viên
có thể đặt vấn đề này khi dạy tích hợp môi trường ở phần mở rộng tính chất hóa học
của CO2.
Câu 4: Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc CO hoặc khí thiên nhiên CH 4
không có oxi để tránh khi xuống giếng bị chết ngạt ?
Giải thích: Trong các giếng sâu ở một số vùng đồng bằng thường có nhiều khí
độc CO và CH4 và thiếu oxi. Vì một lí do nào đó mà ta xuống giếng thì rất nguy hiểm.
Đã có rất nhiều trường hợp tử vong do trèo xuống giếng gặp nhiều khí độc và chết
ngạt do thiếu oxi. Điều tốt nhất là tránh phải xuống giếng, nếu có xuống thì nên mang
theo bình thở oxi.
Trước khi xuống giếng cần thử xem trong giếng có nhiều khí độc hay không
bằng cách cột một con vật như gà, vịt rồi thả xuống giếng. Nếu gà, vịt chết thì chứng
tỏ dưới giếng có nhiều khí độc. Hoặc bỏ một ngọn đèn cầy, mồi lửa đang cháy xuống
nếu tắt chứng tỏ thiếu oxi.
Áp dụng: Đây là hiện tượng hay xảy ra vào mùa khô. Mọi người không hề biết
được sự nguy hiểm khi xuống giếng sâu. Thực tế là đã có nhiều cái chết thương tâm
xảy ra mà báo đài đã nêu trong thời gian qua. Giáo viên cần đưa vào bài giảng để
nhắc nhở học sinh và mọi người. Vấn đề này có thể xen vào bài hợp chất của cacbon.
Câu 5: Tại sao khi tô vôi lên tường thì lát sau vôi khô và cứng lại ?
Giải thích: Vôi là canxi hiđroxit, là chất tan ít trong nước nên khi cho nước vào
tạo dung dịch trắng đục, khi tô lên tường thì Ca(OH) 2 nhanh chống khô và cứng lại vì
tác dụng với CO2 trong không khí theo phương trình:
Ca(OH)2 + CO2 → CaCO3 ↓ + H2O ↑
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học

của CO2 ở bài hợp chất của cacbon.
Câu 6: Tại sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại: K, Na, Mg bằng khí CO2
(bình cứu hỏa thông thường)?
Giải thích: Do các kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy được trong
khí CO2.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 10


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng
0

t
Mg + CO2 → MgO + C

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học
của CO2 ở bài hợp chất của cacbon.
Câu 7: Câu tục ngữ: “ Nước chảy đá mòn” mang ý nghĩa hóa học gì?
Giải thích: Thành phần chủ yếu của đá là CaCO 3. Trong không khí có khí CO 2
nên nước hòa tan một phần tạo thành axit H2CO3. Do đó xảy ra phản ứng hóa học:



CaCO3 + CO2 + H2O ¬ 
Ca(HCO3)2

Khi nước chảy cuốn theo Ca(HCO3)2, theo nguyên lí dịch chuyển cân bằng thì

cân bằng sẽ chuyển dịch theo phía phải. Kết quả là sau một thời gian nước đã làm cho
đá bị bào mòn dần.
Áp dụng: Hiện tượng này thường thấy ở những phiến đá có ḍòng nước chảy
qua. Do hiện tượng xảy ra chậm nên phải thật sự chú ý chúng ta mới nhận ra điều này.
Hiểu được điều này giúp học sinh biết được dụng ý khoa học của câu tục ngữ có từ xa
xưa và làm cho hóa học trở nên gần gũi hơn trong cuộc sống đời thường. Giáo viên có
thể nêu vấn đề này ở phần muối cacbonat trong bài hợp chất của cacbon.
Câu 8: Nham thạch do núi lửa phun ra là chất gì ?
Giải thích: Bên dưới vỏ trái đất là lớp dung nham gọi là macma ở độ sâu từ 75
km – 3000 km. Nhiệt độ của lớp dung nham này rất cao 2000 – 2500 0C và áp suất rất
lớn. Khi vỏ trái đất vận động, ở những nơi có cấu tạo mỏng, có vết nứt gãy thì lớp
dung nham này phun ra ngoài sau một tiếng nổ lớn. Macma cấu tạo ở dạng bán lỏng
gồm silicat của sắt và magie. Dung nham thoát ra ngoài sẽ nguội dần và rắn lại thành
nham thạch.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài
silic – hợp chất của silic.
Câu 9: Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF ?
Giải thích: Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năng đặc
biệt là ăn mòn thủy tinh. Do thành phần chủ yếu của thủy tinh là silic đioxit SiO 2 nên
khi cho dung dịch HF vào thì có phản ứng xảy ra:
SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Áp dụng: Đây là phần kiến thức mà bất kì học sinh nào cũng phải biết được sau
khi học bài Flo và hợp chất của nó. Học sinh biết giải thích và vận dụng trong thực
tiễn tránh việc dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF. Giáo viên có thể hỏi học sinh
sau khi dạy xong bài bài silic – hợp chất của silic.
Câu 10: Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh ?

Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 11



Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Giải thích: Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy,
nhấc ra cho nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi, rồi nhỏ
dung dịch HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chỗ lớp sáp bị cào đi theo
phương trình hóa học:
SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H 2SO4 đặc và bột CaF2.
Làm tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF 2 vào chỗ cần khắc, sau đó cho thêm
H2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác đặt trên chỗ cần khắc. Sau một thời gian, thủy
tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp.
CaF2 + 2H2SO4 → CaSO4 + 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại)
Sau đó: SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Áp dụng: Đây là một vấn đề rất thực tế khi mà nghề khắc thủy tinh đang phát
triển ở nước ta. Sau bài học học sinh không những biết được phương pháp khắc thủy
tinh mà còn có thể giải thích được vấn đề này. Thậm chí đây là cơ sở cho việc học
nghề, khơi gợi niềm đam mê học tập, học sinh có thể tự làm thí nghiệm này trong tiết
thực hành. Giáo viên có thể nêu vấn đề trên để dẫn dắt vào bài giảng “Hợp chất silic”.
Câu 11: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ?
Giải thích: Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm khí
cacbonic CO2. Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để ép CO 2
hòa tan vào nước. Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại thì thu được nước ngọt.
Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO 2 lập tức bay vào không khí.
Vì vậy các bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi.
Về mùa hè người ta thường thích uống nước ngọt ướp lạnh. Khi ta uống nước
ngọt vào dạ dày, dạ dày và ruột không hề hấp thụ khí CO 2. Ở trong dạ dày nhiệt độ

cao nên CO2 nhanh chóng theo đường miệng thoát ra ngoài, nhờ vậy nó mang đi bớt
một nhiệt lượng trong cơ thể làm cho người ta có cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Ngoài ra
CO2 có tác dụng kích thích nhẹ thành dạ dày, tăng cường việc tiết dịch vị, giúp nhiều
cho tiêu hóa.
Áp dụng: Hiện tượng có nhiều bọt khí thoát ra từ bình nước ngọt có ga hay chai
bia thì chắc hẳn học sinh nào cũng biết. Nhưng khi giải thích khí đó là khí gì và có
công dụng ra sao thì không nhiều học sinh biết được. Giáo viên có thể nêu câu hỏi
trên khi dạy phần “Cacbon Đioxit”.
Câu 12: Vì sao ban đêm không nên để nhiều cây xanh trong nhà?
Giải thích: Ban ngày, do có ánh sáng mặt trời nên cây xanh tiến hành quá trình
quang hợp, hấp thụ CO2 và giải phóng khí O2. Nhưng ban đêm, do không có ánh sáng
mặt trời, cây xanh không quang hợp, chỉ có quá trình hô hấp nên cây hấp thụ khí O 2
và thải ra khí CO2 làm cho phòng thiếu khí O2 và quá nhiều khí CO2.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 12


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này ở phần CO2.
III.2.4. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương IV: Đại cương về hóa học hữu cơ
Câu 1: Hoá chất trong cơ thể của con người như thế nào?
Giải thích: Các nhà khoa học đã tính được rằng:
- Lượng nước trong cơ thể của mỗi người chúng ta chỉ đủ giặt một chiếc áo sơ
mi.
- Lượng Fe đủ để làm một cái đinh 5 phân.

- Lượng đường chỉ đủ cho làm một nửa cái bánh ngọt nhỏ.
- Lượng vôi trong toàn bộ xương của cơ thể đủ để xây một cái chuồng gà con.
- Lượng mỡ dùng nấu được 7 bánh xà phòng.
- Lượng P đủ để sản xuất 2200 đầu que diêm.
- Lượng S đủ để giết chết 1 con bọ chét.
Cộng cả lại kể các các nguyên tố khác như Mg, Cu, K… Theo các nhà bác học
tính ra thì với một người nặng 65kg, giá trị của chúng chỉ đáng giá chưa tới 3$.
Áp dụng: Có thể dùng để vào bài mở đầu về hóa học hữu cơ.
Câu 2: Cơ thể chúng ta cần những hợp chất hữu cơ thiết yếu nào ?
Giải thích: Cơ thể chúng ta cũng chứa hàng nghìn loại các phân tử hữu cơ và
vô cơ nên cũng được sắp xếp thành loại thiết yếu và không thiết yếu để chú ý khi nuôi
dưỡng.
Có 24 hợp chất hữu cơ thiết yếu là: 9 amino axit, 2 axit béo và 13 vitamin. Có 15
thành phần thiết yếu vô cơ là: canxi, photpho, iôt, magie, kẽm, đồng, kali, natri, clo,
coban, crom, mangan, molipđen và selen (có thể kể cả asen, vanađi và thiếc).
Các chất trên cơ thể lấy từ thực phẩm như amino axit lấy từ thịt, trứng, sữa… axit béo
không no lấy từ đậu nành… vitamin lấy từ rau quả như vitamin A trong quả gấc,
vitamin C trong quả chanh, cam, bưởi.
Áp dụng: Có thể dùng liên hệ thục tế trong bài mở đầu về hóa học hữu cơ.
Câu 3: Vì sao trong một ngày hoa phù dung có thể đổi màu tới 3 lần ?
Giải thích: Hoa phù dung đổi màu 3 lần trong ngày. Buổi sáng màu trắng, buổi
trưa màu phớt hồng, buổi chiều màu hồng đậm hơn. Loài hoa, trước sau chỉ biến đổi
thay nhau giữa các màu trắng, hồng, vàng, da cam, đỏ. Đó là sự thay đổi của chất
caroten có trong thực vật.
Caroten là một loại sắc tố thường thấy trong mọi đóa hoa. Trong sữa động vật,
trong chất béo cũng có sắc tố này nhưng nhiều hơn cả là trong củ cà rốt ( chất màu
vàng da cam). Caroten là một hiđrocacbon có công thức phân tử C40H56.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng thường gặp trong tự nhiên. Giáo viên đưa vấn
đề này vào trong bài giảng nhằm kích thích tính tò mò ham hiểu biết của học sinh. Có
Trường THPT Ngô Sĩ Liên


Trang 13


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

thể dùng liên hệ thực tế trong bài mở đầu về hóa học hữu cơ hoặc công thức phân tử
hợp chất hữu cơ.
Câu 4: Vitamin A, Vitamin C, Vitamin D có công thức hóa học như thế nào?
Giải thích: Vitamin A (retinol) có công thức phân tử là C 20H30O, Vitamin C có
công thức phân tử là C6H8O6, Vitamin D có công thức phân tử là C28H44O.
Áp dụng: Đây là những loại vitamin cần thiết cho cơ thể. Giáo viên đưa vấn đề
này vào trong bài giảng nhằm kích thích tính tò mò ham hiểu biết của học sinh. Có thể
dùng liên hệ thục tế trong bài mở đầu về hóa học hữu cơ hoặc công thức phân tử hợp
chất hữu cơ.
III.2.5. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương V: Hiđrocacbon no.
Câu 1: Vì sao có khí metan thoát ra từ ruộng lúa hoặc các ao (hồ)?
Giải thích: Trong ruộng lúa, ao (hồ) thường chứa các vật thể hữu cơ. Khi các
vật thể này thối rữa (hay quá trình phân hủy các vật thể hữu cơ) sinh ra khí metan.
Người ta ước chừng 1/7 lượng khí metan thoát vào khí quyển hàng năm là từ các hoạt
động cày cấy.
Lợi dụng hiện tượng này người ta đã làm các hầm biogas trong chăn nuôi heo
tạo khí metan để sử dụng đun nấu hay chạy máy …
Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp và là cơ sở giải quyết các vấn đề về
môi trường ở các địa phương chăn nuôi nhỏ lẽ. Giáo viên đưa vấn đề này vào trong
phần liên hệ thực tế bài ankan.
Câu 2. Khí metan gây nguy hiểm như thế nào khi làm trong hầm mỏ?

Giải thích: Nổ khí metan và tiếp theo nữa là nổ bụi than là một trong những
mối hiểm họa nguy hiểm nhất trong ngành công nghiệp khai thác mỏ. Khí metan là
nguyên nhân của các tai nạn hầm mỏ lớn. Vụ tai nạn lớn nhất liên quan đến metan xảy
ra vào năm 1903 tại Hoa Kỳ với 1.234 thợ mỏ thiệt mạng. Ở Ba Lan, vào năm 1974,
tại mỏ Silesia đã xảy ra một vụ nổ khí metan, tổn thất cho 34 thợ mỏ. Khí metan đặc
biệt nguy hiểm khi tiến hành khai thác than hầm lớn mà không tuân thủ quy trình kỹ
thuật và quy phạm an toàn. Nguyên nhân đó là do phản ứng:
CH4 + 2O2 → CO2 + 2H2O
Đây là phản ứng tỏa nhiệt lớn và gây ra nổ.
Áp dụng: Giáo viên có thể dùng để dẫn vào bài ankan.
III.2.6. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương VI: Hiđrocacbon không no.
Câu 1: Làm cách nào để quả mau chín? Từ lâu người ta đã biết xếp một số quả chín
vào giữa sọt quả xanh thì toàn bộ sọt quả xanh sẽ nhanh chóng chín đều. Tại sao vậy ?
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 14


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Giải thích: Bí mật của hiện tượng này đã được các nhà khoa học phát hiện khi
nghiên cứu quá trình chín của trái cây. Trong quá trình chín trái cây đã thoát ra một
lượng nhỏ khí etilen. Khí này sinh ra có tác dụng xúc tác quá trình hô hấp của tế bào
trái cây và làm cho quả mau chín. Nắm được bí quyết đó người ta có thể làm chậm
quá trình chín của trái cây bằng cách làm giảm nồng độ etilen do trái cây sinh ra. Điều
này đã được sử dụng để bảo quản trái cây không bị chín nẫu khi vận chuyển xa.
Ngược lại khi cần cho quả mau chín, người ta thêm etilen vào kích thích quá trình hô

hấp của tế bào trái cây. Ngày nay người ta dùng khí etilen ở dạng rắn cho vào thùng
trái cây để làm trái cây mau chín. ( Axetilen cũng có tác dụng tương tự).
Áp dụng: Đây là hiện tượng đã được sử dụng rất lâu nhưng không phải ai cũng
biết giải thích được. Giáo viên có thể sử dụng hiện tượng trên liên hệ thực tế trong
phần ứng dụng của etilen ở bài anken.
Câu 2: Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết ?
Giải thích: Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua CaC2, khi tác dụng với
nước sinh ra khí axetilen và canxi hiđroxit:
CaC2 + 2H2O → C2H2 + Ca(OH)2
Axetilen có thể tác dụng với nước tạo ra anđehit axetic, chính chất này làm tổn
thương đến hoạt động hô hấp của cá vì vậy có thể làm cá chết.
Áp dụng: Giáo viên dùng hiện tượng này mở rộng cho phần điều chế nhằm
cũng cố lại tính chất của axetilen ở bài ankin.
Câu 3: Tại sao người ta dùng khí axetilen để hàn và cắt kim loại?
Giải thích: Axetilen cháy trong O2 tạo ra ngọn lửa có nhiệt độ khoảng 3000 0C
nên được dùng trong đèn xì axetilen - oxy dùng để hàn và cắt kim loại.

2C2H2 + 5O2 
4CO2 + 2H2O

Áp dụng: Khi dạy phần ứng dụng của axetilen trong bài ankin.
III.2.7. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương VII: Hiđrocacbon thơm. Nguồn hiddrocacbon thiên nhiên. Hệ
thống hóa về hiddrocacbon.
Câu 1: Đánh giá chất lượng xăng như thế nào ?
Giải thích: Xăng dùng cho các loại động cơ thông dụng như ô tô, xe máy là
hỗn hợp hiđrocacbon no ở thể lỏng (từ C 5H12 đến C12H26). Chất lượng xăng được đánh
giá thông qua chỉ số octan là phần trăm các ankan mạch nhánh có trong xăng. Chỉ số
octan càng cao thì xăng càng tốt do khả năng chịu áp lực nén tốt nên khả năng sinh
nhiệt cao. n-Heptan được coi là chỉ số octan bằng 0 còn 2,2,4- trimetylpentan được

quy ước chỉ số octan bằng 100. Các hiđroccabon mạch vòng và mạch nhánh có chỉ số
ocatn cao hơn các hiđrocacbon mạch không nhánh.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 15


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Xăng có chỉ số octan thấp như xăng 83 thường pha thêm một ít phụ gia như
tetraetyl chì (C2H5)4Pb hoặc lưu huỳnh. Các phụ gia này làm tăng khả năng chịu nén
của nhiên liệu nhưng khí thải ra không khí gây ô nhiễm môi trường, rất có hại cho sức
khỏe của con người.
Hiện nay ở Việt Nam thường dùng 2 loại xăng A92 hoặc A95 là loại xăng có
chỉ số octan cao, những loại xăng này không cần pha thêm các phụ gia nên đỡ độc hại
và ít gây ô nhiễm môi trường.
Áp dụng: Trong nhu cầu ngày càng cao của con người thì xăng rất cần thiết cho
cuộc sống, việc sử dụng và chọn lựa các loại xăng cũng được quan tâm. Giáo viên có
thể nêu câu hỏi thực tiễn này trong bài hệ thống hóa về hiđrocacbon.
Câu 2: Vì sao không dùng nước để dập các đám cháy xăng, dầu ?
Giải thích: Xăng, dầu là hỗn hợp hữu cơ, gồm nhiều chất khác nhau, thành
phần chủ yếu là các ankan có phân tử lượng nhỏ, dạng lỏng. Lý tính của xăng : nhẹ
hơn nước, không tan trong nước, rất dễ cháy... Vì vậy, nếu dùng nước để dập cháy
xăng dầu... thì không những không tắt mà đám cháy còn lan nhanh hơn.
Áp dụng: Để hiểu được vì sao thì không nhiều người hiểu được vấn đề này.
Thông qua nội dung bài hệ thống hóa về hiđrocacbon, giáo viên có thể đặt câu hỏi này
cho học sinh thảo luận rồi giải thích cho học sinh biết.
Câu 3: Vì sao lại không dùng xăng pha chì nữa?

Giải thích: Xăng pha chì là thêm tetraetyl chì [(C 2H5)4Pb] có tác dụng tiết kiệm
30% xăng dầu khi sử dụng. Nhưng khi cháy trong động cơ, chì oxit bám vào các ống
xả, thành xi lanh nên thực tế xăng còn hoà tan thêm vào đibrometan thì chì oxit sẽ bị
chuyển thành Chì bromua (PbBr2), dễ bay hơi, thoát ra khỏi xi lanh, ống xả, thải vào
không khí làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Vì chì sẽ ở trong môi trường khí, tồn tại trong thực vật, động vật nên khi tiếp
xúc với khí thải, động thực vật bị bệnh sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ
con người. Ngoài ra hơi Brom bay ra gây nguy hiểm tới đường hô hấp, làm bỏng da.
Hiện nay, nước ta đã không sử dụng xăng pha chì.
Áp dụng: Hiện nay nhà nước ta nghiêm cấm các doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu sử dụng xăng pha chì. Thông qua nội dung “Hệ thống hóa về hidrocacbon”
giáo viên có thể đặt câu hỏi này cho học sinh thảo luận rồi giải thích cho học sinh biết
được tác hại của việc pha chì vào xăng nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
Câu 4: Vì sao đốt xăng, cồn thì cháy hết sạch, còn khi đốt gỗ, than đá lại còn tro?
Giải thích: Bởi vì so với gỗ và than đá thì xăng và cồn là những hợp chất hữu
cơ có độ thuần khiết cao. Khi đốt xăng và cồn chúng sẽ cháy hoàn toàn tạo thành CO2
và hơi H2O, tất cả chúng đều bay vào không khí. Xăng tuy là hỗn hợp nhiều
hiđrocacbon, nhưng chúng là những chất dễ cháy. Vì vậy cho dù ở trạng thái hỗn hợp
nhưng khi đốt đều cháy hết.
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 16


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Với than đá và gỗ thì lại khác. Cả hai vật liệu đều có những thành phần rất phức
tạp. Những thành phần của chúng như xenlulozơ, bán xenlulozơ, nhựa là những hợp

chất hữu cơ dễ cháy và có thể “cháy hết”. Nhưng gỗ thường dùng còn có các khoáng
vật. Những khoáng vật này đều không cháy được. Vì vậy sau khi đốt cháy gỗ sẽ còn
lại và tạo thành tro. Than đá cũng vậy, trong thành phần than đá ngoài cacbon và các
hợp chất hữu cơ phức tạp còn có các khoáng là các muối silicat. Nên so với gỗ khi đốt
cháy than còn cho nhiều tro hơn.
Áp dụng: Đây là câu hỏi nhằm kích thích tư duy học sinh. Học sinh không lạ gì
với hiện tượng trên nhưng để giải thích thì không phải dễ. Giáo viên có thể nêu vấn đề
trên sau khi dạy xong bài hệ thống hóa về hiđrocacbon.
III.2.8. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương VIII: Dẫn xuất halogen – ancol - phenol.
Câu 1: Vì sao dụng cụ phân tích rượu có thể phát hiện các lái xe đã uống rượu?
Giải thích: Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu etylic. Đặc
tính của rượu etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể tác dụng với
rượu nhưng người ta chọn một chất oxi hóa là crom(VI)oxit CrO 3. Đây là một chất
oxi hóa rất mạnh, là chất ở dạng kết tinh thành tinh thể màu đỏ thẫm. Bột oxit CrO 3
khi gặp rượu etylic sẽ bị khử thành oxit Cr2O3 là một hợp chất có màu lục thẫm.
Cảnh sát giao thông sử dụng các dụng cụ phân tích rượu etylic có chứa CrO 3.
Khi tài xế hà hơi thở vào dụng cụ phân tích trên, nếu trong hơi thở có chứa hơi rượu
thì hơi rượu sẽ tác dụng với CrO3 và biến thành Cr2O3 có màu lục thẫm. Dựa vào sự
biến đổi màu sắc mà dụng cụ phân tích sẽ thông báo cho cảnh sát biết được mức độ
uống rượu của tài xế. Đây là biện pháp nhằm phát hiện các tài xế đã uống rượu khi
tham gia giao để ngăn chặn những tai nạn đáng tiếc xảy ra.
Áp dụng: Tai nạn giao thông luôn là nổi ám ảnh của mọi người. Một trong
những nguyên nhân chính xảy ra tai nạn giao thông chính là rượu. Nhằm giúp cho học
sinh thêm hiểu biết về cách nhận biết rượu trong cơ thể một cách nhanh và chính xác
của cảnh sát giao thông, giáo viên có thể đưa nội dung này vào bài ancol.
Câu 2: Cồn khô và cồn lỏng có cùng một chất không ? Tại sao cồn khô lại được ?
Giải thích: Cồn khô và cồn lỏng đều là cồn (ancol etylic nồng độ cao) vì người
ta cho vào cồn lỏng một chất hút dịch thể, loại chất này làm cồn lỏng chuyển khô.
Ngoài ra loại chất này còn dùng trong sản xuất tã lót, …

Áp dụng: Đây là câu hỏi đặt ra khi dạy về ứng dụng của ancol trong cuộc sống
trong bài ancol.
Câu 3: Tại sao rượu giả có thể gây chết người ?
Giải thích: Để thu được nhiều rượu (rượu etylic) người ta thường thêm nước
vào để pha loãng ra nhưng làm như vậy thì rượu nhạt đi người uống không thích. Do
đó họ pha thêm một ít rượu metylic làm nồng độ rượu tăng lên. Chính rượu metylic
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 17


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

gây ngộ độc, nó tác động vào hệ thần kinh và nhãn cầu, làm rối loạn chức năng đồng
hóa của cơ thể gây nên sự nhiễm độc axit.
Áp dụng: Đây là các câu hỏi nhằm kích thích tính tò mò của học sinh. Học sinh
không lạ gì với các hiện tượng trên nhưng để giải thích thì không phải dễ. Giáo viên
có thể nêu vấn đề trên sau khi dạy xong bài ancol.
Câu 4: Vì sao cồn có khả năng sát khuẩn ?
Giải thích: Cồn là dung dịch ancol etylic (C2H5OH) có khả năng thẩm thấu cao,
có thể xuyên qua màng tế bào đi sâu vào bên trong gây đông tụ protein làm cho tế bào
chết. Thực tế là cồn 75o có khả năng sát trùng là cao nhất. Nếu cồn lớn hơn 75 o thì
nồng độ cồn quá cao làm cho protein trên bề mặt vi khuẩn đông cứng nhanh hình
thành lớp vỏ cứng ngăn không cho cồn thắm vào bên trong nên vi khuẩn không chết.
Nếu nồng độ nhỏ hơn 75o thì hiệu quả sát trùng kém.
Áp dụng: Trong y tế việc dùng cồn để sát khuẩn trước khi tiêm và rửa vết
thương trở nên thông dụng. Nhưng để giải thích được ý cồn có khả năng sát khuẩn thì
không phải ai cũng giải thích được. Trong bài giảng, nếu học sinh được giáo viên giải

thích thì sẽ rất hứng thú về hóa học có những ứng dụng rất thực tế và sẽ thêm yêu hóa
học. Giáo viên có thể đề cập ở phần ứng dụng trong bài ancol.
Câu 5: Khi chiên cá người ta thường cho thêm một ít rượu vào. Vậy, mục đích của
việc làm này là gì?
Giải thích: Cá tanh do trong cá có trimetylamin (CH 3)3N và đimetylamin
(CH3)2NH và metyl amin CH3NH2 là những chất có mùi khó ngửi.
Khi chiên cá ta cho thêm một ít rượu có thể phá hủy được mùi tanh cá. Vì
trimetylamin thường “lẩn trốn” trong cá nên người ta khó trục nó ra. Nhưng trong
rượu có cồn, cồn có thể hòa tan trimetylamin nên có thể lôi được trimetylamin ra khỏi
chổ ẩn. Khi chiên cá ở nhiệt độ cao cả trimetylamin và cồn đều bay hơi hết, nên chỉ
một lúc sau mùi tanh cá sẽ bay đi hết.
Ngoài ra trong rượu có một ít etylaxetat có mùi dễ chịu nên rượu có tác dụng
thêm mùi thơm rất tốt.
Áp dụng: Đây là một kinh nghiệm thường thấy khi chế biến thức ăn liên quan
đến cá. Giáo viên cần giải thích cho học sinh biết được cơ sở hóa học của kinh
nghiệm trên. Từ đó giúp các em thấy được những ứng dụng đời thường của hóa học
nhằm tăng thêm niềm yêu thích đối với môn hóa học. Giáo viên có thể đưa vào phần
ứng dụng của ancol trong bài Ancol.
III.2.9. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tế sử dụng trong những bài
giảng Chương IX: Anđehit – xeton – axit cacboxylic.
Câu 1: Gương soi có lịch sử như thế nào?
Giải thích: Thời xa xưa khi muốn soi mình phải soi qua mặt nước, khi đến thời
đồ đồng thau thì bằng gương làm bằng đồng nhưng nhanh ố, sau dần chuyển sang
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 18


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm


Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

thuỷ ngân tráng sau tấm kính phẳng, nhưng thuỷ ngân gây ngộ độc cho người sản
xuất. Dần dần và ngày nay người ta đã thay thế bằng bạc tráng sau tấm kính nhờ phản
ứng anđehit (R−CHO) với dung dịch AgNO3/NH3 hay thay andehit bằng glucozơ. Ag
tạo ra bám chặt vào gương, người ta quét lên mặt sau chiếc gương một lớp sơn dầu
bảo vệ. Phích nước cũng chế tạo kiểu này.
Áp dụng: Đây là một ứng dụng của hợp chất có chức andehit vào đời sống.
Giáo viên có thể nêu vấn đề này trong tiết dạy về andehit. Để học sinh hiểu phần nào
về sự tạo gương, ruột phích mà hàng ngày ai cũng bắt gặp.
Câu 2: Formaldehyde được sử dụng trong việc bảo quản thực vật như thế nào? Tác
hại của nó đối với sức khỏe con người.
Giải thích: Formaldehyde bị thế giới và VN nghiêm cấm trong bảo quản thực
vật. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa formaldehyde vào loại hóa chất độc hại đối
với sức khỏe người. Ở liều lượng cao, nó có thể gây đột tử. Với hàm lượng thấp,
formaldehyde tích tụ trong cơ thể sẽ gây tác hại cho da và hệ thống hô hấp, gây bệnh
về bạch cầu, ung thư phổi.
Mới đây, các phóng viên Trung Quốc đã phản ánh việc nhiều thương lái Trung
Quốc thường xuyên phun dung dịch formaldehyde vào rau quả nhằm giữ cho rau tươi
trên hành trình đổ buôn đến các chợ xa. Hành động này được tiến hành ít nhất trong
ba năm lại đây.
Sản phẩm được phát hiện phun nhiều formaldehyde là cải thảo - loại sản phẩm
được nhập khẩu và tiêu thụ khá nhiều tại thị trường Việt Nam.
Áp dụng: Vấn đề này có thể nêu trong bài Andehit-Xeton.
Câu 3: Ngày nay người ta có xu hướng dùng giấy để bảo quản các loại thực phẩm.
Tại sao giấy có khả năng này ?
Giải thích: Các nhà nghiên cứu đã phát hiện khi phủ bên trong các hộp giấy
một lớp mỏng dung dịch axit socbic thì thời gian bảo quản thực phẩm tăng lên rất
nhiều.
Thí dụ: nếu sữa chua đựng trong hộp này và giữ trong tủ lạnh thì sau 40 ngày

vẫn không thấy men phát hiện đáng kể.
Áp dụng: Giáo viên có thể dùng các hiện tượng này mở rộng về một số axit
hữu cơ trong bài axit cacboxylic.
Câu 4: Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ?
Giải thích: Do trong nọc của ong, kiến, nhện (và một số con khác) có axit hữu
cơ tên là axit fomic (HCOOH). Vôi là bazơ nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học
của axit ở bài axit cacboxylic.
Câu 5: Làm sữa chua như thế nào ?
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 19


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng

Giải thích: Một loại vi khuẩn vô hại có trong sữa, gọi là khuẩn sữa nó tạo ra
axit lactic CH3 – CH – COOH ở nhiệt độ ấm. Vi khuẩn lên men sữa, nhờ đó tạo
OH
thành sữa chua. Thường cho thêm đường và trái cây để tăng hương vị và sự bổ dưỡng
của sữa chua.
Thành phần của sữa chua gồm: Vitamin và chất khoáng ~ 2% ; chât đạm ~ 5%;
chất béo ~0,5%; cacbonhyđrat ~12%; nước ~ 80,5%.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học
của axit ở bài axit cacboxylic.
Câu 6: Dấm ăn là gì? Có ích gì?
Giải thích: Trong dấm ăn có vị chua vì có 3 - 5% là Axit axetic (CH 3COOH).
Dấm ăn có tác dụng tạo vị chua và có tác dụng làm cho cơ thể có cảm giác muốn ăn

và tiêu hoá tốt, có khả năng tiêu độc, sát khuẩn.
Áp dụng: Dấm ăn là một thứ gia vị rất gần gũi trong đời sống, giáo viên có thể
xen vào trong bài giảng về axit cacboxylic để học sinh liên hệ trong thực tế, hiểu biết
về vai trò của dấm ăn đối với con người.
Câu 7: Vì sao không nên ăn hoa quả ngay sau bữa ăn?
Giải thích: Trái cây có loại đường đơn là monosaccarit và một số loại axit sẽ
kết hợp với axit trong dạ dày tạo ra Axit tactaric, Axit citric làm cho dạ dày đầy hơi.
Một số loại hoa quả có hàm lượng Tanin và Pectin cao, chúng sẽ kết hợp với
dịch vị, chất xơ và protein trong thức ăn, dễ tạo thành những hạt rắn, khó tiêu hóa.
Những hạt này hình thành sỏi ở dạ dày, ruột.
Nên ăn hoa quả sau bữa ăn khoảng 1−3 giờ.
Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này vào bài axit cacboxylic.
Câu 8: Vì sao vắt chanh vào cốc sữa đặc có đường sẽ thấy có kết tủa?
Giải thích: Trong sữa có thành phần protein gọi là Cazein. Khi vắt chanh vào sữa làm
tăng độ chua, tức làm giảm pH của dung dịch sữa tới pH đúng với điểm đẳng điện của
cazein thì chất này sẽ kết tủa.
Khi làm phomat, người ta cũng tách Cazein theo nguyên tắc tương tự và cho
lên men tiếp.
Áp dụng: Giáo viên có thể đưa các vấn đề thực tế này vào bài axit cacboxylic.
III.3. Phương pháp thực hiện:
Trong năm học 2014 - 2015, Tôi lồng ghép các vấn đề thực tế vào các tiết dạy
ở một số lớp 11 với các mức độ khác nhau và đã kết hợp hài hoà trong phong cách
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Trang 20


Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Giáo viên: Nguyễn Hoàng Thượng


dạy của mình để có thể làm cho giờ học mang không khí rất thoải mái, nhưng khả
năng tiếp thu bài cũng rất tốt. Đồng thời khi giải thích được các hiện tượng thực tế
xung quanh mình học sinh sẽ cảm thấy hóa học gần gũi, dễ hiểu và không còn thấy
hóa học là một bộ môn khó nữa. Từ đó dần dần hình thành niềm đam mê, yêu thích
học tập bộ môn hóa.
Trong quá trình vận dụng tôi nhận thấy, có những vấn đề hoá học có thể giúp
học sinh giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm
chí hiểu được những dụng ý khoa học hoá học trong những câu ca dao – tục ngữ mà
thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng
những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ. Đồng thời, lại có tác
dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong học tập bộ môn từ đó làm cho
hoá học không khô khan, bớt đi tính đặc thù và phức tạp. Vì vậy, sau một thời gian áp
dụng đề tài tôi nhận thấy học sinh trở nên thích học hoá hơn, thích những giờ hóa
nhiều hơn và kết quả cũng có nhiều tiến triển tốt hơn trước.
Tuy nhiên, thời gian cho vấn đề này là không nhiều nên phụ thuộc vào người
dạy cần phải linh hoạt và khéo léo. Bất cứ một vấn đề gì nếu chúng ta quá lạm dụng
thì đều không tốt. Vì thế tôi vẫn luôn nghĩ: Dạy như thế nào cho tốt là một điều không
dễ.
Trong phạm vi đề tài tôi không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề trong thực
tiễn mà chỉ nêu lên một vài suy nghĩ, đề suất của cá nhân coi đó là kinh nghiệm qua
một số ví dụ minh hoạ, với mong muốn làm cho môn hóa học trở nên gần gũi hơn với
học sinh và góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy hoá học trong nhà trường.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Trên đây, Tôi đã trình bày những kinh nghiệm của mình trong quá trình giảng
dạy và rèn luyện học sinh. Việc vận dụng, kết hợp các vấn đề thực tế đã trình bày ở
trên sẽ làm cho học sinh đam mê và yêu thích môn hóa học hơn.
Với cách làm như đã trình bày ở trên, trong năm học vừa qua Tôi đã từng bước
lồng ghép phù hợp các vấn đề thực tế vào giờ học để tạo niềm đam mê, yêu thích học
bộ môn. Kết quả đạt được: Hầu hết các em học sinh thuộc các lớp tôi giảng dạy qua

thời gian tiếp thu vận dụng đã trở nên yêu thích môn học hơn và có những tiến bộ
nhất định trong học tập.
Thực tế giảng dạy cho thấy các lớp ít áp dụng so với lớp áp dụng giải thích
thường xuyên có sự khác nhau rõ rệt. Cụ thể, kết quả các lớp 11 do tôi dạy như sau:
+ Kết quả học kì I:
STT Lớp

Mức độ
áp dụng

Trường THPT Ngô Sĩ Liên


số

Loại
kém

Loại

Loại

Loại

yếu

TB

khá – giỏi
Trang 21



×