Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG: HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH – TỈNH NAM ĐỊNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (527.27 KB, 105 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

VŨ THỊ NAM PHƯƠNG

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH –
TỈNH NAM ĐỊNH

Mã số: 60 34 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN QUỐC VIỆT

Hà Nội – 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Chương trình giảng dạy sau đại học
Tài chính – Ngân hàng, các Quý Thầy Cô giáo trường Đại học Kinh tế - Đại học
Quốc Gia Hà Nội đã giúp tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường điều kiện thuận lợi
nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới TS. Nguyễn
Quốc Việt đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện
công trình nghiên cứu này.
Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đã hợp tác chia sẻ
thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tài liệu, tư liệu, hữu ích phục vụ cho đề tài
nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên,


hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn.
Chân thành cảm ơn!
Học viên

Vũ Thị Nam Phương


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
đoạn trích dẫn, số liệu sử dụng, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, nguồn gốc
trích dẫn rõ ràng, có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015
Học viên

Vũ Thị Nam Phương


TÓM TẮT
Công cuộc đổi mới đất nước, sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và xu hướng mở cửa, hội nhập quốc tế tạo ra những tiền đề và đòi
hỏi phải đổi mới, tăng cường quản lý ngân sách nhà nước giữa Trung ương và địa
phương nhằm phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, tăng quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, thực hiện các
nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.Trong thực tế những năm vừa qua,
nước ta đã thực hiện tương đối tốt việc quản lý NSNN, nhờ đó đã đóng góp phần ổn
định và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, tạo điều kiện ổn định và tăng trưởng
kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nội lực phục vụ công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, cơ chế quản lý hiện hành
đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như thẩm quyền quyết định ngân sách nhà nước

còn chồng chéo, một số nguồn thu, nhiệm vụ chi phân cấp còn chưa hợp lý, cơ chế
thưởng, cơ chế xác định số bổ sung cho ngân sách cấp dưới chưa tạo ra động lực
mạnh mẽ thúc đẩy các cấp chính quyền địa phương thực sự làm chủ ngân sách của
mình. Quản lý NSNN không có mô hình chung cho tất cả các nước để áp dụng. Vì
vậy, để quản lý NSNN ở nước ta có hiệu quả, khắc phục những yếu kém trong thời
gian vừa qua, tập trung nguồn lực, tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội trên phạm vi quốc gia cũng như từng địa
phương thì cần thiết phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quản lý
ngân sách Nhà nước.


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ 4
LÝ LUẬN VỀ NSNN 4
CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP LUẬN 36
VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH – TỈNH NAM ĐỊNH 40
CHƯƠNG 4 : GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QLNSNN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ NAM ĐỊNH – TỈNH NAM ĐỊNH 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1



DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Nguyên nghĩa

Ký hiệu viết tắt

Doanh nghiệp có vốn cổ phần nhà nước

DNCP

Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

DN.ĐTNN

Doanh nghiệp nhà nước

DNNN

Hội đồng nhân dân

HĐND

Ngân sách địa phương

NSĐP

Ngân sách nhà nước

NSNN

Ngân sách trung ương


NSTW

Sản xuất kinh doanh

SXKD

Thành phố

TP

Tổng sản phẩm quốc nội

GDP

Tư bản chủ nghĩa

TBCN

Ủy ban nhân dân

UBND

i


DANH MỤC BẢNG
STT

Bảng


Tên bảng

1

Bảng 3.1

2

Bảng 3.2

Cân đối Thu NSNN Thành phố Nam Định năm 2012

45

3

Bảng 3.3

Thu NSNN Thành phố Nam Định năm 2013

47

4

Bảng 3.4

Chi NSNN Thành phố Năm Định năm 2013

54


5

Bảng 3.5

Tình hình chi NSNN Thành phố Nam Định
giai đoạn 2011 – 2013

62

6

Bảng 4.1

Cơ cấu kinh tế của Thành phố Nam Định năm 2015

74

Tình hình thu, chi NSNN thành phố Nam Định giai
đoạn 2011 - 2013

ii

Trang
41


DANH MỤC SƠ ĐỒ

STT


Sơ đồ

Tên
Hệ thống NSNN ở Việt Nam

Trang

1

Sơ đồ 1.1

2

Sơ đồ 3.1

3

Sơ đồ 3.2

Một số khoản thu đạt và vượt dự toán năm 2011

44

Sơ đồ 3.3

Tỷ trọng Tổng thu cân đối ngân sách năm 2012

46


Chi quản lý hành chính TP Nam Định giai đoạn
2011 - 2013

iii

9
42


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Về tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách Nhà nước là một công cụ quản lý tài chính quan trọng của một
quốc gia, để quản lý quá trình hình thành và phân bố một cách có hiệu quả việc
sử dụng các nguồn lực tài chính khan hiếm của quốc gia đó, tạo tiền đề và điều
kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển hài hoà cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm
mục tiêu ổn định, công bằng và bền vững, thông qua việc thoả mãn nhu cầu xã
hội. Trên cơ sở đó tạo điều kiện tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao chất lượng
cuộc sống của dân cư.
Thực tế cho thấy ở các nước trên thế giới, NSNN thực sự trở thành một công
cụ quản lý tài chính quan trọng thông qua đó Nhà nước thực hiện các mục tiêu phát
triển. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng nước, tuỳ thuộc vào quan điểm,
và nhận thức của các nhà hoạch định quản lý (cũng như các ràng buộc khác) mục
tiêu, định hướng, nhịp độ phát triển có thể có sự khác nhau giữa các quốc gia.
Việt Nam (nhất là sau 1986) luôn theo đuổi chủ trương thực thi quản lý sử
dụng NSNN là một công cụ tài chính quan trọng để thúc đẩy sự phát triển các
ngành và các vùng kinh tế. Năm 1996 luật NSNN ra đời (có hiệu lực thi hành từ
năm Ngân sách 1997) sau đó được thay thế bằng luật NSNN năm 2002 (có hiệu lực
thi hành từ năm ngân sách 2004) đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý
điều hành NSNN theo chủ trương trên.
Thành phố Nam Định vừa là một cấp vùng kinh tế chiến lược; lại vừa là một

cấp hành chính địa phương lớn nhất của tỉnh Nam Định. Sự trùng hợp giữa kinh tế và
hành chính đã cho phép thành phố Nam Định là một cấp NSNN quan trọng. Phát triển
kinh tế - xã hội các tỉnh - thành phố là một nhiệm vụ sống còn đối với đất nước. Nhà
nước sử dụng công cụ NSNN như thế nào để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở các
địa phương. Luật NSNN năm 2002, các văn bản dưới luật và Bộ Tài chính hướng dẫn
thi hành luật đã có tác dụng to lớn vào việc nâng cao hiệu quả quản lý điều hành ngân
sách Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu phát triển đất nước nói chung và từng địa
phương nói riêng. Tuy nhiên, tình hình kinh tế, đời sống của cả nước và địa phương

1


phát triển, biến đổi từng ngày, luật ngân sách và các văn bản khác qua thực hiện bộc lộ
những lạc hậu, hạn chế cần được bổ sung, hoàn thiện trong vấn đề quản lý NSNN.
Với lí do đó, tôi chọn đề tài: "Hoàn thiện quản lý ngân sách Nhà nước trên địa
bàn thành phố Nam Định- tỉnh Nam Định" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn: khảo sát đánh giá công tác quản lý
NSNN, tình hình thu chi ngân sách, phân cấp quản lý giữa các cấp ngân sách đối
với thành phố Nam Định trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay. Từ đó, đề xuất
các quan điểm các phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý ngân sách
theo định hướng phân cấp quản lý đối với thành phố Nam Định trong thời gian tới.
Để thực hiện mục đích luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ sau: Hệ thống
hoá các cơ sở lí luận liên quan đến đề tài như : NSNN, quản lý NSNN, phân cấp
QLNSNN; phát triển kinh tế - xã hội thành phố Nam Định; Quản lý phân cấp
NSNN thành phố Nam Định trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Phân tích thực
trạng quản lý NSNN đối với thành phố Nam Định – tỉnh Nam Định hiện nay như
tình hình thu – chi ngân sách, việc phân cấp quản lý giữa các cấp ngân sách ... và
qua điều tra khảo sát, phân tích nhằm phát hiện hệ thống quản lý NSNN đối với
thành phố Nam Định hiện nay còn những gì cản trở sự phát triển, cản trở sự hình

thành cơ chế thị trường.
Đề xuất các quan điểm, hướng đổi mới hệ thống quản lý và các biện pháp tạo
điều kiện thực hiện các đổi mới đã đề xuất.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là NSNN, NSNN thành phố Nam Định, hệ thống phân
cấp quản lý NSNN đối với các địa phương của Nhà nước.
Hướng tiếp cận : Từ vị trí của các nhà hoạch định quản lý ngân sách, để nhìn
nhận lại hệ thống quản lý đã ban hành, đặc biệt là sự phân cấp quản lý NSNN và thực
tiễn thực thi quản lý thuộc lĩnh vực này các năm qua.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình phân cấp quản lý NSNN sau khi
có luật NSNN 2002 là chủ yếu ( giai đoạn 2011 – 2015 )
Việc quản lý NSNN thành phố Nam Định liên quan đến hàng loạt phân cấp

2


quản lý cụ thể, ít nhất cũng là các phân cấp quản lý thu, chi ngân sách, các phân cấp
quản lý thể hiện vai trò của nhà nước trong các quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể
kinh tế của nền kinh tế thị trường, phân cấp quản lý phân định quyền hạn giữa TW
với các cấp chính quyền địa phương trong quá trình hình thành, tạo lập và sử dụng
hợp lý có hiệu quả NSNN.... Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu tập trung là quản lý
ngân sách cấp thành phố, nên nhóm phân cấp quản lý phân định trách nhiệm, quyền
hạn giữa TW với cấp chính quyền địa phương là quan trọng và bao trùm.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và các quan điểm của nhà nước ta về
QLNSNN trong công cuộc đổi mới đất nước đặc biệt là phân cấp quản lý NSNN
Đánh giá tổng quát Thực trạng QLNSNN thành phố Nam Định giai đoạn
2011 - 2013.
Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tính tích cực và hạn chế
QLNSNN thành phố Nam Định giai đoạn 2011 - 2013.

5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: điều tra,
khảo sát, phân tích, so sánh, suy diễn, khái quát hoá… để nghiên cứu.
Thống kê, tổng hợp đánh giá dựa trên lý thuyết về NSNN, tình hình quản lý
Thu - Chi và số liệu thực tiễn về thu – chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thành
phố Nam Định.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến
có 4 chương :
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về NSNN
Chương 2 : Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu
Chương 3 : Thực trạng QLNSNN trên địa bàn thành phố Nam Định – tỉnh Nam Định
Chương 4 : Giải pháp hoàn thiện QLNSNN trên địa bàn thành phố Nam Định –
tỉnh Nam Định

3


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN VỀ NSNN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cùng với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, công cụ ngân sách nhà
nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong điều chỉnh chính sách vĩ mô. Tuy nhiên,
với khả năng hạn hẹp thì việc sử dụng các công cụ này như thế nào cho hiệu quả là
một thách thức lớn, đòi hỏi các cấp, các ngành phải thường xuyên nghiên cứu, từ lý
luận đến thực tiễn để đưa ra những kiến nghị, những giải pháp góp phần ngày càng
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước.
Thực tế hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngân sách nhà
nước và quản lý ngân sách nhà nước. Các tác giả đã đưa ra được nhiều những giải

pháp kiến nghị có đóng góp tích cực vào công tác quản lý ngân sách đặc biệt là
hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN, cân đối thu – chi ngân sách nhà nước, chu trình
ngân sách … Chính vì thế những năm vừa qua, nước ta đã thực hiện tương đối tốt
việc quản lý ngân sách nhà nước, nhờ đó góp phần ổn định và lành mạnh hóa nền
tài chính quốc gia, tạo điều kiện ổn định và tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội,
phát triển nội lực phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một
số công trình nghiên cứu khoa học và một số tài liệu tham khảo chuyền tải được
những vấn đề về học thuật và thực tiễn liên quan đến ngân sách nhà nước, hoàn
thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước có thể kể đến như :
Nghiên cứu khoa học của Phạm Văn Thịnh ( năm 2011 ) với đề tài : “ Hoàn
thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Phù Cát ” … trên cơ sở những lý
luận cơ bản về ngân sách nhà nước, quản lý ngân sách huyện đánh giá đúng thực
trạng tình hình quản lý ngân sách huyện Phù Cát, từ đó đề xuất những giải pháp chủ
yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách huyện Phù Cát, góp phần phát
triển kinh tế xã hội … Tuy nhiên đề tài chưa đề cập đến sự phân cấp quản lý NSNN
đặc biệt là phân biệt vai trò cụ thể của từng cấp ngân sách.

4


Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Tiên (2014) luận văn thạc sĩ
với đề tài : “ Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Trị ” hệ thống
hóa những vấn đề lý luận cơ bản về phân cấp NSNN cho chính quyền địa phương
hiện ở Việt Nam hiện nay; đánh giá hiệu lực hiệu quả về phân cấp NSNN, phân tích
thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Trị; từ đó đề xuất
một số giải pháp tăng cường quản lý phân cấp NSNN tại tỉnh Quảng Trị trong
những năm tới, đáp ững nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương. Tuy nhiên đề tài
này chỉ đánh giá sự phân cấp quản lý giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp
tỉnh mà chưa đề cập đến tình hình quản lý ngân sách nhà nước ở cấp huyện, thành
phố và phường xã.

Bài viết “ Bàn về phân cấp quản lý ngân sách ” của tác giả ThS. Trần Việt
Thảo trên tạp chí Kinh tế và Dự báo, cơ quan ngôn luận của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư. Tác giả đã phân tích rất chi tiết những hạn chế, những vấn đề còn bất cập trong
hệ thống ngân sách nhà nước. Từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm hạn chế và
khắc phục các bất cập trên. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ phân tích trên quan điểm chủ
quan chưa đưa ra được những số liệu thực tế về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi
cũng như sự phân bổ ngân sách cấp trên – cấp dưới…
Bài nghiên cứu : “ Quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra và khả năng áp
dụng ở Việt Nam ” của PGS, TS. Nguyễn Văn Hậu ( Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh ) đăng trên tạp chí Kinh tế và Dự báo. Trong bài
nghiên cứu này tác giả đưa ra giải pháp có thể khắc phục những nhược điểm của
phương thức truyền thống quản lý ngân sách nhà nước theo đầu vào. Nhờ đó, nâng
cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước… Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống phân
bổ vốn ngân sách có căn cứ khoa học vững chắc dựa trên đầu vào; có thể áp dụng
kiểu “ Ngân sách trọn gói ” trong 3 năm đối với chi thưởng xuyên, tiến tới áp dụng
đối với cả các khoản chi đầu tư nhằm tăng tính linh hoạt hơn cho các đơn vị sử
dụng NSNN. Đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính công, gắn liền với cải cách
chi tiêu công nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính và tăng cường việc sử dụng
hiệu quả các nguồn lực công. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan,

5


đơn vị cũng như của công chức nhà nước, viên chức sự nghiệp làm cơ sở xác định
mức lao động và nguồn ngân sách cấp. Tuy nhiên, để có thể áp dụng phương pháp
này, Việt Nam còn phải trải qua những bước chuẩn bị khá dài…
Như vậy cho đến hiện nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu
nghiên cứu một cách toàn diện về ngân sách nhà nước, quản lý ngân sách nhà nước
theo định hướng hoàn thiện sự phân cấp quản lý như : Phân cấp nguồn thu, phân
cấp theo nhiệm vụ chi, phân bổ ngân sách cấp trên với cấp dưới …. Các đề tài trước

chỉ dừng lại nghiên cứu trên một khía cạnh … và chưa đưa ra được các giải pháp
ứng dụng cho từng địa phương cụ thể. Chính vì vậy đề tài : “ Hoàn thiện quản lý
ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Nam Định tỉnh Nam Định ” được phát
triển nhằm bổ sung cho các phần nghiên cứu trước và đặc biệt tập trung nghiên cứu
tại địa bàn TP Nam Định để cung cấp cho mọi người một cách nhìn nhận mới về
quản lý ngân sách nhà nước cũng như sự phân cấp trong quản lý.
1.2. Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước
1.2.1. Khái niệm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử. Sự
hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh
tế hàng hóa – tiền tệ trong các phương thức sản xuất cộng đồng và Nhà nước của
từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nước, sự ra đời của kinh tế hàng
hóa – tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN.
Trong hệ thống tài chính thống nhất, NSNN là khâu tài chính tập trung giữ vị
trí chủ đạo. NSNN cũng là khâu tài chính được thành lập sớm nhất, nó ra đời tồn tại
và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản lý Nhà nước và sự phát triển
của nền kinh tế hàng hóa.
Về mặt hình thức hoạt động, NSNN biểu hiện đa dạng thông qua các khoản
thu,chi tài chính của Nhà nước ở các lĩnh vực hoạt động KT – XH. Các khoản thu,
chi này được tổng hợp trong một bản dự toán tài chính được thực hiện trong một
khoảng thời gian nhất định. Các khoản thu mang tính chất bắt buộc của NSNN là
một là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân
6


phối thu nhập quốc dân tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh. Các khoản thu
chủ yếu của ngân sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho đầu tư phát triển
(ĐTPT) và tiêu dùng xã hội. Như vậy, về biểu hiện bên ngoài có thể hiểu : NSNN là
toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước có trong dự toán, đã được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trong một năm nhằm đảm bảo

việc thực hiên chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Song, hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối nguồn tài chính của xã
hội gắn liền với hình thành và sử dụng quỹ NSNN. Trong quá trình đó xuất hiện
hàng loạt các quan hệ tài chính giữa một bên là nhà nước và một bên là các chủ thể
trong xã hội và chúng được thể hiện ở phần thu, chi của NSNN.
Như vậy, đằng sau biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của
Nhà nước với các khoản thu, chi của nó thì NSNN lại phản ánh các quan hệ kinh tế
trong quá trình phân phối, thể hiện các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích
kinh tế gắn với một chủ thể đặc biệt, đó là Nhà nước nhằm tạo lập và sử dụng
nguồn tài chính của quốc gia để giải quyết các nhiệm vụ về KT – XH. Từ những
phân tích trên, có thể khái niệm về NSNN theo điều 1 Luật NSNN 2002 như sau : “
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu,chi của Nhà nước đã được các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để
đảm bảo chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ”.
1.2.2 Bản chất đặc trưng của ngân sách Nhà nước
Bản chất của NSNN có thể nhìn nhận đầy đủ thông qua các phương diện :
- Xét về mặt khoa học : NSNN là một phạm trù kinh tế - lịch sử
- Xét về mặt kinh tế - xã hội (KT-XH) : NSNN phản ánh tổng thể các quan
hệ KT–XH thông qua động viên các nguồn lực tài chính và phân phối các nguồn tài
chính đó từ các mục tiêu KT –XH
- Xét về mặt nội dung vật chất : NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của
Nhà nước được sử dụng để thực hiện các chức năng của Nhà nước.
- Xét về mặt cơ cấu quản lý : NSNN là một bẩng dự toán thu chi tài chính
chủ yếu của một quốc gia trong một thời kì, thường là một năm. Nhà nước đưa ra

7


danh mục các khoản thu mà Chính phủ (CP) chỉ được phép thu và danh mục các
khoản chi tiêu trong khuôn khổ NSNN được Quốc hội phê chuẩn.

- Xét về mặt pháp lý : NSNN là một bộ luật tài chính, bởi lẽ nó được xây
dựng dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan và được cơ quan lập
pháp của Nhà nước quyết định có giá trị trong năm ngân sách. NSNN là một đạo
luật cơ bản ngắn hạn mang tính chất áo đặt và buộc các chủ thể KT – XH có liên
quan phải tuân thủ.
Từ các cách tiếp cận đó, có thể rút ra bản chất sâu xa của NSNN là tổng thể các
quan hệ kinh tế, gắn liền với quá trình hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện
các chức năng và nhiệm vụ KT – XH của Nhà nước trong từng thời kì nhất định.
Nội dung của NSNN là các quan hệ tài chính bao gồm :
- Quan hệ giữa NSNN với các tổ chức kinh tế ( các doanh nghiệp )
- Quan hệ giữa NSNN với cơ quan Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công
- Quan hệ giữa NSNN với các tầng lớp dân cư
- Quan hệ giữa NSNN với thị trường tài chính
Đặc trưng của NSNN :
- Về cơ cấu : NSNN bao gồm các khoản thu,khoản chi của Nhà nước. Hình
thức biểu hiện bên ngoài, NSNN là một bảng liệt kê các khoản thu, khoản chi bằng
tiền của Nhà nước được dự kiến và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.
- Về pháp lý : NSNN phải được cơ quan có thaamt quyền quyết định. Ở Việt
Nam, Quốc hội, Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp là cơ quan có thẩm quyền quyết
định và phê chuẩn ngân sách. Quốc hội phê chuẩn ngân sách trung ương (NSTW) và
phân bổ cho ngân sách địa phương (NSĐP); hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp quyết
định và phê chuẩn ngân sách của mình trên cở sở được giao. Mọi hoạt động thu,chi
ngân sách đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật do Nhà nước quy định.
- Về tác nghiệp, chuyên môn : NSNN là toàn bộ các khoản thu,chi của Nhà
nước được thực hiện theo một chu trình chặt chẽ, bao gồm các khâu : lập dự toán,
chấp hành dự toán và quyết toán.

8



- Về thời gian thực hiện : theo quy định hiện hành, NSNN được dự toán và
thực hiện trong một năm, được gọi là năm ngân sách hay năm tài khóa.
1.2.3 Vai trò của ngân sách Nhà nước
NSNN có vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động KT – XH, an ninh quốc
phòng và đối ngoại của đất nước, tuy nhiên vai trò của NSNN bao giờ cũng gắn liền
với vai trò của Nhà nước trong từng thời kì nhất định. Trong nền kinh tế thị trường,
NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền KT – XH trên một số
lĩnh vực sau đây :
Một là, NSNN là công cụ chủ yếu phân bổ trực tiếp hoặc gián tiếp các nguồn
tài chính quốc gia, định hướng phát triển sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững.
Như trên đã nói NSNN là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch
tài chính cơ bản hợp nhất của Nhà nước và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài
chính, có tính quyết định sự phát triển của nền kinh tế quốc dân theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. NSNN lành mạnh là tiền đề phát triển kinh tế. Một mặt NSNN là kết
quản của hoạt động KT – XH, mặt khác nó có tác dụng tích cực đới với việc phát
triển kinh tế. Thông qua phân phối NSNN có thể điều chỉnh cơ cấu, ưu tiên cho
những lĩnh vực quan trọng, cân bằng những vấn đề KT – XH, môi trường cũng như
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm thay
đổi bộ mặt xã hội cả thành thị và nông thôn, tăng thu nhập bình quân và nâng cao
đời sống nhân dân. Chi cho phát triển kinh tế là khoản chi có tính chất tích lũy, tái
sản xuất ra của cải vật chất, sản xuất mở rộng và hình thành các trung tâm tích tụ
mới, tạo ra nhiều công ăn việc làm và hạn thấp tỷ lệ thất nghiệp.
Hai là, NSNN là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế
lạm phát.
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cung cầu chi phối thị trường rất mạnh
mẽ. Mọi sự biến động của giá cả đều có nguyên nhân từ sự mất cân đối cung cầu.
Người kinh doanh rất nhạy cảm với tình hình giá cả để di chuyển nguồn vốn từ lĩnh
vực này sang lĩnh vực khác. Nhưng đối với người sản xuất, sự di chuyển này rất
khó khăn và đối với nền kinh tế thì việc di chuyển vốn sẽ gây ra phản ứng dây


9


chuyền dẫn tới làm mất ổn định cơ cấu. Vì vậy, CP cần có sự tác động tích cực đến
thị trường nhằm đảm bảo lợi ích cho cả người sản xuất và người tiêu dùng, cũng
như để giữ vững cơ cấu kinh tế đã được hoạch định.
Bên cạnh đó, thông qua thuế và chính sách chi tiêu của NSNN, Nhà nước có
thể tác động vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá cả. Đặc biệt là sự hình
thành quỹ dự trữ tài chính và quỹ bình ổn giá để đối phó với sự biến động của thị
trường đóng vai trò cực kì quan trọng trong bình ổn giá cả. Lạm phát là căn bệnh
đối với nền kinh tế. Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng. Để
giảm lạm phát tất yếu phải dùng các biện pháp để hạ giá thấp, hạ thấp chi phí. Bằng
biện pháp thu,chi của ngân sách, Nhà nước có thể nâng đỡ cung, giảm bớt cầu,
nghĩa là khi xảy ra lạm phát một mặt nhà nước có thể tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế
đối với ĐTPT, đồng thời thắt chặt các khoản chi tiêu của NSNN.
Ba là, NSNN là công cụ có hiệu lực của Nhà nước để điều chỉnh trong lĩnh
vực thu nhập, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.
Việc sử dụng NSNN như một công cụ điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực thu
nhập đối với các thành viên của xã hội là nhằm thực hiện công bằng xã hội về thu
nhập, đảm bảo và ổn định cuộc sống của các tầng lớp dân cư. Bên cạnh đó, nó còn
đảm bảo vai trò kích thích của thu nhập đối với sự phát triển đời sống vật chất và
khống chế mức tiêu dùng phù hợp với trình độ, năng lực sản xuất của nền sản xuất
hàng hóa nhiều thành phần đang trong quá trình hình thành và phát triển.
Chính sách ngân sách, cụ thể là chính sách thuế và chính sách chi ngân sách
góp phần làm giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về thu nhập và tiền lương giữa những
người làm việc trong khu vực sản xuất kinh doanh, khu vực hành chính, sự
nghiệp, an ninh, quốc phòng ; giữa những người sống ở thành thị với những
nông thôn, miền núi, hải đảo nhằm ổn định đời sống các tầng lớp dân cư trong
phạm vi cả nước.

Bốn là, NSNN đối với củng cố, tăng cường sức mạnh của bộ máy Nhà nước,
bảo vệ đất nước và giữ gìn an ninh.
NSNN là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính
cho hoạt động của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Ở nước ta

10


nguồn NSNN hầu như là nguồn duy nhất để phục vụ cho các hoạt động của bộ
máy nhà nước từ các cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính Nhà nước đến các
cơ quan tư pháp. NSNN còn cung ứng nguồn tài chính cho Đảng Cộng sản lãnh
đạo hoạt động, tài trợ cho các tổ chức xã hội mà nguồn tài chính của các tổ chức
này không đảm bảo.
Năm là, vai trò kiểm tra của NSNN. NSNN có mối quan hệ mật thiết với các
khâu tài chính khác trong hệ thống tài chính quốc gia. NSNN kiểm tra các hoạt
động tài chính khác không chỉ trong việc làm nghĩa vụ nộp thuế và các khoản phải
nộp, trong việc sử dụng các nguồn tài chính Nhà nước, sử dụng các tài sản quốc gia,
mà còn trong việc thực hiện các pháp luật, chính sách về ngân sách cũng như các
pháp luật, chính sách có liên quan.
Kiểm tra của NSNN gắn chặt với quyền lực Nhà nước, nhất là quyền lực của
hệ thống hành chính Nhà nước. Nó là một loại kiểm tra đơn phương theo hệ thống
thứ bậc cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính Nhà nước các cấp về nghĩa vụ
phải thực hiện đối với ngân sách cũng như việc sử dụng vốn, kinh phí, tài sản Nhà
nước. Như vậy, kiểm tra NSNN đối với hoạt động taid chính khác là một mặt trong
hoạt động quản lý và kiểm tra của Nhà nước, có tác động sâu sắc tới các hoạt động
tài chính khác và có vai trò quan trọng góp phần xây dựng một xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
1.2.4 Hệ thống ngân sách Nhà nước
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ thu,chi của mỗi cấp ngân sách. Bất kì quốc gia nào

muốn xây dựng hệ thống NSNN phải căn cứ vào Hiến pháp của quốc gia đó. Trên
cơ sở các nguyên tắc Hiến pháp, pháp luật, Luật NSNN để cụ thể hóa hệ thống
NSNN. Hiện nay, theo luật NSNN 2002, hệ thống NSNN bao gồm NSTW và
NSĐP theo sơ đồ sau :

11


Sơ đồ 1.1 : Hệ thống NSNN ở Việt Nam
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

NGÂN SÁCH ĐỊA
PHƯƠNG

NGÂN SÁCH TRUNG
ƯƠNG

Ngân sách tỉnh và
thành phố trực thuộc
TW

Ngân sách huyện,
quận, thị xã, thành
phố trực thuộc tỉnh

Ngân sách xã
phường, thị trấn

Hệ thống NSNN Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên
tắc tập trung và dân chủ, thể hiện :

- Tính thống nhất : đòi hỏi các khâu tronh hệ thống ngân sách phải hợp thành
một thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng định mức
chi tiêu và cùng thực hiện một quy trình ngân sách.
- Tính tập trung : thể hiện NSTW giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn
thu lớn và nhiệm vụ chi quan trọng. Ngân sách cấp dưới chịu sự chi phối của ngân
sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo cân đối của nag
sách cấp tỉnh.
- Tính dân chủ : dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân
sách cấp dưới , đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền
chi phối ngân sách cấp mình.
1.3. Quản lý ngân sách nhà nước
1.3.1 Khái niệm
Quản lý NSNN là quá trình Nhà nước vận dụng các chức năng của NSNN để
hoạch định chính sách, chế độ; sử dụng hệ thống các phương pháp thích hợp tác
động đến các hoạt động thu,chi của NSNN, làm cho chúng vận động theo yêu cầu
khách quan của nền KT – XH, nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức
năng do Nhà nước đảm nhận.

12


Quản lý NSNN được thể hiện qua việc hoạch định các chính sách, cơ chế
quản lý và Luật NSNN. Việc hoạch định chính sách, cơ chế quản lý và Luật NSNN
đứng đắn sẽ tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của ngân sách trong đời sống KT –
XH. Quản lý NSNN là nghiệp vụ quản lý vĩ mô nhưng có sự phân công, phân cấp
quản lý kinh tế và hành chính, vừa khai thác tạo ra và nuôi dưỡng nguồn thu, vừa
phải bố trí các nhiệm vụ chi hợp lý. Tác động quản lý phải thông qua các hệ thống,
các biện pháp phù hợp với đặc điểm và quy luật vận động của đối tượng quản lý và
được biểu hiện qua nhiều mặt khác nhau như sau:
- NSNN phải được quản lý bằng pháp luật và kế hoạch.

- Quản lý NSNN sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhưng rất coi trọng biện
pháp tổ chức hành chính.
- Quản lý NSNN là sự quản lý kết hợp yếu tố con người và yếu tố tài chính.
1.3.2. Các nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước
Quản lý NSNN được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau :
- Nguyên tắc thống nhất : mọi khoản thu, chi của một cấp hành chính đưa
vào một kế hoạch ngân sách thống nhất. Thống nhất quản lý chính là việc tuân thủ
một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết
toán, xử lý các vấn đề vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.
- Nguyên tắc dân chủ: sự tham gia của xã hội, công chúng được thực hiện
trong suốt chu trình ngân sách, từ lập dự toán, chấp hành đến quyết toán ngân sách,
thể hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý ngân sách.
- Nguyên tắc cân đối ngân sách : kế hoạch ngân sách được trên cơ sở đảm
bảo cân đối thu ,chi ngân sách.
- Nguyên tắc công khai, minh bạch : các khoản thu,chi NSNN khi được
quyết định phải được công bố công khai cho nhân dân biết
- Nguyên tắc quy trách nhiệm : Nhà nước là cơ quan công quyền, sử dụng
các nguồn lực của nhân dân thực hiện các mục tiêu đề ra. Đây là nguyên tắc yêu cầu
về trách nhiệm của các đơn vị cá nhân trong quá trình quản lý ngân sách.

13


Quy trách nhiệm yêu cầu phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của
từng cá nhân, đơn vị, chính quyền các cấp trong thực hiện ngân sách Nhà nước theo
chất lượng công việc đạt được.
1.3.3. Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
1.3.3.1. Khái niệm phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp là một sự chuyển giao quyền lực về chính trị và pháp luật đối với
công tác xây dựng chính sách; lập kế hoạch; quản lý và phân bổ các nguồn lực tài

chính từ chính quyền trung ương và các cơ quan của chính quyền trung ương cho
các chính quyền địa phương.
Các lĩnh vực phân cấp Nhà nước ở nước ta đã được tiến hành mạnh mẽ theo
tinh thần Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/06/2004 của CP về tiếp tục đẩy
mạnh phân cấp quản lý Nhà nước giữa chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương. Thông qua đó, Chính phủ trao quyền tự chủ, sáng tạo cho
chính quyền địa phương về các vấn đề :
- Phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch và ĐTPT.
- Phân cấp quản lý NSNN.
- Phân cấp quản lý đất đai, tài nguyên và tài sản Nhà nước.
- Phân cấp quản lý doanh nghiệp Nhà nước.
- Phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công.
- Phân cấp quản lý về tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức.
Bên cạnh phân cấp quản lý hành chính và kinh tế, phân cấp quản lý ngân
sách là một nội dung quan trọng và phức tạp bởi đó là sự phân cấp có liên quan đến
nhiều lĩnh vực khác nhau. Phân cấp quản lý NSNN là việc phân định trách nhiệm,
quyền han và nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quản lý và
điều hành NSNN cũng như phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp ngân
sách. Trong phân cấp quản lý ngân sách thì việc phân cấp giữa các cấp chính quyền
địa phương là quan trọng cà cơ bản nhất.
Trong quá trình hình thành và sử dụng quỹ NSNN, CP có thể giao cho
chính quyền địa phương thực thi một số nghiệp vụ thu,chi cần thiết, có liên quan
14


trực tiếp đến nhiệm vụ phát triển KT – XH của các cấp chính quyền trên địa bàn
mình quản lý.
Chế độ pháp lý về phân cấp quản lý NSNN là tổng hợp các qui phạm pháp
luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình phân định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan Nhà

nước có thẩm quyền trong lĩnh vực NSNN và các quan hệ xã hội phát dinh khi thực
hiện việc phân giao nguồn thu và nhiệm chi của nag sách các cấp.
Như vậy có thể hiểu, phân cấp quản lý NSNN là việc xác định có bao nhiêu cấp
ngân sách và mối quan hệ lẫn nhau giữa các cấp đó như thế nào. Hơn thế nữa, từng cấp
được quyền huy động những khoản thu nào cho riêng cấp mình, những khoản thu đó
dùng để đáp ứng những nhiệm vụ chi nào mà cấp đó phải đảm nhiệm, ai là người toàn
quyển quyết định đối với một cấp ngân sách. Phân cấp quản lý NSNN thực chất là sự
giao trách nhiệm và quyền hạn từ trung ương xuống các cấp chính quyền trong việc
quản lý và điều hành NSNN, đảm bảo cho việc các cấp chính quyền có sự tự chủ nhất
định về tài chính để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.
1.3.3.2. Sự cần thiết thực hiện phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
Phân cấp ngân sách đang trở thành chủ đề được quan tâm hiện nay khi thực
hiện các chính sách cải cách khu vực công ở hầu hết các nước trên thế giới và là nội
dung cốt lõi trong phân cấp hoạt động quản lý Nhà nước. Luật NSNN của các nước
đều có quy định cách thức phân chia nhiệm vụ, quyền hạn về nag sách giữa các cấp
chính quyền trong bộ máy Nhà nước.
Không những thế, NSNN được phân cấp quản lý giữa CP và các cấp chính
quyền địa phương là một tất yếu khách quan xuất phát từ cơ chế kinh tế và cơ chế
phân cấp quản lý hành chính :
Thứ nhất, phân cấp quản lý ngân sách là tất yếu của dòng tài chính gắn liền
với các hoạt động kinh tế trong không gian và thời gian với những hình thức và
phương thức theo các quan hệ tỷ lệ nhất định về lượng.

15


Ở đầu vào của hoạt động kinh tế, nguồn vốn ngân sách là một nguồn lực
quan trọng, nó có thể là nguồn vốn chính cũng có thể là nguồn vốn khởi đầu cho sự
hình thành và thắng lợi của các chủ trương phát triển kinh tế.
Ở đầu ra, kết quả đầu ra là mục tiêu của các hoạt động kinh tế và sự vận

động tài chính kỳ vọng. Đầu ra ở dạng hàng hóa đáp ứng yêu cầu của thị trường, ở
dạng giá thị trường với phần giá trị gia tăng ngày càng lớn là nguồn bổ sung cho
ngân sách.
Trong mối quan hệ này, đầu ra là mục tiêu, là căn cứ để quyết định đầu tư,
phân bổ đầu vào.
Thứ hai, phân cấp quản lý nag sách là tất yếu vì phải đảm bảo mối quan hệ
chặt chẽ giữa phân cấp quản lý kinh tế và phân cấp quản lý ngân sách.
Phân cấp quản lý ngân sách là một nội dung quan trọng trong phân cấp quản
lý kinh tế giữa các cấp chính quyền. Do đó, việc phân cấp QLNN phải căn cứ vào
phân cấp quản lý kinh tế. Ngược lại, phân cấp quản lý ngân sách đúng sẽ có tác
động quan trọng đảm bảo sự thành công của phân cấp kinh tế. Phân cấp quản lý
NSNN là động lực thúc đẩy các địa phương chủ động khai thác các tiềm năng, thế
mạnh của địa phương mình trong phát triển kinh tế địa phương và đóng góp ngày
càng nhiều vào NSNN.
Thứ ba, phân cấp quản lý NSNN còn là một tất yếu của việc nâng cao chất
lượng và hiệu quả của kế hoạch hóa và quản lý ngân sách.
Muốn quản lý thu,chi chặt chẽ, không bỏ sót các khoản thu, bảo đảm nhiệm
vụ chi một cách hợp lý, tiết kiệm thì các khoản thu, chi cụ thể đều phải có mục đích
rõ ràng. Nhà nước trung ương sẽ không thể quản lý tốt nếu không có phân cấp quản
lý ngân sách cho từng địa phương, các ngành, các lĩnh vực khi mà các khoản thu,chi
có số lượng lớn với nhiều ngành, lĩnh vực. Chỉ có phân cấp hợp lý thì Nhà nước
trung ương mới có thể tập trung quản lý các nguồn thu, khoản chi lớn, quan trọng
có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển KT – XH.

16


Phân cấp quản lý kinh tế nói chung và phân cấp quản lý NSNN nói riêng hợp
lý sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo của các ngành, các địa phương trong công tác
thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình. Việc phân cấp quản lý NSNN sẽ thúc đẩy

sự phát triển của từng địa phương một cách toàn diện và bền vững. Theo đó, kinh tế
địa phương sẽ duy trì được nhịp độ tăng trưởng cao theo thời gian trên cơ sở tăng
năng suất lao động và hiệu quả cao; đời sống dân cư không ngừng được cải thiện
( vật chất, tinh thần ) song vẫn đảm bảo bảo tồn và tái sinh các hệ sinh thái, đảm bảo
chất lượng môi trường.
Phát triển địa phương là căn cứ vào nhu cầu của thị trường từng địa phương,
khai thác tiềm năng, thế mạnh tự nhiên, kinh tế, xã hội của mình, xây dựng các lợi
thế cạnh tranh thu hút nguồn lực đầu tư vào địa bàn. Bên cạnh đó, tạo môi trường
cho các doanh nghiệp phát huy tính chủ động, tích cực mở rộng kinh doanh trên cơ
sở gắn chiến lược phát triển doanh nghiệp với phát triển địa phương, phát triển quốc
gia, cùng hướng tới hiệu quả kinh tế tối đa và sự hài hòa giữa các bên. Phát triển địa
phương không chỉ nâng cao thu nhập, gia tăng phúc lợi xã hội mà còn nhằm nâng
cao khả năng đóng góp của địa phương vào sự phát triển chung của đất nước, qua
đó nâng cao vị thế của địa phương mình.
Do đó, xu thế phân cấp quản lý NSNN là tất yếu. Phân cấp quản lý ngân sách
là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của NSNN với các hoạt động KT – XH địa
phương một cách thiết thực và cụ thể nhằm tập trung đầy đủ, kịp thời các nguồn tài
chính quốc gia và phân phối sử dụng chúng công bằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu
quả cao. Việc phân cấp quản lý NSNN liên quan đến hàng loạt phân cấp quản lý cụ
thể, chẳng hạn như :
- Phân cấp quản lý thu,chi ngân sách
- Phân cấp quản lý thể hiện vai trò của Nhà nước trong quan hệ Nhà nước
với chủ thể nền kinh tế.
- Phân cấp quản lý về phân định trách nhiệm, quyền hạn giữa trung ương và
các cấp chính quyền địa phương trong quá trình hình thành, tạo lập và sử dụng hợp
lý, có hiệu quả NSNN.

17



×