Tải bản đầy đủ (.doc) (3 trang)

[Văn mẫu] Nói với con - Y Phương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (48.29 KB, 3 trang )

Đề bài: Phân tích bài thơ “ Nói với con” của Y Phương
Bài làm
Nhà thơ Y Phương tên thật là Hứa Vónh Sước – một người con ưu tú của dân tộc Tày, sinh năm 1948,
ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. ng nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong quân đội cho đến năm 1981
thì chuyển về công tác tại Sở văn hoá – thông tin Cao Bằng. Từ năm 1993, ông được bầu làm Chủ tòch Hội
Văn học nghệ thuật Cao bằng. Thơ ông phản ánh tâm hồn chân thât, mạnh mẽ nhưng trong sáng cùng với
cách tư duy giàu hình ảnh của người dân miền núi. Bài thơ “ Nói với con” của ông cũng nằm trong mạch
nguồn cảm hứng ấy, nhưng nhà thơ có cách thể hiện riêng qua tâm tình, nhắn gửi của người cha đối với
con. Bài thơ có giọng điệu thiết tha, triều mến, thể hiện lòng thương yêu con cái, ước mong thế hệ sau này
nối tiếp xứng đáng và ngày càng phát huy truyền thống tốt đẹp của tổ tiên, của quê hương vốn là một tình
cảm cao đẹp của con người Việt Nam bao đời nay.
Đến với bài thơ này, người đọc không chí thấy được tình cảm gắn bó mà còn cả phẩm chất cao đẹp
của người dân miền núi. Vì đây là một sáng tác của người dân tộc Tày, nên muốn cảm nhận được cái hay,
cái đẹp của bài thơ này, chúng ta cần tìm hiều sơ qua về cách suy nghó và càch bày tỏ tình cảm của người
dân miền núi. Đó là cách diễn tả mộc mạc, hồn nhiên, thể hiện qua ngôn ngữ và hình ảnh lời thơ. Có le( vì
thếõ, tác giả Y Phương đã vận dụng triệt để lối ví von, so sánh trong thơ của các dân tộc miền núi thể hiện
chủ đề của bài thơ .
Mượn lơì cha tâm tình với con. Nhà thơ nhắc nhở về cội nguồn của mỗi con người, qua đó bộc lộ niềm
tự hào về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ và phẩm chất tốt đẹp của dân tộc mình, quê hương mình. Bài thơ đi từ
tình cảm gia đình rồi mới mở rộng và nâng cao thành tình cảm quê hương, đất nước. Từ những kỷ niệm gần
gũi, gắn bó nhất với mổi con người và nâng lên thành lẽ sống chung. Chủ đề của bài thơ được tác giả dẫn
dắt và thể hiện rất tự nhiên, mạch lạch, tuy đậm chất riêng tư nhưng vẫn có ý nghóa khái quát.
Tính yêu thương của cha me, sự đùm bọc của quê hương đối với con người là vô hạn. Các con lớn lên
từng ngay øøtrong tình cảm thiêng liêng ấy. bốn câu thơ đầu, bằng những hình ảnh giản dò, Y Phương đãû
phản ánh sinh động không khí gia đình đầm ấm, quấn qt:
“Chân phải bước tời cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười.”
Ta cứ tưởng như đang được ngắm một bức tranh của một em bé đang chập chững tập đi, bi bô nói. Điệp
ngữ “ bước tới” và động từ “ chạm” được dùng rất khéo, làm nổi bật cài hồn của bức tranh. Cách thể hiện


cãm nghó của nhà thơ thật độc đáo. Khi đứa con chập chững đi từng bước, từng tiếng nói cười của con đều
được cha mẹ nâng niu, chăm chút, vui mừng đón nhận. Đó là 1 gia đình hạnh phút: đôi vợ chồng trẻ với
đứa con thơ đầu lòng, căn nhà luôn rộn rã tiếng nói, tiếng cười.
Đứa con trường thành trong cuôc sống lao động cần củ của cha mẹ, trong khung cảnh thiên nhiện đẹp
đẽ, thơ mộng của quê hương. Nhìn con lớn lên từng bngày, cha mẹ càng yêu quý thêm mãnh đất của tổ
tiên, ông bà đả để lại. Câu thơ bật thốt lên từ trái tim chứa chan tình cảm sâu nặng : “ người đồng mình yêu
lắm con ơi!”. Nhà thơ tự hào về những người cúng sống trên mãnh đất quê hương đã nuôi dưỡng cho con
mình nên vóc nên hình.
Cuộc sống lao động cần cù và tươi vui của đồng bào dân tộc được nhà thơ miêu tả như những hình ảnh
trong thần thoại :
“ Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát.”
Các động từ “cài”, “ken” vửa diễn tả động tác lao động cụ thể, vừa nói lên sự hoà hợp, gắn bó giữa
hiện thực và lãng mạng trong đời sống vật chất, tình thần cùa người vùng cao. Đan lờ đánh cá, dưới bàn tay
người Tày, những nan nứa, nan trúc, nan tre đều trở thành “ nan hoa”. Vách nhà không chỉ ken bằng gỗ mà
được ken bằng “ câu hát”.
Rừng núi quê hương đả che chở, nuôi đưỡng nhiều thế hệ trẻ về tâm hồn lẫn lối sông
“Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng”.
Rừng đâu chỉ cho chúng ta nhiều gỗ, lâm sản quý giá mà còn “ cho hoa”. Con đường đâu chỉ để đi
ngược về xuôi, lên non xuống biển mà còn “ cho những tấm lòng” nhân hậu, bao dung, đó là con đường
tình nghóa. Với Y phương, con đường ấy là hình bóng thân thuộc của quê hương: con đường vào bản, con
đường vào thung, ra rừng, ra sông, ra suối, là con đường đi học, con đường làm ăn hay cũng chính là con
đường đi tới mọi chân trời, mọi miền đất nước. Sung sướng ôm con thơ vào lòng, nhìn con khôn lớn, suy
ngẫm về tình nghóa làng bản quê nhà, nhà thơ đả nghó về cuội nguồn hạnh phúc.
“ Cha me mải nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”
Chính quê hương đả tạo cho cha mẹ cuộc sống hạnh phúc, mạnh mẽ, bền lâu. “ Người đồng mình”
không chỉ khéo léo về tình nghóa và tài hoa mà còn có bao phẩm chất tốt đẹp, đáng “ thương lắm con ơi”.
Trong bao gian khổ, khó khăn thử thách, bao niềm vui, nỗi buồn trong cuộc đời trải dài theo năm tháng, bà

con quê hương mình đã rèn luyện , hun đúc chí khí, đã “cao đo nỗi buồn – xa nuôi chí lớn”, nâng cao tâm
thế đẹp. Câu thơ bốn chữ, nhưng đăng đối như tục ngữ, đúc kết một thái độ, một phương châmứng xử cao
quý. Các từ ngữ “ cao đo” hay “ xa nuôi” đả thể hiện một bảng lónh sống đẹp của dân tộc Tày, của con
người Việt Nam.
Người cha tự hào về “người đồng mình” sống vất vả và mạnh mẽ, phóng khoáng, gắn bó sâu nặng với
quê hương dẩu cực nhọcï, đói nghèo. Người cha mong con chung thuỷ với quê hương, bết chấp nhận và vượt
qua gian nan thử thách bằng ý chi, bằng niềm tin vững vàng:
“Dầu làm sao thỉ cha củng muốn
Sống trên đá khôg che đá gậo ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suôí
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc”.
Nhuyễn vào lời thơ là những hình ảnh ẩn dụ, so sánh, những thành ngữ dân gian. Điệp ngử “ sống” vang
lên ba lần đã khẳng đònh một tâm thế, một bảng lónh, một dáng đứng … đều mà cha “vẫn muốn”, cha mong
con, hy vọng ở con. Lời thơ giản dò mà chắc nòch, lay động thấm thía vào lòng người
“ Người đồng mình thô sơ da thòt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”
Để phản ánh bản chất gảin dò của người dân quê chân lấm tay bùn quanh năm, thì Y Phương cũng dùng
cách nói cụ thể, hình ảnh chân thật “ thô sơ da thòt”. “ Người đồng mình” môc mạc nhưng giàu chí khí và
nghò lực. Họ có thề “thô sơ da thòt” nhưng “ không hề nhỏ bé” vầ tâm hồn, về khí phách. Từ đó để khẳng
đònh và ngợi ca tinh thần cần cù, chòu khó trong lao động, sống giản dò, chất phác, không hề “ nhỏ bé” tầm
thường trước thiên hạ. Họ mong ước xây dựng quê hương ngày cang tươi đẹp. Chính những con người ấy
bằng sự lao động cần cù đả tạo nên những truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc và quê
hương:
“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục.”
Người cha “ nói với con” cũng là khuyên con bài học đạo lý làm người, mong muốn con phải biết ơn và
tự hào với dân tộc mình, quê hương mình, để đủ tự tin, đủ sức mạnh mà vững bước trên đường đời:
“Con ơi tuy thô sơ da thòt

Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con”
Lời cuối của người cha “ nói với con” càng trở nên tha thiết. Người cha đả nhắc con khi “ lên đường”
không bao giở sống “ nhỏ bé” trước thiên hạ. Phải biết lấy cốt cách giản dò, mộc mạc của người lao động.
Người cha mong con có đủ sức mạnh, niềm tin để đối mặt với những khó khăn mà con sẽ phải gặp, mong
cho con bằng long với những gì mình có để rồi từ đó biết vươn lên. Nhưng điều quan trong là phải sống sao
cho chung thuỷ, có tình có nghóa, trước sau như một. Không những thế, ngưòi cha còn dạy con phải luôn
gắn bó với quê hương, tự hào về truyền thống của dân tộc và lấy nó là hành trang để bước vào cuộc đời.
Những tình cảm chân thành ấy chắc hẳn xuất ra từ trong tận trái tim của người cha Chúng ta có thể tưởng
tượng ra 1 hình ảnh cảm động đang diễn ra: Cha hiền yêu dấu âu yếm nhìn con, xoa đầu con, đứa con cúi
đầu lắng nghe cha nói. Thật là một không khí gia đình ấm cúng tình cha con. Từ đó chúng ta có thễ thấy, Y
Phương là một người rất yêu thương con và cũng là một người chung thuỷ với quê hương.
Bài thơ có bố cục chặt chẽ, cách dẫn dắt tự nhiên, giọng điệu thiết tha, triều mến, thể hiện rõ nhất ở các
câu thơ mang ngữ điệu cảm thán: “ Người đồng mình yêu lắm con ơi”, “ Người đồng mình thương lắm con
ơi”, ở những lời tâm tình, dặn dò tha thiết: “ Dẫu sao thì cha vẫn muốn”, “ Chẳng mấy ai”, “ Con ơi”, “
Nghe con”… tác giả đã xây dựng hình tượng thơ vừa cụ thể vừa cò tính khái quát mộc mạc mà vẩn giàu
chất thơ, mang đậm sắc thái hồn nhiên, chân thực và gợi cảm của nhà thơ ca miền núi. Đọc xong tác phẩm,
đều đầu tiên khiến người đọc phải suy nghó đó là tình cảm thiêng liêng được thể hiện qua những câu thơ.
Đối với tất cả chúng ta, gia đình là một tổ ấm, là nơi che chở, gói gém bao tình cảm yêu thương, là nơi nuôi
dưỡng và dạy dỗ ta nên người. Trong mái nhà ấy, cha mẹ là người đầu tiên chứng kiến chúng ta lớn lên,
dìu dắt ta vững bước. Va chúng ta phải biết kế thừa và phát huy đức tính tốt đẹp của dân tộc ta, phải tự hào
truyền thống quê hương , tự tin trên đường đời và cố gắng vượt qua mọi sự cám đổ, thử thách đề xây đụng
quê hương nagy càng tốt đẹp hơn.
Bài thơ đả thể hiện được điều tâm huyết nhất mà ngưòi cha muốn truểyn lại cho con. Đó chính là
lòng tự hào và sức sống mạnh mẽ, bề bỉ với truềyn thống tốt đẹp của quê hương và niềm tin vững chắc khi
bước vào đời. Qua bài thơ, ngươi đọc cảm nhận được tình yêu thắm thiết của cha mẹ đồi với con cái nói
chung và tinh yêu quê hương sâu nặng của nhà thơ Y phương nói riêng.
Nguyễn Trí Tâm

×