Tải bản đầy đủ (.pdf) (55 trang)

Thực trạng và giải pháp tăng cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (640.54 KB, 55 trang )

i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ “Thực trạng và giải pháp tăng
cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên” là công trình
nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý
thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa

ĐÀO THẾ KHOA

học của PGS.TS. Trần Chí Thiện. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đều
là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác.
Thái Nguyên, ngày 23 tháng 7 năm 2012
Tác giả luận văn

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Đào Thế Khoa

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 - 34 - 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Chí Thiện

THÁI NGUYÊN - 2012



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




ii

iii

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi
lời cảm ơn đến PGS.TS. Trần Chí Thiện - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi hoàn thành Luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa kinh tế, phòng
Quản lý đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trong và ngoài Trường Đại
học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, đã trực tiếp giảng dạy
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế & QTKD - ĐHTN
đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi theo học và hoàn thiện khóa học này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn
thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên
cứu đề tài.


LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................ vii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ......................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài ................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ............................................ 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................. 3
5. Kết cấu của đề tài ...................................................................................... 3
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ CÁC CHẾ
ĐỘ BHXH ........................................................................................................ 4

Thái Nguyên, ngày 23 tháng 7 năm 2012
Tác giả luận văn

1.1. Lý luận chung về BHXH ....................................................................... 4
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của BHXH là một tất yếu khách quan........ 4
1.1.2. Khái niệm BHXH ............................................................................ 5
1.1.3. Bản chất của BHXH ........................................................................ 7

Đào Thế Khoa

1.1.4. Vai trò của bảo hiểm xã hội ............................................................ 8
1.1.5. Cơ sở tạo lập và sử dụng quỹ BHXH............................................ 11
1.2. Hệ thống các chế độ BHXH ................................................................. 17
1.2.1. Khái niệm về chế độ BHXH ......................................................... 17
1.2.2. Cơ sở xây dựng các chế độ BHXH ............................................... 18

1.3. Những vấn đề tổ chức chi trả các chế độ BHXH ................................. 23
1.3.1. Vai trò của công tác chi trả các chế độ BHXH ............................. 23
1.3.2. Cơ sở chi trả các chế độ BHXH .................................................... 24
1.3.3. Nguyên tắc chi trả các chế độ BHXH ........................................... 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




iv

v

1.3.4. Quy trình chi trả các chế độ BHXH .............................................. 26

3.3.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy ......................................... 78

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI TRẢ

3.3.2. Hoàn thiện quy trình chi trả .......................................................... 83

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN....................... 31

3.3.3. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát công tác chi trả .......................... 90


2.1. Khái quát hoạt động BHXH qua các giai đoạn .................................... 31

3.3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý .................................. 92

2.1.1. Giai đoạn trước tháng 10 năm 1995 .............................................. 31

3.3.5. Cân đối quỹ BHXH ổn định và lâu dài ......................................... 93

2.1.2. Giai đoạn từ tháng 10 năm 1995 đến nay ..................................... 35

3.3.6. Hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy và đào tạo cán bộ ................ 95

2.2. Quy trình chi trả chế độ BHXH ........................................................... 42

3.3.7. Một số giải pháp khác ................................................................... 96

2.2.1. Quản lý đối tượng chi trả BHXH .................................................. 42

KẾT LUẬN ................................................................................................... 98

2.2.2. Phân cấp chi trả ............................................................................. 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 101

2.2.3. Lập, xét duyệt dự toán chi BHXH ................................................ 44
2.2.4. Tổ chức chi trả .............................................................................. 45
2.2.5. Lập báo cáo, xét duyệt thanh quyết toán chi bảo hiểm xã hội ...... 48
2.2.6. Thẩm định chi các chế độ bảo hiểm xã hội ................................... 48
2.3. Thực trạng công tác chi trả chế độ BHXH ở BHXH tỉnh Thái Nguyên ...... 50
2.3.1. Công tác quản lý đối tượng chi trả ................................................ 50

2.3.2. Công tác chi trả các chế độ dài hạn............................................... 54
2.3.3. Công tác chi trả các chế độ ngắn hạn ............................................ 59
2.3.4. Đánh giá quản lý công tác chi trả các chế độ BHXH ................... 65
Chƣơng 3: NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ
CÔNG TÁC CHI TRẢ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH
THÁI NGUYÊN ............................................................................................ 73
3.1. Chiến lược phát triển ngành BHXH..................................................... 73
3.2. Quan điểm và định hướng hoàn thiện công tác chi trả các chế độ
BHXH .......................................................................................................... 74
3.2.1. Quan điểm ..................................................................................... 74
3.2.2. Định hướng hoàn thiện .................................................................. 76
3.3. Những giải pháp tăng cường quản lý công tác chi trả chế độ BHXH....... 78

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




vi

vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Tổng hợp đối tượng hưởng BHXH thường xuyên từ năm 2006 đến


BHXH

:

Bảo hiểm xã hội

BHYT

:

Bảo hiểm y tế

BNN

:

Bệnh nghề nghiệp

Bảng 2: Tổng hợp chi trả các chế độ BHXH từ năm 2006 đến năm 2010 ..... 54

CNTT

:

Công nghê thông tin

Bảng 3: Bảng tổng hợp chi ốm đau, thai sản, nghỉ DSPHSK từ năm 2006 đến

DSPHSK


:

Dưỡng sức phục hồi sức khỏe

NSNN

:

Ngân sách nhà nước

TNLĐ

:

Tai nạn lao động

UBND

:

Ủy ban nhân dân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

năm 2010 ......................................................................................... 51



năm 2010 ......................................................................................... 60

Bảng 4: Tổng hợp chi ốm đau theo khối quản lý năm 2006 ........................... 61

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




1

2

MỞ ĐẦU

người lao động. Sau 15 năm hoạt động, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam
đã tổ chức chi trả các chế độ BHXH cho hàng triệu đối tượng dài hạn và ngắn

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Khoa học ngày càng phát triển, con người ngày chế ngự và dự báo
được những rủi ro diễn ra trong cuộc sống như thiên tai, dịch bệnh... Tuy
nhiên trước diễn biến phức tạp của cuộc sống, con người cũng không thể
lường trước được những rủi ro như bệnh tật, tuổi già, ốm đau, sinh tử... Mong
muốn có một khoản bù đắp những rủi ro không chỉ là của mỗi con người mà
còn là sự quan tâm, chăm sóc của Đảng và Nhà nước. Ngay từ những ngày
đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành các
sắc lệnh về chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và sau đó là điều lệ tạm thời
quy định các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, những
người làm việc trong các tổ chức đoàn thể, xã hội, các đơn vị sản xuất kinh
doanh của Nhà nước và lực lượng vũ trang. Trong quá trình thực hiện, chế độ
chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng
thời kỳ phát triển kinh tế của đất nước. Ngày 26/01/1995, Chính phủ đã có


hạn, đảm bảo chi đúng, chi đủ, chi kịp thời và chi tận tay đối tượng. Tuy
nhiên hiện nay chính sách BHXH còn có nhiều bất cập, đối tượng hưởng
chính sách BHXH thường xuyên biến động gây nhiều khó khăn cho công tác
chi trả chế độ BHXH. Để đáp ứng một cách tốt nhất quyền lợi của người lao
động tham gia BHXH, việc hoàn thiện công tác quản lý chi trả chế độ BHXH
để từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản
lý chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam tôi đã chọn đề tài: "Thực trạng và
giải pháp tăng cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên" để
làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu những lý luận về BHXH và thực trạng công
tác chi trả chế độ BHXH ở BHXH tỉnh Thái Nguyên để phân tích, đánh giá
những kết quả, những tồn tại và nguyên nhân của công tác chi trả chế độ

Nghị định số 12/CP ban hành Điều lệ BHXH và Nghị định số 45/CP ngày

BHXH. Trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường

15/7/1995 ban hành Điều lệ BHXH đối với sỹ quan, quân nhân chuyên

quản lý công tác chi trả chế độ BHXH của BHXH Việt Nam đáp ứng yêu cầu

nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Thực hiện

nhiệm vụ trong giai đoạn tới.

nghị quyết Đại hội Đảng IX "từng bước mở rộng vững chắc hệ thống BHXH

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài


và an sinh xã hôi, tiến tới áp dụng chế độ BHXH cho mọi người lao động,
mọi tâng lớp nhân dân" và "tiến tới BHYT toàn dân". Ngày 24/01/2002 Thủ

Đối tượng nghiên cứu: Các chế độ BHXH và quản lý công tác chi trả
các chế độ BHXH ở tỉnh Thái Nguyên.

tương Chính phủ ký Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg về việc chuyển Bảo

Phạm vi nghiên cứu:

hiểm y tế Việt Nam sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam kèm theo đó là Nghị

- Nghiên cứu hoạt động BHXH trong thời gian qua.

định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo.
Chi trả bảo hiểm xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH
góp phần thực thi chính sách bảo hiểm xã hội của Đảng và Nhà nước đối với

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



- Nghiên cứu các chế độ BHXH đang thực hiện chi trả ở tỉnh Thái
Nguyên (không bao gồm chế độ bảo hiểm y tế) và thực trạng công tác quản lý
chi trả chế độ BHXH ở BHXH tỉnh Thái Nguyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





3

4

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Chƣơng 1

Luận văn đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về BHXH, hệ thống
các chế độ BHXH và vấn đề tổ chức công tác chi trả chế độ BHXH. Đây là
những vấn đề cơ bản về BHXH góp phần làm sáng tỏ những nhận thức về
BHXH.
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác chi trả chế độ BHXH, đánh giá
những kết quả và tồn tại trong công tác chi trả hiện hành, luận văn đã đưa ra
một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường quản lý công tác chi trả chế
độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về BHXH và các chế độ BHXH.
Chương 2: Thực trang công tác quản lý chi trả chế độ BHXH ở tỉnh
Thái Nguyên.
Chương 3: Những giải pháp tăng cường quản lý công tác chi trả các chế
độ ở BHXH tỉnh Thái Nguyên.

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH
1.1. Lý luận chung về BHXH
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của BHXH là một tất yếu khách quan

Nhu cầu của con người rất đa dạng và luôn thay đổi. Nhu cầu đơn giản
nhất, tối thiếu nhất là ăn, mặc, ở, đi lại. Để đáp ứng nhu cầu này con người
phải làm việc để tạo ra của cải vật chất phục vụ mình. Tuy nhiên con người
sống phụ thuộc rất nhiều vào xã hội, vào thiên nhiên và phải tuân theo những
quy luật của tự nhiên và xã hội. Những quy luật này có tác động tích cực hoặc
tiêu cực đến từng cá nhân và cộng đồng. Trong cuộc sống không phải con
người lúc nào cũng khoẻ mạnh, có khả năng lao động, gặp may mắn để tạo ra
thu nhập nuôi sống mình và gia đình. Khi gặp phải những rủi ro, các nhu cầu
thiết yếu phục vụ cuộc sống của con người, không vì thế làm mất đi trái lại có
nhu cầu còn tăng thêm thậm chí phát sinh mới như ốm đau cần được chữa
bệnh, sinh con cần thêm thu nhập để nuôi con. Bởi vậy, con người một mặt
tìm cách khắc phục "tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn" một mặt nhờ sự
tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng.
Sự phát triển của phân công lao động và trao đổi hàng hoá làm xuất
hiện nền kinh tế hàng hoá. Nhu cầu mở rộng sản xuất dẫn đến việc thuê mướn
lao động. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động nhưng về sau đã
phải cam kết đảm bảo cho người lao động làm thuê một số thu nhập nhất định
để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị rủi ro như: ốm đau,
tai nạn, thai sản... Trong thực tế nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra
và người chủ không phải chi ra một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn
dập, buộc họ phải bỏ ra những khoản tiền lớn cho người lao động mà họ
không muốn. Vì thề, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh
buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





5

6

lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế- xã hội. Do vậy Nhà nước

BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với

đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn bằng cách buộc giới chủ và

người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng

giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán

lao động hoặc bị mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài

chặt chẽ dựa trên cơ sở xác xuất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Sự can

chính tập trung do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần

thiệp này đã nâng cao vai trò Nhà nước, số tiền đóng góp của giới chủ và giới

đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo

thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Ngoài ra, quỹ

đảm an toàn xã hội.


này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm bảo đảm đời
sống cho người lao động khi gặp phải rủi ro, bất lợi. Chính nhờ những mối

Ngoài ra, BHXH có thể được tiếp cận dưới giác độ là an sinh xã hội,
đảm bảo xã hội. Theo tổ chức lao động quốc tê ILO:

quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc

Bảo đảm xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình

sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định.

thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn

Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ sản, xuất kinh doanh được

về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai

diễn ra bình thường. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày

sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thương tật, tuổi già và chết, đồng

càng lớn và nhanh chóng. Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày

thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

càng đảm bảo. Để quá trình tái sản xuất của xã hội được diễn ra thường
xuyên, liên tục và đời sống của người lao động được đảm bảo an toàn cần


Qua khái niệm có thể nêu ra một số đặc trưng cơ bản của BHXH:
BHXH bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động.
Bởi vì khi đã tham gia vào hệ thống BHXH, người lao động được bảo hiểm

phải có BHXH như một tất yếu khách quan.
Như vậy xuất hiện của BHXH là một yếu tố khách quan khi mà mọi

cho đến lúc chết. Khi còn làm việc người lao động được đảm bảo khi ốm đau,

thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống

lao động nữ khi sinh con được trợ cấp thai sản; Người lao động bị tai nạn lao

BHXH và cần thiết được BHXH. Một xã hội không có bảo hiểm như "cầu

động được trợ cấp, khi hết tuổi lao động thì được hưởng lương hưu và khi

thang không có tay vịn". Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu phát triển hệ

chết đi thì được hưởng tiền chôn cất và người thân được trợ cấp tuất.
Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội của người lao động trong

thống BHXH càng lớn.

BHXH đều liên quan đến thu nhập của họ. Vì những sự kiện và rủi ro này mà

1.1.2. Khái niệm BHXH
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về BHXH, cho đến nay vẫn chưa có

người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động dẫn đến giảm hoặc mất thu


một khái niệm thống nhất về BHXH. Khi đề cập đến vấn đề chung nhất người

nhập. Vì vậy người lao động cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định

ta dùng khái niệm SOCIAL SECURITY và vẫn dịch là BHXH, nhưng khi đi

cuộc sống và khoản bù đắp này được BHXH chi trả bằng các khoản trợ cấp.

vào cụ thể từng chế độ thì BHXH lại được hiểu theo nghĩa của từ SOCIAL

Người lao động tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH.

INSURANCE. Tuy nhiên sự hoà nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ

Tuy nhiên quyền này chỉ được thực hiện khi họ và người thuê mướn họ hoàn

này là một. Có thể đưa ra khái niệm về BHXH như sau:

thành nghĩa vụ đóng BHXH.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





7

8

Các hoạt động BHXH diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ

cầu an toàn kinh tế của người lao động và toàn xã hội. Xét về mặt kinh tế, nhờ

BHXH cũng do pháp luật quy định. Nhà nước quản lý và bảo hộ hoạt động

có sự phân phối lại thu nhập mà đời sống của người lao động và gia đình họ

BHXH. Người lao động, người chủ sử dụng lao động thực hiện giám sát hoạt

luôn được đảm bảo khi họ gặp phải những rủi ro như giảm hoặc mất khả năng

động BHXH thông qua các tổ chức công đoàn và các tổ chức của giới chủ.

lao động, mất việc làm vì BHXH đa tạo ra một khoản thu nhập thay thế. Xét

1.1.3. Bản chất của BHXH

về mặt xã hội, do có sự "san sẻ rủi ro" giữa những người tham gia BHXH nên

BHXH là một bộ phận trong hệ thống an sinh xã hội, có ảnh hưởng đến

mặc dù chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH

sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế xã hội, chính trị của các quốc


nhưng có thể được bồi hoàn một khoản thu nhập đủ lớn để giúp họ trang trải

gia. Mục đích hoạt động của BHXH không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của

rủi ro. ở đây BHXH đã thực hiện nguyên tắc "lấy của số đông bù cho số ít" và

người lao động. BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá và nó

BHXH được hiểu như một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho

phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Vì vậy có thể xem xét

người lao động khi thu nhập của họ bị giảm hay mất đi. Thông qua đó bảo vệ

bản chất của BHXH với những nội dung sau:

và phát triển lực lượng sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động, ổn định trật

* BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập.

tự xã hội.

Thực chất BHXH là một tổ chức đền bù hậu quả những rủi ro xã hội.

1.1.4. Vai trò của bảo hiểm xã hội

Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tạo lập và sử dụng một quỹ
tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và

Trong bản tuyên ngôn nhân quyền được Hội đồng Liên hợp quốc thông

qua ngày 10/12/1948 tại điều 22 viết:

các nguồn thu nhập hợp pháp khác của BHXH. Xét trên phạm vi toàn xã hội

Tất cả mọi người với tư cách là thành viên trong xã hội đều có quyền

BHXH là một bộ phận của GDP được xã hội phân phối lại cho những thành

BHXH. Quyền BHXH được xây trên cơ sở thoả mãn các quyền kinh tế, văn

viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, già

hoá và xã hội. Tất cả các quyền này là yếu tốt không thể thiếu được đối với

yếu, chết... Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện

nhân phẩm cũng như đối với sự phát triển tự do của nhân cách mỗi cá nhân,

theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối

nhờ nỗ lực của mỗi quốc gia và nỗ lực hợp tác quốc tế...

của chính bản thân người lao động theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại
thu nhập của quá trình khoẻ mạnh và quá trình ốm, giữa quá trình lao động và
quá trình không làm việc). Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa
những người khoẻ mạnh và người ốm, bệnh tật; giữa những người có thu
nhập cao với những người có thu nhập thấp.
* BHXH vừa mang bản chất kinh tế, vừa mang bản chất xã hội.
BHXH góp phần thực hiện mục tiêu đảm bảo kinh tế cho người lao
động. BHXH là quá trình sử dụng thu nhập cá nhân và GDP để thoả mãn nhu


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Thông điệp trên đây của Liên hợp quốc đã khẳng định vai trò và vị trí
quan trọng của chính sách BHXH, khẳng định hệ thống các chế độ, chính
sách BHXH là cần thiết và không thể thiếu được trong mỗi quốc gia và trong
cộng đồng quốc tế.
Hoạt động BHXH là hoạt động sự nghiệp chung của toàn xã hội, phục
vụ những thành viên trong xã hội, do đó BHXH có vai trò rất quan trọng
trong đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia, cụ thể là:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




9

10

* BHXH góp phần ổn định đời sống của người tham gia BHXH và bảo
đảm an sinh xã hội.

trường và góp phần to lớn vào việc ổn định đời sống của người lao động,
đồng thời sẽ tạo ra sự vững mạnh của nền an sinh quốc gia. Cùng với các

Trong cuộc sống, dù muốn hay không con người vẫn phải đối mặt với
các rủi ro. Có những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con

người như: ốm đau, TNLĐ, BNN... có những rủi ro tuân theo quy luật tự

chính sách xã hội khác, BHXH tạo ra lưới an toàn xã hội đối với mọi tầng lớp
dân cư trong xã hội.
* BHXH góp phần đảm bảo sự công bằng xã hội

nhiên như: sinh đẻ, tuổi già, chết... Những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng

Tham gia BHXH là quyền và nghĩa vụ của người lao động. Điều đó có

lao động, mất việc làm dẫn tới tình trạng giảm thu nhập hoặc mất hoàn toàn

nghĩa là người lao động có nghĩa vụ đóng phí BHXH thì mới được hưởng

thu nhập. Mặc dù vậy, cuộc sống của họ đòi hỏi phải có thu nhập để thoả mãn

quyền lợi về BHXH. Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia

những nhu cầu tối thiếu. Do đó, việc làm sao đảm bảo được thu nhập để tồn

BHXH, không phân biệt nam, nữ, nghề nghiệp, tôn giáo, thành phần kinh tế

tại của con người là tất yếu. Nhờ tham gia BHXH, người lao động sẽ được

đã tạo ra sự bình đẳng giữa những người lao động. Việc quy định nghĩa vụ và

thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ gặp rủi ro khiến họ không phải

quyền lợi của các đối tượng tham gia BHXH trong các thành phần kinh tế góp


lo lắng về những rủi ro mà mình gặp phải. Khoản bù đắp này đã giảm gánh

phần thực hiện công bằng xã hội. Mặt khác BHXH là quá trình phân phối lại

nặng về tài chính cho người lao động, giúp họ khắc phụ kịp thời những tổn

thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang. Quá trình phân phối này đã làm dịch

thất, sớm phục hồi sức khoẻ, ổn định đời sống để có thể tiếp tục tham gia quá

chuyển tài chính từ những người có thu nhập cao sang những người có thu

trình lao động, học tập và sinh hoạt.

nhập thấp nhằm giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội.

* BHXH góp phần bảo đảm an sinh xã hội

* BHXH tạo mối quan hệ gắn bó giữa người lao động với người sử

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), an sinh xã hội là một quyền của

dụng lao động và Nhà nước.

con người và được thừa nhận. An sinh xã hội là sự bảo vệ các thành viên của

Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, người lao động được người

xã hội trước những biến cố dẫn đến làm mất hoặc giảm thu nhập. BHXH là


sd lao động trả lương hoặc tiền công và đóng phí tham gia BHXH nhằm giúp

một bộ phận lớn nhất, cơ bản và ổn định trong hệ thống an sinh xã hội. Có thể

cho người lao động nhận được trợ cấp khi bị giảm hoặc mất khả năng lao

nói không có BHXH thì không thể có một nền an sinh vững mạnh, bởi lẽ

động. Vì thế cuộc sống của người lao động được đảm bảo, người lao động

BHXH có đối tượng lao động tham gia rất lớn, những người trực tiếp tạo ra

luôn yên tâm, tin tưởng vào người chủ sử dụng lao động. Từ đó người lao

của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội. Mặt khác nguồn tài chính của BHXH

động có trách nhiệm hơn trong công việc, họ tích cực sáng tạo trong quá trình

rất dồi dào được hình thành và sử dụng thông qua quỹ BHXH. Đây là một

sản xuất, nâng cao năng suất lao động làm tăng giá trị sản phẩm cho người

quỹ tiền tệ tập trung do các bên tham gia BHXH đóng góp và được Nhà nước

chủ sử dụng lao động và cho xã hội. Mặt khác khi BHXH chi trả cho người

bảo hộ để bù đắp khoản thu nhập cho người tham gia BHXH khi họ gặp rủi

lao động khắc phục tổn thất đã tạo điều kiện cho người sử dụng lao động


ro. Hoạt động BHXH càng ổn định, vững chắc thì quỹ BHXH càng tăng

nhanh chóng ổn định sản xuất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




11

12

Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao

Quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu:

động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công,

- Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước

thời gian lao động. Thông qua BHXH các bên tham gia BHXH đều có lợi và

(NSNN) và được Nhà nước bảo hộ. Quỹ BHXH có thể bao gồm nhiều quỹ

được bảo vệ, do đó những mâu thuẫn sẽ được điều hoà và giải quyết. Từ đó


thành phần như quỹ hưu trí và trợ cấp, quỹ bảo hiểm thất nghiệp, quỹ bảo

làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích với nhau. Đối với Nhà nước và

hiểm ốm đau.

xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất
nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia
đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế phát triển, chính trị xã

- Quỹ BHXH được hình từ sự đóng góp theo cơ chế ba bên người sử
dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước.
- Mục đích hoạt động của Quỹ BHXH không vì lợi nhuận mà vì mục
đích đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến

hội được an toàn.
* BHXH góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế xã hội
Trong nền kinh tế hàng hoá, vốn là tiền đề của quá trình sản xuất kinh
doanh. Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu vốn càng lớn. Các chủ thể có
thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau: tự tiết kiệm, phát hành chứng
khoán, đi vay... Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người lao
động, người chủ sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước; quỹ được sử
dụng để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động. Việc sử dụng quỹ

cố rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ người lao động. Vì vậy quản lý quỹ
BHXH được thực hiện theo nguyên tắc cân bằng thu chi.
- Sử dụng quỹ BHXH vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất
không bồi hoàn. Tính chất bồi hoàn thể hiện ở chỗ khi người lao động tham
gia và đóng BHXH thì họ sẽ được nhận trợ cấp do quỹ BHXH chi trả. Cùng

một rủi ro gặp phải nhưng thời gian hưởng trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi
người sẽ khác nhau vì còn phải căn cứ vào mức đóng góp và thời gian tham
gia BHXH của họ, ví dụ chế độ hưu trí. Tính không bồi hoàn thể hiện ở chỗ,

BHXH không thực hiện cùng một lúc mà dàn trải theo thời gian vì vậy, trong

cùng tham gia và đóng BHXH có người lao động được hưởng trợ cấp nhiều

khoảng thời gian người lao động tham gia BHXH chưa đến độ tuổi nghỉ hưu,

lần theo nhiều chế độ khác nhau, nhưng có người được hưởng ít lần hơn, thậm

quỹ BHXH có khoản tiền tạm thời nhãn rỗi. Quỹ BHXH sẽ tham gia vào thị

chí không được hưởng ví dục chế độ ốm đau, thai sản, bệnh nghề nghiệp.

trường tài chính và trở thành nguồn cung ứng vốn lớn, ổn định đem đầu tư

- Quỹ BHXH tạm thời nhàn rỗi được thực hiện các hoạt động đầu tư để

trong các chương trình, dự án lớn phát triển kinh tế - xã hội.

bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Quá trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm

1.1.5. Cơ sở tạo lập và sử dụng quỹ BHXH

an toàn về tài chính đối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc.

Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung được tạo lập từ những đóng góp


Quỹ BHXH là "quỹ tiết kiệm" của người lao động phòng khi ốm đau, tai nạn

bằng tiền của những người tham gia BHXH dùng để chi trả cho người lao

hoặc tuổi già.... Người lao động đóng góp một cách đều đặn, liên tục từ thu

động khi gặp rủi ro như giảm, mất khả năng lao động hoặc chết giúp họ và gia

nhập của mình vào quỹ BHXH trong suốt quá trình lao động. Trong khi đó

đình họ ổn định cuộc sống.

giống như quỹ tiền tệ khác nó cũng bị ảnh hưởng bởi rủi ro lạm phát, lãi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




13

14

suất... dẫn đến mất cân đối. Để đảm bảo an toàn về thu nhập cho người lao

thu nhập trong xã hội góp phần ổn định xã hội, đảm bảo quyền lợi cho người


động, quỹ BHXH phải được bảo tồn giá trị và tăng trưởng thông qua hoạt

lao động. Mặt khác, Nhà nước hỗ trợ cho quỹ khi BHXH mất cân đối không

động đầu tư.

đáp ứng được khả năng chi trả và làm chỗ dựa để đảm bảo cho hoạt động

- BHXH là một khâu trong hệ thống tài chính quốc gia, vì vậy nó có

BHXH chắc chắn và ổn định.

quan hệ tác động qua lại giữa các khâu tài chính như: NSNN, tài chính doanh

Người chủ sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH vừa là trách

nghiệp, tín dụng. Mỗi khâu tài chính có quỹ tiền tệ được tạo lập, sử dụng cho

nhiệm, vừa là quyền lợi. Chủ sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về

một mục đích riêng và gắn liền với chủ thể nhất định do đó chúng luôn độc

những rủi ro xảy ra đối với người lao động mà họ thuê mướn. Mặt khác khi

lập với nhau trong quản lý và sử dụng. Nhưng quỹ BHXH có quan hệ chặt

người lao động ốm đau, giảm hoặc mất khả năng lao động họ không phải trả

chẽ với các quỹ tiền tệ tập trung của các khâu tài chính khác như quỹ NSNN,


lương. Những khoản chi trả từ quỹ BHXH sẽ làm giảm một phần gánh nặng

quỹ tài chính doanh nghiệp, quỹ tín dụng và đều chịu sự chi phối của pháp

tài chính cho họ, do đó họ không phải chi ra một khoản tiền lớn cùng một lúc.

luật Nhà nước.

Đồng thời góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, tạo ra sự bình đẳng trong

- Quy mô, tốc độ phát triển của quỹ BHXH do trình độ phát triển kinh

quan hệ chủ - thợ.

tế xã hội của quốc gia quyết định. Kinh tế xã hội càng phát triển thì quốc gia

Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp một phần thu nhập vào

đó càng có điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thoả mãn

quỹ BHXH như một khoản tiết kiệm để giải quyết những khó khăn về tài

về BHXH đối với người lao động càng được nâng cao. Đồng thời khi kinh tế

chính của mình khi gặp rủi ro. Mặt khác theo lẽ công bằng là có đóng, có

xã hội phát triển, người lao động và người sử dụng lao động sẽ có thu nhập

hưởng người lao động muốn được hưởng quyền lợi về BHXH thì phải tham


cao hơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và đóng góp BHXH...

gia đóng phí BHXH.

* Nguồn tạo lập quỹ BHXH

Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các

Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động đóng góp

nguồn nêu trên. Ngoài ra quỹ còn được hình thành từ:
- Tiền sinh lời từ các hoạt động đầu tư do sử dụng quỹ BHXH tạm thời

- Người lao động đóng góp

nhàn rỗi.

- Hỗ trợ của Nhà nước

- Tiền do các cá nhân và các tổ chức từ thiện hỗ trợ.

Quỹ BHXH được hỗ trợ từ NSNN là trách nhiệm của Nhà nước. Bởi vì,

- Tiền phạt do đóng BHXH chậm.

trước hết các luật lệ về BHXH của Nhà nước sẽ là những chuẩn mực về pháp

Mỗi chế độ BHXH có một loại phí riêng hoặc có thể tổng hợp chung tất


lý mà cả giới chủ và giới thợ đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ- thợ

cả các loại chế độ. Nếu ở trong hệ thống BHXH do Nhà nước thành lập và sự

trong lĩnh vực BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết. BHXH là một công

tham gia là bắt buộc thì phí BHXH toàn phần phải đóng góp sẽ bao gồm phí

cụ quan trọng trong tay Nhà nước nhằm thực hiện chính sách phân phối lại

thuần tuý (là phần phí phải đóng để người lao động được hưởng các chế độ đã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




15

16

xác định), chi phí quản lý, khoản dự phòng. Còn trong hệ thống BHXH do tư

triển kinh tế xã hội của đất nước. Khi xác định phí BHXH vẫn phải đảm bảo


nhân và các tổ chức xã hội thành lập theo pháp luật và có sự bảo trợ của Nhà

các nguyên tắc cân bằng thu- chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng. Mức

nước, để bảo vệ cho những người không ở trong hệ thống bảo hiểm của Nhà

phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH và điều

nước với nguyên tắc tự nguyện thì phí BHXH toàn phần sẽ có cả lãi định mức

chỉnh sao cho tối ưu nhất.

cho tổ chức BHXH.

* Quá trình sử dụng quỹ BHXH:

Mức đóng góp hàng tháng của các bên tham gia BHXH do người lao

Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho các mục đích sau đây:

động được gọi là phí BHXH. Về mức đóng BHXH, một số nước quy định:

- Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH.

người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động,

- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH.

Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, còn các chế độ khác do người


Trong hai nội dung nêu trên thì chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH là

lao động và người sử dụng lao động cùng chịu. Một số nước lại quy định

lớn nhất và quan trọng nhất. Khoản chi này được thực hiện theo luật định và

Chính phủ bù thiếu quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH. Số

phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH. Về nguyên tắc, có

tiền đóng góp đó được tính vào lương và chi phí sản xuất để người lao động

thu mới chi, thu trước chi sau. Vì vậy quỹ BHXH chỉ chi cho các chế độ trong

và mọi người tiêu dùng trong xã hội cùng phải gánh chịu một phần.

phạm vi có nguồn thu, thu của chế độ nào thì chi ở chế độ đó.

Cân bằng thu- chi là nguyên tắc hoạt động của quỹ BHXH. Để đảm bảo

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng quỹ BHXH mà phần sử dụng nhiều

quỹ BHXH hạch toán độc lập và cân đối thu - chi trong quá trình hoạt động

nhất để chi trả cho các chế độ còn phụ thuộc vào việc thành lập quỹ BHXH

thì phải xem xét đến yếu tố phí BHXH. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là

theo phương thức nào?


một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các

Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chi trả

phương pháp toán học để xác định. Khi tính phí BHXH có thể dựa trên căn cứ

cũng phải đảm bảo thống nhất theo các nội dung chi. Điều đó có nghĩa là tất

khác nhau.

cả các nguồn thu BHXH đều được tập trung vào quỹ BHXH và sử dụng quỹ

- Dựa vào tiền lương và thang bảng lương để xác định mức trợ cấp
BHXH từ đó là cơ sở xác định mức đóng BHXH.

để chi trả cho các chế độ BHXH, chi quản lý và đầu tư. Phương thức quản lý
quỹ BHXH tập trung như vậy nhằm đơn giản, dễ dàng điều tiết giữa các chế

- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó xác định mức hưởng sau.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức
hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí BHXH.

độ BHXH trong quá trình chi trả.
Nếu quỹ BHXH được hình thành theo hai loại quỹ: Quỹ BHXH ngắn
hạn và quỹ BHXH dài hạn thì việc chi trả và quản lý chi sẽ cụ thể hơn. Quỹ

Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kỹ thuật nhưng xác định phí BHXH lại

BHXH ngắn hạn được chi cho các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản,


khá phức tạp vì nó liên quan đến đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, liên

TNLĐ-BNN. Nguồn quỹ này sẽ được cân đối từng năm thậm chí có thể được

quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều kiện phát

hình thành ngay trong từng doanh nghiệp để chi trả trực tiếp. Quỹ BHXH dài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




17

18

hạn được sử dụng để chi trả cho các chế độ dài hạn hưu trí, tử tuất. Nguồn

- Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.

quỹ này phải được cân đối trong nhiều năm và dùng tài khoản cá nhân trong

Khi tham gia BHXH, nếu người lao động không may gặp rủi ro, ốm đau, bệnh

quá trình chi trả là có hiệu quả nhất nhằm đảm bảo cho công tác chi trả sát


tật... sẽ được hưởng trợ cấp BHXH theo các chế độ. Như vậy, có người lao

thực tế và đúng mục đích hơn. Đồng thời, còn tạo điều kiện cho người lao

động gặp rủi ro, mắc bệnh hiểm nghèo... sẽ được hưởng. Có người sẽ không

động thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia các chế độ BHXH dài hạn.

gặp rủi ro không mắc bệnh hiểm nghèo, không hưởng. Trong khi đó, đã tham
gia BHXH thì đều phải đóng góp vào quỹ BHXH, do đó người lao động tham

1.2. Hệ thống các chế độ BHXH

gia BHXH không gặp rủi ro đã giúp đỡ người gặp rủi ro thông qua quỹ

1.2.1. Khái niệm về chế độ BHXH
Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy
định cụ thể và chi tiết được pháp luật hoá về đối tượng hưởng, điều kiện để
hưởng, mức hưởng, thời hạn hưởng BHXH, nghĩa vụ và mức đóng góp cho
từng trường hợp cụ thể phù hợp với quy luật khách quan của xã hội và phù
hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của quốc gia.
Chế độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật
như Luật, Nghị định, Điều lệ, các thông tư... Tuy nhiên dù có cụ thể hoá đến
đâu thì các chế độ BHXH cũng khó có thể bao hàm được đầy đủ mỗi chế độ

BHXH chi trả các chế độ BHXH.
- Khi chi trả các chế độ thường căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của
các bên tham gia BHXH, nếu đóng nhiều hưởng nhiều, đóng ít hưởng ít và
phần lớn các chế độ chi trả định kỳ. Chẳng hạn ở Việt Nam, chế độ hưu trí,

được chi trả định kỳ hàng tháng, mức trợ cấp hưu trí hàng tháng được tính
dựa trên số năm đóng BHXH và mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.
- Việc chi trả và thanh quyết toán các chế độ BHXH thường được thực
hiện bằng tiền mặt, có thể chi trả trực tiếp, có thể chi trả gián tiết tuỳ thuộc
vào điều kiện của ngành BHXH.

thường nắm vững những vấn đề mang tính cốt lõi của chính sách BHXH, để

- Chi trả BHXH là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH và mức chi trả còn

đảm bảo tính đúng đắn và nhất quán trong toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH.

phụ thuộc vào quỹ BHXH. Nếu quỹ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì

Các chế độ BHXH có tính pháp lý cao nhưng để thực thi được phải đặt
trong tổng thể hệ thống BHXH. Hệ thống BHXH được hiểu là những nhận

mức chi trả sẽ cao và ổn định.
1.2.2. Cơ sở xây dựng các chế độ BHXH

thức, những quan điểm về BHXH, phương thức tiếp cận và phương thức xây

Một chế độ BHXH phải được xây dựng chặt chẽ để tránh những lạm

dựng các chế độ BHXH. Thông qua hệ thống BHXH có thể đánh giá được

dụng nhưng đồng thời cùng không làm tổn hại tới lợi ích vật chất và tinh thần

trình độ quản lý, sức mạnh kinh tế và tính ưu việt của một thể chế. Trong hệ


của các bên tham gia BHXH. Ngoài ra cũng phải xem xét tới những công ước

thống BHXH, các chế độ BHXH giữ vai trò trung tâm. Mọi hoạt động của hệ

những quy định quốc tế khi xây dựng chế độ BHXH. Nhìn chung một chế độ

thống BHXH phải xoay quanh các hệ thống BHXH.

BHXH được xác định bởi các yếu tố chính sau:

Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Đối tượng được hưởng BHXH.

- Các chế độ được xây dựng theo pháp luật mỗi nước, định kỳ các chế

- Các trường hợp được BHXH

độ BHXH cần phải được hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội

- Điều kiện hưởng BHXH

của đất nước.

- Mức trợ cấp và thời hạn hưởng trợ cấp BHXH.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




19

20

1.2.2.1. Theo công ước quốc tế

1.2.2.2. Đối tượng, điều kiện hưởng và mức hưởng các chế độ BHXH

Năm 1952, Nghị viện của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông

* Đối tượng hưởng BHXH

qua công ước 102 về an toàn xã hội (những tiêu chuẩn tối thiểu). Có thể nói

Đối tượng hưởng BHXH được quy định từng nước và tuỳ từng chế độ

đây là công ước quốc tế có những nội dung đầy đủ nhất, phát triển hoá những

BHXH. Thông thường đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thường là những

tiêu chuẩn quốc tế đã có đến thời điểm đó, mở ra một cơ cấu thống nhất và có
sự phối hợp trong lĩnh vực BHXH giữa các thành viên của ILO. Công ước
102 có hiệu lực từ ngày 27/4/1952 đã đưa ra 9 chế độ BHXH bao gồm:
1- Chăm sóc y tế


người có quan hệ lao động, làm công ăn lương. Nhưng ở mỗi nước tuỳ thuộc
vào điều kiện của hệ thống BHXH mà có quy định cụ thể riêng. Nói chung,
các đối tượng hưởng BHXH cũng đồng thời là đối tượng tham gia BHXH (trừ
trường hợp chế độ tử tuất). Một chế độ trong một hệ thống có thể có đối
tượng hưởng nhưng đối tượng khác lại không được hưởng. Ví dụ: trong chế

2- Trợ cấp ốm đau

độ thất nghiệp thì công chức không thuộc đối tượng hưởng...

3- Trợ cấp thất nghiệp

* Các trường hợp được BHXH

4- Trợ cấp tuổi già (chế độ hưu)

Các trường hợp được BHXH thường liên quan đến những sự kiện gọi là

5- Trợ cấp trong trường hợp TNLĐ-BNN

"rủi ro xã hội". Những " rủi ro xã hội" này có thể do nhiều nguyên nhân khác

6- Trợ cấp gia đình

nhau dẫn đến hậu quả làm suy giảm (tạm thời hay vĩnh viễn) khả năng lao

7- Trợ cấp thai sản

động của người lao động hoặc khả năng lao động của họ không được sử dụng
(thất nghiệp) và cuối cùng là thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp của người lao


8- Trợ cấp tàn tật
9- Trợ cấp tiền tuất (trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình).
Tổ chức lao động Quốc tế cũng quy định các thành viên tham gia Công
ước quốc tế có thể tuỳ theo điều kiện của mỗi nước mà thực hiện một số hoặc

động bị suy giảm hoặc mất hẳn. Những rủi ro nêu trên có thể phát sinh trong
quá trình lao động hoặc trong cuộc sống của người lao động. Tuy nhiên,
không phải bắt cứ "rủi ro xã hội" nào cũng được bảo hiểm. Điều này phụ
thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng tài chính của quỹ BHXH.

mở rộng thêm các chế độ BHXH, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 trong

Các sự kiện xảy ra đối với các cá nhân có thể xảy ra bất kì khi nào trong cuộc

chế độ nêu trên mới được gọi là hệ thống chế độ BHXH, nhưng nhất thiết

sống của họ với các mức độ khác nhau. Vì vậy, dưới giác độ cả tập đoàn

phải có một trong 5 chế độ sau đây:

người tham gia BHXH, các sự kiện BHXH vừa có tính thời điểm, vừa có tính

1- Trợ cấp tuổi già (chế độ hưu)

quá trình, vừa có tính thời gian vừa có tính không gian. Điều này cho thấy

2- Trợ cấp thất nghiệp

tính khách quan của các trường hợp BHXH.

* Các điều kiện hưởng

3- Trợ cấp trong trường hợp TNLĐ-BNN

Để được hưởng các chế độ BHXH, người lao động phải có đủ những

4- Trợ cấp tàn tật
5- Trợ cấp tiền tuất (trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



điều kiện nhất định như: Phải tham gia BHXH, phải đóng BHXH và phải có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




21

22

những rủi ro xảy ra. Tuỳ theo từng loại chế độ mà có những điều kiện riêng

điều kiện và môi trường lao động khác nhau thì mức độ "trẻ lao động" là khác

kèm theo.


nhau. Đây là yếu tố có liên quan tới "tuổi thọ lao động" của người lao động,

Hệ thống các điều kiện BHXH là những ràng buộc nhất định trong từng

trong điều kiện làm việc này thì đã đủ già phải nghỉ việc hoặc chuyển việc,

trường hợp BHXH cụ thể, phù hợp với những yếu tố chủ quan và khác quan

nhưng trong điều kiện làm việc khác thì vẫn được coi là trẻ, vẫn tiếp tục làm

của hệ thống BHXH. Để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHXH, các

việc được. Khi xây dựng các chế độ BHXH, nhất là chế độ TNLĐ-BNN việc

điều kiện cụ thể này lại dựa trên hệ thống các cơ sở như: điều kiện sinh học

xác định các yếu tố lao động nặng nhọc, độc hại là vô cùng quan trọng.

của người lao động, điều kiện lao động và môi trường lao động, điều kiện
kinh tế - xã hội và quan hệ tài chính BHXH.

- Điều kiện kinh tế- xã hội: Đây không phải là căn cứ quan trọng để xây
dựng các chế độ BHXH nhưng lại là điều kiện để thực hiện chế độ BHXH.

- Điều kiện sinh học được coi là điều kiện mang tính khách quan khi

Các điều kiện kinh tế- xã hội có thể là:

xây dựng chế độ BHXH. Một trong những yếu tố quan trọng của yếu tố sinh


+ Khả năng hoặc tiềm lực phát triển kinh tế của đất nước

học đó là tuổi già. Theo quy định của Liên hợp quốc, người đạt tuổi 60 được

+ Trình độ quản lý lao động, quản lý xã hội.

coi là người già. Tuổi già để hưởng hưu trí của các nước không giống nhau,

+ Các chính sách dân số của quốc gia

có vùng 50-60 tuổi đã là già, nhưng lại có nước, có vùng thì tuổi già là 60-70

+ Các chính sách lao động việc làm.

tuổi. Chính vì vậy, không thể áp dụng độ tuổi nghỉ hưu của nước này cho

- Điều kiện tài chính BHXH

nước khác, vùng này cho vùng khác. Cơ sở sinh học còn liên quan tới điều
kiện về giới tính của người lao động. Do có sự khác biệt về cấu tạo cơ thể của
nam và nữ nên sự suy giảm tự nhiên khả năng lao động của nam giới và nữ
giới khác nhau và thường tuổi thọ lao động của nam giới cao hơn nữ giới. Ví
dụ nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi hoặc nam 65 tuổi, nữ 60 tuổi. Ngoài ra sự kiện
sinh đẻ ở nữ giới, hiện tượng ốm đau xảy ra bất thường đối với người lao
động là nguyên nhân làm suy giảm tự nhiên khả năng lao động của con người
và làm ảnh hưởng đến "tuổi thọ lao động".
- Điều kiện lao động và môi trường lao động: Song song với cơ sở sinh
học, điều kiện lao động và môi trường lao động là một căn cứ rất quan trọng
để xác lập điều kiện nghỉ hưởng BHXH. Điểm chung nhất là điều kiện lao
động ảnh hưởng đến người lao động làm suy giảm khả năng lao động của họ.

Điều kiện lao động khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác tới khả năng lao động
của người lao động. Cùng một độ tuổi sinh học nhưng làm việc trong những

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Trong hệ thống các điều kiện BHXH, điều kiện về tài chính BHXH giữ
gị trí đặc biệt quan trọng. BHXH hiện đại, tài chính BHXH là điều kiện tiên
quyết để xác lập các điều kiện của một chế độ BHXH. Một trong những
nguyên tắc cơ bản của BHXH trong nền kinh tế thị trường là phải cân bằng
thu- chi. Vì vậy, khi tính toán giữa mức đóng góp và mức hưởng; thời gian
đóng góp và thời gian hưởng, luôn phải thể hiện nguyên tắc cân bằng này. Từ
đó, phải quy định thời hạn đóng BHXH (Nhất là đối với các chế độ BHXH)
tối thiểu để quỹ BHXH có thể trang trai được. Tuy nhiên để tính toán được
phải dựa trên một loạt các thông số khác nhau và các phương hướng khác
nhau của kỹ thuật tài chính BHXH.
* Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp.
Tương tự như khi xác lập điều kiện hưởng, khi đề ra mức hưởng trợ cấp
và thời gian hưởng trợ cấp phải dựa trên cơ sở một loạt các căn cứ như nhu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




23

24


cầu về BHXH (nhu cầu cá nhân và nhu cầu chung, có tính xã hội của hệ thống

- Thông qua công tác chi trả các chế độ BHXH kiểm tra tính đúng đắn,
hợp lý cũng như những tồn tại bất cập của chính sách BHXH để kịp thời sửa

bảo hiểm).
Mức trợ cấp và thời gian hưởng BHXH tuỳ thuộc vào từng chế độ
BHXH. Tuy nhiên cơ sở để tính mức trợ cấp BHXH là căn cứ vào thu nhập

đổi, bổ sung đảm bảo quyền lợi cho người lao động; hạn chế tối đa tình trạng
khiếu kiện, đảm bảo công bằng giữa các thành viên tham gia BHXH.

của người lao động trước khi nhận được trợ cấp hoặc dựa vào mức thu nhập

- Thông qua công tác chi trả giúp cơ quan BHXH phát hiện những sai

cơ bản chung nào đó của xã hội. Nhưng mức trợ cấp đó phải đảm bảo yêu cầu

sót trong quá trình xét duyệt hưởng trợ cấp BHXH, phát hiện những đối tượng

là bù đắp được sự thiếu hụt thu nhập ở mức tối thiểu cho người lao động

hưởng sai trợ cấp từ đó có những biện pháp ngăn chặn, giảm hành vi giả mạo

hưởng BHXH có tính đến thời gian tham gia và mức đóng BHXH. Một số cơ

hồ sơ, chứng từ để hưởng trợ cấp BHXH.
- Từ thực trạng chi trả có thể đánh giá được nguyên nhân tăng giảm chi

sở dùng làm căn cứ xác định các mức trợ cấp là:

- Những chi phí cần thiết để đáp ứng những nhu cầu BHXH trong từng

để có giải pháp kịp thời trong việc tính phí BHXH, tiết kiệm chi và bảo toàn
quỹ BHXH.

trường hợp cụ thể.
- Mức độ giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động.

- Thông qua công tác chi trả để tuyên truyền về chính sách BHXH tới

- Điều kiện lao động và môi trường sống.

mọi người trong xã hội nhằm thực hiện tốt chính sách, chế độ BHXH theo

- Mức sống của dân cư

pháp luật, đồng thời nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của người lao động

- Mức và thời gian đóng phí BHXH.

thụ hưởng chính sách BHXH. Từ đó nâng cao hiệu quả của công tác chi trả,

1.3. Những vấn đề tổ chức chi trả các chế độ BHXH
1.3.1. Vai trò của công tác chi trả các chế độ BHXH
Chi trả trợ cấp BHXH là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và đóng
một vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngành BHXH nói riêng và
trong việc thực hiện chính sách BHXH nói chung. Công tác chi trả BHXH
được thực hiện sau khi người tham gia BHXH đã hoàn thành nghĩa vụ nộp
BHXH cho cơ quan BHXH. Vì vậy công tác chi trả BHXH người tham gia
BHXH vừa để thực thi quyền lợi của họ vừa góp phần ổn định đời sống, đảm

bảo an sinh xã hội. Vai trò của công tác này thể hiện ở những điểm sau đây:
- Chi trả đầy đủ, kịp thời, chính xác tới từng đối tượng hưởng BHXH
góp phần tạo ra nguồn thu nhập kịp thời, giúp người lao động có thu nhập để
chữa bệnh, nuôi con, phục hồi sức khoẻ, ổn định cuộc sống.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



góp phần hoàn thiện các chế độ BHXH.
- Thực hiện tốt công tác chi trả tạo được niềm tin của người lao động
đối với Đảng, Nhà nước về chính sách BHXH.
1.3.2. Cơ sở chi trả các chế độ BHXH
Cơ sở chi trả các chế độ BHXH là hệ thống các văn bản quy định của
Nhà nước cho phép xác định phạm vi đối tượng hưởng, loại trợ cấp, mức trợ
cấp, thời gian hưởng trợ cấp. Do đó, ở hầu hết các nước khi tiến hành chi trả
các chế độ BHXH đều dựa vào luật, các văn bản, quy định của Nhà nước và
các văn bản do cơ quan BHXH Trung ương hướng dẫn.
Thông thường các đối tượng hưởng trợ cấp BHXH phải đáp ứng các
tiêu chuẩn theo luật của từng nước quy định. Loại trợ cấp, mức trợ cấp và thời
gian trợ cấp cho các đối tượng cũng tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội và
phương thức quản lý của mỗi quốc gia.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




25


26

Chi trả các chế độ BHXH phải được thực hiện theo quy trình thống

đó. Ví dụ: đối với các chế độ chi trả hàng tháng thì thời gian để chi trả đến tay

nhất qua các khâu được quy định bằng văn bản do cơ quan BHXH Trung

đối tượng hợp lý nhất vào đầu tháng. Còn các chế độ ốm đau, thai sản nên

ương quyết định. Việc ban hành một quy trình chi trả sẽ đảm bảo tính thống

quy định thời gian cụ thể kể từ khi nhận đủ giấy tờ, hồ sơ hợp lệ đến khi chi

nhất, liên hoàn và khả năng kiểm tra trong công tác chi trả.

trả đến tay đối tượng.
- An toàn và hiệu quả: Cũng là một trong những nguyên tắc cần thiết

1.3.3. Nguyên tắc chi trả các chế độ BHXH
Khi thực hiện chi trả các chế độ BHXH phải theo đúng chế độ chính

được đặt ra đối với công tác chi trả nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những

sách của Nhà nước và đảm bảo thực hiện chi trả theo nguyên tắc chi đúng, chi

thất thoát, mất mát, nhưng đồng thời cũng giảm được các chi phí, tiết kiệm

đủ, chi kịp thời, bảo đảm an toàn, tiết kiệm và hiệu quả.


cho quỹ BHXH.

- Chi đúng đối tượng: Vừa bảo đảm nguyên tắc tài chính vừa đảm

1.3.4. Quy trình chi trả các chế độ BHXH

bảo nguyên tắc tham gia BHXH có đóng, có hưởng. Thực hiện việc chi

Tổ chức bộ máy BHXH được thành lập từ Trung ương xuống địa

đúng cho đối tượng là sự đảm bảo công bằng trong hưởng thụ các chế độ

phương. Cơ quan BHXH trung ương có trách nhiệm ban hành, hướng dẫn quy

BHXH, loại bỏ các trường hợp gian lận, giả mạo hồ sơ để được hưởng thụ

trình chi trả, đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí để thực hiện chi trả các

các chế độ BHXH.

chế độ BHXH, kiểm tra quá trình thực hiện công tác chi trả của cơ quan

- Chi đủ: Chi đủ khoản trợ cấp cho các đối tượng cũng là nguyên tắc

BHXH địa phương và quản lý chặt chẽ đối tượng được hưởng BHXH, nguồn

của công tác quản lý chi trả. Nội dung chính của nguyên tắc này là đối tượng

kinh phí chi trả. Cơ quan BHXH địa phương trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chi


tham gia BHXH khi được hưởng trợ cấp BHXH thì cơ quan BHXH phải chi

trả chế độ BHXH theo đúng quy trình chi trả, chế độ kế toán, báo cáo thống

trả đầy đủ các khoản trợ cấp. Mặt khác, nguyên tắc này cũng yêu cầu đối

kê theo quy định của Nhà nước và quy định của cơ quan BHXH Trung ương.

tượng tham gia BHXH đóng BHXH nhiều thì được hưởng trợ cấp mức cao,

Trong quá trình chi trả, BHXH các cấp có quyền tạm ngừng hoặc từ

đóng ít thì được hưởng trợ cấp mức thấp, tỉ lệ thương tật cao thì được hưởng

chối chi trả cho đối tượng hưởng BHXH khi có kết luận của cơ quan Nhà

trợ cấp mức cao và ngược lại. Khi đã xác định đúng tỉ lệ trợ cấp phải tổ chức

nước có thẩm quyền về hành vi man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu để hưởng chế

chi trả đủ số lượng không để thiếu một đồng của đối tượng. Để thực hiện

độ BHXH, thông thường đơn vị sử dụng lao động hoặc đại diện chi trả được

được yêu cầu này cần thiết phải quản lý đồng bộ từ khâu xác định tỉ lệ thương

cơ quan BHXH uỷ quyền chi trả các chế độ BHXH cho người lao động phải

tật, bệnh tật đến khâu xét duyệt hồ sơ xác định đối tượng được hưởng, mức


đảm bảo chi trả kịp, thời đây đủ.

hưởng, thời gian hưởng và cuối cùng là khâu chi trả.

Quy trình chi trả các chế độ BHXH được thực hiện như sau:

- Chi kịp thời: Nguyên tắc này đặt ra thể hiện vai trò của BHXH trong

Một là, quản lý đối tượng: Đối tượng hưởng các chế độ BHXH

việc ổn định cuộc sống cho đối tượng. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải

thường được chia ra đối tượng hưởng chế độ dài hạn và đối tượng hưởng

quy định rõ ràng thời gian chi trả và tổ chức thực hiện chi trả đúng thời gian

trợ cấp ngắn hạn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




27

28


Đối tượng hưởng chế độ dài hạn bao gồm những người hưởng các chế

thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa bàn chi trả, số tiền chi trả và biên chế

độ hưu trí, TNLĐ-BNN, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tuất. Đối tượng hưởng trợ cấp

mà cơ quan BHXH lựa chọn cách thức tổ chức chi trả phù hợp sao cho thuận

ngắn hạn bao gồm những người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp

tiện với mức chi phí thấp nhất, an toàn nhất nhưng vẫn đảm bảo các nguyên

mai táng phí và trợ cấp 01 lần. Việc quản lý đối tượng bao gồm các nội dung:

tắc chi trả là kịp thời, đầy đủ đến tay đối tượng được hưởng. Thông thường,

Quản lý lí lịch đối tượng, loại chế độ được hưởng, mức hưởng, thời gian

tại BHXH Thái Nguyên áp dụng một trong hai phương thức chi trả là phương

hưởng và địa điểm thực hiện chi trả. Quản lý đối tượng là khâu đầu tiên trong

thức chi trả gián tiếp và phương thức chỉ trả trực tiếp.

quy trình chi trả nhằm đảm bảo cho công tác chi trả được thực hiện đúng, đủ.

* Phương thức chi trả gián tiếp:

Hai là, phân cấp chi trả: Thông thường hệ thống BHXH được tổ chức


Là phương thức chi trả cho đối tượng hưởng trợ cấp BHXH thông qua

theo nhiều cấp từ Trung ương xuống địa phương. Trong đó mỗi cấp vừa chịu

đại lý chi trả. Theo phương thức này, cơ quan BHXH ký kết hợp đồng trách

sự ràng buộc bởi các chế độ, thể lệ chung, vừa có tính chất tự chủ. Phân cấp

nhiệm với một số cá nhân làm đại lý chi trả thông qua chính quyền địa phương.

chi trả được hiểu là sự phân định phạm vị, trách nhiệm, quyền hạn và các chế

Những cá nhân này thường là những người đang hưởng chế độ BHXH, có

độ BHXH của các cấp cơ quan BHXH trong việc tổ chức thực hiện công tác

trách nhiệm, uy tín ở địa phương và được cơ quan chính quyên địa phương giới

chi trả chế độ BHXH. Cơ quan BHXH Trung ương là cơ quan quản lý sẽ quy

thiệu. Hàng tháng, đại lý chi trả nhận danh sách đối tượng và tiền từ cơ quan

định rõ ràng nhiệm vụ, trách nhiệm, loại chế độ, đối tượng quản lý cho

BHXH cấp địa phương hoặc giao nhận tay ba tại Kho bạc, ngân hàng để tiến

BHXH các cấp địa phương cũng như đơn vị có liên quan. Cơ quan BHXH địa

hành chi trả cho các đối tượng hưởng trợ cấp BHXH. Sau mỗi kỳ chi trả, đại lý


phương có trách nhiệm tổ chức chi trả trợ cấp các chế độ BHXH theo phân
cấp của cơ quan BHXH Trung ương.

* Phương thức chi trả trực tiếp:

Ba là, lập, xét duyệt dự toán chi BHXH: Việc lập dự toán chi đúng đắn
dựa trên các báo cáo về số đối tượng tăng, giảm và có mặt thường xuyên
trong kỳ có một ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí kinh phí đầy đủ, kịp thời
cho quá trình chi trả. Bởi vì quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất tại
cơ quan BHXH cấp Trung ương, trong thời gian tạm thời nhàn rỗi, quỹ
BHXH được thực hiện các biện pháp đầu tư. Do đó để có nguồn kinh phí thực
hiện chi trả, cơ quan BHXH địa phương phải lập dự toán kinh phí chi trả các
chế độ để chuyển lên cơ quan BHXH Trung ương xét duyệt, làm cơ sở cho
việc phân phối các nguồn kinh phí và cấp phát kinh phí.
Bốn là, tổ chức chi trả BHXH: Đây là nội dung rất quan trọng của công
tác chi trả giúp cho khoản trợ cấp BHXH đến được tay người thụ hưởng. Tuỳ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

chi trả có trách nhiệm lập báo cáo, quyết toán với cơ quan BHXH.



Là phương thức trả trợ cấp BHXH trực tiếp cho đối tượng hưởng
BHXH không qua các đại lý trung gian. Việc chi trả do cán bộ của ngành
BHXH trực tiếp thực hiện. Thông thường, mỗi cán bộ làm công tác chi trả của
cơ quan BHXH chịu trách nhiệm chi trả cho đối tượng hưởng BHXH ở một
số địa bàn hoặc một số đơn vị sử dụng lao động. Công tác chi trả trực tiếp tuỳ
thuộc vào số cán bộ làm công tác chi trả của cơ quan BHXH, số đối tượng

hưởng trợ cấp và địa bàn chi trả. Cán bộ chi trả phải thực hiện tất cả các khâu
trong quá trình chi trả: lên kế hoạch, thông báo thời gian chi trả cho từng địa
bàn, đơn vị được phân công phụ trách, chuẩn bị tiền chi trả và lập báo cáo,
quyết toán với cơ quan BHXH sau khi chi trả.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




29

30

Năm là, lập báo cáo, xét duyệt quyết toán chi các chế độ BHXH: Báo
cáo quyết toán phản ánh toàn diện kết quả thực hiện công tác chi trả BHXH ở
cơ quan BHXH. Vì vậy sau khi tổ chức chi trả, cơ quan BHXH phải tập hợp
chứng từ, lập báo cáo về quá trình tổ chức chi trả bao gồm: Báo cáo về số đối
tượng tăng, giảm trong kỳ, báo cáo về số tiền thực hiện chi trả trong kỳ và báo
cáo về số đối tượng, số tiền chưa chi trả trong kỳ và vấn đề phát sinh trong
quá trình chi trả... gửi cơ quan BHXH cấp trên tổng hợp và làm căn cứ để

1.4 . Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp thu thập số liệu tài chính các
năm, ứng dụng thực tiễn với lý luận ngành, việc áp dụng các văn bản quy
phạm pháp luận.
Trên cơ sở xử lý các nghiệp vụ giải quyết các chế độ chính sách cho
người hưởng để phân tích, đánh giá những vấn đề bất cập và đề xuất hướng
xử lý, kiến nghị để hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác


thẩm định quyết toán.
Sáu là, thẩm định chi các chế độ BHXH: Đây là nội dung cuối cùng

quản lý và chi trả các chế độ BHXH tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

trong quy trình tổ chức nhiệm vụ chi trả. Cơ quan BHXH cấp trên đánh giá,
công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ chi trả của cơ quan BHXH cấp dưới,
đồng thời phát hiện những sai sót, gian lận trong quá trình chi trả để kịp thời
chấn chỉnh, điều chỉnh quy trình chi trả cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao
trong công tác chi trả các chế độ BHXH và góp phần đảm bảo an toàn cho
quỹ BHXH.
Tóm lại, BHXH ra đời từ rất sớm và đến nay được thực hiện ở nhiều
quốc gia trên thế giới. Với tính tất yếu khách quan cũng như vai trò của mình
trong đời sống xã hội, BHXH đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ
thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia. Hệ thống các chế độ BHXH, đối tượng
tham gia BHXH và cơ chế tạo lập, sử dụng quỹ BHXH tuỳ thuộc ở mỗi quốc
gia. Chi trả chế độ BHXH là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động sự
nghiệp BHXH và đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực thi chính
sách BHXH. Để công tác chi trả mang lại hiệu quả cao cần thiết phải xây
dựng quy trình chi trả cho phù hợp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





31

32

Chƣơng 2

việc cải tiền, bổ sung chế độ tiền lương, các chế độ BHXH, Quốc hội đã phê

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI TRẢ

chuẩn và Hội đồng chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

kèm theo nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961. Đối tượng áp dụng là công

BHXH được thực hiện ở Việt Nam từ rất sớm, việc thực thi các chế độ
BHXH đã đem lại những hiệu quả xã hội to lớn. Trải qua nhiều giai đoạn lịch
sử, các chế độ BHXH ngày càng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều
kiện kinh tế xã hội của đất nước.
2.1. Khái quát hoạt động BHXH qua các giai đoạn
2.1.1. Giai đoạn trước tháng 10 năm 1995
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta được làm chủ
đất nước. Ngay sau khi dành chính quyền, Đảng và Nhà nước ta quan tâm giải
quyết chính sách cho người lao động. Sắc lệnh số 54 ngày 03/11/1945 quy
định những căn cứ, điều kiện để các công chức Nhà nước được hưởng chế độ
hưu trí. Sắc lệnh số 105 ngày 14/6/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công
chức nhà nước. Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 quy định cụ thể các chế độ
thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, trợ cấp hưu trí và tiền tuất đối với
công chứ Nhà nước. Sắc lệnh số 29 ngày 13/3/1947 và sắc lệnh số 77/SL ngày

22/5/1950 quy định các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu
trí, tử tuất đối với công nhân. Nhìn chung các chế độ BHXH vì ban hành
trong hoàn cảnh kháng chiến, kinh tế thiếu thốn nên các chế độ trợ cấp lúc đó
mang tính chất cung cấp và bình quân với tinh thần đồng cam cộng khổ và chỉ
có tính chất tạm thời, trước mắt. Nội dung các chế độ chưa xây dựng theo
những nguyên tắc thống nhất, các chế độ cũng chưa được đầy đủ, toàn diện,
lâu dài.
Năm 1960 Hội đồng Chính phủ đã quyết định: Đi đôi với việc cải tiền
chế độ tiền lương, cần phải cải tiến và ban hành các chính sách cụ thể về
BHXH và phúc lợi cho công nhân viên chức cán bộ. Cuối năm 1961 cùng với

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



nhân viên chức nhà nước. Các chế độ trợ cấp gồm có ốm đau, thai sản,
TNLĐ-BNN, mất sức lao động, hưu trí, tử tuất. Quỹ BHXH được hình thành
từ sự đóng góp của người chủ sử dụng lao động bằng 4,7% trên tổng quỹ
lương. Bộ Nội vụ quản lý 1% để giải quyết và chi trả cho chế độ hưu, mất sức
lao động, TNLĐ-BNN và tử tuất. Tổng công đoàn quản lý 3,7% để chi trả các
chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức, an dưỡng.
Để khắc phụ những mặt hạn chế và đảm bảo những yêu cầu của quá
trình đổi mới, từ năm 1989 Chính phủ đã nghiên cứu cải cách chính sách
BHXH và ngày 22/6/1993 Chính phủ ban hành nghị định số 43/CP quy định
tạm thời chế độ BHXH bắt buộc đối với cán bộ công chức, viên chức nhà
nước thuộc khối hành chính sự nghiệp, các tổ chức Đảng, đoàn thể, người lao
động trong các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên; Người lao động làm
việc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ngày 30/9/1993 Chính
phủ ban hành Nghị định số 66/CP quy định tạm thời chế độ BHXH đối với
lực lượng vũ trang.

* Quỹ BHXH
Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của chủ sử dụng lao động
(15%), người lao động (5%) và sự hỗ trợ của Nhà nước.
* Các chế độ BHXH bao gồm:
Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp TNLĐ-BNN, hưu trí và trợ
cấp tử tuất.
* Tổ chức bộ máy thực hiện:
Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ thu, giải quyết chế độ chính
sách, chi trả các chế độ BHXH do Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




33

34

liên đoàn lao động Việt Nam), Bộ Nội vụ (nay là Bộ lao động - Thương binh

chi BHXH của Bộ LĐTB&XH, Bộ tài chính cấp thẳng kinh phí cho Sở Tài

và xã hội) quản lý.

chính vật giá địa phương, Sở tài chính vật giá sẽ cấp kinh phí cho Sở

- Tổng Công đoàn Việt Nam tổ chức thành 3 cấp là Tổng Công đoàn

LĐTB&XH để Sở lại cấp kinh phí cho Phòng LĐTB&XH chi trả các chế đọ


Việt Nam; Liên đoàn lao động các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Liên

BHXH cho các đối tượng. Quá trình quyết toán được thực hiện theo quy trình

đoàn lao động ngành nghề: đường sắt, bưu chính viễn thông, dầu khí, ngân

ngược lại.

hàng...; Liên đoàn lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và ngoài

Nhận xét về hoạt động BHXH giai đoạn này:

ra còn có công đoàn cơ sở ở các đơn vị có người lao động tham gia BHXH.

Nghị định số 43/CP ngày 21/6/1993 và số 66/CP ngày 30/9/1993 của

- Bộ nội vụ sau đó chuyển cho Bộ LĐTB&XH cũng hình thành 3 cấp
quản lý: Bộ LĐTB&XH; Sở LĐTB&XH (trực thuộc UBND tỉnh, thành phố);
Phòng LĐTB&XH (trực thuộc UBND huyện).

Chính phủ ra đời đã đáp ứng nhu cầu về BHXH trong công cuộc đổi mới nền
kinh tế.
Mở rộng được đối tượng tham gia BHXH đến người lao động làm việc

* Giải quyết chính sách, chi trả các chế độ BHXH:

trong các thành phần kinh tế và áp dụng hình thức BHXH tự nguyện đối với

- Tổng Công đoàn Việt Nam quản lý quỹ đối với 3 chế độ ngắn hạn:


người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hoặc người Việt Nam làm

Chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Quỹ BHXH

việc tại nước ngoài.

không tập trung mà được chi tại các đơn vị sử dụng lao động, toạ chi từ nguồn

Các chế độ BHXH được xây dựng điều chỉnh và bổ sung tương đối kịp

kinh phí phải trích nộp. Nếu số phải nộp lớn hơn số thực chi thì cuối tháng

thời phù hợp với hoàn cảnh kinh tế chính trị xã hội của nước ta góp phần ổn

đơn vị phải nộp lại cho Tổng Công đoàn Việt Nam, còn nếu số thực chi lớn

định cuộc sống cho hàng triệu lao động khi họ gặp những rủi ro ốm đau, thai

hơn số phải nộp thì được Tổng công đoàn Việt Nam cấp bù.

sản, TNLĐ-BNN, mất sức lao động, hưu trí, tử tuất.

- Bộ LĐTB&XH phân cấp cho cấp huyện được giải quyết chế độ hưu

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, thực hiện BHXH vẫn còn những tồn

và tử tuất. Người sử dụng lao động ra quyết định cho người lao động được

tại: Các chế độ BHXH xây dựng nhưng qua nhiều lần sửa đổi trở nên chắp vá.


hưởng các chế độ BHXH và Bộ LĐTB&XH có trách nhiệm chuyển tiền căn

Việc quy định tính thời gian quy đổi, số năm công tác về hưu chưa hợp lý.

cứ vào bộ chứng từ do cơ quan, đơn vị có người đóng BHXH chuyển cho.

Mức trợ cấp tính trên lương nhưng không đảm bảo cuộc sống ổn định cho

Đối với 3 chế độ dài hạn, Bộ Tài chính đảm nhận phần thu đóng của

công nhân, viên chức.

người tham gia BHXH sau đó cấp kinh phí cho Bộ LĐTB&XH thực hiện chi

Tổ chức bộ máy thực hiện chế độ BHXH do hai cơ quan đảm nhiệm,

các chế độ. Để khắc phục tình trạng chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH cho

chưa phân định rõ ràng giữa chức năng quản lý Nhà nước và chức năng quản lý

đối tượng không kịp thời, từ năm 1993 trở đi Bộ tài chính và Bộ LĐTB&XH

hoạt động sự nghiệp BHXH, do đó hiệu quả quản lý hoạt động BHXH thấp.

đã thống nhất phương thức cấp phát kinh phí chi trả các chế độ BHXH thông

Việc giải quyết chế độ BHXH trong giai đoạn này còn nhiều bất hợp lý

qua Sở Tài chính vật giá ở địa phương. Hàng năm, trên cơ sở dự toán kinh phí


người ban hành chế độ chính sách cũng đồng thời là người giải quyết chế độ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




35

36

chính sách do đó tình trạng gian lận trong hồ sơ, có nhiều sai sót dẫn đến hiện

01/2003/Nđ-CP về việc chuyển đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH

tượng chiếm đoạt tiền của quỹ BHXH. Chi trả chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn

ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995.

lao động theo hình thức toạ thu, toạ chi, quỹ BHXH không phải là cân đối

* Tổ chức bộ máy thực hiện:

hàng năm do đó luôn trong tình trạng không cân bằng.


BHXH Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức

Không hình thành được quy BHXH tập trung độc lập với NSNN. Hoạt

BHXH ở Trung ương và địa phương do ngành Lao động - Thương binh & xã

động của quỹ BHXH vẫn thực hiện theo kiểu dự toán và cấp phát NSNN theo

hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đang quản lý, giúp Thủ tướng

thực tế phát sinh. Quỹ BHXH luôn trong tình trạng bội chi và NSNN phải cấp

Chính phủ chỉ đạo, quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách

bù. Việc chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH thường xuyên bị chậm ảnh

BHXH theo pháp luật của Nhà nước.

hưởng đến đời sống của người hưởng chế độ BHXH.
Chính sách và các chế độ BHXH lại đan xen giữa nhiều chính sách, chế

Bảo hiểm xã hội Việt Nam chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng
Chính phủ, chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã

độ khác như ưu đãi xã hội, kế hoạch hoá gia đình...

hội, các cơ quan Nhà nước về các lĩnh vực có liên quan. Hội đồng quản lý

2.1.2. Giai đoạn từ tháng 10 năm 1995 đến nay


BHXH Việt Nam là cơ quan quản lý cao nhất của BHXH Việt Nam.

Thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với sự phát triển
của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, cơ

Bảo hiểm xã hội Việt Nám được tổ chức thành ngành dọc 3 cấp từ
Trung ương đến cấp huyện.

chế quản lý BHXH cũng có sự thay đổi. NGày 26/01/1995, Chính phủ đã có

+ Ở Trung ương là BHXH Việt Nam,

Nghị định số 12/CP về việc ban hành điều lệ BHXH áp dụng đối với cán bộ,

+ Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh) là

công nhân viên chức Nhà nước, người lao động theo loại hình BHXH bắt
buộc. Ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP về việc
thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam, có nhiệm vụ thực hiện các chế độ bảo

BHXH tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam.
+ Ở các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là
huyện) là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh.

hiểm xã hội cho người lao động, BHXH trở thành một ngành độc lập, quỹ

* Quỹ BHXH.

BHXH được tách khỏi NSNN. Ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị


Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao

định số 19/CP về việc thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam, có nhiệm vụ thực

động đóng 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người tham gia BHXH

hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động, BHXH trở thành một

trong cơ quan, đơn vị. Người lao động đóng 5% tiền lương tháng. Tiền sinh

ngành độc lập, quỹ BHXH được tách khỏi NSNN. Ngày 15/7/1995, Chính

lời từ hoạt động đầu tư tài chính; thu từ nguồn tài trợ, viện trợ quốc tế và

phủ đã ban hành Nghị định số 45/CP kèm theo điều lệ BHXH đối với lực

trong nước; NSNN hỗ trợ, các khoản thu khác.

lượng vũ trang. Tiếp tục thực hiện chương trình cải cách nền hành chính quốc

* Các chế độ BHXH.

gia của Chính phủ, ngày 24/01/2002, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số

Chế độ trợ cấp ốm đau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




37

38

- Đối tượng được hưởng: Người lao động có đóng BHXH nghỉ việc vì
ốm đau, tai nạn rủi ro mà có xác nhận cảu tổ chức y tế do Bộ Y tế quy định

yêu cầu của người sử dụng lao động; bi tai nạn trên tuyến đường đi và về từ
nơi ở đến nơi làm việc.
- Mức trợ cấp: Tuỳ thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động và

thì được hưởng chế độ trợ cấp ốm đau.
- Mức trợ cấp ốm đau, khi nghỉ việc chăm sóc con nhỏ ốm đau hoặc

được tính theo mức tiền lương tối thiểu chung do Chính phủ công bố.

thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá dân số bằng 75% mức lương làm căn cứ

Bị suy giảm từ 31% khả năng lao động trở lên, được hưởng trợ cấp

đóng BHXH trước khi nghỉ việc. Trường hợp người lao động bị mắc bệnh cần

hàng tháng kể từ ngày ra viện và được chia làm 7 mức từ 0,4 đến 1,6 tháng

điều trị dài ngày theo quy định, nhưng sau thời hạn 180 ngày phải điều trị


tiền lương tối thiểu.

thêm thì thời gian điều trị thêm trường hợp trợ cấp bằng 75% mức lương làm

Bị suy giảm từ 31% khả năng lao động trở lên, được hưởng trợ cấp

căn cứ đóng BHXH nếu trước khi nghỉ ốm đã đóng BHXH từ 30 năm trở lên,

hàng tháng kể từ ngày ra viện và được chia làm 7 mức từ 0,4 đến 1,6 tháng

bằng 65% mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH nếu trước khi nghỉ ốm

tiền lương tối thiểu.

đóng BHXH dưới 30 năm.

Người lao động làm suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị

Chế độ trợ cấp thai sản:

liệt cột sống, mù hai mắt, cụt hai chi tâm thần nặng, hàng tháng được phụ cấp

- Đối tượng hưởng: Lao động nữ có thai, sinh con và những người nuôi
con sơ sinh theo quy định tại Luật hôn nhân được trợ cấp thai sản.
- Thời gian tính hưởng chế độ:
Trong thời gian có thai được nghỉ việc để đi khám thai 3 lần, mỗi lần 1
ngày. Nếu người lao động có thai làm việc ở xa tổ chức y tế hoặc người mang
thai có bệnh lý, thai không bình thường thì được nghỉ việc 2 ngày mỗi lần
khám thai. Thời gian nghỉ việc trước và sau khi sinh con quy định là 4 tháng

đối với người làm việc trong điều kiện bình thường hoặc 5, 6 tháng trong điều
kiện đặc biệt.
- Mức trợ cấp thai sản bằng 100% mức lương đóng BHXH trước khi
nghỉ. Ngoài ra được trợ cấp 1 lần bằng 1 tháng tiền lương đóng BHXH.

phục vụ bằng 80% mức tiền lương tối thiểu.
Người lao động bị tai nạn lao động làm tổn thương các chức năng hoạt
động của chân, tay, tai mắt, răng, cột sống...vv.. được trang cấp phương tiện
giúp cho sinh hoạt.
Người lao động chết khi bị tai nạn lao động (kể cả chết trong thời gian
điều trị lần đầu) thì gia đình được trợ cấp một lần hoặc hàng tháng bằng 24
tháng tiền lương tối thiểu và được hưởng chế độ tử tuất.
Chế độ trợ cấp hưu trí:
- Đối tượng được hưởng: Người lao động khi nghỉ việc nam đủ 60 tuổi,
nữ 55 tuổi và có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên. Nam đủ
55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên trong đó có đủ 15

Chế độ trợ cấp TNLĐ - BNN:
- Đối tượng hưởng: Người lao động bị tai nạn lao động trong giờ làm

năm làm công việc nặng ngọc, độc hại, làm việc ở nơi có phụ khu vực hệ số

việc, tại nơi làm việc; ngoài nơi làm việc (kể cả ngoài giờ do yêu cầu của

từ 0,7 trở lên, đủ 10 năm công tác ở miền Nam, ở Lào trước ngày 30/4/1975,

người lao động); bi tai nạn ngoài nơi làm việc khi thực hiện công việc theo

ở Campuchia trước ngày 31/8/1989.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




39

40

- Mức trợ cấp:

tối thiểu. Nếu thân nhân không có nguồn thu nhập nào khác và không còn

+ Lương hưu hàng tháng tính theo số năm công tác đóng BHXH và

người thân trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp bằng 70% mức tiền lương tối

bình quân tiền lương 5 năm cuối trước khi nghỉ. Đóng BHXH đủ 15 năm thù

thiểu. Số thân nhân được hưởng tiền tuất hàng tháng không qua 4 người.

được hưởng 45%. Sau đó cứ mỗi năm đóng BHXH tính thêm 3% đối với lao

+ Nếu không có thân nhân thuộc diện hưởng tiền tuất hàng tháng thì gia

động nữ và 2% đối với lao động nam, nhưng tối đa bằng 75% mức bình


đình được nhận tiền tuất một lần. Mức tiền tuất một lần đối với gia đình người

quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH. Còn đối với những người đủ

lao động đang làm việc hoặc người lao động nghỉ việc chờ giải quyết chế độ

số năm đóng BHXH nhưng nghỉ việc hưởng lương hưu trước tuổi thì mỗi

hưu trí chết, tính theo thời gian đã đóng BHXH nhưng tối đa không quá 12

năm nghỉ trước giảm đi 1% mức. Mức lương thấp nhất cũng bằng mức

tháng. Mức tiền tuất một lần đối với gia đình người lao động đang hưởng hưu
trú, trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng chết thì tính theo thời gian đã hưởng hưu

lương tối thiểu.
+ Người lao động nam đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi, nữ đủ 50 tuổi đến
dưới 55 tuổi có thời gian đóng BHXH đủ 30 năm mà có nguyện vọng về hưu
thì được hưởng lương hưu như cách tính trên nhưng mỗi năm nghỉ việc hưởng
lương hưu trước tuổi không bị giảm 1%.

trí hoặc trợ cấp đang hưởng, nếu chết năm thứ hai trở đi thì mỗi năm giảm đi
một tháng nhưng tối thiểu bằng 3 tháng lương hưu trợ cấp.
Kể từ khi có luật BHXH thì các chế độ trên là:
Chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ.
- Đối tượng hưởng: Người lao động tham gia BHXH bắt buộc được

+ Ngoài lương hưu hàng tháng, đối với lao động nữ có thời gian đóng
trên 25 năm, lao động nam có thời gian đóng trên 30 năm khi nghỉ hưu được

trợ cấp một lần, mức trợ cấp được tính từ năm thứ 26 (đối với nữ) năm 31
(đối với nam) thì mỗi năm đóng thêm được nhận bằng một nửa tháng lương
bình quân, nhưng mức trợ cấp tối đa không qua 5 tháng.

hưởng chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ trong các trường hợp sau:
+ Có đủ 3 năm đóng BHXH trở lên tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức
mà bị suy giảm sức khoẻ.
+ Sau khi điều trị do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà
chưa phục hồi sức khoẻ.

Chế độ tử tuất:

+ Lao động nữ yếu sức khoẻ sau khi nghỉ thai sản.

- Đối tượng hưởng: Người lao động đang làm việc, người lao động nghỉ

- Thời gian nghỉ dưỡng sức là 5 đến 10 ngày trong một năm tuỳ thuộc

việc chờ giải quyết chế độ hưu trí, người lao động đang hưởng lương hưu

- Mức chi phí nghỉ DSPHSK là 50.000đ/ngày (nếu nghỉ tại gia đình) và

hoặc trợ cấp TNLĐ - BNN hàng tháng chết.

80.000đ/ngày (nếu nghỉ tại các cơ sở tập trung).

- Mức trợ cấp:
+ Trợ cấp mai táng phí: Bằng 8 tháng tiền lương tối thiểu. Từ khi có
luật BHXH thì trợ cấp mai táng phí tăng lên 10 tháng lương tối thiểu.
+ Trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 40% mức tiền

lương tối thiểu, khi có luật BHXH được quy định bằng 50% của tháng lương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vào mức độ suy giảm sức khoẻ của người lao động.



Nhận xét về hoạt động BHXH giai đoạn này:
* Kết quả đạt được:
Sự ra đời của hệ thống BHXH Việt Nam đã đánh dấu một bước trưởng
thành, một sự thay đổi cả về chất và lượng trong việc tổ chức thực thi chính
sách BHXH ở Việt Nam.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




41

42

- Đã hình thành được hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa
phương để quản lý quỹ BHXH tập trung thống nhất.
- Đối tượng tham gia BHXH ngày càng được mở rộng đến người lao
động thuộc mọi thành phần kinh tế và đang dần dần từng bước mở rộng đến tất
cả người lao động, đến các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội như Nghị định

- Hình thành được quỹ BHXH độc lập, tách khỏi NSNN. Quỹ BHXH

được cân đối hàng năm, đảm bảo có kết dư. Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ
có hiệu quả đảm bảo hàng năm có lãi để bảo toàn quỹ.
- Chi trả BHXH đảm bảo đủ số, đúng đối tượng và kịp thời đảm bảo
thuận lợi chi đối tượng khi giải quyết chế độ chính sách và nhận trợ cấp.

09/1998/Nđ-CP của Chính phủ BHXH đã mở rộng đối tượng tham gia BHXH

* Những tồn tại trong hoạt động BHXH giai đoạn này:

tới cán bộ xã phường. Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính

- Chính sách BHXH đã thay đổi qua nhiều lần nhưng vẫn còn nhiều nội

phủ đã mở rộng đối tượng tham gia BHXH tới người lao động trong các cơ sở
ngoài công lập với ngành văn hoá, thể dục thể thao, y tế, giáo dục.
- Đề cập đến vấn đề BHXH tự nguyện và sự tham gia đóng góp vào quỹ
BHXH theo cơ chế ba bên: người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước.
- Thực hiện nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các quyền lợi
về BHXH, xoá bỏ tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước như trước đây. Các mức đóng
góp và mức hưởng BHXH thường gắn với mức thu nhập hoặc thu nhập trước
đó của người được hưởng trên cơ sở có điều tiết, chia sẻ rủi ro.
- Các chế độ BHXH được xây dựng tương đối đầy đủ, rõ ràng, mỗi chế
độ đều quy định đối tượng được hưởng, thời gian tính hưởng và mức hưởng
và phù hợp với Công ước 102. Mức trợ cấp được xây dựng theo nguyên tắc
có đóng, có hưởng thể hiện sự bình đăng giữa những người tham gia BHXH;
mức trợ cấp thấp hơn mức tiền lương, tiền công khi người lao động đang đi
làm thể hiện sự công bằng giữa những người đang cống hiến với người hưởng
thụ và mức trợ cấp đảm bảo mức sống tối thiểu cho người hưởng chế độ
BHXH thể hiện ý nghĩa đảm bảo, ổn định cuộc sống cho người tham gia


- Công ước 102 quy định có 9 chế độ BHXH nhưng hiện nay nước ta
mới có 6 chế độ (kể cả chế độ bảo hiểm y tế). Để đảm bảo quyền lợi cho
người lao động và phù hợp với thông lệ quốc tế, cần nghiên cứu bổ sung thêm
các chế độ khác. Việc bổ sung thêm các chế độ cần tính toán đến mức đóng
gíp của người tham gia BHXH để đảm bảo đủ nguồn chi trả.
- Những quy định về điều kiện được hưởng chưa chặt chẽ dẫn đến
người lao động và người sử dụng lao động lợi dụng để thanh toán tiền BHXH.
- Mặc dù đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng nhưng số đối
tượng tham gia BHXH mới chỉ chiếm trên 10% số người lao động bắt buộc
phải đóng BHXH. Người lao động làm việc ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh
thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng đơn vị sử dụng lao động lại cố
tình tím cách trốn đóng BHXH bắt buộc nhưng đơn vị sử dụng lao động lại cố
tình tìm cách trốn đóng BHXH ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.
- Chính sách BHXH vẫn còn đan xen với các chính sách xã hội khác
như chính sách sắp xếp tổ chức, tinh giảm biên chế.

BHXH khi họ gặp rủi ro.
- Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý thu, chi BHXH từ phân tán hành
chính bao cấp sang cơ chế tập trung thống nhất, phấn biệt rõ chức năng quản
lý Nhà nước về BHXH và chức năng sự nghiệp BHXH, đã hạn chế tình trạng
quản lý trùng lắp, lỏng lẻo gây nên những thiếu sót sai phạm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

dung chưa phù hợp.



2.2. Quy trình chi trả chế độ BHXH
2.2.1. Quản lý đối tượng chi trả BHXH

Để đảm bảo nguyên tắc chi đúng, chi đủ của công tác chi trả thì việc
quản lý đối tượng chi trả là điều cần thiết trước tiên. Đối tượng hưởng chế độ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




×