Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

TIỂU LUẬN vận DỤNG GIẢI QUYẾT mối QUAN hệ GIỮA LƯỢNG và CHẤT TRONG NGHỆ THUẬT lấy NHỎ THẮNG lớn lấy ít ĐỊCH NHIỀU của NGHỆ THUẬT QUÂN sự VIỆT NAM GIAI đoạn CÁCH MẠNG HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (185.04 KB, 22 trang )

NỘI DUNG
Nghệ thuật "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” của NTQS Việt Nam
được hình thành từ thời tổ tiên dựng nước, đã chứng minh tính hơn hẳn, nét độc đáo
của nó trong suốt thời kỳ chống các đội quân xâm lược phong kiến có cùng một
phương thức sản xuất với ta, vũ khí trang bị không hơn ta là mấy. Nó cũng đã
chứng minh tính hơn hẳn trong cuộc trường kỳ kháng chiến 30 năm chống các đế
quốc xâm lược phương Tây có số quân đông, trang bị vũ khí, kỹ thuật hiện đại hơn
ta, buộc dân tộc ta phải có nhiều kế sách dùng tài trí, "lấy cái tinh thần hăng hái" để
bù vào cái thiếu thốn và cái kém hiện đại về trang bị vũ khí, "1ấy chất lượng cao để
thắng số lượng đông" mà xưa nay ta chưa hề có.
Ngày nay, Tổ quốc Việt Nam đã hoàn toàn độc lập thống nhất, đang ra
sức xây dựng đất nước quá độ tiến lên CNXH. Những thành tựu to lớn và rất
quan trọng của sự nghiệp đổi mới trong thời gian qua đã làm cho thế và lực
của nước ta lớn mạnh lên nhiều, cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế được
tăng cường. Đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên và lao động.
Nhân dân ta có nhiều phẩm chất cao quý, tình hình chính trị - xã hội ổn định,
Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng phát triển tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực, tranh
thủ ngoại lực, nguồn vốn, công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị
trường phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn là
tình trạng thấp kém của nền kinh tế, khoảng cách về trình độ phát triển giữa
nước ta với nhiều nước trên thế giới còn rất lớn, trong khi đó đất nước đi lên
trong điều kiện cuộc cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, song bộ máy của
Đảng và Nhà nước đang diễn ra tệ quan liêu, tham nhũng và thoái hoá về
phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Những nguy cơ mà
Đảng ta đã từng cảnh báo vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp.


2

Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học và công nghệ sẽ có


bước nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát
triển lực lượng sản xuất. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn
ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực vừa có
hợp tác, vừa có đấu tranh. Trong một vài thập kỷ tới, ít có khả năng xảy ra chiến
tranh thế giới. Nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc,
tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ. khủng bố còn xảy ra ở
nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng. Trong khi xu thế hoà bình, hợp
tác đang phát triển thì các hoạt động khủng bố, các cuộc chiến tranh cục bộ, xu
hướng chạy đua vũ trang vẫn tiếp tục. Các thế lực đế quốc và phản động đang
dùng sức mạnh kinh tế khoa học, văn hoá, khi cần thì dùng cả sức mạnh quân sự
để áp đặt ý muốn của mình bắt các dân tộc phải tuân theo, phải phụ thuộc.
Những hành động của Mỹ và đồng minh gây chiến tranh với I rắc (1991) và gần
đây là cuộc tấn công xâm lược tàn bạo của Mỹ và NATO đối với Nam Tư bằng
các loại vũ khí công nghệ cao bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp cả Liên hợp
quốc, chà đạp lên một nước độc lập có chủ quyền, với một lực lượng so sánh
theo kiểu "cá lớn nuốt cá bé", "huỷ diệt đối phương" của 19 nước với số lượng
trang bị vũ khí hiện đại gấp 10 lần chống lại 1 nước... Đây là một thách thức mới
đối với các quốc gia dân tộc.
Trước tình hình ấy, quân và dân ta càng phải nắm vững quy luật dựng
nước đi đôi với giữ nước. Nếu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN xảy
ra, chúng ta vẫn phải lấy nhỏ đánh lớn. lấy ít địch nhiều, lấy kém hiện đại chống
lại hiện đại hơn nhưng trong điều kiện mới. Vì vậy, vận dụng giải quyết mối quan
hệ giữa lượng và chất trong nghệ thuật, "lấy nhỏ thắng lớn", “lấy ít địch nhiều”
của NTQS Việt Nam giai đoạn hiện nay chính là quá trình không ngừng tích luỹ
về lượng và nhảy vọt về chất các tiềm lực của đất nước, biến các tiềm lực ấy trở
thành sức mạnh hiện thực, thực lực của nền QPTD và kịp thời biến sức mạnh hiện


3


thực của nền QPTD thành nhân tố thắng lợi của NTQS “lấy nhỏ thắng lớn". "lấy ít
địch nhiều” đánh bại mọi kẻ thù xâm lược trong các tình huống kể cả chúng sử
dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại và vũ khí công nghệ cao.
1. Chất và lượng trong nghệ thuật "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch
nhiều” của nghệ thuật quân sự Việt Nam
“Lấy nhỏ thắng lớn", "1ấy ít địch nhiều” là tư tưởng chỉ đạo xuyên
suốt, một trong những đặc trưng cơ bản của NTQS Việt. Nam - một di sản
quân sự vô giá của các thế hệ người Việt Nam - Một tinh hoa quân sự truyền
thống của dân tộc để cứu nước và giữ nước - "Một trong hai nét đặc sắc lớn
nhất của truyền thống quân sự Việt Nam : Toàn dân đánh giặc và “lấy nhỏ
thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều”1.
Thực chất của NTQS “lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” là xây
dựng phát triển trên nền tảng chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, dám
và biết sử dụng một lực lượng quân đội không lớn, nhưng có chất lượng cao,
kết hợp với toàn dân đánh giặc theo một đường lối đúng đắn một NTQS ưu
việt nên có đủ khả năng và sức mạnh đánh bại kẻ xâm 1uợc có số quân đông,
vũ khí, kỹ thuật và tiềm lực chiến tranh lớn hơn gấp nhiều lần.
Như vậy, nghệ thuật "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” của
NTQS Việt Nam đòi hỏi phải giải quyết rất nhiều mối quan hệ. Trong đó giải
quyếl mối quan hệ giữa 1ượng và chất là một trong những vấn đề cơ bản,
sáng tạo để “Hóa” nhỏ thành lớn, "Hóa" yếu thành mạnh, giành thắng lợi
trong đấu tranh vũ trang và chiến tranh
Để đánh thắng những đội quân xâm lược lớn, ông cha ta trước đây và
Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay vẫn phải tạo nên sức mạnh hơn địch. Sức
mạnh đó không chỉ là SMCĐ của LLVT mà là sức mạnh của toàn dân đánh giặc,
Võ Nguyên Giáp, “tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, Nxb CTQG, H. (1997),
tr.207
1



4

sức mạnh của chiến tranh toàn dân và toàn diện. "Khác với những cuộc chiến tranh
chiến lược thông thường của các quân đội cuộc chiến tranh toàn dân của chúng ta
bao gồm những cuộc khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, trong đó toàn
dân đứng lên, sát cánh cùng các LLVT nhân dân trực tiếp chiến đấu chống lại sự
thống trị và xâm lược của CNĐQ và bè lũ tay sai để giành và giữ chính quyền cách
mạng”2. Đặc biệt nước ta là một nước nhỏ mà thường phải chống lại những nước
lớn xâm lược có quân đội đông, trang bị vũ khí hiện đại hơn, thì tiến hành chiến
tranh toàn dân càng là một tất yếu để tạo nên tiềm lực hùng hậu và sức mạnh giữ
vững độc lập dân tộc. Ông cha ta đã từng chỉ ra "Trăm họ đều là binh nên mới phá
vỡ được giặc dữ và làm mạnh thế nước" (Phan Huy Chú); "Dựng gậy làm cờ, dân
chúng bốn phương tụ họp" (Nguyễn Trãi). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã so sánh, kẻ
địch đông là mấy vạn, mình mấy triệu đồng bào .. Sức mạnh của ta là sức mạnh của
chính nghĩa, của toàn dân, sức mạnh của cả vũ khí, phương tiện thô sơ tương đối
hiện đại và hiện đại. Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia
tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh giặc cứu
Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm. không có gươm thì dùng
cuốc thuổng, gậy gộc, ai cũng ra sức chống thực dân cứu nước... 3.
Chất trong nghệ thuật "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều của
NTQS Việt Nam là chất của một lượng nhất định và phản ánh xu hướng vận
động của lượng, là sự thống nhất hữu cơ quá trình nhận thức, vận dụng quy
luật khách quan của đấu tranh vũ trang, của chiến tranh nhân dân Việt Nam,
gắn với những điều kiện và hoản cảnh cụ thể vào xác định những nguyên tắc,
phương thức và nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh vũ trang nhằm tạo ra sức mạnh
ưu thế, đánh thắng kẻ thù xâm lược có số quân đông, vũ khí kỹ thuật và tiềm
lực chiến tranh lớn hơn ta gấp nhiều lần.

2
3


Võ Nguyên Giáp, “chiến tranh giải pháp và chiến tranh bảo vệ tổ quốc”, Nxb ST, H. 1979.tr.259-260
Hồ Chí Minh, “lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, tập 4, NXb CTQG, H. 1995, tr. 480


5

Thực tiễn lịch sử đấu tranh vũ trang và chiến tranh cách mạng của dân
tộc ta cho thấy, nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều” của NTQS
Việt Nam là nghệ thuật mà ông cha ta ngày xưa và quân dân ta ngày nay
thường căn cứ vào điều kiện tình hình cụ thể để xây dựng, huy động LLVT,
QĐ có số lượng thích hợp cả về con người, tổ chức, trang bị vũ khí, đồng thời
vận dụng một cách phổ biến có hiệu quả những giải pháp lớn chủ yếu để tạo
nên sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất, chuyển hoá tương quan so sánh
lực lượng, đánh thắng từng bước, tiến đến đánh bại hoàn toàn kẻ thù xâm lược
có số quân đông và tiềm lực chiến tranh lớn hơn nhiều lần.
Ông cha ta ngày xưa đã đúc kết: Quân đội cốt "tinh" không cốt đông
và lấy chất lượng cao thắng số lượng đông". Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn
chỉ rõ phải xây dựng quân đội có số lượng thích hợp, có chất lượng cao, có tổ
chức hợp lý, quân đội phải "tinh". Sức chiến đấu phải mạnh. Chất lượng cao ở
đây được quan niệm như một thể thống nhất, tổng hợp về chất (các mặt chính
trị. tư tưởng, tinh thần; trang bị tổ chức, kỷ luật, chiến thuật, kỹ thuật; quản lý
chỉ huy; khoa học, nghệ thuật quân sự...) và lượng (đại lượng cụ thể về đơn vị
về số quân, về vũ khí, phương tiện kỹ thuật). Nhờ có chất lượng tổng hợp cao
đó mà có cơ sở, có điều kiện để sử dụng lực lượng không nhiều, tiết kiệm mà
vẫn giành được thắng lợi trong tác chiến. Nhờ có tổ chức hợp lý, cân đối giữa
các thứ quân, giữa các quân chủng và binh chủng cũng như các thành phần
trong từng thứ quân, giữa các cơ quan chỉ huy và thành phần chiến đấu, thành
phần bảo đảm và phục vụ chiến đấu, cách tổ chức lực lượng, bố trí đội hình
chiến đấu nhằm tiết kiệm được lực lượng mà vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Lượng trong nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn", “lấy ít địch nhiều” của
NTQS Việt Nam được biểu hiện ở các yếu tố vật chất và tinh thần và những
giải pháp để làm chuyển biến tương quan so sánh lực lượng, tạo nên sức
mạnh ưu thế của ta, đánh thắng từng bước, tiến đến đánh bại hoàn toàn kẻ


6

thù xâm lược có số quân đông, vũ khí - kỹ thuật hiện đại và tiềm lực chiến
tranh lớn hơn. Đó là những yếu tố về lực, thế, thời: hướng và cách đánh, và
quan hệ qua lại giữa các yếu tố này để tạo nên những thay đổi về lượng và
chất, để "Hóa" nhỏ thành lớn. "Hóa" yếu thành mạnh, tạo nên sức mạnh tổng
hợp hơn địch và chiến thắng chúng trong đấu tranh vũ trang và trong chiến
tranh. Lượng trong nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” là
lượng của chất rất cao của từng con người, từng đơn vị cho đến toàn quân,
toàn dân và kể cả sự phát triển trang bị, vũ khí kỹ thuật. Đó cũng là lượng của
chất trong NTQS Việt Nam được phát triển từ thấp đến cao từ thô sơ kém
hiện đại đến hiện đại hơn. Đó là nghệ thuật trải qua thấy ngàn năm đấu tranh
để giành lại và giữ độc lập tự do của dân tộc. V.I.Lênin viết." Thắng lợi sẽ
thuộc về những người bị bóc lột và cuộc sống ủng hộ họ, vì họ có sức mạnh
về số lượng, sức mạnh của quần chúng, những người vô tận về lòng hy sinh,
về lý tưởng, về tính trung thực của những người mà ta gọi là "dân thường”,
tức là những người công nhân và nông dân đang tiến lên phía trước, đang giác
ngộ để xây dựng một thế giới mới có những dự trữ về nghị lực và tài năng hết
sức lớn lao. Thắng lợi thuộc về họ"4.
2. Một số biện pháp giải quyết mối quan hệ giữa lượng và chất
trong nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều” của NTQS Việt
Nam vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay
Một là, Chủ động nắm thời cơ, tích cực tạo ra những chuyển biến về lượng
và chất các tiềm lực của đất nước, vươn lên phát triển nhanh chóng và vững chắc,

tạo ra thế và lực mới vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân
Lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta qua các thời kỳ và nhất là
trong chiến tranh giải phóng, với hai cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ chống
sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã cho thấy rằng dân tộc Việt
V.Lênin, “những kẻ hoảng hốt trước sự phá sản của cái cũ và người đấu tranh cho cái mới”, tập 35, NXB
tiến bộ, tr. 232-233
4


7

Nam ta vừa kháng chiến vừa phải kiến quốc,vừa sản xuất vừa chiến đấu. Tất
cả sức người và sức của, trí tuệ và tài năng đều được huy động để đối phó với
những thử thách toàn diện, khốc liệt của chiến tranh. "Toàn dân là lính",
“Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến", "Tất cả vì miền Nam ruột
thịt", "Tất cả để đánh giặc Mỹ xâm lược".... đã trở thành truyền thống, niềm
kiêu hãnh và ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc và con người Việt
Nam, là nguồn cổ vũ động viên tấm gương với bạn bè quốc tế, với các dân tộc
yêu độc lập tự do trên phạm vi toàn thế giới.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã đặc biệt coi trọng thời
cơ đất nước có hoà bình, thận chí ngay cả trong lúc có hoà hoãn một thời gian
nhất định để tạo nên những bước phát triển về so sánh lực lượng ngày càng có lợi
và tạo ra thế mạnh cho ta. Có thể thấy rõ vấn đề này sau cách mạng tháng Tám
năm 1945, với khoảng thời gian hoà bình không dài, nhưng với tinh thần hết sức
khẩn trương, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. toàn
dân, toàn quân ta đã tập trung mọi cố gắng. xây dựng mọi mặt tạo được những
chuyển biến về chất các nhân tố quan trọng về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá,
tinh thần. Sức mạnh tổng hợp của những nhân tố ấy có ý nghĩa hết sức to lớn đối
với sự nghiệp bảo vệ chính quyền còn non trẻ cũng như việc giành thắng lợi trong
cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.

Chiến thắng Điện Biên phủ lịch sử 1954 đánh dấu bước nhảy vọt to
lớn trong sự phát triển của cách mạng Việt Nam và NTQS Việt Nam mà cốt
lõi là "lấy nhỏ thắng lớn", “lấy ít địch nhiều'. Thắng lợi mãnh liệt ấy càng tạo
thêm những nhân tố thuận lợi mới để chúng ta liên tục không ngừng tích luỹ
về lượng và nhảy vọt về chữ, tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm
lược. Đi đôi với động viên, tổ chức huy động nhân dân kháng chiến, Đảng ta
chủ trương nỗ lực bồi dưỡng sức dân gồm cả cải thiện dân sinh, nâng cao dân
trí, thực hiện dân chủ để kháng chiến lâu dài. Đảng ta đã vận động toàn dân


8

thi đua tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm. Kết hợp vừa kháng chiến vừa
kiến quốc, ra sức xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới của nhân dân ta, thực
hiện hậu phương thi đua với tiền phương. Với tinh thần "thi đua là yêu nước,
yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước
nhất". Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã khẩn trương xây dựng, phát
triển các tiềm lực, đủ sức đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ đồng thời đã làm tốt vai trò của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
Trong xu thế hợp tác, đối thoại và khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống
xã hội, xu thế tăng nhanh nhịp điệu của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại là thời cơ lớn với những nhân tố thuận lợi, mặc dù cũng không
ít những thách thức. Vì vậy, để không ngừng tích luỹ về lượng và nhảy vọt về
chất, tạo nên sức mạnh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân ta phải chủ động, nỗ lực chớp lấy và tận dụng thời cơ thuận lợi
để tạo nên sức mạnh trên tất cả các lĩnh vực và sức mạnh tổng hợp của đời
sống xã hội phải tập trung thời cơ lớn ấy vào công cuộc xây dựng CNH,
HĐH, từng bước tăng nhanh nhịp độ và tốc độ tăng trưởng của các ngành, các
địa phương. Đảng, Nhà nước phải có những chính sách cụ thể để phải huy vai
trò sáng tạo của nhân tố con người, của các tổ chức chính trị - xã hội, của các

phong trào thi đua yêu nước nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước tạo
cơ sở vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, tiềm
lực kinh tế được biểu hiện ở trình độ và khối lượng sản xuất xã hội ; khả năng
phát triển và nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế, nguồn dự trữ tài nguyên và
lao động. Trong lĩnh vực quân sự, tiềm lực kinh tế được biểu hiện ở khối
lượng nhân lực tài lực, vật lực có thể động viên phục vụ chiến tranh; tính cơ
động của nền kinh tế chuyển trong trạng thái từ thời bình sang thời chiến và
sức sống của nền kinh tế trước những thử thách khốc liệt của chiến tranh hiện


9

đại. Nhân tố kinh tế có ảnh hưởng nhiều mặt tới sự phát triển của LLVT tới
hình thức và phương thức đấu tranh vũ trang, tới NTQS, tới tính chất, độ dài,
tiến trình và kết cục của chiến tranh. Ph.Ăng ghen viết: "Không có gì lại phụ
thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn chính ngay quân đội và hạm đội" 5.
Rõ ràng, vai trò của tiềm lực kinh tế cực kỳ quan trọng đối với quá
trình làm chuyển biến so sánh lực lượng, xây dựng sức mạnh quân sự nhà
nước để "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” trong giai đoạn cách mạng
hiện nay. Tuy nhiên không nên tuyệt đối hoá tiềm lực này trong sự nghiệp bảo
vệ Tổ quốc XHCN. Các nhà lý luận quân sự Mác xít đã từng cảnh báo và
nhắc nhở rằng: Mặc dù khẳng định vai trò to lớn của nhân tố kinh tế nhưng
các ông chưa bao giờ cắt nghĩa các sự kiện lịch sử trong đó có những hoạt
động quân sự chỉ thuần tuý dựa vào điều kiện kinh tế mà phải đặt nó trong
toàn bộ các yếu tố hợp thành sức mạnh tổng hợp, trong sự tác động lẫn nhau
giữa chúng. Những ai cố ý xuyên tạc, cho nhân tố kinh tế là duy nhất thì họ
"đã biến câu nói đó thật sự trống rỗng, tuỳ tiện, vô nghĩa".
Xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần là quá trình xây dựng và hoàn thiện
khả năng về chính trị, tinh thần để huy động và biến nó thành sức mạnh vật chất

thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đó là quá trình phát triển nội
tại nhân tố chính trị, tinh thần, đồng thời là cơ sở để tạo nên chuyển biến về
lượng và chất của sức mạnh tổng hợp để "lấy nhỏ thắng lớn", “lấy ít địch nhiều”.
Sức mạnh của tiềm lực chính trị, tinh thần được biểu hiện trước hết ở hệ
tư tưởng chính trị; ở chế độ xã hội, hệ thống các chính sách đối nội, đối ngoại; ở
trình độ nhận thức, niềm tin, ý chí quyết chiến, quyết thắng của các thành viên
trong xã hội. Khi nói đến vai trò của vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra
rằng: lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân ta là một lực lượng vô cùng to
lớn không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân
5

Ph.Angghen, “thất bại của ngững người Diemông”, C.Mác, TT, tập 6, Nxb CTQG, H.1994, tr.532


10

Nguyên, Minh để giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà quân và
dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, một lòng đánh tan quân xâm lược. "Đoàn kết,
đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công".
Vấn đề quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng tiềm lực chính trị
tinh thần là phải tăng cường hệ tư tưởng chính trị và hệ thống các tổ chức chính
trị của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác; chế độ chính trị
của chúng ta là “nhất nguyên về chính trị đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới
về nội dung cụ thể, về phương thức hoạt động, về cơ cấu và về các mối quan hệ
của hệ thống chính trị hiện có là Đảng Cộng sản, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân. Đổi mới hệ thống chính trị không phải là "đổi hướng
chính trị", không phải là thay đổi bản chất chính trị, càng không phải là lập ra
một hệ thống chính trị khác. Việc kiện toàn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính
trị là nhằm bảo đảm cho hệ thống chính trị ngày càng mạnh hơn, có hiệu lực hơn
để lãnh đạo thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Trong cơ cấu của tiềm lực chính trị, tinh thần thì yếu tố đạo đức, văn
hoá giữ vai trò ngày càng tăng cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại. Vì vậy, chủ trương của Đảng ta là: Cùng với
xây dựng nền kinh tế phải xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc. Bởi văn hoá gắn kết con người lại với nhau và làm cho cuộc sống hàng
ngày của con người mang đầy ý nghĩa và mục đích. Nền văn hoá mà Đảng ta
chủ trương xây dựng là nền văn hoá hướng tới chân, thiện, mỹ, một nền văn
hoá mang tính lý tưởng cao đẹp, đời sống tinh thần, xã hội lành mạnh, trình
độ dân trí cao, khoa học phát triển .
Tiềm lực khoa học và công nghệ chỉ có thể phát triển bằng trình độ đạt
được của toàn bộ hệ thống tri thức khoa học của đất nước, những thành tựu
phát triển của kỹ thuật và công nghệ, cùng với khả năng tiếp cận, nắm bắt,
ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới vào


11

nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Ph.Ăng ghen đã từng dạy
rằng: Một dân tộc không đứng vững trên đỉnh cao khoa học thì nguy cơ phải
làm nô lệ cho dân tộc khác là không thể tránh khỏi. V.I. Lênin khẳng định:
Không có nền khoa học hiện đại thì không thể xây dựng được đội quân hiện
đại. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” 6. Vì
vậy, cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ (NQTW 2 khoá
VIII) phải được xem là quốc sách hàng đầu chủ trương đó của Đảng cần được
cụ thể hoá và khẩn trương thực hiện bằng việc ưu tiên hàng đầu cho sự phát
triển khoa học cơ bản, nhanh chóng ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa
học và công nghệ bằng việc phát triển khoa học ứng dụng và công nghệ, nâng
cao trình độ trí chức quản lý và các chính sách đối với khoa học, đặc biệt là
bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học.
Khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay giữ vai trò động lực to lớn

nâng cao sức mạnh đất nước, sức mạnh của nền QPTD, sức mạnh của sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc XHCN. Cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, khoa học
xã hội và nhân văn cần phải được phát triển theo hướng nghiên cứu, vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng lý luận về
CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Giải quyết mối quan hệ giữa lượng
và chất của nghệ thuật "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” của NTQS Việt
Nam giai đoạn cách mạng hiện nay phải bắt nguồn từ việc phát triển tiềm lực khoa
học và công nghệ theo hướng trình độ cao, tiên tiến.
Để xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ, Nhà nước ta cần sớm ban
hành luật khoa học và công nghệ tạo lập thị trường cho hoạt động khoa học và
công nghệ. Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật
thông qua các biện pháp ưu đãi thuế, tín dụng, xuất nhập khẩu, đồng thời hỗ trợ
cho các thành phần kinh tế có nhu cầu nghiên cứu khoa học và sáng tạo công
nghệ. Cần sắp xếp lại các cơ quan khoa học và công nghệ theo hướng tập trung
6

Hồ Chí Minh, “những nhiệm vụ trước mắt của Nhà nước VNDCCH” Nxb ST, H.1995. tr.8


12

hơn vào các lĩnh vực khoa học và công nghệ chiến lược, gắn nghiên cứu khoa
học với giáo dục và đào tạo. Mặt khác, Đảng và Nhà nước phải có chủ trương,
chính sách để thu hút nhiều nguồn vốn, tăng nhanh đầu tư cho khoa học và công
nghệ bằng việc hình thành các cơ chế chính sách phù hợp nhằm huy động tối đa
nguồn vốn của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các nguồn viện trợ
quốc tế, vốn từ các chương trình kinh tế - xã hội và từ các công trình xây dựng
cơ bản để đầu tư cho khoa học và công nghệ.
Tiềm lực quân sự là biểu hiện tập trung nhất, trực tiếp nhất sức mạnh quân
sự nhà nước nhằm duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển năng lực chiến đấu

và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các LLVT, ở nguồn dự trữ về sức người, sức của
phục vụ cho các nhiệm vụ quân sự, của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN. Lực lượng dân quân tự vệ mà chúng ta đã và sẽ xây dựng là lực lượng
hùng hậu, rộng khắp, là LLVT tại chỗ góp phần ổn định chính trị ở từng địa phương
trong phạm vi cả nước. Vị trí chiến lược của dân quân tự vệ là nền tảng của toàn
dân đánh giặc; là lực lượng bám trụ tại chỗ để đánh giặc bảo vệ xóm làng; là lực
lượng xây dựng, phát triển thế trận chiến tranh chính quy; là công cụ bạo lực vũ
trang bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ nhân dân ở cơ sở.
Xây dựng các tiềm lực kinh tế, chính trị, tinh thần, khoa học và công nghệ,
quân sự như đã trình bày ở trên cũng chính là quá trình xây dựng sức mạnh quân sự
nhà nước - là tổng hợp các lực lượng vật chất và tinh thần của đất nước và khả
năng huy động các lực lượng đó vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Rõ ràng là, giải quyết mối quan hệ giữa lượng và chất trong nghệ
thuật "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” của NTQS Việt Nam giai đoạn
cách mạng hiện nay trước hết phải là kết quả của việc tích cực chủ động, khẩn
trương xây dựng các tiềm lực: kinh tế, chính trị, tinh thần, khoa học công
nghệ và tiềm lực quân sự. Trong đó xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành
phố) đang đặt ra những nội dung mới, yêu cầu mới. Chỉ trên cơ sở quán triệt


13

sâu sắc những quan điểm của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng, chúng ta mới có
được những biện pháp tối ưu để nâng cao sức mạnh vững chắc các khu vực
phòng thủ và các tiềm lực. Đồng thời, sức mạnh của các tiềm lực là cơ sở để
răn đe tích luỹ được càng nhiều tiềm lực thì khả năng răn đe càng lớn. Tích
luỹ thêm bao nhiêu tiềm lực thì khả năng chiến tranh bị đẩy lùi càng trở thành
hiện thực. Ý nghĩa của việc xây dựng, phát triển các tiềm lực không chỉ là quá
trình giải quyết mối quan hệ giữa lượng và chất trong nghệ thuật “lấy nhỏ
thắng lớn". "lấy ít địch nhiều” của NTQS Việt Nam giai đoạn cách mạng hiện

nay - quá trình tạo lực, lập thế tranh thời mà còn là quá trình nâng cao sức
mạnh vật chất, tinh thần của cả dân tộc, quốc gia, sẵn sàng giáng trả vào kẻ
thù nếu chúng liều lĩnh xâm lược nước ta bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng
liêng của Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Hai là, Xây dựng và khai thác các tiềm lực thành sức mạnh của nền
QPTD phụ thuộc vào bản chất chế độ xã hội; vào sự phát triển của sản xuất;
vào tính chất và mục đích của sự nghiệp quốc phòng và an ninh; vào trình độ
văn hóa và những giá tị đạo đức, vào năng lực giáo dục thuyết phục và điều
hành của các tổ chức Đảng, Nhà nước và các tổ chức quần chúng.
Chúng ta đang xây dựng đất nước theo "cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội". Tổ quốc Việt Nam XHCN mà
chúng ta xây dựng và bảo vệ là chế do mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định không chỉ ưu việt về
bản chất mà còn rất tiến bộ với tất cả các hình thức hiển hiện của nó. Đồng
thời, hoạt động của các quy luật xã hội có tính xu hướng và phải thông qua
tính năng động sáng tạo của nhân tố con người.
Thực tiễn lịch sử cũng đã cho thấy, nếu chỉ thoả mãn với những gì mà
quá trình xây dựng CNXH đã đạt được, không tính đến những vấn đề nảy
sinh, khuyết tật trong quá trình vận động, phát triển của nó thì sẽ dẫn đến


14

những sai lầm nghiêm trọng thậm chí dẫn đến nguy cơ mất chế độ. Vì vậy, để
không ngừng chuyển biến về lượng và nhảy vọt về chất trong nghệ thuật "lấy
nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” của NTQS Việt Nam giai đoạn cách mạng
hiện nay, vấn đề đặc biệt quan trọng là phải không ngừng giữ vững, tăng
cường bản chất chế độ XHCN, hướng đến tiêu chí giải phóng con người và
phát triển sản xuất – tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội.Chỉ có giữ vững và tăng
cường bản chất chế độ XHCN mới là điều kiện để phát triển các tiềm lực của

đất nước, phát triển các nhân tố trong NTQS Việt Nam. Đó là những cơ sở
vững chắc để thường xuyên hiện thực hoá các khả năng thành sức mạnh của
sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Cũng cần nhận thức rằng, không phải khi xây dựng xong các tiềm lực
rồi mới chuyển hoá thành sức mạnh hiện thực phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ
Tổ quốc. Quá trình đó sẽ diễn ra đồng thời. đan kết chặt chẽ với nhau. Cùng
với sự phát triển về kinh tế, ổn định về chính trị theo đường lối đổi mới của
đất nước thì việc thường xuyên xây dựng các liềm lực và khai thác sức mạnh
của nó vào nhiệm vụ quốc phòng, an ninh như là người bạn đồng hành, quan
hệ biện chứng với nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước. Mỗi một
bước tiến của quá trình xây dựng đều mang lại hiệu quả ngày càng cao hơn
cho quá trình khai thác và sử dụng các tiềm lực. Quá trình thường xuyên hiện
thực hoá, thực lực hoá các tiềm lực thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phụ thuộc
trước hết vào vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng tăng trong xã hội. Khẳng
định điều này là xuất phát từ sự quy định của các nhân tố khách quan. đó là:
quy mô, tính chất phức tạp của thời kỳ quá độ; sự phát triển đa dạng của các
thành phần kinh tế; sự gia tăng ngày càng rộng rãi và tích cực của nhân dân
lao động vào quản lý các công việc Nhà nước; sự phát triển của nền dân chủ
XHCN; sự nâng cao vai trò của các thành viên trong hệ thống chính trị; sự


15

cần thiết phải giáo dục xã hội giáo dục chủ nghĩa yêu nước XHCN với nhiệm
vụ xây dựng củng cố quốc phòng an ninh cho mọi thành viên trong xã hội.
Cùng với đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng thì vai trò quản
lý điều hành của bộ máy nhà nước có vai trò trực tiếp biến khả năng các tiềm
lực thành sức mạnh hiện thực của nền QPTD. Do đó, Nhà nước phải có chủ
trương, chính sách, biện pháp hữu hiệu trong tổ chức, thực hiện để đẩy nhanh
quá trình đó phù hợp với nhiệm vụ, yêu cầu được đặt ra ở mỗi giai đoạt nhất

định của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Để hoàn
thành được nhiệm vụ quan trọng và khó khăn này, Nhà nước ta phải xây dựng
theo hướng là nhà nước pháp quyền. Trong đó có các tiêu chí cơ bản: Thừa
nhận tính tối cao của pháp luật; coi con người là mục tiêu cao nhất; tuân thủ
luật pháp quốc tế mà chúng ta phải nghiên cứu và vận dụng phù hợp. Nhà
nước của ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân Đảng lãnh đạo hệ thống chính
trị đồng thời là bộ phận của hệ thống chính trị, "mọi tổ chức của Đảng hoạt
động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật". Đảng lãnh đạo Nhà nước quản
lý nhằm bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.
Trong điều kiện hiện nay để nâng cao hiệu quả quá trình hiện thực hoá
các tiềm lực vào nhiệm vụ xây dưng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Nhà nước ta
càng phải công khai và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng
về: cơ sở kinh tế của Nhà nước. của chế độ là sở hữu toàn dân về những tư
liệu sản xuất chủ yếu. toàn dân bầu ra bằng phổ thông đầu phiếu cơ cấu thành
phần nhân sự trong các cơ quan nhà nước. Từng bước nâng cao chất lượng,
trước hết là chất lượng chính trị của các cơ quan nhà nước; xác định rõ chức
năng, nhiệm vụ, cơ cấu bộ máy, cơ chế vận hành, lề lối làm việc; nâng cao
chất lượng cán bộ; tăng cường kỷ luật, kỷ cương.
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát và phù
hợp với lòng dân, mang lại quyền lợi thiết thực cho nhân dân lao động. Cùng với


16

thắng lợi của các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, từng bước cải thiện và
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kết hợp chặt chẽ giữa tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội khuyến khích làm giàu hợp pháp
đi đôi với xoá đói giảm nghèo, quan tâm hơn nữa đến các vùng căn cứ cách
mạng, vùng sâu, vùng xa, các gia đình thuộc diện chính sách.
Công tác vận động quần chúng có ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá

trình xây dựng các tiềm lực mà nó còn có ý nghĩa quyết định biến các tiềm
lực thành sức mạnh hiện thực của sự nghiệp xây dựng đất nước củng cố quốc
phòng, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần phải tăng cường
công tác vận động quần chúng để họ chủ động giải quyết những vấn đề nảy
sinh theo chiều hướng tích cực không để cho kẻ xấu lợi dụng, kích động lôi
kéo làm cho tình hình phức tạp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: Chính
quần chúng nhân dân lao động đã và sẽ làm nên lịch sử. Đẩy thuyền cũng là
dân và lật thuyền cũng là dân. Nước phải lấy dân làm gốc, dân làm chủ, lực
lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết, có dân là có tất cả. Sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc XHCN là sự nghiệp quần chúng, song quần chúng ấy phải được tổ chức,
giáo dục và hướng dẫn hành động. Sức mạnh giữ nước được tạo ra từ sự đồng
tâm, hợp lực, thống nhất ý Đảng với lòng dân, trên dưới một lòng, đoàn kết
thành một khối vững chắc, thống nhất ý chí và hành động. Để quy tụ được sức
mạnh của quần chúng trước hết phải xây dựng được lòng tin của nhân dân vào
mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, tin vào sự lãnh đạo của Đảng,
lòng yêu quê hương đất nước và tin vào sự tất thắng của CNXH.
Vì vậy, để biến các tiềm lực của sức mạnh quân sự Nhà nước thành sức
mạnh hiện thực của nền QPTD trong giai đoạn cách mạng hiện nay thì cùng với
tuyên truyền giáo dục đường lối, chính sách chung của Đảng, Nhà nước, chúng ta
cần đẩy mạnh hơn nữa nhiệm vụ giáo dục quốc phòng, cần phải tiến hành có hiệu
quả việc giáo dục quốc phòng trong toàn bộ máy nhà nước, trong toàn dân và các


17

tổ chức quần chúng với những nội dung cơ bản, thiết thực phong phú và phù hợp
từng đối tượng, làm cho mọi người dù làm gì. Ở cương vị nào cũng nhận rõ yêu
cầu mới đối với nhiệm vụ quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt cần tập trung
nâng cao chất lượng và tính hiệu quả thiết thực của việc bồi dưỡng kiến thức quốc
phòng đối với cán bộ các cấp và đối với thế hệ trẻ.

Ba là, thường xuyên biến các tiềm lực của đất nước thành sức mạnh
hiện thực chống nguy cơ, thách thức và đối phó có hiệu quả với các tình
huống, trong đó chống chiến lược “diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ” của
CNĐQ và các thế thù địch là nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân.
Các thế lực phản động quốc tế và trong nước đang thay đổi biện pháp
chống phá cách mạng Việt Nam. Những động thái gần đây của Mỹ và các thế
lực chống phá CNXH cho thấy họ đang ráo riết thực hiện "thâm nhập để chuyển
hoá từng bước, đi từ kinh tế, văn hoá đến chính trị nhằm xoá bỏ từng phần, từng
mảng, dẫn đến xoá bỏ toàn bộ công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Thực chất là CNĐQ và các thế lực phản động đang đẩy mạnh diễn
biến hoà bình trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam. Coi trọng tạo dựng
lực lượng chống đối và sử dụng lực lượng nguỵ quân nguỵ quyền trong nước
và lưu vong ở nước ngoài xâm nhập về nước để gây mất ổn định về kinh tế,
chính trị, gây bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân. Đồng thời ráo riết chuẩn
bị lực lượng quân sự làm lực lượng răn đe và sẵn sàng can thiệp khi điều kiện
và thời cơ cho phép.
Vì vậy, để đánh thắng những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù,
tất yếu chúng ta phải có sức mạnh hiện thực của nền QPTD. Sức mạnh đó
được thể hiện trên một số lĩnh vực chủ yếu sau:
- Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng:


18

Sức mạnh hiện thực của chính trị liên quan chặt chẽ đến cuộc đấu
tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hiện nay, là biểu hiện thái độ của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh với mọi kẻ thù chống
phá để giữ vững công cuộc xây dựng đất nước trong sự nghiệp đổi mới. Chính
trị là nhà nước, các đảng phái, các tổ chức chính trị dùng để tiến hành các

hoạt động chính trị. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN bất cứ vấn đề chính trị nào cũng có thể là vấn đề tổ chức và ngược lại
vấn đề tổ chức nào cũng đều có thể là vấn đề chính trị. Như vậy, sức mạnh
hiện thực của chính trị không chỉ biểu hiện ở đường lối, chủ trương đúng đắn,
ở việc giải quyết kịp thời những vấn đề đã và đang diễn ra trong đời sống xã
hội cộng đồng và quốc tế, ở chiến lược và sách lược mà nó còn hiển hiện sinh
động ở sự vững mạnh và trong sạch của các tổ chức trong hệ thống chính trị.
- Trên lĩnh vực kinh tế:
Sức mạnh hiện thực của tiềm lực trên lĩnh vực kinh tế, biểu hiện thông
qua cuộc đấu tranh để định hướng XHCN trong điều kiện thực hiện nền kinh tế
nhiều thành phần và cơ chế thị trường. Đó là cuộc đấu tranh để hướng tới mục
tiêu dân giàu, nước mạnh; xã hội công bằng, văn minh. Sức mạnh hiện thực
trong cuộc đấu tranh này không chỉ giới hạn ở tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế, ở thu nhập tính theo đầu người ngày càng tăng, mà quan trọng nhất là vai trò
chủ đạo và điều tiết của kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã; ở hiệu lực quản
lý của Nhà nước trước những biến cố phức tạp do kẻ thù tạo ra; bảo vệ được bí
mật kinh tế, bảo vệ được đội ngũ cán bộ, phát triển kinh tế đi đôi với lành mạnh
các quan hệ xã hội củng cố vững chắc quốc phòng và an ninh.
- Trên lĩnh vực văn hóa, dân tộc,tôn giáo
Sức mạnh hiện thực được thể hiện ở cuộc đấu tranh để giữ vững bản
sắc dân tộc và kế thừa có chọn lọc những giá trị văn hoá của nhân loại và thời


19

đại với các loại văn hoá lai căng, đồi truỵ. đang huỷ hoại tình cảm, tư tưởng,
tâm lý, nhân cách của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Văn hoá phải thực sự là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực
của mọi sự phát triển xã hội. Nền văn hoá Việt Nam phải được xây dựng theo
hướng "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", nền văn hoá ấy có tính tư tưởng,

tính chiến đấu cao, góp phần đắc lực vào xây dựng con người Việt Nam về
tình cảm, đạo đức, lối sống và nhân cách.
Vấn đề dân tộc, tôn giáo là vấn đề hết sức nhạy cảm trong điều kiện
ngày nay. Giải quyết tốt vấn đề này cũng chính là quá trình hiện thực hoá sức
mạnh của các cộng đồng người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
- Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh:
Sức mạnh hiện thực phải được biểu hiện ở sự kết hợp chặt chẽ hai
nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng CNXH và bảo vệ
Tổ quốc XHCN; ở sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với kinh
tế; xây dựng được lực lượng quân đội và công an nhân dân cách mạng chính
quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại; thế trận QPTD và an ninh nhân dân được
kết hợp chặt chẽ và ngày càng vững chắc; tích cực, chủ động, sẵn sàng đánh
bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của kẻ thù trong mọi tình huống;
hoàn thiện về hệ thống luật về bảo vệ Tổ quốc.
- Trên lĩnh lực đối ngoại:
Sức mạnh hiện thực của đường lối đối ngoại biểu hiện ở việc tăng
cường mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới; hợp tác nhiều mặt song
phương và đa phương trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng,
cùng có lợi, thông qua thương lượng để tìm giải pháp phù hợp giải quyết các


20

vấn đề tồn tại và các tranh chấp bảo đảm hoà bình, ổn định, an ninh hợp tác
và phát triển; mở rộng thị trường, tranh thủ thêm các đối tác, tăng viện trợ
phát triển và giảm nợ, giảm khoảng cách giữa xuất và nhập khẩu, giảm nhập
siêu. Tăng đầu tư nước ngoài, thúc đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản
xuất, đẩy thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện dai hoá đất nước; tăng cường

vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, không để bị cô lập mà tăng cường sự
có mặt tại nhiều diễn đàn thế giới, đóng góp tiếng nói tích cực cho hoà bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Bốn là, kịp thời biến sức mạnh hiện thực của nền quốc phòng toàn
dân thành nhân tố răn đe có hiệu lực lớn và nhân tố thắng lợi của NTQS “lấy
nhỏ thắng lớn”, "lấy ít địch nhiều” trong mọi tình huống
Sức mạnh hiện thực của nền QPTD trong quá trình xây dựng, từng
bước được củng cố và phát triển về chất cả lực và thế trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội , tạo thành cơ sở phát huy sức mạnh và xây dựng các
nhân tố thắng lợi của NTQS "lấy nhỏ thắng lớn", "ấy ít địch nhiều” giai đoạn
cách mạng hiện nay khi các tình huống xảy ra.
Lịch sử đã chứng minh rằng, chỉ trên cơ sở độc lập, tự chủ, phát huy
sức mạnh của cả nước. của cả dân tộc mới biến sức mạnh hiện thực của nền
QPTD thành nhân tố thắng lợi, mới tranh thủ và phát huy được sự viện trợ
quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Sức mạnh hiện thực của nền QPTD muốn biến thành nhân tố thắng lợi
trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN cần phải nắm vững phương châm chỉ
đạo chiến tranh và tư tưởng chỉ đạo tác chiến. Đó là, tiến hành chiến tranh toàn
dân toàn diện, lấy LLVT gồm ba thứ quân làm nòng cốt, lấy đấu tranh vũ trang và
thắng địch trên chiến trường là chủ yếu, quyết định; đánh địch trên cả ba môi
trường (đất liền, trên hải đảo, trên không), tập trung sức đánh địch trên hướng
(khu vực) trọng điểm, nhất là ở chiến trường trên đất liền; ra sức sáng tạo thời cơ,


21

giành thắng lợi trong thời gian ngắn, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng để có thể giành
thắng lợi trong trường hợp chiến tranh kéo dài; vừa chiến đấu, vừa xây dựng, ra
sức sản xuất và tiết kiệm, giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng ta, càng đánh càng
mạnh.

Mặt khác, cần phải quán triệt tư tưởng tiến công, luôn giành và giữ
quyền chủ động; kết hợp đánh tiêu hao với đánh tiêu diệt, kết hợp diệt địch
với bảo vệ vững chắc mục tiêu của ta; tận dụng mọi thứ vũ khí có trong tay,
vận dụng nhiều hình thức và phương pháp tác chiến, mưu trí, linh hoạt, sáng
tạo, đạt hiệu quả cao, hạn chế thấp nhất tổn thất, thương vong của ta; kết hợp
tiến công quân sự với bảo đảm an ninh. Kết hợp tác chiến với binh vận, địch
vận, làm tan rã hàng ngũ địch, vận động dư luận quốc tế và nhân dân nước
địch chống chiến tranh xâm lược.
Như vậy, nắm vững các phương châm chỉ đạo chiến tranh, các tư
tưởng chỉ đạo tác chiến cũng chính là quá trình không ngừng tích luỹ về
lượng và nhảy vọt về chất trong NTQS "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch
nhiều” để hiện thực hoá sức mạnh quân sự nhà nước thành các nhân tố thắng
lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sức mạnh đó càng có
nhiều khả năng đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược từ phía kẻ thù thì càng
có cơ hội ngăn chặn và đẩy xa cuộc chiến tranh ấy.
KẾT LUẬN
Vận dụng giải quyết mối quan hệ giữa lượng và chất trong nghệ thuật
“lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” của NTQS Việt Nam giai đoạn cách
mang hiện nay chính là trên cơ sở kế thừa và phát triển NTQS truyền thống
dân tộc, phát huy năng động, sáng tạo của toàn Đảng toàn dân, toàn quân
trong việc nhận thức và vận dụng các quy luật của chiến tranh nhân dân Việt
Nam trong điều kiện mới.


22

Trong nghệ thuật "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” của NTQS
Việt Nam nếu không có sự kiên trì, tích cực, sáng tạo, khẩn trương tích luỹ về
lượng bằng hàng loạt các hiện pháp: tạo lực, lập thế, tranh thời mưu kế cao,
cách đánh hiểm,... Và đặc biệt là phát huy ưu thế chính trị chính nghĩa, phát

huy vai trò nhân tố chính trị - tinh thần, xây dựng chất lượng "tinh" cả con
người và tổ chức. thì không dẫn tới những bước nhảy vọt về chất trong tương
quan so sánh lực lượng và SMCĐ.
Công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đưa nước ta tiến lên, nhưng
chúng ta vẫn ở trong tình thế lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu
chống mạnh. Vì vậy, nghệ thuật "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều” của
NTQS Việt Nam phải được phát triển cho phù hợp với điều kiện mới, trên cơ
sở phát huy sáng tạo truyền thống, khoa học và NTQS độc đáo Việt Nam,
bằng việc không ngừng tạo lực, lập thế, tranh thời và hiện thực hoá các nhân
tố đó thành sức mạnh đánh thắng kẻ thù xâm lược trong mọi tình huống.



×