Tải bản đầy đủ (.pdf) (64 trang)

Nghiên cứu nhân giống cây bạch đàn lai u6 bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.16 MB, 64 trang )

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THÚY LINH

NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÂY BẠCH ĐÀN LAI U6
BẰNG PHƢƠNG PHÁP NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Công nghệ sinh học

Khoa

: CNSH - CNTP

Khoá học

: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015



ii

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THÚY LINH

NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÂY BẠCH ĐÀN LAI U6
BẰNG PHƢƠNG PHÁP NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Công nghệ sinh học

Lớp

: K43 - CNSH

Khoa

: CNSH - CNTP

Khoá học


: 2011 - 2015

Giảng viên hƣớng dẫn : 1. ThS. Dƣơng Mạnh Cƣờng
2. ThS. Lê Thị Hảo

Thái Nguyên, năm 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Qua 6 tháng thực tập tại Bộ môn Công Nghệ Tế Bào, Viện Khoa học Sự
Sống đến nay em đã hoàn thành đề tài. Để đạt được kết quả như ngày hôm nay,
em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa, Viện
Khoa Học Sự Sống, đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian qua.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Th.S Dương Mạnh Cường,
Th.S Lê Thị Hảo người thầy, người cô trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo giúp
đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập và hoàn thành đề tài.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đã
động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày

tháng

năm 2014

Sinh viên thực hiện

Đỗ Thúy Linh



ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Kết quả ảnh hưởng của nồng độ BAP đến khả năng nhân chồi bạch
đàn lai U6. (sau 25 ngày nuôi cấy) ......................................................... 32
Bảng 4.2. Kết quả ảnh hưởng của kinetin đến khả năng nhân chồi bạch đàn lai
U6. (sau 25 ngày nuôi cấy) ..................................................................... 35
Bảng 4.3. Kết quả ảnh hưởng của sự kết hợp giữa kinetin và IAA đến khả
năng nhân chồi bạch đàn lai U6. (sau 25 ngày nuôi cấy) ....................... 37
Bảng 4.4. Kết quả ảnh hưởng của NAA đến khả năng ra rễ chồi bạch đàn
lai U6. (sau 20 ngày nuôi cấy) ............................................................... 39
Bảng 4.5. Kết quả ảnh hưởng của IAA đến khả năng ra rễ chồi bạch đàn
lai U6. (sau 20 ngày nuôi cấy) ............................................................... 41
Bảng 4.6. Kết quả ảnh hưởng của IBA đến khả năng ra rễ chồi bạch đàn lai
U6. (sau 20 ngày nuôi cấy) ..................................................................... 42
Bảng 4.7.Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể đến tỉ lệ sống của
cây bạch đàn lai. (sau 60 ngày trồng) ..................................................... 45


iii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của BAP đến khả năng nhân nhanh chồi
bạch đàn .................................................................................................. 33
Hình 4.1. Ảnh hưởng của BAP đến khả năng nhân chồi bạch đàn lai U6...... 34
Hình 4.2. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của kinetin đến khả năng nhân nhanh
chồi bạch đàn........................................................................................... 35
Hình 4.2. Ảnh hưởng của Kinetin đến khả năng nhân chồi bạch đàn lai U6. 36

Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của Kinetin kết hợp với IAA đến khả
năng nhân nhanh chồi bạch đàn .............................................................. 37
Hình 4.3. Ảnh hưởng của sự kết hợp giữa kinetin và IAA đến khả năng nhân
chồi bạch đàn lai U6................................................................................ 38
Hình 4.4. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của NAA đến khả năng ra rễ chồi
bạch đàn .................................................................................................. 40
Hình 4.5. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của IAA đến khả năng ra rễ chồi
bạch đàn .................................................................................................. 41
Hình 4.6. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của IBA đến khả năng ra rễ chồi bạch đàn. 43
Hình 4.6. Ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng đến khả năng ra rễ
chồi của giống cây bạch đàn lai U6. ....................................................... 44


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

2,4-D

: 2,4-diclorophenolxy acetic acid

BAP

: Benzyl amino purin

ĐC

: Đối chứng

Cs


: Cộng sự

CT

: Công thức

CV

: Coeficient of Variation

ĐTST

: Điều tiết sinh trưởng

Đất tầng B: Đất sạch
IBA

: Indole - 3 - butylric acid

Kinetin

: 6-Furfurylaminopurine

LSD

: Least Singnificant Difference Test

MS


: Murashige & Skoog (1962)

NAA

: 1- Napthalene acetic acid

NXB

: Nhà xuất bản

TB

: Trung bình

TDZ

: Thidiazuron

WPM

: Woody Plant Medium


v

MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề .............................................................................................. 1
1.2. Mục đích của đề tài ................................................................................ 2
1.3. Yêu cầu của đề tài .................................................................................. 2

1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ............................................... 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................... 4
2.1. Giới thiệu chung về cây Bạch đàn ......................................................... 4
2.1.1. Nguồn gốc và phân loại cây Bạch đàn ................................................ 4
2.1.2. Đặc điểm thực vật học......................................................................... 4
2.2. Giá trị kinh tế cây cây bạch đàn urophylla ............................................ 5
2.3. Khái quát về nuôi cấy mô tế bào thực vật .............................................. 6
2.3.1. Sơ lược lịch sử nuôi cấy mô tế bào thực vật ....................................... 6
2.3.2. Khái niệm nuôi cấy mô tế bào thực vật .............................................. 9
2.3.3. Cơ sở khoa học của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật ......... 9
2.4. Các giai đoạn trong nuôi cấy mô tế bào thực vật ................................. 11
2.4.1. Chuẩn bị mẫu .................................................................................... 11
2.4.2. Khử trùng mẫu cấy ............................................................................ 11
2.4.3. Tạo chồi và nhân nhanh .................................................................... 12
2.4.4. Tạo cây mô hoàn chỉnh ..................................................................... 13
2.4.5. Chuyển cây in vitro ra ngoài vườn ươm ........................................... 14
2.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình nhân giống bạch đàn urophylla . 14
2.5.1. Môi trường nghiên cứu ..................................................................... 14
2.4.2. Các điều kiện nghiên cứu .................................................................. 19
2.4.3. Vật liệu nghiên cứu ........................................................................... 20
2.4.4. Điều kiện vô trùng ............................................................................. 20
2.4.5. Buồng nuôi cấy ................................................................................. 21
2.5. Tình hình nghiên cứu về cây bạch đàn trong nước và trên thế giới .... 21
2.5.1. Tình hình nghiên cứu về nhân giống cây bạch đàn trên thế giới ...... 21


vi

2.5.2. Tình hình nghiên cứu về nhân giống cây bạch đàn trong nước ........ 22
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU ................................................................................................................ 25
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 25
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu: ...................................................................... 25
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 25
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu ........................................ 25
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu ......................................................................... 25
3.2.2. Thời gian tiến hành ........................................................................... 25
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 25
3.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 26
3.5. Các chỉ tiêu theo dõi............................................................................. 31
3.6. Phương pháp xử lý số liệu.................................................................... 31
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 32
4.1. Kết quả ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng đến khả năng
nhân chồi cây bạch đàn lai U6. ................................................................... 32
4.2. Kết quả ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng đến khả năng
ra rễ chồi bạch đàn lai U6. .......................................................................... 39
4.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể đến tỷ lệ sống của 44
cây bạch đàn lai ........................................................................................... 44
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................... 47
5.1. Kết luận ................................................................................................ 47
5.2. Kiến nghị .............................................................................................. 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 48
I. Tiếng Việt ................................................................................................ 48
II. Tiếng Anh ............................................................................................... 50


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, nền công nghiệp của Việt Nam ngày càng
phát triển nhanh, trong đó có ngành sản xuất giấy và đồ gỗ gia dụng. Một số
cây công nghiệp lâu năm đã được chú trọng phát triển và đem lại nhiều lợi ích
kinh tế cho người nông dân trong đó có cây bạch đàn lai U6 (hay còn gọi là
cây bạch đàn nâu).
Bạch đàn lai U6 có tên khoa học là Eucalyptus urophylla S.T. Blake,
thuộc họ Sim Myrtaceae (Hoàng Thị Sản và cs, 2009) [13].Là loại cây mọc tự
nhiên và có nguồn gốc từ châu Úc, chúng có thể sinh trưởng dưới một phổ
sinh thái rộng như tập trung ở các vùng thấp ven biển, nhưng cũng có thể mọc
ở những vùng cao (2000m so với mặt biển) hay vùng khô cạn (sa mạc hoặc
bán sa mạc). Ở Việt Nam đã gây trồng bạch đàn từ những năm 1930 ở cả hai
miền Nam, Bắc. Hiện nay bạch đàn đang được trồng phổ biến ở nhiều nơi, nó
mang lại nhiều lợi ích cho con người như: Tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao thu
nhập của nhiều người dân và cũng góp phần xóa đói giảm nghèo ở một số tỉnh
miền núi của Việt Nam (Lê Đình Khả và cs, 2002) [5]. Giống bạch đàn
urophylla là loại cây có khả năng sinh trưởng nhanh, có biên độ sinh thái
rộng, dễ trồng trên nhiều loại địa hình khác nhau, có khả năng chịu gió bão có
thể sử dụng để làm rừng phòng hộ, chống xói mòn đất đai. Ngoài ra, giống
bạch đàn này có dạng thân thẳng, thon đẹp, tỉa cành tự nhiên tốt, không để lại
vết sẹo trên thân cây nên thu hút nhiều người trồng hơn một số giống bạch
đàn khác (Lê Đình Khả, 2003) [6].
Bạch đàn lai là cây công nghiệp dài ngày ở nước ta và ở một số quốc
gia khác. Ở nước ta, bạch đàn lai được trồng sau 7-8 năm có thể cho thu
hoạch gỗ để làm nguyên liệu chế biến bột giấy. Sau 15 năm, Bạch đàn có thể


2

khai thác làm gỗ gia dụng, gỗ xây dựng (Lê Sơn và cs, 2005) [14]. Hiện nay,

nhu cầu sử dụng của con người ngày càng cao làm cho lượng gỗ và giấy tiêu
thụ ngày càng nhiều nhưng việc sản xuất vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu do
diện tích trồng bạch đàn ngày càng thu hẹp dần và lượng cây giống đưa ra
ngoài thị trường cũng chưa đáp ứng đủ yêu cầu của người trồng (Đoàn Thị
Mai và cs, 2010) [10].
Do đó, để đáp ứng cho thị trường sản xuất giấy và sản xuất đồ gia
dụng, cần phải có số lượng cây giống với chất lượng đảm bảo, ổn định và
đồng đều. Trong khi đó, việc sản xuất cây giống bằng hạt hay bằng công nghệ
giâm hom cho hiệu quả sản xuất không cao do các nguyên nhân như: Hệ số
nhân giống chưa cao, cây giống sản xuất ra không hoàn toàn sạch bệnh, sản
xuất phụ thuộc vào thời vụ, khó khăn trong việc vận chuyển đi các nơi khác
nhau… gây ảnh hưởng đến cây giống và năng suất của cây sau này (Nguyễn
Đức Thành, 2000) [18].
Nhằm đáp ứng các nhu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu nhân giống cây bạch đàn lai U6 bằng phương pháp nuôi cấy
mô tế bào”
1.2. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu nhân giống cây bạch đàn lai U6 bằng phương pháp nuôi
cấy mô tế bào
1.3. Yêu cầu của đề tài
+ Xác định ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng đến khả
năng nhân chồi bạch đàn lai U6.
+ Xác định ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng đến khả
năng ra rễ chồi bạch đàn lai U6.
+ Xác định ảnh hưởng của một số giá thể đến tỉ lệ sống của cây bạch
đàn lai U6 trong vườn ươm.


3


1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
+ Giúp sinh viên củng cố và hệ thống các lại kiến thức đã học.
+ Giúp sinh viên rèn luyện và học tập khả năng nghiên cứu khoa học.
+ Biết được các phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý
và phân tích số liệu, cách trình bày một bài báo khoa học.
+ Sử dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào nhằm nâng cao hệ số nhân
và chất lượng cây bạch đàn lai mới.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Nâng cao hiệu quả nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào,
làm giảm chi phí giá thành, tăng năng suất, chất lượng và đáp ứng nhu cầu
cung cấp giống bạch đàn mới ra thị trường.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Giới thiệu chung về cây Bạch đàn
2.1.1. Nguồn gốc và phân loại cây Bạch đàn
2.1.1.1. Nguồn gốc
Bạch đàn là chi thực vật có hoa Eucalyptus trong họ Myrtus,
Myrtaceae. Các thành viên của chi này có xuất xứ từ Australia. Có hơn 700
loài bạch đàn, hầu hết có bản địa tại Australia, và một số nhỏ được tìm thấy ở
New Guinea và Indonesia và một ở vùng viễn bắc Philippines và Đài Loan.
Các loài bạch đàn đã được trồng ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới gồm
châu Mỹ, châu Âu, châu Phi, vùng Địa Trung Hải, Trung Đông, Trung Quốc,
bán đảo Ấn Độ...(Lê Đình Khả, 2003) [6]
2.1.1.2. Phân loại
Giới (Kingdom):


Plantae

Bộ(ordo):

Myrtales

Họ (familia):

Myrtaceae

Phân họ (subfamilia):

Myrtoideae

Chi (genus):

Eucalyptus

Loài (species) :

Eucalyptus urophylla
(Hoàng Thị Sản, 2009) [13]

2.1.2. Đặc điểm thực vật học
Cây gỗ lớn, cao 2-25 m, đường kính có thể tới 100 cm. Thân thẳng, vỏ
long mảng nhỏ,màu nâu vàng. Tán hình tháp, phân cành thấp. Cành và lá non
có màu đỏ tía. Cây mọc khá nhanh, là cây ưa sáng, ưa đất ẩm nên ở những nơi
đất tốt hoặc trung bình cây phát triển rất nhanh. Tuy nhên do là loài cây
không kén đất nên có thể trồng bạch đàn Urophyla trên các loại đất đồi khô,

trọc, đất chua, nghèo dinh dưỡng (Lê Đình Khả, 2003) [6].


5

2.1.2.1. Thân
Thân cây cao to, thẳng, tăng trưởng nhanh, có thể đạt kích thước rất
lớn, tỉa cành tự nhiên tốt. Vỏ cây thường tồn tại ở hai dạng vỏ trên một thân,
dạng vỏ sần sùi, ráp dày có màu nâu đỏ, các cây non có vỏ màu nâu khi già
chuyển sang xám (Hoàng Thị Sản và cs, 2009) [13].
2.1.2.2. Lá
Có hai loại lá: Trên cây non hay cành non: Lá mọc đối, gần như không
có cuống, phiến lá hình trứng hoặc giống hình trái tim, sắc lục, mỏng, giống
như có sáp, dài 10 - 15 cm, rộng 4 - 8 cm. Trên cành cây già lá mọc riêng biệt,
so le, hình liềm, cuống ngắn, cong, phiến lá hẹp dài 16 - 25 cm, rộng 2 - 5 cm,
cành già tròn, không cạnh (Hoàng Thị Sản và cs, 2009) [13].
2.1.2.3. Hoa
Từ kẽ lá có những nụ hoa hình núm oản ngửa, có bốn cạnh tương ứng
với bốn lá đài. Cụm hoa dạng tán mọc ở nách lá, mang 4 - 8 hoa, hoa màu
trắng vàng hoặc trắng xanh (Hoàng Thị Sản và cs, 2009) [13].
2.1.2.4. Quả
Quả hình chén có bốn ngăn trong có chứa ít hạt, hình trứng hoặc gần
hình cầu, đường kính 6 - 8 mm (Nguyễn Kim Thanh, 2005)[19].
2.2. Giá trị kinh tế cây cây bạch đàn urophylla
Bạch đàn U6 là sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học chọn
giống cây rừng, các cây đầu dòng được tiến hành nuôi cấy mô để duy trì
nguồn gen, có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt. Trong điều kiện bình
thường năng suất rừng trồng bạch đàn U6 bình quân là 25-30m3/ha/năm, nếu
được chăm sóc tốt rừng cây bạch đàn có thể cho năng suất 40 m350m3/ha/năm (Nguyễn Thị Lý Anh và cs, 2008)[1].
Loài bạch đàn nói chung rất mau lớn, tán lá hẹp thưa, trồng trong vòng 5, 6

năm thì có chiều cao trên 7m và đường kính thân cây khoảng 9-10 cm. Trước năm


6

1975, người ta đã nhầm lẫn trồng rừng Bạch đàn tập trung thuần loại ở Miền
Trung Việt Nam nhằm mục đích phủ xanh và phủ nhanh đất trống đồi trọc nhưng
kinh nghiệm cho thấy, cây Bạch đàn là loài dễ trồng, ít kén đất tăng trưởng nhanh
nhưng hấp thụ nhiều nước và dưỡng chất trong đất nên nếu trồng tập trung thành
rừng thuần loại trên đất trống đồi trọc vô tình sẽ làm khô cằn và nghèo nàn đất đai
sau một vài chu kì. Do đó, nếu cần phủ xanh đất trống đồi trọc thì chỉ nên trồng
hỗn giao với loài bạch đàn bằng cách loài cây họ Ðậu như Keo lá tràm, Keo tai
tượng hoặc Keo giậu để bù đắp chất đạm cho đất.
Ở Việt Nam, gỗ bạch đàn thường đốn chặt khoảng 5-7 năm để làm cây
chống trong xây dựng và làm bột giấy hay ván dăm bào gọi là ván okal
(panneau de copaux). Bạch đàn có tuổi trên 70-80 năm, cây cao đến 50-60
mét, đường kính trung bình đến cả mét và gỗ được sử dụng đa năng từ làm
bột giấy, ván ép, ván dăm bào, trụ cột cho đến dồ mộc gia dụng, xây cất nhà
cửa cũng như công trình xây dựng nặng (Lê Sơn và cs, 2005)[14].
Đối với trồng rừng sản xuất, tiêu chuẩn quan trọng nhất để chọn cây
trồng rừng là hiệu quả kinh tế. Đối với bạch đàn, tuy có giá trị kinh tế kém
hơn một số cây gỗ quý như cẩm lai, gỗ mật, sao, dầu, giáng hương... song gỗ
dễ tiêu thụ, đưa lại hiệu quả kinh tế nhanh. Ngoài ra chúng còn có một số ưu
điểm khác: Một số cơ sở chế biến gỗ sử dụng gỗ Bạch đàn trong việc trang trí
và đóng các đồ gỗ dùng ở ngoài trời rất bền và tốt, một số loài đoạn thân dưới
cành thẳng, dài, không bị mối mọt, nên được dùng trong xây dựng, ngành
công nghiệp sản xuất giấy (Lê Đình Khả, 2002) [5].
2.3. Khái quát về nuôi cấy mô tế bào thực vật
2.3.1. Sơ lược lịch sử nuôi cấy mô tế bào thực vật
Năm 1838, hai nhà sinh vật học Đức Schleiden và Schwann đã đề xướng

thuyết tế bào và nêu rõ : “Mọi cơ thể sinh vật phức tạp đều gồm nhiều đơn vị nhỏ,
các tế bào hợp thành. Các tế bào phân hoá đều mang các thông tin di truyền có


7

trong tế bào đầu tiên, đó là trứng sau khi thụ tinh, và là những đơn vị độc lập, từ
đó có thể xây dựng lại toàn bộ cơ thể” (Nguyễn Đức Thành, 2000) [18].
Năm 1902, Harberland là người đầu tiên đã quan niệm rằng bất kì một tế
bào nào của cơ thể sinh vật đa bào đều có khả năng tiềm tàng để phát triển thành
một cá thể hoàn chỉnh. Ông đã cho rằng “Bằng nuôi cấy tế bào đã phân lập,
người ta có thể tạo ra các phôi nhân tạo từ các tế bào sinh dưỡng”. Ông cũng đã
tiến hành nuôi cấy mẫu lá của một số cây một lá mầm như: Erythronium,
Tradescantia, tuy nhiên đã không thành công (Vũ Văn Vụ và cs, 2008) [22].
Năm 1922, Kotte, học trò của Harberland và Robbins, người Mỹ, lặp lại
thực nghiệm của Haberland với đỉnh sinh trưởng tách từ đầu rễ một cây hoà
thảo. Trong môi trường lỏng gồm có muối khoáng và glucose, đầu rễ sinh trưởng
khá mạnh, tạo nên một hệ rễ nhỏ mang cả rễ phụ. Tuy nhiên, sự sinh trưởng như
vậy chỉ tồn tại trong một thời gian sau đó chậm dần và dừng lại, mặc dù các tác
giả đã chuyển sang môi trường mới (Nguyễn Đức Thành, 2000) [18].
Năm 1934, được xem là giai đoạn thứ hai của nuôi cấy mô và tế bào
thực vật khi White thành công trong việc duy trì mô rễ cây cà chua trong môi
trường lỏng có chứa muối khoáng, đường saccarozơ và dịch chiết nấm men.
Qua thí nghiệm, ông thấy rằng có thể thay dịch chiết nấm men bằng các
vitamin nhóm B (B1, B3, B6) (Dodd J. H., Roberts L. W, 1999) [24].
Năm 1939, độc lập với Nobercourt, Gautheret cũng đã duy trì được
sinh trưởng của mô sẹo cà rốt trong một thời gian dài. Năm 1941, Van
Overbeek và cộng sự đã phát hiện thấy nước dừa có ảnh hưởng tích cực đến
sự phát sinh phôi và tạo mô sẹo ở cây họ cà (Dodd J. H., Roberts L. W, 1999)
[24]. Cũng trong thời gian này, nhiều chất điều hoà sinh trưởng nhân tạo

thuộc nhóm auxin như NAA, 2,4-D đã được tổng hợp. Nhiều tác giả xác nhận
cùng với nước dừa, 2,4-D và NAA đã giúp tạo mô sẹo thông qua phân chia tế


8

bào ở nhiều đối tượng thực vật mà trước đó rất khó nuôi cấy (Nguyễn Kim
Thanh, 2005) [19].
Năm 1954, Skoog bổ sung chế phẩm ADN chiết từ tinh dịch cá bẹ vào
môi trường nuôi cấy mô thân cây thuốc lá. Ông nhận thấy chế phẩm này có
tác dụng kích thích sinh trưởng mô nuôi cấy rõ rệt. Một năm sau, Skoog và
cộng sự đã xác nhận chất gây ra hiện tượng trên là 6-furfuryl amino purine và
đặt tên là kinetin. Sau đó người ta đã tìm ra và tổng hợp một số chất có tác
dụng kích thích phân bào tương tự như kinetin và cùng với kinetin gọi chung
là nhóm cytokinin. Cytokinin được tách chiết từ thực vật bậc cao đầu tiên là
zeatin có trong mầm ngô. Các hợp chất này có khả năng kích thích sự phân
chia tế bào của các mô đã biệt hoá cao như tế bào thịt lá hoặc nội nhũ của hạt
đã phơi khô (Dodd J. H., Roberts L. W, 1999) [24].
Nhờ nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, Morel (1960) đã tạo ra được các
protocorm (mô sẹo) từ địa lan. Khi để trong các điều kiện nhất định, các
protocorm có thể phát triển thành cây lan con và hoàn toàn sạch bệnh. Cùng năm
đó, Cocking ở trường đại học tổng hợp Nottingham đã thu được các tế bào trần
(protoplast) dùng cho nuôi cấy từ mô thực vật được xử lý với enzym xenlulaza.
Năm 1966, Guha và cộng sự đã tạo được cây đơn bội từ nuôi cấy túi phấn của
cây cà độc dược (Datura inoxia). Việc tạo cây đơn bội thành công ở nhiều loài
thực vật thông qua nuôi cấy bao phấn và hạt phấn đã đóng góp rất lớn cho các
ngiên cứu di truyền và lai tạo giống (Vũ Văn Vụ và cs, 2008) [22].
Từ những năm 1970 trở đi, các nhà khoa học đã chú ý vào triển vọng
của kỹ thuật nuôi cấy protoplast, khi hai tác giả người Nhật Bản là Nagata và
Takebe đã thành công trong việc làm cho protoplast thuốc lá tái tạo được

xenlulozơ. Năm 1978, Melchers và cộng sự đã lai tạo thành công protoplast
của cà chua với protoplast của khoai tây, mở ra một triển vọng mới trong lai
xa ở thực vật (Vũ Văn Vụ và cs, 2008) [22].


9

2.3.2. Khái niệm nuôi cấy mô tế bào thực vật
Nuôi cấy mô tế bào thực vật (plan tissue culture) là kỹ thuận đưa một mô,
bộ phận hoặc tế bào của thực vật vào trong một hệ thống vô trùng có thể kiểm
soát về thành phần chất khoáng, điều hoà sinh trưởng, các chất hữu cơ cung cấp
cho cây, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm để mô, bộ phận đó sinh trưởng, phát triển
theo mục đích của người nuôi cấy (Nguyễn Quang Thạch và cs, 2009)[20].
Các bộ phận được dùng để nuôi cấy có thể là chồi đỉnh, chồi bên, chồi
bất định, bao phấn, bao hoa, phôi và các bộ phận khác như vỏ cây, lá non,
thân mầm…
Ưu điểm chính của nuôi cấy mô là cây mô được trẻ hóa cao độ và có rễ
giống như cây mọc từ hạt, thậm chí không có sự khác biệt đáng kể so với cây
mọc từ hạt. Một ưu điểm khác của nhân giống bằng nuôi cấy mô là có hệ số
nhân giống cao hơn nhân giống bằng hom. Từ một cụm chồi sau một năm
nuôi cấy mô liên tục có thể sản xuất hàng triệu cây con. Hơn nữa, nuôi cấy
mô cũng là một trong những biện pháp làm sạch bệnh. Mặc dù nuôi cấy mô
đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, giá thành cao, song vẫn được nhiều nơi áp dụng,
đặc biệt là phối hợp giâm hom, tạo thành công nghệ mô - hom đang được sử
dụng khá phổ biến trong lâm nghiệp (Lê Đình Khả, 2002)[5]
2.3.3. Cơ sở khoa học của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật
2.3.3.1. Tính toàn năng của tế bào thực vật
Năm 1902, Nhà Sinh lý thực vật học người Đức Haberlandt, đã tiến
hành nuôi cấy các tế bào thực vật để chứng minh tế bào là toàn năng.
Haberlandt cho rằng mỗi tế bào của bất kỳ sinh vật nào cũng đều có

khả năng tiềm tàng để phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Ông nhận thấy,
mỗi tế bào của cơ thể đa bào đều phát sinh từ hợp bào thông qua quá trình
phân bào nguyên nhiễm. Điều đó có nghĩa là mỗi tế bào của một sinh vật sẽ
chứa toàn bộ thông tin di truyền cần thiết của một cơ thể hoàn chỉnh. Khi gặp


10

điều kiện thuận lợi nhất định, những tế bào đó có thể sẽ phát triển thành một
cơ thể hoàn chỉnh.
Năm 1953, Miller và Skoog (Notingham. Unio) đã thành công khi thực
nghiệm tái sinh cây con từ tế bào lá, chứng minh được tính toàn năng của tế
bào. Thành công trên đã tạo ra công nghệ sinh học ứng dụng trong nhân giống vô
tính, tạo giống cây trồng và dòng chống chịu (Vũ Văn Vụ và cs, 2008) [22].
Tính toàn năng của tế bào mà Haberlandt nêu ra chính là cơ sở lý luận
của phương pháp nuôi cấy mô và tế bào thực vật. Cho đến nay, con người đã
hoàn toàn chứng minh được khả năng tái sinh một cơ thể thực vật hoàn chỉnh
từ một tế bào riêng rẽ.
Cơ thể thực vật hình thành là một chính thể thống nhất bao gồm nhiều cơ
quan chức năng khác nhau, được hình thành từ nhiều loại tế bào khác nhau.
Tuy nhiên tất cả các loại tế bào đó đều bắt nguồn từ một tế bào đầu tiên (tế bào
hợp tử). Ở giai đoạn đầu, tế bào hợp tử tiếp tục phân chia hình thành nhiều tế
bào phôi sinh chưa mang chức năng riêng biệt (chuyên hóa). Sau đó, từ các tế
bào phôi sinh này chúng tiếp tục được biến đổi thành các tế bào chuyên hóa
đặc hiệu cho các mô, cơ quan có chức năng khác nhau (Nguyễn Đức Thành,
2000) [18]. Sự phân hóa tế bào là sự chuyển các tế bào phôi sinh thành các tế
bào mô chuyên hóa, đảm bảo các chức năng khác nhau. Quá trình phân hóa tế
bào có thể biểu thị:
Tế bào phôi sinh → Tế bào dãn → Tế bào phân hoá có chức năng riêng biệt
Tuy nhiên, khi tế bào đã phân hóa thành các tế bào có chức năng chuyên,

chúng không hoàn toàn mất khả năng biến đổi của mình. Trong trường hợp cần
thiết, ở điều kiện thích hợp, chúng có thể trở về dạng tế bào phôi sinh và phân
chia mạnh mẽ. Quá trình đó gọi là phản phân hóa tế bào, ngược lại với sự phân
hóa tế bào.


11

Phân hóa tế bào
Tế bào phôi sinh

Tế bào dãn

Tế bào chuyên hóa

Phản phân hóa tế bào
Sơ đồ các giai đoạn phân hóa tế bào
Về bản chất thì sự phân hóa và phản phân hóa là một quá trình hoạt
hóa, ức chế các gen. Tại một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển cá
thể, có một số gen được hoạt hóa (mà vốn trước nay bị ức chế) để cho ta tính
trạng mới, còn một số gen khác lại bị đình chỉ hoạt động. Điều này xảy ra
theo một chương trình đã được mã hóa trong cấu trúc của phân tử ADN của
mỗi tế bào khiến cho quá trình sinh trưởng phát triển của cơ thể thực vật luôn
được hài hòa. Mặt khác, khi tế bào nằm trong một khối mô của cơ thể
thường bị ức chế bởi các tế bào xung quanh. Khi tách riêng từng tế bào
hoặc giảm kích thước của khối mô sẽ tạo điều kiện cho sự hoạt hóa các gen
của tế bào (Nguyễn Đức Thành, 2000), [18].
2.4. Các giai đoạn trong nuôi cấy mô tế bào thực vật
2.4.1. Chuẩn bị mẫu
Mục đích của giai đoạn này là tạo nguồn mẫu sạch để phục vụ cho các

bước tiếp theo. Cây giống được đưa ra khỏi môi trường phân bố tự nhiên để
chúng thích ứng với môi trường mới, đồng thời giảm bớt khả năng nhiễm
bệnh của mẫu nuôi cấy và chủ động trong công tác nhân giống. Trong điều
kiện cần thiết có thể tác động các biện pháp trẻ hóa vật liệu nhân giống hoặc
thụ phấn nhân tạo cho những loài khó thụ phấn trong điều kiện tự nhiên
(Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2000) [12].
2.4.2. Khử trùng mẫu cấy
Mục đích của giai đoạn này là tạo ra các chồi mới từ các mô nuôi cấy.
Khi đã có nguồn nguyên liệu nuôi cấy, cần tiến hành lấy mẫu và xử lý mẫu
bằng hóa chất khủ trùng. Tùy thuộc vào từng loại vật liệu mà chọn hóa chất,


12

nồng độ, thời gian khử trùng thích hợp. Theo nguyên tắc thì lấy bất kỳ bộ
phận nào của cây cũng có thể dùng làm mô nuôi cấy. Nhưng thường lấy mô ở
các phần non (chồi đỉnh, chồi bên) của cây thì cho tỷ lệ nuôi cấy thành công
cao hơn so với lấy mô ở các bộ phận trưởng thành khác (Bhat K. M and H,
2002) [23]. Mẫu trước khi được cấy vào môi trường được rửa nhiều lần bằng
nước sạch, rồi ngâm trong dung dịch khử trùng ở nồng độ và thời gian thích
hợp để làm sạch nguồn bệnh. Trong quá trình khử trùng mẫu phải đảm bảo
không làm ảnh hưởng đến sức sống của mẫu cấy. Tiếp đó cấy mẫu vào môi
trường thích hợp cho từng loại cây. Giai đoạn này kéo dài 4 - 6 tuần (Đặng
Ngọc Hùng, 2009) [4].
Ngoài ra, khi lựa chọn mô nuôi cấy cần chú ý tuổi sinh lý của mô càng
thấp thì độ trẻ hóa càng cao, nuôi cấy dễ thành công. Giai đoạn này cần đảm
bảo các yêu cầu: Mô nuôi cấy có tỷ lệ sống cao, ít nhiễm bệnh, mô tồn tại và
sinh trưởng tốt. Kết quả của giai đoạn này phụ thuộc vào việc lựa chọn bộ
phận nuôi cấy, nên khi lấy mẫu cần đảm bảo các nguyên tắc nêu trên (Đoàn
Thị Mai và cs, 2010) [10].

2.4.3. Tạo chồi và nhân nhanh
Một trong những ưu điểm của phương pháp nuôi cấy mô tế bào so với
các phương pháp khác là hệ số nhân giống cao. Vì vậy, có thể coi đây là giai
đoạn then chốt của toàn bộ quá trình nhân giống. Hệ số nhân nhanh ở giai
đoạn này biến động từ 5 - 50 lần tùy thuộc vào từng loài cây, môi trường nuôi
cấy và điều kiện ngoại cảnh thích hợp (Ngô Xuân Bình, 2010) [2].
Ở giai đoạn này bao gồm nhiều lần cấy chuyền mô lên các môi trường
nhân nhanh nhằm kích thích tạo cơ quan phụ hoặc cấu trúc khác mà từ đó cây
hoàn chỉnh có thể phát sinh. Những khả năng tạo cây đó là:
+ Phát triển chồi nách
+ Tạo phôi vô tính


13

+ Tạo đỉnh sinh trưởng mới
Trong giai đoạn này vai trò của các chất kích thích sinh trưởng (auxin,
cytokinin) là cực kỳ quan trọng để sản sinh ra lượng cây con tối đa mà vẫn
đảm bảo sức sống và bản chất di truyền của cây. Theo nguyên tắc chung thì
môi trường có nhiều Cytokinin sẽ kích thích việc tạo chồi cho cây.
- Bổ sung tổ hợp hormone sinh trưởng mới: tăng cytokinin giảm auxin.
+ Tỷ lệ auxin/cytokinin <1 tăng cường quá trình tạo chồi.
+ Tỷ lệ auxin/cytokinin =1 cân bằng hai quá trình tạo rễ và chồi
+ Tỷ lệ auxin/cytokinin > 1 tăng cường quá trình tạo rễ
- Bảo đảm ở chế độ nhiệt 20 - 270C. Tuy nhiên cần xác định số lần cấy
chuyển hợp lý, bởi vì nếu số lần cấy chuyền quá lớn thì sẽ dẫn tới hiện tượng
cây bị thoái hoá và sinh trưởng kém, có thể mất đi những đặc tính ban đầu của
cây bố mẹ (Đoàn Thị Mai và cs, 2010) [10].
2.4.4. Tạo cây mô hoàn chỉnh
Các chồi hữu hiệu ở giai đoạn nhân nhanh sẽ được cấy chuyển sang

môi trường ra rễ. Thường 2 - 3 tuần các chồi này sẽ xuất hiện rễ và trở thành
cây hoàn chỉnh.
Giai đoạn này bao gồm quá trình kéo dài chồi để tạo kích thước thích
hợp và tạo rễ, tức là quá trình tạo cây hoàn chỉnh. Môi trường lúc này không
cần bổ sung cytokinin mà có thể chỉ bổ sung auxin. Nồng độ auxin tối ưu
được xác định dựa trên tỷ lệ tạo rễ, số lượng rễ và chiều dài rễ.
Giai đoạn ra rễ là giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh có đủ thân, rễ và lá. Giai
đoạn này các chất kích thích tạo chồi và vươn cao của chồi được loại bỏ, thay
vào đó là các chất kích thích ra rễ, do vậy các chất Auxin thường được bổ
sung vào môi trường nuôi cấy mô tế bào. Giai đoạn này không cần sinh
trưởng về chiều cao mà chỉ cần tạo rễ cho chồi nên hàm lượngauxin, đường,


14

các chất khác trong môi trường nuôi cấy cũng được giảm một nửa (Lê Đình
Khả, 2003) [6].
2.4.5. Chuyển cây in vitro ra ngoài vườn ươm
Các bình ra rễ có chồi cây cứng, mập, khỏe đạt tiêu chuẩn nhất định về
hình thái (chiều cao, số lá, số rễ) được mang ra ngoài huấn luyện một thời
gian ở nới sạch sẽ, thoáng gió, tránh ánh sáng mạnh để cây tập thích nghi với
môi trường tự nhiên. Sau đó chuyển cây từ trong bình ra trồng ngoài khay giá
thể, yêu cầu giá thể phải đảm bảo tơi xốp, thoáng nước và sạch. Đặt cây trong
nhà kính hoặc nhà lưới để huấn luyện thêm một thời gian nữa.
Đây là giai đoạn quan trọng bao gồm công việc huấn luyện cây in vitro
thích nghi với điều kiện khí hậu thay đổi: Nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm…và
chuyển từ trạng thái dị dưỡng sang trạng thái tự dưỡng hoàn toàn. Quá trình
thích nghi ở đây phải được hiểu như là quá trình thay đổi những đặc diểm
sinh lý, giải phẫu, của bản thân cây con đó. Thời gian tối thiểu cho sự thích
nghi là 2-3 tuần. Trong thời gian này cây phải được bảo vệ trước những yếu

tố bất lợi như:
+ Mất nước nhanh làm cho cây bị héo khô
+ Nhiễm vi khuẩn và nấm làm cho cây bị héo khô
+ Cháy lá do nắng (Nguyễn Đức Thành, 2000) [18].
2.5. Các nhân tố ảnh hƣởng tới quá trình nhân giống bạch đàn urophylla
2.5.1. Môi trường nghiên cứu
Trong nuôi cấy mô tế bào, môi trường nuôi cấy và điều kiện bên ngoài
được xem là vấn đề quyết định sự thành bại của quá trình nuôi cấy. Môi
trường nuôi cấy được coi là phần đệm cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết
cho sự tăng trưởng và phân hóa mô trong suốt quá trình nuôi cấy. Tùy vào đối
tượng và mục đích nuôi cấy mà sử dụng các loại môi trường khác nhau.
Thành phần môi trường nuôi cấy đều bao gồm các muối khoáng đa lượng, vi


15

lượng, nguồn cacbon, các acid amin và các chất kích thích sinh trưởng (cũng
bổ sung thêm một số chất phụ gia khác như: Than hoạt tính, nước dừa…) tùy
từng loài, giống, nguồn gốc mẫu, cơ quan hay bộ phận trên từng cơ thể mà
dinh dưỡng cần cho sự sinh trưởng tối ưu của chúng cũng khác nhau. Do vậy,
vấn đề lựa chọn môi trường thích hợp cho sinh trưởng, phát triển tối ưu trong
từng giai đoạn của hệ mô trong nuôi cấy mô rất quan trọng. Số lượng, nồng
độ và hàm lượng các loại hóa chất phải có độ chính xác cao và phù hợp cho
từng giai đoạn, đối tượng cụ thể (Đỗ Năng Vinh, 2002) [21].
Môi trường nuôi cấy mô bao gồm các thành phần như:
a) Dinh dưỡng vô cơ
Dinh dưỡng vô cơ được chia ra làm 2 loại: Các nguyên tố dinh
dưỡng đa lượng và nguyên tố dinh dưỡng vi lượng. Trong tự nhiên cây
trồng muốn sinh trưởng và phát triển mạnh thì cần phải lấy từ đất các
nguyên tố sau (Nguyễn Quang Thạch, 2009) [20]:

- Các nguyên tố đa lượng: Các ion của nitơ (N), photpho (P), kali
(K), canxi (Ca), magie (Mg) và lưu huỳnh (S).
- Các nguyên tố vi lượng: Sắt (Fe), niken (Ni), clo (Cl), mangan
(Mn), kẽm (Zn), bo (B), đồng (Cu), và molipden (Mo).
Các nguyên tố trên cùng với cacbon, oxy, hiđro được xem là các
nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu của thực vật.
Nhu cầu của mô thực vật nuôi cấy đối với nguyên tố dinh dưỡng
khoáng khác nhau so với thực vật ngoài đồng ruộng. Hệ rễ thực vật lấy
dinh dưỡng từ đất chủ yếu theo phương thức hấp thu chủ động, còn mô
nuôi cấy dinh dưỡng khoáng từ môi trường theo phương thức hấp thu bị
động là chính. Theo nguyên tắc thành phần môi trường nuôi cấy sẽ được
xây dựng trên thành phần các nguyên tố dinh dưỡng có mặt trong mô. Môi
trường nhân tạo sử dụng phổ biến nhất thường được sử dụng trong nuôi cấy


16

mô, tế bào thực vật là môi trường MS (Murashige và Skoog (1962) cũng
được thiết lập dựa trên nguyên tắc này (Nguyễn Quang Thạch, 2009) [20].
Muối khoáng là thành phần không thể thiếu trong các môi trường cấy tế
bào thực vật, làm vật liệu cho sự tổng hợp các chất hữu cơ, enzyme.
Các ion của muối khoáng hòa tan giúp ổn định áp suất thẩm thấu của
môi trường trong tế bào, duy trì điện thế hóa của thực vật.
Ví dụ: Kali, cacbon rất quan trọng trong điều hòa tính thấm lọc của tế
bào (Đỗ Năng Vinh, 2002) [21].
b) Các vitamin:
Thực vật cần vitamin để xúc tác các quá trình trao đổi chất. Đại đa số
tế bào thực vật nuôi cấy đều có thể tự tổng hợp vitamin cần thiết, nhưng số
lượng thấp, có thể không đủ duy trì sự sinh trưởng của nó. Các vitamin
thường được sử dụng nhiều nhất trong nuôi cấy mô là: Thiamin (vitamin

B1), nicotinic acid, pyridoxine (vitamin B6) và myo-inositol. Vitamin có
tác dụng thúc đẩy sinh trưởng, phát triển của mẫu cấy và trong nhiều
trường hợp nó có vai trò như nguồn cacbon của môi trường nuôi cấy
(Nguyễn Quang Thạch, 2009) [20].
c) Dung dịch hữu cơ:
Có thành phần không xác định như nước dừa, dịch chiết khoai tây, cà
rốt… được bổ sung vào môi trường có tác dụng kích thích sinh trưởng mô sẹo
và các cơ quan. Nước dừa được sử dụng khá rộng rãi trong các môi trường
nhân nhanh in vitro. Trong nước dừa chứa các hợp chất quan trọng trong nuôi
cấy mô như: Myo - inositol, các hợp chất có chứa hoạt tính Auxin, các Gluxit
của Cytokinin. Vì vậy, nước dừa được sử dụng để kích thích phân hóa, nhân
nhanh chồi ở nhiều loại cây như: Hoa cúc, hoa lan, hoa đồng tiền… Nước dừa
thường được sử dụng với nồng độ 5 - 20% thể tích môi trường, kích thích
phân hóa, nhân nhanh chồi(Lê Sơn và cs, 2005)[14].


17

d) Agar:
Agar là một loại polysaccarit của tảo. Agar là chất keo đông thường
được sử dụng nhất, nguồn gốc chủ yếu của nó là rong biển đỏ, là một phức
chất polysaccarit do đường saccaroze và galactose tạo thành. Nồng độ của
thạch dùng trong nuôi cấy thay đổi phụ thuộc vào mục tiêu nuôi cấy
(thường 4-12g/l, trung bình 6-12g/l) nếu nồng độ quá cao môi trường dinh
dưỡng sẽ rất cứng chất dinh dưỡng khó khuếch tán để nuôi dưỡng mô cấy.
Ở 800C thì ngậm nước chuyển sang trạng thái lỏng còn ở 400C thì trở về
trạng thái gel. Khả năng ngậm nước của thạch khá cao: 6-12g/l nước.
Thạch ở dạng gel nhưng vẫn để cho các ion vận chuyển dễ dàng (Nguyễn
Hoàng Lộc, 2006) [7].
e) pH

pH của môi trường là một yếu tố quan trọng. Sự ổn định của pH môi
trường là yếu tố duy trì trao đổi chất trong tế bào. pH của đa số môi trường
được điều chỉnh giữa 5,5-6 trước khi hấp khử trùng. pH < 5,5 làm agar khó
chuyển sang trạng thái gel còn pH > 6 agar có thể rất cứng (Vũ Văn Vụ và
cs, 2008)[22].
f) Các chất điều tiết sinh trưởng
Trong môi trường nuôi cấy mô tế bào thực vật, thành phần phụ gia quan
trọng nhất quyết định kết quả nuôi cấy là các chất điều tiết sinh trưởng. Chúng là
các yếu tố điều khiển sự phát sinh hình thái, tái sinh cây hoàn chỉnh của mô.
Các chất điều tiết sinh trưởng là những chất có tác dụng kích thích sinh
trưởng và phát triển của thực vật. Chúng đóng vai trò quan trọng trong quá
trình sinh trưởng và phát triển của thực vật như: Phân chia, biệt hóa tế bào…
ngoài ra còn ảnh hưởng đến quá trình biệt hóa mô và nhiều quá trình khác.
Các Phytohormon có thể chia thành 5 nhóm: Auxin, Cytokinin, Giberillin,


×