Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

TIỂU LUẬN tác ĐỘNG của KINH tế THỊ TRƯỜNG đến VIỆC xây DỰNG LIÊN MINH CÔNG NÔNG TRÍ THỨC ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (107.54 KB, 16 trang )

1

TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG
LIÊN MINH CÔNG - NÔNG - TRÍ THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức là hình thức hợp tác đặc biệt giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh nhằm đánh
đổ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ mọi áp bức bóc và xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội. Liên minh giai cấp là nhằm xây dựng một cơ cấu xã
hội - giai cấp phù hợp với thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng
thời tạo ra động lực cách mạng to lớn để đưa cách mạng xã hội chủ
nghĩa đến thắng lợi, tạo điều kiện để các giai cấp, tầng lớp xã hội ngày
càng xích lại gần nhau, từng bước khắc phục sự khác biệt, đi đến xóa
bỏ giai cấp, xây dựng xã hội không còn giai cấp.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội vốn là một nước thuộc địa nửa
phong kiến, trải qua ba mươi năm chiến tranh cách mạng, đã đánh bại
những đế quốc to giành độc lập và thống nhất hoàn toàn đất nước, hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhưng nền kinh tế kếm phát triển, lực
lượng sản xuất còn hết sức lạc hậu. Đó là một nền sản xuất qui mô nhỏ,
lao động thủ công còn là phổ biến; nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu kinh tế quốc dân; kinh tế hàng hóa còn sơ khai, kinh tế tư
bản tuy đã có nhưng chưa phát triển; cơ sở hạ tầng của nền kinh tế vốn
đã lạc hậu lại còn bị chiến tranh xâm lược phá hoại... Đi lên chủ nghĩa
xã hội vừa là mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân


2

Việt Nam, vừa là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt
Nam. Do vậy, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành


theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu
khách quan, nhằm tạo ra cơ sở vật chất, tiền đề cho xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Thành tựu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa được Đảng ta khẳng định: Nền kinh tế có bước phát triển mới về
lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế; đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, văn hóa xã
hội không ngừng tiến bộ; thế và lực của đất nước hơn hẳn 10 năm
trước, khả năng độc lập tự chủ được nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Điều đó khẳng định tư duy lý luận
của Đảng cộng sản Việt Nam về mô hình kinh tế tổng quát trong suốt
thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn.
Song, bên cạnh đó mặt trái của cơ chế thị trường đang tác động đến
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt
Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với
bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đó là xu thế phân hóa giàu nghèo quá
mức, là tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền mà chà đạp lên đạo đức,
nhân phẩm...Đi vào kinh tế thị trường, phải đấu tranh khắc phục, hạn
chế tối đa những khuynh hướng tiêu cực đó. Đặc biệt: Sự phân hóa
giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn và giữa các tầng
lớp dân cư tăng nhanh. Đời sống mọt bộ phận nhân dân, nhất là ở một
số vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, vùng đồng bào dân tộc,
còn quá khó khăn. Điều đó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng


3

khối liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nghiên
cứu tác động của mặt trái kinh tế thị trường nhằm đưa ra một số giải

pháp cơ bản cho việc xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vững chắc, thực sự là nền tảng
của xã hội, là động lực to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sự phát triển quá
độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Nước ta quá
độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước vốn là thuộc, địa nửa phong kiến,
nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, kếm phát triển, sản xuất nhỏ là phổ
biến; đất nước lai trải qua hàng mấy chục năm chiến tranh ác liệt tàn
phá, rồi thiên tai bão lụt liên miên. Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự chuyển biến về chất trên tất
cả các lĩnh vực là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trong
suốt một thời gian dài chúng ta duy trì kinh tế tập trung, kế hoạch hóa,
bao cấp. Mô hình này đã thu được kết quả hết sức quan trọng, đặc biệt
là trong thời kỳ đất nước có chiến tranh. Sau khi thống nhất đất nước,
mô hình này bộc lộ nhiều hạn chế mà nguyên nhân sâu xa là bệnh giáo
điều, chủ quan, duy ý chí, đơn giản, nóng vội không tôn trọng khách
quan, không phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Trên cơ sở đổi mới tư
duy, đổi mới nhận thức, Đại hội VI (12/1986) của Đảng đã đề ra đường
lối đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội đã đưa ra những quan niệm mới


4

về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt về cơ
cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và
thị trường, triệt để xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển
sang hoạch toán kinh doanh. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
với nhiều hình thức kinh doanh, coi trọng việc kết lợi ích cá nhân, tập
thể và xã hội, chăm lo việc phát huy nhân tố con người. Qua quá trình

tìm tòi và thử nghiệm, đại hội IX của Đảng đã khẳng định phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược
nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế
tập thể là nền tảng vững chắc, là đòn bẩy cho điêù tiết tiết kinh tế vĩ mô
nền kinh tế của nhà nước. Đại hội IX của Đảng xác định có sáu hình
thức tổ chức kinh doanh cùng tồn tại, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh,
đó là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế
tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư ở nước
ngoài. Như vậy, đối với nền kinh tế có cơ cấu đa dạng, phong phú sẽ có
xã hội – giai cấp đa dạng phức tạp luôn vận động và biến đổi cùng sự
vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế. Với một cơ cấu xã hội – giai
cấp đa dạng, trong thời kỳ quá độ diễn ra hai xu hướng chủ đạo, đó là:
xu hướng xích lại gần nhau và xu hướng phân tầng, phân hóa giữa các
giai tầng xã hội. Có thể nói rằng: xu hướng xích lại gần nhau đó là ý
muốn chủ quan của Đảng cầm quyền trong xây dựng trong việc xây


5

dựng khối liên minh giai cấp giữa các giai tầng trong xã hội; còn xu
hướng phân tầng, phân hóa là sự vận động khách quan chịu sự chi phối
của nền kinh tế. Như vậy, một trong những vấn đề nảy sinh của từ mặt
trái của kinh tế thị trường là xu thế phân hóa giàu nghèo quá mức đang
có chiều hướng gia tăng trong thực tế. Xu thế đó đang diễn ra với một
diện rộng trên phạm vi cả nước, giữa các miền các vùng dân cư, giữa
thành thị và nông thôn, giữa các giai cấp, giữa các tầng lớp.
Trong xã hội, sự chênh lệch về mức sống, và thu nhập là chuyện

đương nhiên trong thời kỳ quá độ, như sự phân hóa về thu nhập và mức
sống dẫn đến một bộ phận giàu lên nhanh chóng, trở thành tầng lớp
thượng lưu của xã hội và số đông dân cư nghèo đói thì tất yếu sẽ phân
hóa xã hội thành hai cực đối lập. Sự phân hóa giàu nghèo làm tăng
nhanh sự chênh lệch quá mức về thu nhập và mức sống giữa các giai
cấp, các tầng lớp, các nhóm xã hội và ngay trong mỗi bản thân giai cấp,
tầng lớp xã hội. Sự phân hóa về thu nhập và mức sống sẽ dần dần kéo
theo sự phân hóa về văn hóa, lối sống trong các giai cấp và tầng lớp, từ
đó làm nảy sinh các mâu thuẫn trong xã hội. Chính vì vậy, sự phân hóa
giàu nghèo tăng nhanh sẽ dẫn tới làm lỏng lẻo liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, ảnh hướng đến
việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sự phân tầng, phân hóa không chỉ diễn ra trong các giai tầng
trong xã hội, mà ngay trong một giai cấp cũng diễn ra sự phân hóa sâu
sắc trong nền kinh tế thị trường. Trước hết, xét trong nội bộ giai cấp
công nhân, giai đoạn hiện nay có một bộ phận công nhân do có sở hữu


6

công nghiệp (mua cổ phần của xí nghiệp đã cổ phần hóa) và đặc biệt do
công nghệ thông tin phát triển, nền kinh tế tri thức bắt đầu hình thành
cho ra đời một số công nhân tri thức, có sở hữu trí tuệ làm ra nhiều của
cải. Họ có tư hữu, không những không còn là vô sản, mà còn được
hưởng một phần giá trị thặng dư do công nhân sản xuất. Cùng với một
bộ phận công nhân trên, còn có một bộ phận trong giai cấp công nhân
khác mở xưởng sản xuất, trở thành “ông chủ” có công nhân làm thuê.
Quan hệ mang tính đẳng cấp sẽ xuất hiện trong một bộ phận giai cấp
công nhân, làm cho sự phân hóa tính không đồng nhất trong đội ngũ
này ngày càng gia tăng. Ngoài ra, sự đa dạng, không thuần nhất của

giai cấp công nhân còn xét đến quy mô tổ chức sản xuất và trình độ sản
xuất của các cơ sở sản xuất công nghiệp. Có cơ sở sản xuất với hàng
ngàn công nhân, nhưng cũng có cơ sở sản xuất chỉ có vài chục, vài
trăm công nhân. Có cơ sở sản xuất được đầu tư trang bị máy móc, thiết
bị tự động hóa cao, nhưng cũng không ít cơ sở sản xuất theo phương
pháp thủ công, với máy móc trang bị lạc hậu. Về thành phần kinh tế, có
cơ sở sản xuất công nghiệp khu vực quốc doanh, có cơ sở thuộc tư
nhân, tư bản nước ngoài (ngoài quốc doanh). Như vậy, người công
nhân ở các lĩnh vực khác nhau, thành phần kinh tế khác nhau, trình độ
và quy mô khác nhau sẽ có sự chênh lệch về mức độ hưởng thụ vật
chất và tinh thần, đồng thời chịu sự may rủi về phương diện xã hội ở
mức độ khác nhau. Công nhân ở các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh
sẽ chịu sự may rủi lớn hơn công nhân trong các doanh nghiệp nhà
nước. Điều đặc biệt quan tâm nữa là ngoài sự may rủi của cơ chế thị


7

trường còn có thể bị “tha hóa” trước tác động của cơ chế thị trường.
Trong sự may rủi của cơ chế thị trường, có xí nghiệp doanh thu lớn,
cũng không có ít xí nghiệp bị phá sản, đóng cửa. Điều đó đã, đang và
sẽ xảy ra, vấn đề thất nghiệp, không có công ăn việc làm, tha hóa về
phẩm chất giai cấp, đạo đức, lối sống. Trong cơ chế thị trường, sự cạnh
tranh về lao động và việc làm rất gay go, quyết liệt, việc sa thải sẽ
không tránh khỏi dẫn đến sự sa thải của một bộ phận công nhân cũng là
không tránh khỏi. Tất cả những điều trên, làm cho nội bộ giai cấp công
nhân biến đổi sâu sắc về mọi mặt. Một bộ phận giai cấp công nhân giàu
lên nhanh chóng, đồng thời số đông giai cấp công nhân chỉ đủ duy trì
cuộc sống, một bộ phận không bảo đảm cho cuộc sống tối thiểu. Như
vậy, để giai cấp công nhân giữ vững vai trò tiên phong, lực lượng đi

đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hạt nhân vững chắc
của khối liên minh công nhân – nông dân – trí thức, nền tảng của chế
độ xã hội chủ nghĩa và của khối đại đoàn kết toàn dân - đây là vấn đề
nan giải, khó khăn, phức tạp.
Sự phân hóa, phân tầng xét trong mối quan hệ giữa các giai tầng
trong khối liên minh; cụ thể là giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông
dân. Thực tế cho chúng ta thấy, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa hiện nay; tuy đã chú trong đến hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn. Song điều này chưa được thực thi trên thực tế, có chăng
cũng chỉ ở một số nơi, còn lại phần lớn là nông thôn, miền núi trình độ
sản xuất còn quá thấp kém. Quá trình sản xuất sức người là chủ yếu,
hiệu quả sản xuất không cao, sản phẩm làm ra không có nơi tiêu thụ, do


8

đường xá đi lại, do chưa có nhà máy chế biến. Do vậy, ngày công lao
động của người dân rất thấp. Trong khi đó, lĩnh vực công nghiệp vừa
được trang bị máy móc, lại thuận lợi cho giao thông do vậy, hiệu quả
lao động lớn hơn, sản phẩm làm ra kết tinh trí tuệ nhiều hơn, giá thành
cao hơn. Như vậy, sự trao đổi sản phẩm trong công nghiệp và nông
nghiệp bất lợi cho giai cấp nông dân, những bất đồng lợi ích đó không
thể là cơ sở cho mối liên minh vững chắc được.
Đảng ta xác định đường lối kinh tế là: Đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở
thành một nước công nghiệp, trong điều kiện khoa học và công nghệ
phát triển mạnh mẽ, sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tri thức. Đội
ngũ trí thức được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Khuyến khích tự do,
sáng tạo, phát minh cống cống hiến. Phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng
đúng và đãi ngộ xứng đáng các tài năng Do vậy, đã phát huy được

tính năng động sáng tạo của đội ngũ trí thức trong phát minh, sáng
chế, ứng dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất. Song trên thực
tế, nền kinh tế thị trường sơ khai, kiểu làm ăn chụp giựt của một số
doanh nghiệp như: ăn cắp bản quyền, sao chép mẫu mã làm cho sở
hữu trí tuệ không được bảo đảm gây mất đoàn kết giữa các nhà doanh
nghiệp với các nhà khoa học. Đây cũng là vấn đề đáng được quan tâm
của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết hài hòa lợi ích giữa các
giai tầng trong xã hội, nhằm đạt được sự thống nhất cao trong xây
dựng khối liên minh giai cấp.


9

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm phát
triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất –
kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Song nền
kinh tế thị trường nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh
tế ở trình độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn, hướng tới chế độ
xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Hơn nữa đây là nền kinh tế sơ
khai, chưa có tiền lệ trong lịch sử, ngoài những thành tựu to lớn đã đạt
được, không tránh khỏi những khiếm khuyết và những tác động tiêu
cực. Trong phạm vi bài viết chỉ mới đề cập đến một số tác động tiêu
cực ảnh hưởng đến quá trình xây dựng khối liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Tuy có khái quát ở
các khía cạnh khác nhau, song chung quy lại đều bắt nguồn từ sự phân
hóa giàu, nghèo quá mức trong xã hội, đây là ảnh hưởng lớn nhất đến
quá trình xây dựng khối liên minh giai cấp, các tác động khác thực chất
cũng đều dẫn đến phân hóa giàu, nghèo giữa các giai tầng trong xã hội
mà thôi. Xét về thực chất đó là sự bất đồng về lợi ích giữa các giai tầng
trong xã hội – trở ngại lớn nhất cho xây dựng khối liên minh giai cấp.

Củng cố tăng cường liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở nước ta trong giai đoạn hiện nay,
cần tập trung giải quyết tốt một số giải pháp cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống chính trị thực sự dân chủ. Hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa là thành quả cách mạng của toàn thể nhân
dân lao động mà nền tảng của nó là khối liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đây là thể chế chính trị


10

và tổ chức chính trị của nhân dân lao động thực hiện việc cải tạo xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới phục vụ lợi ích của chính ngay nhân dân lao
động. Đòng thời hệ thống chính trị là cơ sở chính trị bảo đảm cho quá
trình liên minh ngày càng đúng hướng và không ngừng phát triển. Xây
dựng hệ thống chính trị thực sự dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động
lực, là điều kiện thiết yếu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có phát
huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, mới bảo đảm quyền dân chủ về chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội…của nhân dân thì mới tăng cường được đoàn
kết toàn xã hội. Phát huy dân chủ đúng đắn sẽ phát huy được trí tuệ,
năng lực sáng tạo và nhiệt tình cách mạng của các giai tầng trong xã
hội. Dân chủ còn là biện pháp đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng,
tiêu cực xã hội, nguyên nhân của phân hóa giàu nghèo nhanh chóng
trong xã hội. Để xây dựng được hệ thống chính trị thực sự dân chủ, cần
làm tốt một số nội dung cơ bản sau:
-Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, đặc biệt
là sự lãnh đạo của các đảng bộ, chi bộ ở những vùng nông thôn, miền
núi.
- Không ngừng nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước xã hội
chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.

- Củng cố và phát huy vai trò các tổ chức chính trị – xã hội. Điều
đó vừa thể hiện ý chí, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, vừa là
nơi thể hiện nhu cầu lợi ích của họ, đồng thời là nơi phát huy quyền
dân chủ trực tiếp của nhân dân lao động.


11

Thứ hai, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Đây là cơ sở kinh tế cơ bản vững chắc của khối liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện và con đường cơ bản để phát triển
giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng, đồng thời phát triển
mạnh mẽ lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân. Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa còn tạo ra những tiền đề, điều kiện để xây dựng nền
nông nghiệp hiện đại và xây dựng nông thôn mới, tạo chất keo gắn bó
quyền lợi giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, phát huy sức
mạnh trí tuệ của nhân dân lao động. Tập trung làm tốt một số nội dung
cụ thể sau:
- Xác định tiềm năng, bước đi, vị trí của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn.
- Xây dựng một cơ cấu kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, khoa
học công nghệ hợp lý, cùng nhau phát triển. Trong quá trình liên kết,
liên doanh sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, trong trao đổi
hàng hóa phải tạo động lực căn bản để giai cấp công nhân, giai cấp
nông dân, đội ngũ trí thức yên tâm sản xuất liên kết lâu dài.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải giải quyết tốt mối quan hệ
giữa: nhà nông, nhà khoa học, nhà quản lý và nhà doanh nghiệp.
Thứ ba, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và

xây dựng nông thôn mới.


12

Điều này vừa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa vừa là phương hướng quan trọng để xây dựng một cơ cấu
kinh tế hợp lý để phát triển công nghiệp, nhằm xóa bỏ sự khác biệt giữa
thành thị và nông thôn, giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức. Đây cũng là những điều kiện quan trọng để đội ngũ trí
thức quan hệ chặt chẽ với giai cấp nông dân, phục vụ giai cấp nông
dân, giải quyết tốt mối quan hệ giữa “bốn nhà” trong quá trình phát
triển kinh tế. Cần tập trung làm tốt một số nội dung sau:
- Từng bước xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông
thôn phù hợp. Thực hiện có hiệu quả các hình thức kinh tế.
- Từng bước đưa nông dân vào con đường hợp tác hóa, thực hiện
nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, cùng có lợi.
- Chú trọng xây dựng chi bộ, chính quyền ở nông thôn vững
mạnh, giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước và nông dân, bảo đảm
lợi ích chính đáng cho người nông dân trong suốt thời kỳ quá độ.
Thứ tư, thực hiện chính sách giai cấp, chính sách xã hội đúng
đắn, được thực thi trên thực tế.
Chính sách giai cấp thực chất là nhằm xây dựng cơ cấu xã hội –
giai cấp theo ý muốn chủ quan của Đảng cầm quyền. Xây dựng cơ cấu
xã hội – giai cấp bao gồm công nhân, nông dân và trí thức thì phải có
chính sách đúng, phù hợp động viên khuyến khích được các giai tầng
đó phát triển, đủ sức vươn lên làm chủ xã hội, thực sự là nền tảng vững
chắc của xã hội.



13

Chính sách xã hội nhằm quan tâm đến mọi thành viên trong xã
hội có đủ điều kiện vươn lên làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, khắc
phục được những phân hóa quá mức mà thực tiễn xã hội đang diễn ra.
Thực hiện phân phối và phân phối lại có hiệu quả. Trong quá trình cách
mạng phải chú trong đổi mới và hoàn thiện các chính sách cụ thể đối
với các giai tầng, các dân tộc bảo đảm quyền lợi và trách nhiệmcông
dân. Cần tập trung vào một số nội dung cụ thể sau:
- Coi trọng phát triển cả về số lượng và chất lượng giai cấp công
nhân, nâng cao giác ngộ bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, thực hiện “trí thức hóa công nhân”.
- Tạo các nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, phát triển nông thôn, phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện,
tiêu thụ sản phẩm và bảo hiểm sản xuất, giải quyết việc làm, xóa đói
giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí và xây dựng nông thôn
mới.
- Tạo các điều kiện thuận để trí thức tự do sáng tạo, phát minh
cống hiến, sử dụng đúng và đãi ngộ chính đáng các tài năng.
- Quan tâm giải quyết các chính sách xã hội cho các đối tượng,
chấn chỉnh các hoạt động, các dịch vụ xã hội, khuyến khích các hoạt
động từ thiện, đền ơn đáp nghĩa của các cá nhân, tổ chức và các doanh
nghiệp.
Thứ năm, xây dựng và thực hiện chiến lược giáo dục đào tạo phù
hợp, hiệu quả.


14

Đây là cơ hội chung cho tất cả các giai tầng trong xã hội vươn lên

nắm bắt khoa học, công nghệ, nâng cao trình độ mọi mặt, làm chủ bản
thân, làm chủ xã hội, tạo ra các cơ hội như nhau đối với mọi thành viên.
Thứ sáu, tăng cường công tác đấu tranh chống quan liêu, tham
nhũng, đặc quyền, đặc lợi.
Tham nhũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
sự phân hóa giàu nghèo quá mức, song vấn đề quan trọng hơn là nó
làm giảm lòng tin của quần chúng vào cơ quan lãnh đạo, quản lý. Tham
nhũng là bệnh của những người có quyền, lợi dụng quyền lực và lòng
tham. Tham nhũng được hình thành trên ba yếu tố: lạm dụng quyền
lực, lòng tham vị kỷ và lợi dụng kẻ hở của cơ chế, chính sách. Nền kinh
tế thị trường sơ khai với nhiều kẻ hở cho bọn cơ hội luồn lách, vì động
cơ xấu lợi dụng kẻ hở của cơ chế, chính sách lạm dụng quyền lực để
mưu cầu riêng. Đồng thời với việc tôn trọng và khuyến khích làm giàu
chính đáng, cũng từ đó đồng tiền trở thành thần tượng, hưởng thụ vật
chất trở thành khát vọng của nhiều người. Nên không ít người lao vào
làm giàu (kể cả làm giàu không chính đáng), lợi dụng cá nhân để phát
triển thành chủ nghĩa cá nhân của một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó
nảy sinh tiêu cực vì tiền tài, danh vọng, địa vị. Để làm tốt công tác đấu
tranh chống tham nhũng làm tốt các nội dung sau:
- Xây dựng hoàn chỉnh bộ luật chống tham nhũng, cơ chế giám
sát, đánh giá, lựa chọn cân nhắc cán bộ.
- Xây dựng, phát huy và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
để quần chúng thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của mình.


15

- Coi trọng đấu tranh tự phê bình và phê bình thẳng thắn.
Xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đọi ngũ trí thức là nhằm xây dựng một cơ cấu xã hội – giai

cấp phù hợp với thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện
nay. Các chính sách giai cấp của Đảng cũng nhằm để xây dựng khối
liên minh, xây dựng cơ cấu xã hội – giai cấp. Đoàn kết toàn dân tộc nói
chung và đoàn kết khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức nói riêng, đều xuất phát trên cơ sở thống
nhất mục tiêu, lợi ích cơ bản, đó là cơ sở của khối đại đoàn kết toàn
dân, của dân tộc, tìm ra một tiếng nói chung trong quá trình cải tạo xã
hội cũ, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Song mặt trái
của cơ chế thị trường tác động dến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong
đó có bất đồng về lợi ích - đây là cản trở lớn đến việc xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân của nước ta mà nền tảng là khối liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Xây dựng một cơ cấu xã hội – giai cấp
thuần nhất, không còn giai cấp là mục tiêu hướng tới chủ nghĩa xã hội.
Song, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì còn tồn tại cơ cấu
xã hội – giai cấp đa dạng và phức tạp là tất yếu bởi sự chi phối của cơ
cấu kinh tế đa dạng. Nghiên cứu nó để đề ra giải pháp hữu hiệu nhằm
tác động theo hướng tích cực là việc làm cần thiết đối với mọi đảng
cầm quyền, nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích lâu dài của giai cấp cầm
quyền.


16



×