CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT
NAM.
GS,TS. Trịnh Quốc Tuấn
Chủ nghĩa Mác - Lênin với ba bộ phận cấu thà nh - Triết học Mác - Lênin, Kinh
tế chính trị học Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học - là cơ sở lý luận, phương
pháp luận để nhận thức về con đường cách mạng nói chung của nước ta. Đó là lý
luận khoa học và cách mạng. Do đó không ngừng phát triển là phương thức tồn tại
của nó, nhờ đó nó luôn tiềm tàng sức sống và phát huy tác dụng trong những điều
kiện rất đa dạng phức tạp, trong cả những tình huống thuận lợi và khó khăn, cao trào
hay thoái trào của cách mạng. Chủ nghĩa Mác - Lênin có lịch sử hình thà nh và phát
triển sinh động hơn tất cả mọi học thuyết đã có trong lịch sử. Các học thuyết khác (kể
cả Nho giáo đã có hàng ngàn năm tồn tại) càng phát triển càng xa rời tính nhân bản
ban đầu do ngày càng bị chi phối bởi tư tưởng của giai cấp bóc lột thống trị; ngược
lại chủ nghĩa Mác - Lênin mỗi lần tự cách tân là mỗi lần tự hoàn thiện thêm tính khoa
học và cách mạng và càng trở nên một học thuyết đáp ứng nhu cầu bức thiết của thực
tiễn cuộc sống. Do đó, người nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin phải trau dồi, rèn
luyện tư duy phát triển. Ai “thiểu năng” về mặt này nên tìm nghề khác. Điều này có
thể kiểm chứng.
Khi dự báo về xã hội XHCN tương lai C.Mác và Ph.Ăngghen đã dựa vào kết
quả của sự phân tích khoa học về bản chất và xu thế phát triển... của CNTB để từ đó
hình dung những nét cơ bản sau đây về xã hội sẽ thay thế nó tức là xã hội XHCN:
Một là, sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất được xem là “tiền đề thực tế tối cần
thiết” để xây dựng XHCN. Điều này được hai Ông nhấn m ạnh đến mức chỉ ra rằng,
nếu không có tiền đề vật chất đó thì xã hội mới chỉ được hình dung trên lý luận thuần
túy, sẽ hoàn toàn không tưởng còn trong thực tế vẫn chỉ có đói nghèo tràn lan. Trong
tình trạng đói nghèo đó sẽ lặp lại cuộc đấu tra nh giành giật nhu yếu phẩm và mọi hiện
tượng thối nát, hư bại lại phục hồi như cũ.
Hai là, xã hội tố chức sản xuất trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Đây là điều khác biệt căn bản với xã hội tư bản.
Ba là, thỏa mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội. Mục đích xây dựng xã
hội xã hội chủ nghĩa là để toàn dân sống tốt hơn.
Bốn là, thực hành phân phối theo lao động (ở giai đoạn thấp) và phân phối theo
nhu cầu (ở giai đoạn cao).
Năm là, hình thức tổ chức của xã hội (ở giai đoạn cao) là khối liên hiệp những
người lao động tự do. “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng
giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi
người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người”1.
Đọc các tác phẩm của V.I.Lênin chúng ta thấy những năm trước Cách mạng
Tháng Mười Nga, V.I.Lênin đã tiếp thu toàn diện các quan điểm cơ bản của C.Mác
và Ph.Ăng ghen về xã hội XHCN và đã thể hiện các quan điểm đó trong các văn bản
có tính cương lĩnh nói về triển vọng XHCN của nước Nga. Nhưng sau Cách mạng
Tháng Mười, trải qua thực tiễn mấy năm xây dựng chế độ XHCN, ở nước Nga còn
lạc hậu về kinh tế, văn hóa, tuy CNXH đã phát triển ở mức trung bình, nhưng tàn tích
của chế độ phong kiến còn rất nặng nề. V.I.Lênin cảm nhận sâu sắc rằng, quan điểm
của ông về CNXH đã thay đổi căn bản, ông viết, “Chúng ta buộc phải thừa nhận là
toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản” 2 và ông
giải thích thêm "Sự thay đổi căn bản ấy là ở chỗ: trước đây chúng ta đã đặt và không
thể không đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào đấu tranh chính trị, vào cách
mạng, vào việc giành lấy chính quyền v..v... Ngày nay trọng tâm ấy đã chuyển sang
công tác hòa bình tổ chức “văn hóa”"3 (chữ văn hóa Ông để trong ngoặc kép).
1C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 4, tr.628.
2V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến Bộ. M.1978, tập 45, tr.428.
3V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến Bộ. M.1978, tập 45, tr.428.
Quan điểm, lý luận của V.I.Lênin về CNXH thời kỳ này tập trung vào các
phương diện:
Thứ nhất, áp dụng chính sách kinh tế nhiều thành phần để kích thích phát triển
sản xuất; vận dụng quy luật giá trị, quan hệ hàng hóa - tiền tệ và những phạm trù liên
quan đến nó như giá cả, lợi nhuận, hạch toán kinh tế trong sản xuất lưu thông và lấy
việc khuyến khích vật chất làm động lực phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao
động. Trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết” V.I.Lênin dành
một tiết bàn riêng về nâng cao năng suất lao động, trong đó chỉ rõ: “Trong bất cứ
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào, khi giai cấp vô sản đã làm xong nhiệm vụ
giành được chính quyền rồi, và trong chừng mực mà nhiệm vụ tước đoạt những kẻ đi
tước đoạt và nhiệm vụ đập tan sự phản kháng của chúng đã được hoàn th ành trên
những nét chủ yếu và căn bản - thì tất nhiên có một nhiệm vụ căn bản khác được đề
lên hàng đầu, đó là: thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản, nghĩa là
nâng cao năng suất lao động và do đó (và nhằm mục đích đó) phải tổ chức lao động
theo một trình độ cao hơn”4.
Thứ hai, xây dựng hợp tác xã như một hình thức của nền kinh tế XHCN.
Thứ ba, khắng định vai trò to lớn của cách mạng văn hóa trong việc tạo ra tiền
đề rất quan trọng để nước Nga lạc hậu đi lên CNXH.
Thứ tư, đối mới bộ máy Nhà nước trong cơ cấu nền dân chủ XHCN, kiện toàn
pháp luật tạo điều kiện cho những người lao động tham gia ngày càng nhiều và càng
có ý nghĩa quyết định trong việc giám sát bộ máy nhà nước, đấu tranh chống chủ
nghĩa quan liêu, tệ nạn hối lộ.
V.I.Lênin có công lao rất lớn trong việc bảo vệ và phát triển sáng tạo lý luận về
CNXH. Trong mọi thời kỳ, Người không bao giờ xem lý luận này như cái gì đã xong
xuôi và không thể sửa chữa. Ngược lại, tự bản thân mình và Người đòi hỏi những
lãnh tụ cộng sản khác tìm cách vận dụng sáng tạo học thuyết này vào cuộc sống và từ
4V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến Bộ. M.1977, tập 36, tr.228.
sự khái quát thực tiễn cuộc sống góp phần bố sung làm phong phú thêm lý luận về
CNXH.
V.I.Lênin mất sớm làm cho những sáng kiến có ý nghĩa mở ra một giai đoạn
phát triển mới của CNXH không được thực hiện.
J.Stalin đã sáng lập ra một hình thức thực tiễn của CNXH mà có người gọi là
“mô thức Stalin”. Được hình thành trong điều kiện bao vây, cấm vận rất gay gắt của
chủ nghĩa đế quốc, và nguy cơ chiến tranh luôn rình rập nhưng việc hiện thực hóa
mô thức đó đã cho những kết quả to lớn. Trong khoảng thời gian tương đối ngắn tạo
ra cơ sở vật chất cho CNXH ở Liên Xô để chiến thắng chủ nghĩa phát xít. Nhưng mô
thức đó cũng mang nhiều thiếu sót, khuyết tật, càng ngày càng bộc lộ và cuối cùng
dẫn tới sự sụp đố chế độ XHCN ở Liên Xô. Ngày nay với tư duy đối mới về CNXH,
chúng ta nhìn thấy rất rõ những khuyết tật đó.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, CNXH hiện thực từ phạm vi một nước (Liên
Xô) lan ra nhiều nước (13 nước) và trở thành hệ thống XHCN thế giới. Chủ nghĩa
Mác-Lênin và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế bước vào thời kỳ phát triển
mạnh mẽ. Lịch sử đã bắt đầu tiến triển theo chiều hướng có lợi cho CNXH, bất lợi
cho CNTB. Những bước tiến to lớn đó đặt ra cho CNXH thế giới một loạt vấn đề,
trong đó nối bật là vấn đề: làm thế nào để kết hợp quy luật phố biến mà chủ nghĩa
Mác - Lênin đã nêu ra. Với hoàn cảnh thực tiễn đặc thù của mỗi nước, tìm tòi con
đường cách mạng và xây dựng CNXH mang mầu sắc riêng của từng nước. Chính
trong quá trình xử lý vấn đề quan trọng này, các Đảng cộng sản đã có nhiều kinh
nghiệm thành công, đồng thời cũng để lại nhiều bài học về sự thất bại.
Vào thời gian đó, trong hàng ngũ những nhà lãnh đạo quốc tế cộng sản và lãnh
đạo các nước XHCN (nhiều nước trong đó đến lúc ấy vẫn tự gọi là nhà nước dân chủ
nhân dân) xuất hiện hai chủ trương khác nhau xung quanh vấn đề tiến lên CNXH
như thế nào và triển khai công cuộc xây dựng CNXH ở mỗi nước ra sao. Chủ trương
thứ nhất là đi theo con đường Liên Xô, cho rằng mô hình và kinh nghiệm của Liên
Xô có tính phổ biến. Chủ trương thứ hai là đi con đường của riêng mình, nhấn mạnh
đặc điểm của đất nước và dân tộc mình.
Trong thời gian trước chiến tranh lạnh, Liên Xô tỏ ra không muốn áp đặt kinh
nghiệm cách mạng và chế độ XHCN của mình cho các nước khác, do vậy mà chủ
trương thứ hai đã từng một thời chiếm vị trí chủ đạo trong các nước XHCN Đông
Âu5.
Nhưng khi xẩy ra chiến tranh lạnh, nhằm chống lại có hiệu quả các thế lực phản
động phương Tây do Mỹ cầm đầu, Liên Xô bắt đầu đòi hỏi các nước Đông Âu phải
hướng về Liên Xô, duy trì sự nhất trí với Liên Xô. Trong tình hình đó, nhiều nhà
lãnh đạo của các nước đã từng tán thành chủ trương thứ hai đã thay đổi thái độ. Họ
bắt đầu nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của việc học tập Liên Xô, đi theo mô
thức Liên Xô.
Tuy thế, riêng Liên đoàn những người cộng sản Nam Tư do G.B Titô lãnh đạo
thì từ cuối 1940 đã chủ trương đi con đường riêng của mình. Tháng 6 năm 1950,
Nghị viện Liên bang Nam Tư thông qua “Đạo luật cơ bản về giao quyền tập thể cho
công nhân quản lý các xí nghiệp và các tổ chức kinh tế của nhà nước” 6. Từ thời điểm
này, Nam Tư bắt đầu thực hiện “công nhân tự quản”, tiến hành cải cách, phân quyền
và dân chủ hóa chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, đi theo con đường xây dựng CNXH
khác hắn Liên Xô. Liên Xô đã tăng sức ép, buộc Nam Tư từ bỏ con đường đã lựa
chọn, khi biện pháp đó không có hiệu quả, Liên Xô đã cắt đứt mọi quan hệ với Nam
Tư.
Cuộc xung đột về quan điểm, đường lối giữa Liên Xô và Nam Tư tác động đến
nhiều nhà lãnh đạo các nước XHCN làm cho chủ trương “đi theo con đường của
mình” có thời gian tạm lắng xuống. Mặc dù vậy, xu hướng tìm “con đường riêng của
mình” vẫn được nuôi dưỡng bởi các lãnh tụ của một số Đảng cộng sản ở các nước
XHCN, hễ có cơ hội là bộc lộ. Ở Bungari, G.H.Đimitrôp đã nhiều lần tuyên bố: vấn
5Xem: Lịch sử chủ nghĩa Mác, Nxb CTQG. H.2003, tập III. tr.877 (dịch từ sách Trung Quốc).
6Sách đã dẫn, tr.879.
đề quá độ lên CNXH không nên bắt chước mô hình Liên Xô, mà nên xuất phát từ
thực tế của đất nước để đi con đường riêng của mình, theo Ông, căn cứ vào điều kiện
lịch sử, dân tộc, văn hóa và những điều kiện khác của đất nước để xây dựng CNXH
là nguyên tắc cơ bản phải được tôn trọng. Tại Tiệp Khắc, G.Gốtvan cho rằng: con
đường của Liên Xô không thích hợp với Tiệp Khắc, vì công nghiệp của Tiệp Khắc
tương đối phát triển, trình độ chính trị và văn hóa của Tiệp Khắc tương đối cao,
không cần thiết sao chép kinh nghiệm và mô hình Liên Xô.
Trong Hội nghị trung ương 8 khóa II, Đảng công nhân thống nhất Ba Lan
W.Gômunka vạch rõ: “Trong chủ nghĩa xã hội, cái vĩnh viễn không thay đổi là xóa
bỏ người bóc lột người, nhưng con đường để thực hiện mục tiêu đó có thể không
giống nhau, vì thời gian và địa điểm khác nhau. Hình thức xã hội chủ nghĩa cũng có
thể không giống nhau, nó có thể là hình thức của Liên Xô, cũng có thể là hình thức
mà chúng ta thấy ở Nam Tư, hay cũng có thể là một hình thức khác”7. Ông đặc biệt
nhấn mạnh: “Con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của Ba Lan cần phải được xây
dựng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản, phố biến mà mỗi nước đều có. Trên ý
nghĩa đó, có thể nói con đường đó vừa có tính chất quốc tế, vừa mang tính dân tộc,
con đường dân tộc mà chúng ta nói cũng là con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của
Ba Lan”8.
Từ năm 1956, Ba Lan bắt đầu cải cách cơ cấu xã hội và qua đó sản sinh ra mô
hình vận hành nền kinh tế XHCN, có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình lịch sử của Ba
Lan, đó là: 1/Kết hợp kế hoạch tập trung với mọi khả năng tối đa quản lý phân tán
trong nền kinh tế quốc dân. 2/Cơ sở quản lý kinh tế quốc dân phải là xí nghiệp
XHCN tự chủ. 3/Giá cả là phương tiện cơ bản quy định mối quan hệ tương hỗ giữa
các xí nghiệp XHCN và giữa các xí nghiệp đó với người tiêu dùng, với những người
sản xuất tư nhân, mà việc định giá cả phải phù hợp với quy luật giá trị. 4/Trên cơ sở
tự quản của công nhân, tự quản của nông dân và hợp tác xã mà thực hiện “việc công
7Sách đã dẫn, tr.891.
8Sách đã dẫn, tr.892.
hữu hóa tư liệu sản xuất của liên minh những người tự do”.
Các nhà nghiên cứu lịch sử chủ nghĩa Mác ở Trung Quốc nhận định: “Việc đề ra
mô hình vận hành kinh tế xã hội chủ nghĩa Ba Lan đánh dấu một giai đoạn tương đối
chín muồi về mặt nhận thức của các nhà Mác xít Ba Lan về con đường phát triển của
nước mình, đồng thời nói lên phong trào cộng sản quốc tế đang đi vào một giai đoạn
mới, phản ứng quyết liệt với mô hình Liên Xô truyền thống, mở đầu một giai đoạn
cải cách toàn diện”9. Về căn bản tôi tán thành nhận định đó.
Trong hoàn cảnh lúc đó, ý tưởng và kế hoạch cải cách ở Ba Lan không có điều
kiện để hiện thực hóa như mong muốn của các tác giả đề xuất nó.
*
**
Ở nước ta vào khoảng thời gian mà nỗi bàng hoàng của đảng viên, cán bộ và
đông đảo nhân dân về sự sụp đố của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu còn chưa
kịp lắng xuống và một số người nhân cơ hội ấy tìm cách lén lút truyền tay những
cuốn sách như: “Tổng kết lịch sử và nhân loại cuối cùng” của Făng xít phusi, “Thất
bại to lớn: sự ra đời và cáo chung của chủ nghĩa cộng sản thế kỷ 20” 10 của
Brêdinxki, trắng trợn tuyên bố CNXH đã chết và linh hồn của nó - chủ nghĩa Mác Lênin - đã “siêu thoát”, hòng thao túng dư luận, có lợi cho chủ nghĩa đế quốc thì, Đại
hội lần thứ VII của Đảng (6/1991) khẳng định trong Nghị quyết và “Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”: “Đảng ta lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động”11. Những người nghiên cứu, giảng dạy lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh rất nhạy cảm tiếp nhận thông điệp “kép” trong đó: đây là lời tuyên bố về thái
độ lập trường kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin của Đảng, đồng thời là lời xác nhận
9Sách đã dẫn tr.893.
10Nhân vật này năm 1993 còn cho ra đời cuốn "Ngoài vòng kiểm soát; sự rối loạn toàn cầu bên thềm thế kỷ 21" - cùng một luận
điệu như cuốn sách trên.
11Đảng cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chú nghĩa xã hội, Nxb Sự Thật. H.1991, tr.21.
công khai và chính thức vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh (kết hợp với chủ nghĩa
Mác - Lênin) trong nền tảng tư tưởng của Đảng.
Có thể nói, đây là một dấu mốc lớn trong lịch sử tư tưởng xã XHCN, khi mà gần
như cùng một lúc có cái mất đi (Liên Xô) do sự tích đọng những sai lầm không sửa
chữa, có cái mới xuất hiện giầu sinh lực và đầy triển vọng. Bởi vì chủ nghĩa Mác Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp có tính quy luật giữa cái phổ
biến và cái đặc thù trong tiến trình quá độ từ CNTB lên CNXH, CNCS, điều mà
những người cộng sản Đông Âu là những người đầu tiên mở cá nh cửa nhận thức và
bắt tay thực hành nhưng chưa đi tới đích. Sự kết hợp ấy một lần nữa và ở một
phương diện khác nói lên sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, khả năng “bám rễ”
vào các vùng đất mới, thâm nhập vào các dân tộc quốc gia thông qua các Đảng cộng
sản; đồng thời sự kết hợp ấy cũng nói lên con đường tất yếu của chủ nghĩa yêu nước
chân chính của các dân tộc, quốc gia sớm muộn cũng đưa các dân tộc ấy đến với chủ
nghĩa Mác - Lênin, hòa vào trào lưu chung đấu tranh vì CNXH và CNCS.
Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh hội đủ các yếu tố thế giới quan, hệ tư tưởng, phương pháp luận và tri thức lý luận - những yếu tố mà
Đảng ta khái quát trong mệnh đề “nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”
của Đảng. Đó là cơ sở chắc chắn để chúng ta nhận thức về CNXH và con đường đi
lên CNXH của nước ta trong thời kỳ đổi mới. Một lần nữa chúng ta lại kiểm chứng
điều này bằng cách soi vào quan điểm chỉ đạo và thực tiễn của công cuộc đổi mới
trên ba phương diện căn bản sau đây:
Một là, mục tiêu bao quát của công cuộc xây dựng CNXH được nêu ra trong
thời kỳ đổi mới là: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phản ánh
sự chín muồi trong nhận thức của Đảng và nhân dân ta về quan điểm Mác - Lênin (đã
nêu khái quát ở trên) mà trực tiếp hơn là tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH. “Chủ
nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng
ta ngày càng sung sướng”12.
Đề xuất mục tiêu đó thể hiện thái độ tự phê phán nghiêm khắc sai lầm trong
nhận thức của Đảng ta về CNXH thời kỳ trước đổi mới trên cơ sở nhận thức lại lý
luận Mác - Lênin về CNXH.
Sự khắng định mục tiêu ấy ngay từ đầu được toàn dân đón nhận và nhanh chóng
đi vào cuộc sống với sức mạnh giải phóng cực kỳ to lớn tạo nên sự khởi sắc toàn diện
xã hội.
Hai là, cho đến nay, vẫn có người cho rằng chủ trương xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN không có căn cứ từ lý luận CNXH Mác - Lênin. Bởi vì
C.Mác và Ph.Ăngghen không chấp nhận kinh tế thị trường, ngược lại các ông chủ
trương xóa bỏ sản xuất hàng hóa và thị trường. Đó là căn cứ để những người này cho
rằng lý luận xây dựng nền kinh tế thị trường kể cả kinh tế thị trường XHCN hay định
hướng XHCN đều là “phi mác xít”.
Trong thực tế C.Mác và Ph.Ăngghen không nói đến việc CNXH phải sử dụng
biện pháp thị trường bởi vì các ông nghiên cứu CNTB trên quan điểm phê phán (dĩ
nhiên là phê phán biện chứng) để tạo lập căn cứ cho việc xây dựng lý luận về CNXH.
Thời kỳ đó kinh tế thị trường ở nhiều nước phương Tây đã phát triển cao và xu
hướng cạnh tranh cố hữu của nó đã tác động khủng khiếp dẫn tới sự phân hóa xã hội
sâu sắc làm cho CNTB tự do bắt đầu chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
Thế nhưng, khi lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở một nước còn lạc hậu,
các nhân tố TBCN kết hợp chặt chẽ với các tàn tích phong kiến, V.I.Lênin nhận rõ
phải phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần qua sự kết nối của thị trường. Phát
hiện lớn đó được chính V.I.Lênin khảo nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách
kinh tế mới (NEP). Và chỉ chừng sau 2 năm thực hiện chính sách đó, V.I.Lênin tỏ ra
rất lạc quan rút ra kết luận: nước Nga XHCN sẽ đi ra từ chính sách kinh tế mới.
V.I.Lênin ra đi giữa chừng, nhưng liệu có thể nói rằng, lời nhận xét đó của V.I.Lênin
12Hồ Chí Minh, Toàn Tập, Nxb CTQG, H.1996, tập 10, tr.317.
là sự khắng định tích cực về tác dụng không thể thiếu của kinh tế thị trường trong
tiến trình xây dựng CNXH? Nếu trả lời câu hỏi này bằng tín hiệu “dương”(+) thì phải
thừa nhận tư cách chính thống Mác - Lênin của kinh tế thị trường XHCN. Điều này
nếu có thì giờ, chúng ta nên thảo luận.
Những năm 1960, 1970 trong các Đảng cộng sản ở châu Âu cũng xuất hiện
những ý kiến về sự “kết hợp kinh tế thị trường với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”,
thậm chí đã hình thành một trào lưu (một khuynh hướng) gọi là “chủ nghĩa xã hội thị
trường”, lúc đó bị Liên Xô và một số nước XHCN khác phê phán gay gắt. Ở thời
điểm hiện nay, tôi cho rằng nên đánh giá trào lưu đó như một sự tìm tòi và nên tiếp
thu những giá trị hữu ích của nó, dù đó là sự tìm tòi còn dang dở vì phải chịu một sức
ép “bất khả kháng”!
Ở nước ta thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới, khi những động thái về sự lựa
chọn kinh tế thị trường của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ngày càng rõ rệt thì sách báo
nói về chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin được quan tâm đặc biệt và nhiều cuộc
hội thảo xung quanh đề tài này đã được tổ chức. Niềm tin của V.I.Lê nin vào thành
công của việc phát triển kinh tế thị trường, đặc biệt là niềm tin của Ông về khả năng
nhà nước XHCN có thể điều tiết làm cho kinh tế thị trường phát huy tối đa hiệu quả
phục vụ công cuộc xây dựng CNXH truyền sang không chỉ các nhà lãnh đạo, giới
nghiên cứu lý luận và chỉ đạo thực tiễn, mà còn cả một bộ phận nhân dân, đến mức
có thể nói, theo một nghĩa nào đó chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta bắt nguồn từ sự gợi ý và tìm được điểm tựa từ chính sách kinh tế
mới của V.I.Lênin.
Ba là, thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới ở nước ta, những chuyển động trong
lĩnh vực chính trị không sôi động như trong lĩnh vực kinh tế. Điều đó nằm trong chủ
trương và sự điều hành của Đảng và Nhà nước trên cơ sở vận dụng quan hệ biện
chứng giữa kinh tế và chính trị, phần khác là do nhu cầu cải thiện đời sống vật chất
của tuyệt đại bộ phận nhân dân có tính cấp bách thường nhật... gây nên áp lực lớn
hơn. Nhưng còn một lý do nữa đó là ý thức cảnh giác nẩy sinh sau sự kiện sụp đổ
của thể chế chính trị XHCN ở Liên Xô và Đông Âu do đường lối cải tổ sai lầm của
tập đoàn Goócbachốp, cải tổ ấy không hoàn thiện thể chế chính trị XHCN mà là thay
thế nó bằng thể chế chính trị TBCN phương Tây.
Sau bước mở đầu đó, đổi mới trong lĩnh vực chính trị nói chung, được triển khai
song hành với đổi mới trong lĩnh vực kinh tế và đã đi những bước có ý nghĩa đột
phá, căn bản biểu hiện tập trung ở sự đổi mới hệ thống chính trị XHCN cả về cơ cấu
tổ chức và cơ chế vận hành hướng vào mục tiêu “xây dựng và từng bước hoàn thiện
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”13. về kết quả thực hiện có thể nêu một số dẫn chứng
sau:
- Trong vai trò lãnh đạo và hạt nhân của hệ thống chính trị Đảng đã phát động
công cuộc dân chủ hóa xem đó là một nội dung bao trùm của công cuộc đổi mới theo
tinh thần dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới; quyết định
triển khai chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân; ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (nay đã trở thành
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn); trong nhiều nghị quyết của các
đại hội Đảng đã đề cập đến vấn đề thực hiện song hành (đồng bộ) hai hình thức dân
chủ - dân chủ gián tiếp (dân chủ đại diện) và dân chủ trực tiếp, trong đó nhấn mạnh
cần có “cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp”14.
- Quốc hội đã xây dựng một hệ thống pháp luật liên quan đến việc điều chỉnh
hầu hết các mối quan hệ cơ bản trong xã hội. Đặc biệt là trong vòng 30 năm thực
hiện đổi mới đã có hai lần sửa đổi Hiến pháp: Hiến pháp năm 1992 (Hiến pháp thứ tư
của của nước ta) và Hiến pháp năm 2013 (Hiến pháp thứ năm của nước ta). Hai lần
sửa đổi này đã tạo nên một bước cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển luật
pháp của nước ta - như có người nói - từ luật pháp cai trị dân sang luật pháp khắng
định và bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
13Đảng cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự Thật, H.1991, tr.19.
14Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXI, Nxb CTQG, H.2011, tr.139.
- Chính phủ đã có bước chuyển đáng kể từ “chính phủ của thời kỳ tập trung
quan liêu bao cấp” sang “chính phủ của thời kỳ xây dựng phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa”. Biểu hiện tập trung nhất của việc đổi mới này là việc
cải cách toàn bộ nền hành chính quốc gia theo các nội dung: a/ Cải cách thể chế hành
chính; b/ Chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính ... c/
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính, xây dựng và từng bước hoàn thiện
chế độ công vụ và quy chế công chức ...
- Điều rất đáng lưu ý là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân -
một bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị - đã có những đổi mới rõ rệt mà nổi bật
là sự khắc phục có hiệu quả căn bệnh “hành chính hóa” và phong cách làm việc quan
liêu thiếu quan tâm đến việc xây dựng cơ sở, phát huy tác dụng, ảnh hưởng của
phong trào cơ sở; đồng thời nhận thêm trọng trách mới mà Hiến pháp năm 2013 đã
ghi rõ là “giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động
đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”15.
Trong thực tế quá trình thực hiện những công việc trọng đại nêu trên trong lĩnh
vực chính trị, bên cạnh những thành tựu to lớn còn bộc lộ rất nhiều hạn chế thiếu sót
cần phải sửa chữa, làm đi làm lại nhiều lần để nhân dân phải chịu đựng và chờ đợi
trong tâm trạng bức xúc. Nhưng từ chủ đề của bài viết này và chủ đề chung của cuộc
hội thảo hôm nay phải chăng chúng ta có thể rút ra nhận xét: Khi đặt các sự việc và
kết quả nêu trên trong một bức tranh có hệ thống, chúng ta không khó khăn lắm phát
hiện ra dấu ấn chỉ đạo xuyên suốt của lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
xây dựng nền dân chủ XHCN mà mục tiêu là đem lại quyền tự do, dân chủ cho nhân
dân, nền dân chủ ấy phát triển liên tục từ thấp đến cao với sự kết hợp rất năng động
của hai hình thức dân chủ - dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp nhằm thúc đẩy sự
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đặc biệt là nâng cao dân trí, đạo đức, năng lực tự
quản của con người... Những thành tựu ấy đến một trình độ nhất định sẽ cho phép xã
15 Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013, Nxb Lao Động, H.2014, tr.14.
hội chuyển sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên tự quản cộng sản chủ nghĩa văn m inh
như dự báo của C.Mác - Ph.Ăngghen./.