Tải bản đầy đủ (.docx) (8 trang)

Đề tài nghiên cứu các loại hình doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (93.12 KB, 8 trang )

Đề tài nghiên cứu các loại hình doanh nghiệp
1.

Ưu, nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp

LOẠI HÌNH

ƯU ĐIỂM
Một chủ đầu tư, thuận lợi trong
Doanh nghiệp Tư
việc quyết định các vấn đề của
nhân
Doanh nghiệp
Nhiều thành viên cùng tham gia
góp vốn, cùng kinh doanh
Công ty TNHH
Có tư cách pháp nhân
Chịu trách nhiệm hữu hạn về tài
sản theo tỉ lệ vốn góp
Nhiều thành viên cùng tham gia
góp vốn, cùng kinh doanh
Có tư cách pháp nhân
Công ty Cổ phần Chịu trách nhiệm hữu hạn về tài
sản theo tỉ lệ vốn góp
Các cổ đông sáng lập có thể mất
quyền kiểm soát Công ty
Nhiều thành viên cùng tham gia
góp vốn, cùng kinh doanh
Công ty Hợp
Các thành viên hợp danh có thể
danh


hoạt động nhân danh công ty
Công ty hoạt động dựa trên uy tín
của các thành viên

HẠN CHẾ
Không có tư cách pháp nhân
Chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản
của Chủ Doanh nghiệp
Khả năng huy động vốn từ công
chúng bằng hình thức đầu tư trực
tiếp không có

Khả năng huy động vốn từ công
chúng bằng hình thức đầu tư trực
tiếp thuận lợi, công chúng có thể dễ
dàng tham gia vào công ty bằng
hình thức mua cổ phiếu của Công
ty (tính chất mở của Công ty)
Các thành viên cùng liên đới chịu
trách nhiệm vô hạn về tài sản liên
quan đến các hoạt động của Công
ty.
Không có tư cách pháp nhân

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được
thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh.
Luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện có Luật Doanh nghiệp, Luật
Doanh nghiệp nhà nước, luật Hợp tác xã, luật Các tổ chức tín dụng, luật Đầu tư nước
ngoài. Theo đó, Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại



hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh
nghiệp.
Vì vậy việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là
rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là:
1.
2.
3.
4.
5.

Uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng
Khả năng huy động vốn
Rủi ro đầu tư
Tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp
Tổ chức quản lý doanh nghiệp

Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất
của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp
nhân.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Chủ doanh
nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện
các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có
thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp
thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn

phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ
động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh
nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho
đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật
như các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân nên mức
độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số
vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp.
Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:


(i) Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có
thành viên góp vốn;
(i) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp
và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
(i) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi
số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân và không được
phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn.
Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân
danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp
vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không
được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Các thành
viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.
Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế
độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ
dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý
công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín,
tuyệt đối tin tưởng nhau. Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách

nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.
Loại hình công ty hợp danh mới chỉ được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 2000
nên trên thực tế loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành
viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công ty có thể là
tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền
phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên,
Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một
thành viên phải có Ban kiểm soát.


Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt nam hiện
nay. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn đem lại cho nhà
đầu tư nhiều lợi thế như:
1. Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách nhiệm về các hoạt

động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người
góp vốn;
2. số lượng thành viên công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên thường là
người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức
tạp;
3. Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm
soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào
công ty. Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những hạn chế
nhất định như:


do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng
cũng phần nào bị ảnh hưởng;

công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là
doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh;

việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có
quyền phát hành cổ phiếu.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty
trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở
hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của
công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư
cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu.
Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đã góp vào
công ty. Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần
hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Chủ sở hữu công ty không được rút
lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài
sản khác đến hạn phải trả.


Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ
tịch công ty và Giám đốc.
Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn có đầy đủ các đặc thù của công ty trách nhiệm

hữu hạn có ít nhất hai thành viên. Điểm khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên là công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất.
Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn
quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
1. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
2. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp

trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
3. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết
4. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn
chế số lượng tối đa.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy
định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng
giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát.
Lợi thế của công ty cổ phần là:
1. Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ

chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn
góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao;
2. Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực,
ngành nghề;
3. Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng
góp vốn vào công ty;
4. Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao thông qua việc phát hành cổ

phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần;


5. Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm

vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công
chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần.
Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình công ty cổ phần cũng có những hạn chế
nhất định như:




Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông
có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự
phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích;
Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty
khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ
tài chính, kế toán.

Công ty nhà nước
Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ
chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà Nước. Công
ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà
nước.
Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm,
dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho
các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn; ngành, lĩnh vực có lợi
thế cạnh tranh cao; hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà các
thành phần kinh tế khác không đầu tư.

Người có thẩm quyền ra quyết định thành lập mới công ty nhà nước là Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng đối với việc quyết định thành lập
mới công ty nhà nước đặc biệt quan trọng, chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt, làm
nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước thuộc
thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
Công ty nhà nước có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty mới được
tiếp nhận vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn để đầu tư, xây dựng
doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh; công ty được kinh doanh những ngành, nghề có
điều kiện khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh ngành,
nghề có điều kiện hoặc có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.


Công ty nhà nước được tổ chức quản lý theo mô hình có hoặc không có Hội đồng quản
trị. Các tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập sau đây có Hội đồng quản trị:
(i) Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập; (ii) Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước; (iii) Công ty nhà nước độc lập có quy mô vốn lớn giữ quyền
chi phối doanh nghiệp khác.
Nghĩa vụ của Doanh nghiệp:
1

Hoạt động theo đúng ngành nghề đã đăng ký và điều kiện giấy phép kinh doanh
(nếu có)

2

Lập sổ sách kế toán, sổ đăng ký góp vốn của các thành viên;

3


Chấp hành tốt chế độ báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh cho Phòng Đăng ký
kinh doanh; cơ quan thuế và cơ quan thống kê. Doanh nghiệp báo cáo định kỳ
hàng tháng vào ngày 15 của tháng; hàng quý vào ngày 15 của tháng đầu tiên quý
tiếp theo; hàng năm vào ngày 15 của tháng đầu tiên năm tiếp theo. Hàng năm,
doanh nghiệp phải báo cáo tài chính (gồm bảng cân đối kế toán và bảng quyết
toán tài chính), trong thời hạn 30 ngày (đối với DNTN và Công ty hợp danh) và
90 ngày (đối với Công ty TNHH và Công ty CP) kể từ ngày kết thúc năm tài chính
doanh nghiệp phải.

4

Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
– Khi thay đổi các nội dung trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (như: thay
đổi tên công ty, địa chỉ trụ sở chính, ngành nghề kinh doanh, vốn, người đại
diện…) thì doanh nghiệp đến tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở Kế
hoạch và Đầu tư để được hướng dẫn thủ tục thay đổi.
– Doanh nghiệp muốn tạm ngừng kinh doanh đề nghị thực hiện theo quy định tại
Điều 156 của Luật Doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp giải thể thực hiện
theo điều 158 của Luật Doanh nghiệp.
– Tổ chức, cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp, đề nghị liên hệ với Bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả của Sở Kế hoạch và Đầu tư.
– Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nếu có vướng mắc hoặc cần giải
đáp, đề nghị liên hệ với Phòng Đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư để
được hướng dẫn giải quyết.





×