Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 109 trang )

Header Page 1 of 166.

LUẬN VĂN:

Những giải pháp tăng cường thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng
trong giai đoạn hiện nay

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, vốn FDI là một bộ phận quan trọng
trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư của bất kỳ một quốc gia hoặc một địa phương nào. Đối với
nước ta, một nước đang trong quá trình CNH, HĐH, chuyển đổi và hội nhập kinh tế, với
mục tiêu phát triển kinh tế rất cao, nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, trong đó vốn FDI có vai trò
đặc biệt quan trọng.
Dưới góc độ của quốc gia hay một địa phương tiếp nhận vốn, FDI có mục tiêu và
tác động đa chiều. Ngoài tác động phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, qua các
hoạt động FDI còn tạo cơ hội tiếp nhận kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm kinh doanh, các
sáng chế, phát minh, bí quyết công nghệ, năng lực quản lý, điều hành, giúp các chủ thể
trong nước và nền kinh tế nói chung đẩy nhanh quá trình phát triển những ngành nghề
có kỹ thuật, công nghệ mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng nhanh.
FDI còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, đẩy mạnh kim ngạch xuất
khẩu, góp phần vào việc lành mạnh hoá các cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Ngay từ khi
bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, vấn đề thu hút vốn FDI đã được Đảng và Nhà
nước ta đặc biệt quan tâm, chú ý và đã có nhiều biện pháp tích cực, đổi mới liên tục


nhằm thu hút ngày càng nhiều và ngày càng có chất lượng nguồn vốn quan trọng này.
Đối với Đà Nẵng, một thành phố được tái lập chưa lâu như một thành phố trực thuộc
Trung ương, nằm ở vị trí chiến lược của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với nhiều
lợi thế, tiềm năng chưa được khai thác đúng mức, đầu tư FDI lại càng có vai trò quan
trọng.
Nghị quyết các Đại hội Đảng, từ Đại hội VI đến Đại hội X đều khẳng định rằng,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với
các thành phần kinh tế khác. Thu hút vốn FDI là chủ trương quan trọng của Đà Nẵng, có
tác dụng khai thác nguồn lực vốn ngoài nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, làm đòn
bẩy khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp, phục vụ

Footer Page 2 of 166.


Header Page 3 of 166.

sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển bền vững cho kinh tế thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả
vùng kinh tế trọng điểm nói chung.
Thực tế 20 năm đổi mới vừa qua, nhất là 10 năm gần đây cho thấy, với chính sách
thu hút ngày càng cởi mở và minh bạch, vốn FDI đã trở thành một trong những yếu tố
quan trọng để phát triển kinh tế ở nước ta nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng. FDI
đã có đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng
thu ngân sách, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo trên quy mô toàn bộ nền kinh tế
nói chung cũng như trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng. Tuy nhiên, ở Đà Nẵng, các
biện pháp thu hút vốn FDI thời gian qua cũng đã bộc lộ nhiều mặt yếu kém, hạn chế. Kết
quả là tốc độ tăng vốn FDI chưa đạt như mong đợi. Số lượng các nhà đầu tư nước ngoài
đến tìm hiểu môi trường đầu tư, số dự án đăng ký dự định đầu tư khá nhiều nhưng số dự
án đầu tư được cấp phép và đi vào hoạt động vẫn còn thấp, số vốn thực sự đầu tư còn thấp
về số lượng. Cơ cấu đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, nhu cầu CNH, HĐH

của thành phố với tư cách là thành phố trọng điểm của miền Trung và đầu mối quan trọng
của hành lang kinh tế Đông - Tây. Ngoài những nguyên nhân khách quan như điều kiện tự
nhiên không thuận lợi, thị trường nhỏ hẹp, sức mua yếu, chi phí vận chuyển bằng đường
biển cao, thời gian vận chuyển lớn, nguồn nguyên liệu và các ngành công nghiệp phụ trợ
còn thiếu và yếu, chất lượng kém, cơ chế chính sách của Trung ương còn bất cập…, những
nguyên nhân chủ quan từ phía chính quyền Đà Nẵng cũng đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến
thu hút vốn FDI trên địa bàn.
Tình hình đó đòi hỏi phải nghiên cứu, tìm kiếm những giải pháp đổi mới mạnh mẽ
hơn nữa để tăng cường thu hút vốn FDI có hiệu quả hơn, xem đó là vấn đề quan trọng, đột
phá để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2006 - 2010 và các giai đoạn tiếp theo.
Đó là lý do đề tài: “Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” được chọn làm luận văn thạc sĩ của tác giả.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về FDI nói chung cũng như những giải pháp thu
hút FDI nói riêng. Sau đây là những công trình tiêu biểu:

Footer Page 3 of 166.


Header Page 4 of 166.

- “Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước ASEAN và vận
dụng vào Việt Nam”, Nguyễn Huy Thám, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999.
- “Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai”, Phan Minh Thành, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000.
- “Hoàn thiện Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Văn Hùng, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.

- “Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành
phố Đà Nẵng”, Ngô Quang Vinh, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng,
2003.
- “Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - vị trí, vai trò của nó trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”, Đề tài KH-CN cấp nhà nước KX01.05, GS.TS
Nguyễn Bích Đạt, Hà Nội, 2004.
- “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương - Thực trạng và giải pháp”, Bùi Thị
Dung, Luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2005.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề vốn FDI với những
cách tiếp cận và giải quyết ở những khía cạnh khác nhau của vấn đề thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến rất nhiều khía cạnh của đầu
tư FDI như tác động của FDI; vị trí, vai trò của FDI; quản lý nhà nước đối với khu vực
này; các biện pháp thu hút FDI phục vụ phát triển kinh tế… Tuy nhiên, đến nay chưa có
công trình nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về những giải pháp thu hút vốn FDI trong
điều kiện cụ thể của Đà Nẵng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

Footer Page 4 of 166.


Header Page 5 of 166.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hoá có cơ sở lý luận và thực tiễn chính
sách thu hút vốn FDI đối với các vùng, địa phương, đánh giá thực trạng và tìm ra những
giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của FDI, làm rõ vai trò của nó đối với sự
phát triển kinh tế đối với các vùng, địa phương.

- Phân tích thực trạng đầu tư và đánh giá chính sách thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng thời
gian từ năm 1997 đến 2006
- Luận chứng những giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng trong thời
gian tới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biện pháp chính sách thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng. Các biện pháp này bao gồm 2 bộ phận: bộ phận triển khai
thực hiện các chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung ương; bộ phận thực hiện gồm
các biện pháp của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp về chính sách. Góc
độ tiếp cận của luận văn chủ yếu là khảo sát các giải pháp của Nhà nước.
4.2. Đối tượng khảo sát của luận văn
Khảo sát các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đà Nẵng như là đối tượng tác
động (kết quả) của các biện pháp chính sách. Ngoài ra, luận văn khảo sát hoạt động của các cơ
quan quản lý nhà nước của chính quyền Đà Nẵng.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: thời gian nghiên cứu giới hạn từ năm 1997 đến nay. Những giải pháp
và kiến nghị được đề xuất cho giai đoạn tương lai đến khoảng 2010.
Về không gian: giới hạn trong phạm vi các hoạt động FDI tại Đà Nẵng. Để nghiên cứu so
sánh, có mở rộng không gian khảo sát ở những chỗ cần thiết.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm đường lối của Đảng,

Footer Page 5 of 166.


Header Page 6 of 166.

chính sách và pháp luật của Nhà nước; các thành tựu khoa học trong kinh tế nói chung và

trong lĩnh vực chính sách FDI nói riêng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng
trong luận văn là: phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hoá; kết hợp nghiên cứu lí luận
với tổng kết thực tiễn, lấy ý kiến chuyên gia, nghiên cứu tài liệu.
6. Những đóng góp của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng, đánh giá các biện pháp
chính sách đã thực hiện ở Đà Nẵng, tìm ra những bài học thành công và nguyên nhân
không thành công trong thực hiện chính sách thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng.
- Một số giải pháp đặc thù đề xuất được luận chứng với khả năng đóng góp làm tăng
thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được trình bày trong 3 chương, 10 tiết.

Footer Page 6 of 166.


Header Page 7 of 166.

Chương 1
SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN TĂNG CƯỜNG THU HÚT
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở ĐÀ NẴNG

1.1. VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày nay đã trở thành hình thức đầu tư phổ biến
và đã được định nghĩa bởi các tổ chức kinh tế quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia.
FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư của một nền kinh
tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữu

hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận
hoặc các lợi ích kinh tế khác [20, tr.14].
FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi
đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm
mục đích kinh doanh có lãi [48, tr.30-31].
Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng có định nghĩa về FDI như sau:
Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư [28, tr.8].
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham
gia quản lý hoạt động đầu tư [28, tr.8].
Như vậy, FDI, xét theo định nghĩa pháp lý của Việt Nam, là hoạt động bỏ vốn đầu
tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam với điều kiện họ phải tham gia quản
lý hoạt động đầu tư đó.
Xét về bản chất FDI khác (đối lập) với đầu tư gián tiếp nước ngoài; đồng thời FDI
là đầu tư thuộc kênh tư nhân, khác hẳn với đầu tư tài trợ (ODA) của Chính phủ hoặc các tổ
chức quốc tế.
1.1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Footer Page 7 of 166.


Header Page 8 of 166.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài sản khác
giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận
đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư.
Thứ hai, được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp mới (liên
doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại các chi nhánh hoặc
doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất

và chuyển nhượng doanh nghiệp.
Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng sở hữu
vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếp hoạt động của doanh
nghiệp.
Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ thị trường
trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính trị giữa các nước, các
chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao.
Thứ năm, nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận động của dòng
vốn đầu tư.
Thứ sáu, FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và đầu tư từ
trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào một nước và dòng vốn di
chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó.
Thứ bảy, FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.
Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động FDI trên toàn
thế giới. Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã được 20 năm và những đặc
điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét. Chính những đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi
trường và chính sách thu hút FDI phải chú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa
bảo đảm mối quan hệ cân đối giữa kênh đầu tư FDI với các kênh đầu tư khác của nền kinh
tế.
1.1.2. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân biệt các hình thức FDI. Có thể hiểu hình thức
đầu tư FDI là cách nhà đầu tư ở một số nước chuyển đổi quyền sở hữu vốn (tiền hoặc bất

Footer Page 8 of 166.


Header Page 9 of 166.

kỳ tài sản nào) thành quyền sở hữu và quản lý hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế ở một
nước khác. Như vậy, hình thức FDI được xem như là các cách thức thực hiện những kênh

đưa vốn bên ngoài vào nước tiếp nhận đầu tư, và nó phụ thuộc chủ yếu vào các chính sách,
định hướng thu hút FDI của nước chủ nhà.
Ngày nay, trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng, FDI được thực
hiện

thông qua

hai

kênh

chủ

yếu:

i)

đầu



mới



mở

rộng (GI);

ii) mua lại và sáp nhập ( cross-border M & As).

GI là kênh đầu tư mà các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước tiếp nhận vốn thông
qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc mở rộng quy mô doanh nghiệp đã đầu tư từ
trước. Hình thức này bổ sung ngay một lượng vốn đầu tư nhất định cho nước nhận đầu tư,
do vậy có hiệu ứng rõ rệt tạo việc làm và trực tiếp tác động đến thay đổi cơ cấu ngành kinh
tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc mở rộng quy mô, qua đó, thúc đẩy
cạnh tranh trong nền kinh tế. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và là kênh chủ yếu
để các nhà đầu tư của các nước phát triển đầu tư vào các nước đang hoặc kém phát triển.
Cross-border M & As là kênh đầu tư mà các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua
việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài hoặc mua cổ phần của các
công ty cổ phần. Hình thức này chủ yếu là chuyển sở hữu của các doanh nghiệp đang tồn
tại ở nước chủ nhà sang sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài. Về lâu dài, hình thức M &
As sẽ thu hút được nguồn vốn từ bên ngoài do mở rộng qui mô hoạt động của doanh
nghiệp. Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công
nghiệp hóa, đặc biệt là trong những lĩnh vực công nghệ cao và có xu hướng tăng mạnh
trong những năm gần đây. Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng đã thừa nhận và pháp lý
hoá kênh đầu tư này ở Việt Nam. Tuy nhiên, hình thức đầu tư này vẫn chưa phổ biến ở
nước ta do đây là kênh đầu tư FDI mới, nhà đầu tư còn dè chừng; hơn nữa, Nhà nước vẫn
hạn chế về tỷ lệ cổ phần của người nước ngoài trong các công ty cổ phần trong nước. Như
vậy, nếu chỉ thu hút FDI theo kênh GI thì không đón bắt được xu hướng đầu tư quốc tế
ngày nay, sẽ làm hạn chế khả năng thu hút FDI vào nước ta. Tương lai, với chính sách đổi
mới và hội nhập kinh tế quốc tế, M & As sẽ là kênh đầu tư quan trọng của FDI ở Việt Nam
[31, tr.37].

Footer Page 9 of 166.


Header Page 10 of 166.

Với hai kênh đầu tư chính như đã nêu trên, tùy theo mức độ nắm giữ quyền quản lý,
sẽ có các hình thức đầu tư khác nhau. Những hình thức đầu tư này được quy định bởi thể

chế pháp luật về đầu tư, làm cơ sở để các nhà đầu tư triển khai các hoạt động đưa vốn vào
và thực hiện các biện pháp quản lý của họ.
Luật Đầu tư 2005 đã quy định 5 hình thức FDI cơ bản ở Việt Nam [28, tr.22]. Các hình
thức này cũng đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Sau đây sẽ trình bày 5 hình thức
này.
a. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống và phổ
biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những
lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công
nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức
này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các
dự án quy mô lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con của công ty
mẹ xuyên quốc gia.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư). Là một pháp
nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý
nhà nước của nước sở tại. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc
quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo
Luật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư
nhân, công ty cổ phần… [26, tr.358].
Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà không cần bỏ
vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê đất, thuế, giải
quyết việc làm cho người lao động. Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu
tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương
tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay

Footer Page 10 of 166.



Header Page 11 of 166.

nghề người lao động. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được
kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài và
không có lợi nhuận.
b. Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà
đầu tư nước ngoài
Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay. Hình thức này
cũng rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút FDI. DNLD là doanh nghiệp
được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên
nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại [31,
tr.42].
Như vậy, hình thức DNLD tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm đầu tư
phải ở nước sở tại. Hiệu quả hoạt động của DNLD phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh
doanh của nước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, mức độ hoàn thiện pháp luật,
trình độ của các đối tác liên doanh của nước sở tại... Hình thức DNLD có những ưu điểm
là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để
phát triển kinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng
hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý
của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác
nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường
nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho
nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hình thức này có nhược
điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên
có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa,
ngôn ngữ, luật pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng
lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong DNLD yếu.
c. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm

hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp
nhân [28, tr.10].

Footer Page 11 of 166.


Header Page 12 of 166.

Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ;
tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại, thu lợi nhuận tương
đối ổn định. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm
quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời
như thăm dò dầu khí.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng và mọi
hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại. Do đó, về phía nhà đầu tư, họ rất
khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC. Tuy nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất,
không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi
các nước đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút FDI. Khi các hình thức 100% vốn
hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh.
d. Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT
BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu
hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn
công trình đó cho Nhà nước Việt Nam [28, tr.11].
BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư, khai thác,
chuyển giao được đảo lộn trật tự.
Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là Nhà
nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá, cầu, cảng, sân bay,
bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước...; bắt buộc đến thời hạn phải chuyển giao không
bồi hoàn cho Nhà nước.

Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu hạ tầng,
đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực vốn cho ngân sách
nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những công trình hoàn
chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hình
thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó
tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ.
e. Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp

Footer Page 12 of 166.


Header Page 13 of 166.

Đây là hình thức thể hiện kênh đầu tư Cross - border M & As đã nêu ở trên. Khi thị
trường chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được khai thông, nhà đầu tư
nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp ở nước sở tại, nhiều nhà đầu tư
rất ưa thích hình thức đầu tư này.
Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu tư nước
ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI. Khi nhà đầu tư nước ngoài tham gia
mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán nước sở tại, họ tạo nên kênh đầu tư
gián tiếp nước ngoài (FPI). Tuy nhiên, khi tỷ lệ sở hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn nào đó
cho phép họ có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp thì họ trở thành nhà đầu tư FDI. Luật
pháp Hoa Kỳ và nhiều nước phát triển quy định tỷ lệ ranh giới này là 10%. Đối với Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này được quy định là 30%.
Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm cơ bản là để
thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động của những doanh nghiệp
bên bờ vực phá sản. Nhược điểm cơ bản là dễ gây tác động đến sự ổn định của thị trường
tài chính. Về phía nhà đầu tư, đây là hình thức giúp họ đa dạng hoá hoạt động đầu tư tài
chính, san sẻ rủi ro nhưng cũng là hình thức đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường
bị ràng buộc, hạn chế từ phía nước chủ nhà.

1.1.3. Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình phát triển
kinh tế của các nước đang phát triển (nước tiếp nhận đầu tư)
FDI tác động rất lớn, trực tiếp đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, tác
động đến mọi mặt của đời sống về kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị của nước tiếp nhận
đầu tư. Trong đó, về kinh tế, FDI tác động đến tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP),
cán cân thanh toán, thu nhập của người lao động và các chỉ tiêu kinh tế khác. Để phục vụ
cho việc luận chứng các chính sách thu hút FDI, người ta thường nhìn nhận các tác động
kinh tế này thành hai nhóm: tác động tích cực và tác động tiêu cực.
1.1.3.1. Những tác động tích cực
Thứ nhất, FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế. Một nền kinh tế đang phát
triển, nếu có nguồn vốn đầu tư càng cao thì tăng trưởng sẽ càng cao. Vốn đầu tư hình
thành từ nguồn vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm vốn vay thương

Footer Page 13 of 166.


Header Page 14 of 166.

mại, đầu tư gián tiếp và FDI. Các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, nhu cầu vốn
đầu tư rất lớn và FDI là một trong những nguồn vốn rất quan trọng. Vốn FDI có nhiều lợi
thế vì không tạo ra khoản nợ giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, khi dự án tạo ra
lợi nhuận thì được chuyển về nước và một phần được dùng để tái đầu tư, có tính ổn định
cao hơn so với các khoản đầu tư khác.
Thứ hai, FDI góp phần vào sự phát triển công nghệ, kỹ thuật mới, góp phần cải thiện
đáng kể kết cấu hạ tầng. Đồng thời, FDI tạo nền tảng vững chắc về khoa học và công nghệ
để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch
vụ; giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP.
Các nước đang phát triển có đặc điểm là sử dụng công nghệ lạc hậu, do đó năng
suất lao động thấp, hiệu quả và sức cạnh tranh sản phẩm yếu. Xét về nhu cầu, cần có quá
trình chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Có hai

hình thức chuyển giao công nghệ là trực tiếp và gián tiếp, trong đó FDI là hình thức
chuyển giao công nghệ trực tiếp và có hiệu quả nhất. Bằng hình thức này, công nghệ được
các công ty nước ngoài chuyển giao trực tiếp cả phần cứng (máy móc, thiết bị) lẫn phần
mềm là bí quyết công nghệ. Đây là ưu điểm của chuyển giao công nghệ bằng con đường
FDI so với các hình thức chuyển giao công nghệ khác. Việc tiếp nhận công nghệ từ chủ
đầu tư sẽ giúp các doanh nghiệp FDI trong nước tiếp cận với công nghệ từ công ty mẹ,
đồng thời rút ngắn khoảng cách công nghệ giữa nước đang phát triển với trình độ công
nghệ tiên tiến của thế giới.
Thứ ba, FDI góp phần giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Các dự án FDI mới tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, và thông qua việc thực
hiện các dự án đó, làm thay đổi cơ cấu lao động, nâng cao năng lực, kỹ năng lao động,
năng lực quản lý doanh nghiệp, tác phong công nghiệp, phù hợp với nền sản xuất hiện đại.
Như trên đã nói, FDI luôn gắn liền với chuyển giao công nghệ mới so với công nghệ
trong nước, cho nên lao động của nước tiếp nhận đầu tư được đào tạo để sử dụng và quản
lý công nghệ, tiếp cận với phương pháp quản lý chất lượng, tổ chức và quản lý công nghệ,
biện pháp tiếp thị, tiếp cận với các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Thông qua đó, trình độ
và kỹ năng của người lao động trong nước được nâng lên rõ rệt.

Footer Page 14 of 166.


Header Page 15 of 166.

Ngoài việc tạo ra việc làm trực tiếp, FDI còn gián tiếp tạo ra nhiều việc làm thông
qua những ngành công nghiệp phụ trợ như cung cấp nhiên, nguyên, vật liệu, dịch vụ phục
vụ cho các doanh nghiệp FDI và các nhà đầu tư nước ngoài. Các hoạt động công nghiệp
phụ trợ này cũng đòi hỏi chất lượng cao, tổ chức tốt, do đó có tác dụng nâng cao trình độ,
kỹ năng sản xuất và kinh doanh ở các ngành công nghiệp phụ trợ.
Thứ tư, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, thúc
đẩy xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế. Thực vậy, hoạt

động FDI chủ yếu phát triển ở các ngành công nghiệp, dịch vụ mới, do đó có tác động lớn đến
cơ cấu ngành kinh tế, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại của nước tiếp nhận đầu tư.
Thực tiễn cho thấy, FDI ở Việt Nam cũng tập trung vào hai ngành chủ yếu là công nghiệp và
dịch vụ, ít đầu tư vào nông nghiệp, do đó, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ
trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp.
Hầu hết các doanh nghiệp FDI về lĩnh vực sản xuất chủ yếu là sản xuất hàng hóa
xuất khẩu, do vậy góp phần tăng năng lực xuất khẩu. Đồng thời, thông qua các chi nhánh
của các công ty nước ngoài hoặc các công ty xuyên quốc gia để mở rộng thị trường xuất
khẩu. Hầu hết các nước đang phát triển đều nhập khẩu máy móc thiết bị và xuất khẩu các
sản phẩm thô, do đó cán cân thương mại thường thâm hụt, mất cân đối trong cán cân thanh
toán. FDI góp phần làm tăng thu ngoại tệ, góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng và cạnh tranh rất quyết
liệt, đầu tư là một trong những lĩnh vực được các quốc gia cam kết tự do hóa. FDI làm cho
sự phân công lao động quốc tế diễn ra theo chiều sâu, những cam kết về tự do hóa FDI
được coi như là những quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế của từng quốc gia.
1.1.3.2. Những tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, FDI còn có những tác động tiêu cực đến
nước tiếp nhận đầu tư. Sau đây là những tác động tiêu cực mang tính phổ biến:
- Đối với các nền kinh tế có quy mô thị trường nhất định, các nhà đầu tư nước ngoài,
sau một thời gian hoạt động, có khả năng sẽ kiểm soát thị trường địa phương, như vậy làm
suy yếu các doanh nghiệp trong nước, làm cho nền kinh tế của nước nhận đầu tư ngày
càng phụ thuộc vào các nhà sản xuất nước ngoài. Ngày nay, trong điều kiện mở cửa và hội

Footer Page 15 of 166.


Header Page 16 of 166.

nhập quốc tế, tác động này có xu hướng ngày càng mạnh nhưng các nước tiếp nhận đầu tư
cũng đã có đối sách thích hợp nhằm hạn chế tác động này.

- Về chuyển giao công nghệ, FDI có khả năng chuyển giao các công nghệ lạc hậu
sang các nước đang phát triển, biến các nước tiếp nhận đầu tư thành "bãi thải công nghệ".
Mặt khác, có một số công ty xuyên quốc gia lại chuyển giao những công nghệ quá hiện
đại, không thích hợp với trình độ, tay nghề nhân lực của nước nhận đầu tư.
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI có xu hướng chuyển ra nước ngoài, do vậy
FDI tuy tác động đẩy mạnh tăng trưởng ngắn hạn và trung hạn nhưng có khả năng làm
giảm tiềm lực tăng trưởng dài hạn.
- Tạo nên những vấn đề phức tạp mới trong quản lý như biến động thị trường ngoại
hối, trốn thuế thông qua chuyển giá, tăng mức độ gây ô nhiễm môi trường...
- Làm tăng các vấn đề xã hội mới như phân hoá xã hội, giàu nghèo, nạn "chảy máu
chất xám" trong nội bộ nền kinh tế...
1.1.4. Xu hướng của FDI hiện nay trên thế giới
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thương mại thế giới, FDI của thế giới
trong những năm gần đây cũng có nhiều biến động. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các xu
hướng này [20]. Toàn cầu hóa kinh tế thế giới ngày càng thúc đẩy sự phát triển các luồng
vốn FDI nhằm tối đa hóa lợi nhuận của vốn đầu tư thông qua di chuyển sản xuất, kinh
doanh đến địa điểm có lợi nhất về chi phí và tiêu thụ, trở thành một hình thái quan trọng
trong hoạt động đầu tư quốc tế của các quốc gia trên thế giới. Vai trò của các công ty
xuyên quốc gia ngày càng tăng lên trong quá trình phân bổ và di chuyển các dòng vốn FDI
trên thế giới. Sự phân bổ dòng vốn FDI không đều, phần lớn tập trung ở các nước công
nghiệp phát triển, dòng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển tuy có chiều hướng
tăng lên nhưng tỷ trọng vẫn còn rất nhỏ bé. Tính cạnh tranh giữa các nước đầu tư và giữa
các nước tiếp nhận đầu tư với nhau ngày càng cao. Quá trình luân chuyển FDI giữa các đối
tác tham gia quá trình luân chuyển này vừa có tính quốc tế hóa, vừa có tính cục bộ hóa.
Hầu hết các nước đều tham gia vào cả hai quá trình đầu tư và tiếp nhận đầu tư.
Về xu hướng ngắn hạn gần đây, có thể thấy rõ, năm 2005 là năm thứ hai liên tiếp
FDI thế giới tăng trưởng, và đó là một hiện tượng mang tính toàn cầu. Theo báo cáo của

Footer Page 16 of 166.



Header Page 17 of 166.

UNCTAD [58], FDI thế giới năm 2005 tăng 29%, đạt 916 tỷ USD (năm 2004 tăng 27%).
Dòng vào FDI tăng trưởng ở hầu hết các khu vực, trong đó một số vùng có sự tăng trưởng
chưa từng có trước đây, và ở 126 trong số 200 nền kinh tế được kiểm soát bởi UNCTAD.
Tuy nhiên, dòng chảy FDI thế giới còn cách xa đỉnh điểm đạt được vào năm 2000 với
1.400 tỷ USD là năm có nhiều cuộc đầu tư lớn thông qua hình thức M & As. Sự bùng nổ
trong FDI chủ yếu do sự gia tăng của hình thức đầu tư M & As, đặc biệt ở các nước phát
triển. Xu hướng FDI thế giới cũng cho thấy sự xuất hiện ngày càng nhiều các nền kinh tế
có FDI lớn, vốn trước đây là các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi.
Năm 2005, FDI tiếp tục mở rộng nhanh chóng. Các nước phát triển vẫn là những
nước đầu tư, đồng thời là nước tiếp nhận FDI nhiều nhất. Các nước này tiếp nhận khoảng
542 tỷ USD, tăng 37% so với năm 2004; trong khi đó, các nước đang phát triển, FDI gia tăng
ở mức kỷ lục, đạt 334 tỷ USD. Xét về tỷ lệ phần trăm, các nước phát triển chiếm 59% tổng
dòng FDI của thế giới. Các nước đang phát triển chiếm 36%, và các nước khu vực Đông –
Nam Châu Âu và các quốc gia thuộc khối thịnh vượng chung (CIS) chiếm khoảng 4% [58].
Vương quốc Anh là nước tiếp nhận đầu tư lớn nhất thế giới trong năm 2005 với 165
tỷ USD. Mặc dù có giảm về mức độ tiếp nhận FDI nhưng Hoa Kỳ vẫn là nước đứng thứ
nhì. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, so với năm 2004, danh sách các quốc gia và
vùng lãnh thổ tiếp nhận FDI lớn nhất vẫn không thay đổi: Trung Quốc (bao gồm cả Hồng
Kông) đứng đầu, tiếp theo là Singapore, Mexico và Brazil. Tính theo khu vực, EU với 25
thành viên là địa điểm hấp dẫn đầu tư nhất, với dòng đầu tư vào năm 2005 đạt 422 tỷ USD,
gần bằng 50% tổng dòng vào FDI thế giới. Các nước khu vực Đông Á, Nam Á và Đông
Nam Á tiếp nhận 165 tỷ USD, vào khoảng 1/5 toàn thế giới, trong đó Đông Á chiếm 3/4
của khu vực. Tiếp theo là Bắc Mỹ với 133 tỷ USD, và Trung, Nam Mỹ với 65 tỷ USD. Khu
vực Tây Á có mức tiếp nhận không cao nhưng lại đạt tỷ lệ tăng trưởng FDI cao nhất với 85%,
vào khoảng 34 tỷ USD. Châu Phi đạt 31 tỷ USD, cũng là mức lớn nhất từ trước đến nay [58].
Xét về chủ đầu tư, năm 2005, dòng FDI đầu tư của thế giới khoảng 779 tỷ USD. Các
nước phát triển vẫn đứng đầu về đầu tư ra nước ngoài. Năm 2005, nếu trừ Hoa Kỳ thì Hà

Lan đứng đầu, với 119 tỷ USD, tiếp theo là Pháp và Vương Quốc Anh. Tuy vậy, dòng đầu
tư ra nước ngoài tăng đáng kể ở các nền kinh tế đang phát triển. Dẫn đầu nhóm này là

Footer Page 17 of 166.


Header Page 18 of 166.

Hồng Kông (Trung Quốc) với 33 tỷ USD. Thật sự, vai trò của các nền kinh tế đang phát
triển và nền kinh tế chuyển đổi đối với hoạt động FDI được tăng lên. Từ chỗ có dòng đầu
tư ra FDI không đáng kể và rất nhỏ bé ở những năm 80, đến nay dòng ra FDI ở các nền
kinh tế này đạt 133 tỷ USD (năm 2005), tương đương khoảng 17% tổng dòng FDI đầu tư
ra nước ngoài của thế giới [58].
Xu hướng năm 2005 cũng cho thấy, hình thức M & As được thúc đẩy mạnh mẽ bởi
sự giao dịch cũng như thực hiện của các quỹ đầu tư tập thể, đặc biệt ở các nước phát triển,
đã thúc đẩy sự gia tăng FDI trong thời gian gần đây. Giá trị đầu tư thông qua hình thức M
& As tăng 88% so với năm 2004, đạt 716 tỷ USD. Về lĩnh vực đầu tư, hầu hết dòng vào
của FDI chủ yếu là ngành dịch vụ nhưng sự tăng đột biến của FDI là ở lĩnh vực khai thác
các nguồn lực tự nhiên. Các dịch vụ đạt thành quả đáng kể trong thu hút FDI là tài chính,
viễn thông và bất động sản.
Một xu hướng đáng lưu ý nữa là sự gia tăng đầu tư FDI của các công ty xuyên quốc
gia. Sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia cấu trúc dạng tập đoàn ở các nền kinh tế
đang phát triển ngày càng gia tăng đáng kể. Các tập đoàn này bao gồm các công ty mẹ và
các công ty con của chúng ở các nước trên thế giới. Công ty mẹ là công ty kiểm soát toàn
bộ tài sản của chúng ở nước sở hữu hơn là ở nước ngoài. Công ty con là các công ty hoạt
động ở nước ngoài dưới sự quản lý của công ty mẹ và thường được gọi chung là chi nhánh
ở nước ngoài. Có các loại công ty con dưới đây:
* Phụ thuộc (subsidiary): chủ đầu tư (thuộc công ty mẹ) sở hữu hơn 50% tổng tài
sản của công ty. Họ có quyền chỉ định hoặc bãi nhiệm các thành viên bộ máy tổ chức và
quản lý điều hành của công ty.

* Liên kết (associate): chủ đầu tư sở hữu 10%-50% công ty, tỷ lệ này chưa đủ để có
quyền hạn như trường hợp công ty phụ thuộc [3, tr.54].
Các nước công nghiệp phát triển OECD vẫn là các nước có ảnh hưởng quyết định
đối với sự phát triển của FDI ở các nước. Đã từ lâu, bộ ba kinh tế EU, Hoa Kỳ và Nhật
Bản là những nhà đầu tư ra nước ngoài và là nơi tiếp nhận vốn FDI lớn nhất thế giới [58].
1.1.5. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với Đà Nẵng

Footer Page 18 of 166.


Header Page 19 of 166.

Từ ngày 1/1/1997, Đà Nẵng đã trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương,
tạo cơ hội và khả năng mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Trong những
năm qua, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng tăng tỷ trọng
công nghiệp, dịch vụ và thực hiện chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu của thành phố.
Xét về tổng thể, FDI là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong tổng vốn đầu tư phát
triển của thành phố, giải quyết một phần nhu cầu thiếu vốn đầu tư nghiêm trọng của thành
phố. Đối với một số ngành trọng điểm, FDI còn có vai trò là nguồn vốn quyết định đến
quy mô và tốc độ phát triển ngành.
FDI còn góp phần tăng trưởng kinh tế, là bộ phận đóng góp chủ yếu cho ngân sách
thành phố, góp phần đáng kể giải quyết việc làm, người lao động làm việc trong các doanh
nghiệp FDI có thu nhập bình quân tương đối cao và ổn định.
FDI còn có vai trò làm cho nền kinh tế thành phố thâm nhập vào thị trường quốc tế,
các doanh nghiệp địa phương buộc phải thích ứng để tồn tại và phát triển, đồng thời phải
có các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên tất cả các mặt liên quan đến
sản xuất kinh doanh, như vậy làm cho kinh tế thành phố nói chung năng động hơn, có sức
cạnh tranh tốt hơn.
Các doanh nghiệp có vốn FDI góp phần nâng cao trình độ và tạo điều kiện cho
người lao động tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật cao. Đến nay, các dự án FDI trên địa bàn

thành phố giải quyết việc làm cho gần 25.000 lao động trực tiếp và hàng chục ngàn lao
động thời vụ khác.
Cơ cấu vốn FDI phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố từ nay
đến năm 2010 là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp theo đúng quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội của thành phố. Mặt khác, FDI còn góp phần vào việc khai thác và sử
dụng các nguồn tài nguyên của thành phố một cách hiệu quả.

1.2. NHU CẦU THU HÚT VỐN VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở ĐÀ NẴNG
1.2.1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng từ 2006 đến 2010
1.2.1.1. Điều kiện, vị trí của Đà Nẵng

Footer Page 19 of 166.


Header Page 20 of 166.

Đà Nẵng là thành phố được phát triển mạnh từ thời Pháp thuộc, trở thành đơn vị
hành chính trực thuộc Trung ương từ 1/1/1997. Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 1.256,4 km2,
dân số năm 2005 là 779.017 người. Đà Nẵng hiện nay có 6 quận và 2 huyện (huyện Hoà
Vang và huyện đảo Hoàng Sa). Phía Bắc giáp với tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Nam và
phía Tây giáp với tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp với biển Đông. Đà Nẵng là đầu mối
quan trọng của hệ thống giao thông vận tải quốc gia bao gồm đường bộ, đường không và
đường biển.
Đà Nẵng nằm ở vị trí trung tâm của cả nước, có mối giao lưu kinh tế, văn hoá mật
thiết với các trung tâm lớn ở hai miền là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Nằm
giữa vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, cách khu kinh tế Dung Quất (thuộc tỉnh Quảng
Ngãi) 120 km và khu kinh tế mở Chu Lai (thuộc tỉnh Quảng Nam) 90 km về phía Nam, Đà
Nẵng hiện nay và trong tương lai sẽ là đô thị hạt nhân của khu vực. Về bưu chính viễn
thông, Đà Nẵng có trạm cáp quang biển gần bờ là cầu nối hệ thống viễn thông quốc tế của

Việt Nam với xa lộ thông tin toàn cầu. Đà Nẵng cũng là một trong số các trung tâm giao
lưu quốc tế ở Việt Nam, là điểm cuối của hành lang kinh tế Đông – Tây của Tiểu vùng
sông Mê Kông mở rộng, rất thuận lợi cho việc giao lưu với các địa phương trong nước và
các nước láng giềng như Lào, Thái Lan, Myanmar. Nguồn điện cung cấp cho thành phố từ
hệ thống điện lưới quốc gia 500KV Bắc – Nam đủ khả năng đáp ứng nhu cầu điện cho
sản xuất và sinh hoạt. Đà Nẵng có hệ thống kết cấu hạ tầng có lợi thế lớn ở miền Trung,
được coi là ưu thế trong thu hút vốn FDI. Đà Nẵng là một trong những địa phương có
chỉ số phát triển con người (HDI) cao nhất nước, hệ thống giáo dục hoàn chỉnh từ bậc
mầm non đến đại học. Đại học Đà Nẵng là một trong những trường đại học lớn nhất
của khu vực miền Trung và cả nước, là nơi đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao
phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH Đà Nẵng nói riêng và khu vực miền Trung nói
chung. Đà Nẵng cũng có hệ thống các trường dạy nghề rất tốt, đáp ứng đòi hỏi của các
nhà đầu tư trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
1.2.1.2. Định hướng chiến lược của Đà Nẵng
Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XIX đề ra:

Footer Page 20 of 166.


Header Page 21 of 166.

Với yêu cầu phát triển của 10 năm đầu thế kỷ XXI và Tầm nhìn 2020, Đà
Nẵng sẽ phát triển thành một trong những đô thị lớn của cả nước với quy mô
dân số khoảng 1,5 triệu người; không gian đô thị ngày càng mở rộng. Đà Nẵng
sẽ phát huy vai trò là đô thị trung tâm của miền Trung, đầu mối giao thông quan
trọng và cửa ngõ chính ra biển của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và hành
lang Đông – Tây; cùng với Khu kinh tế mở Chu Lai, Khu kinh tế Dung Quất,
đóng vai trò động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; là địa bàn
có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng – an ninh của khu vực và cả nước.
Trong cơ cấu kinh tế của Đà Nẵng vào năm 2020, ngành dịch vụ sẽ chiếm tỷ

trọng trên 60% GDP. GDP bình quân đầu người đến năm 2020 phấn đấu đạt
mức 5000USD/người. Đà Nẵng phấn đấu để trở thành thành phố công nghiệp
vào năm 2015 [40, tr.53-54].
a. Mục tiêu chung
Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong
thời kỳ CNH, HĐH nêu rõ mục tiêu chung về phát triển thành phố:
Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả
nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm
công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối
giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm
bưu chính - viễn thông và tài chính - ngân hàng; một trong những trung tâm văn
hoá - thể thao, giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung; là địa
bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miền
Trung và cả nước [16, tr.332].
b. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu giai đoạn 2006 - 2010
Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu sau [40]:
- Nhịp độ tăng GDP trung bình: 14% - 15%.
- GDP bình quân đầu người đến năm 2010 đạt: 2.000 USD.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp: 22% - 23%.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ: 14% - 15%.

Footer Page 21 of 166.


Header Page 22 of 166.

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp: 5% - 6%.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân: 23% - 24% /năm.
- Thu ngân sách chiếm 22% - 23% GDP.
- Giảm tỷ lệ sinh bình quân hàng năm: 0,03%.

- Hàng năm giải quyết thêm việc làm khoảng 3,2 - 3,5 vạn lao động.
- Năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn thành phố sẽ giảm xuống còn 0,5%.
- Cơ cấu kinh tế đến năm 2010: công nghiệp - xây dựng: 46,7%; dịch vụ: 50,1%;
thuỷ sản, nông, lâm nghiệp: 3,2%.
c. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng đến năm 2010
Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đã đề ra định hướng chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội thành phố đến 2010, trong đó bao gồm những nội dung chủ yếu sau [40]:
- Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành đô thị hiện đại, văn minh có môi trường
văn hoá - xã hội lành mạnh, phát triển trong thế ổn định và bền vững, giữ vai trò trung tâm
của miền Trung và Tây Nguyên với cơ cấu kinh tế công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du
lịch, thuỷ sản, nông lâm nghiệp, trong mối quan hệ với cả nước, khu vực hành lang Đông Tây và ASEAN.
- Tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Tăng tỷ trọng phát
triển công nghiệp hướng mạnh vào công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng
phục vụ cho xuất khẩu, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp hoá chất, từng bước
tăng tỷ trọng dịch vụ và du lịch.
- Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái nhằm đảm bảo sự phát triển
bền vững của thành phố, bảo vệ sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.
- Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Tạo nhiều việc làm cho
người lao động, nâng cao trình độ dân trí. Tăng cường đầu tư công cộng cho khu vực nông
thôn, miền núi, vùng xa nhằm làm cho mức sống của các tầng lớp dân cư ngày càng nâng
cao.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế; đa dạng hoá các loại hình
sản xuất kinh doanh; phát huy nội lực, tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi thông thoáng, để

Footer Page 22 of 166.


Header Page 23 of 166.

thu hút vốn và công nghệ mới từ bên ngoài, tăng cường giao lưu kinh tế với các địa

phương trong nước và quốc tế.
- Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển; nâng
cao trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tham mưu chính sách, đội ngũ cán bộ quản lý
doanh nghiệp và công nhân kỹ thuật; có chính sách phát triển, sử dụng nhân tài. Coi trọng
ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới. Phát huy truyền thống văn hoá, dũng
cảm, cần cù của nhân dân Đà Nẵng và hoà nhập với các thành phố lớn trong nước và khu
vực.
- Phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn kết với nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng, giữ
vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
1.2.2. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của Đà Nẵng và nhu cầu vốn đầu tư trực
tiếp nuớc ngoài
1.2.2.1. Tổng vốn đầu tư phát triển cần thiết cho giai đoạn 2006 - 2010
Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của UBND thành phố trình bày tại Đại
hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX nêu rõ: Để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện thắng
lợi các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra, thành phố Đà Nẵng cần phải có một nguồn vốn đầu tư
rất lớn. Để đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 14% - 15%/năm cần huy động tổng vốn
đầu tư toàn xã hội khoảng 63.200 tỷ đồng, bình quân tăng 15,8%/năm (hệ số suất đầu tư
ICOR dự kiến là 3,86 lần). Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư thời kỳ 2006 - 2010 cho ngành
nông nghiệp là 1.303,8 tỷ đồng; ngành công nghiệp, xây dựng là 19.018,9 tỷ đồng và
ngành dịch vụ là 42.877,3 tỷ đồng [49].
So sánh với thời kỳ 2001 - 2005, dự kiến tổng vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2006 2010 gấp 2,6 lần; trong đó vốn đầu tư phát triển ngành dịch vụ là lớn nhất (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển của Đà Nẵng thời kỳ 2001 - 2005
và nhu cầu thời kỳ 2006 - 2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Tổng số

Footer Page 23 of 166.

2001 - 2005

23.912,0

2006 - 2010
63.200,0


Header Page 24 of 166.

Nông nghiệp

493,3

1.303,8

Công nghiệp

7.195,9

19.018,9

16.222,8

42.877,3

Dịch vụ

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng.
1.2.2.2. Cân đối các nguồn vốn, nhu cầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đã nêu rõ nhu cầu vốn FDI của
thành phố như sau:

Để thực hiện được mục tiêu đề ra về tổng nguồn vốn đầu tư phát triển nêu
trên, thành phố cần tăng cường huy động nhiều nguồn vốn đầu tư theo nhiều
hướng khác nhau; vận động các dự án lớn của các Bộ, Ngành Trung ương đầu
tư vào thành phố; tranh thủ nguồn vốn vay dài hạn, trả chậm hàng năm của Nhà
nước và các tổ chức tài chính, tín dụng; đẩy mạnh thu hút vốn FDI, vốn đầu tư
của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Phấn đấu trong 5 năm (2006 - 2010) thu
hút vốn FDI đạt 1.640 triệu USD, chiếm 40% tổng nhu cầu vốn đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội thời kỳ này, chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp
và du lịch [40, tr.150].
Như vậy, nhu cầu bình quân mỗi năm thành phố phải thu hút vốn FDI là 328 triệu
USD. Trong các năm gần đây, Đà Nẵng luôn dẫn đầu miền Trung về thu hút FDI. Tuy
nhiên, so với các địa phương ở hai đầu của đất nước, kết quả thu hút FDI vào thành phố Đà
Nẵng còn quá khiêm tốn, chưa xứng đáng với tiềm năng và vị thế của thành phố Đà Nẵng.
Với khả năng tích lũy vốn nội bộ còn hạn chế như hiện nay thì việc thu hút nguồn vốn FDI
cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở Đà Nẵng trong thời gian tới là một vấn đề quan trọng
mang tính chiến lược.
1.3. CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1.3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài

Footer Page 24 of 166.


Header Page 25 of 166.

FDI là một lĩnh vực hoạt động gắn liền với chủ trương “đổi mới và mở cửa” của
Đảng và Nhà nước ta. Qua 20 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài, chúng ta đã đạt
được một số thành tựu đáng kể. Nước ta đã kí kết các hiệp định song phương và tham gia
các điều ước quốc tế có liên quan đến FDI, bao gồm các cam kết thực hiện điều ước quốc

tế, các hiệp định song phương, các cam kết về đầu tư đa phương. Nước ta đã tham gia một
số hiệp định đầu tư đa phương như: Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN, chương
trình hành động về xúc tiến đầu tư trong khuôn khổ diễn đàn hợp tác Á-Âu - ASEAN và
nhất là các qui định của WTO có liên quan đến đầu tư khi nước ta đã trở thành thành viên
chính thức của tổ chức này. Đến nay, khi nước ta trở thành viên chính thức của WTO, các cam
kết gia nhập WTO, trong đó có các cam kết về đầu tư, đang được thực hiện theo lộ trình đã
cam kết.
Đảng ta luôn có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị thế của thành phần kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước luôn nhất quán. Ngày 29
tháng 12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua Luật Khuyến
khích đầu tư nước ngoài. Vào thời điểm đó, Luật này được dư luận quốc tế đánh giá là một
luật đầu tư thông thoáng nhất trong khu vực [20, tr.186].
Điều 1 của Luật này qui định:
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh và khuyến
khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam trên
cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật của Việt
Nam, bình đẳng và các bên cùng có lợi. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền sở
hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước
ngoài, tạo những điều kiện thuận lợi và qui định các thủ tục dễ dàng cho tổ chức,
cá nhân đó đầu tư vào Việt Nam [27].
Hơn nữa, hoạt động FDI còn được đưa vào Hiến pháp của nước ta. Điều 25 của Hiến
pháp hiện hành qui định:
Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công
nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc
tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác

Footer Page 25 of 166.



×