Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

SKKN quản lý mầm non: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUA CÔNG TÁC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI GIÁO VIÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (344.54 KB, 20 trang )

A- ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hội nghi trung ương 2 khoá VIII của Đảng đã xác định “Giáo dục là quốc sách
hàng đầu.....” Nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhận lực, bồi dưỡng nhân tài “Phát
huy nguồn lực của con người là khâu đột phá để tiến vào thời kỳ mới..”
Vì vậy nhiệm vụ của giáo dục đào tạo trong giai đoạn mới vô cùng quan
trọng nhưng cũng rất nặng nề, trước tình hình đó giáo dục phải xác định được rõ
vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình trong giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để phục vụ cho nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ đòi hỏi người giáo
viên Mầm non phải có phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, trình độ năng
lực đề nâng cao lương tâm và nhân cách nhà giáo, lòng nhân ái tận tụy
thương yêu trẻ, thể hiện ở tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, cải tiến nội dung
phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ tham gia tích cực
Trong nhà trường nói chung, trường Mầm non nói riêng, quá trình dạy
học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Trong đó bài lên lớp
có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định tốt chất lượng
dạy và học, trực tiếp ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của nhà trường. Hiệu
quả của giờ lên lớp là do giáo viên trực tiếp giảng dạy. Nhưng vấn đề đặt ra là
quản lý như thế nào để giờ lên lớp của giáo viên đạt hiệu quả tốt nhất, đó là việc
làm thường xuyên trong công tác kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên nhằm
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Đây là vấn đề cấp thiết, để đánh giá
đúng trình độ năng lực của mỗi giáo viên, đồng thời đảm bảo được tính công
bằng trong việc đánh giá năng lực giảng dạy của mỗi giáo viên trong nhà trường.
Làm thế nào để thực hiện được công việc kiểm tra đánh giá được thường
xuyên, công bằng trong mỗi nhà trường không phải là một công việc đơn giản,
dễ làm của một người quản lý, đó là một câu hỏi mà đòi hỏi người quản lý phải
suy nghĩ, đặt bút, bắt tay làm thực sự mới có thể trả lời được.
Chính vì vậy mà tôi đã mạnh dạn tìm ra, liệt kê ra, thực hành và trải
nghiệm một số biện pháp, giải pháp để bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo
viên của đơn vị mình bằng cách kiểm tra, đánh giá, xếp loại giáo viên. Đó cũng
là đề tài tôi áp dụng nghiên cứu trong năm học 2011-2012 là: “Một số biện pháp


nâng cao chất lượng qua công tác kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên”
B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I - CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:
Đội ngũ cán bộ giáo viên có vai trò quyết định trong việc chăm sóc
giáo dục trẻ ở các trường mầm non vì vậy bất kỳ người quản lý nào không
thể bỏ qua việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên. Mục
tiêu của công tác bồi dưỡng là nhằm hoàn thiện quá trình đào tạo, khắc phục
1


những thiếu sót lệch lạc trong công tác giảng dạy, về quan điểm, nội dung
phương pháp giáo dục đồng thời theo kịp những yêu cầu của xã hội.
Thế kỷ 21 là thế kỷ của trí tuệ, là thế kỷ của nền kinh tế trí thức. Đất
nước Việt Nam tiến tới năm 2020 với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội và
công nghệ cùng với nó là hình ảnh người công dân Việt Nam mới với trình
độ học vấn cao, năng động, sáng tạo, có khả năng xử lý thông tin cao, có khả
năng tự lựa chọn và giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống, thích ứng
với sự biến đổi không ngừng của xã hội. Trách nhiệm này đặt trên vai ngành
Giáo dục đòi hỏi ngành phải có những nội dung chương trình phù hợp, đổi
mới phương pháp dạy và học một cách tích cực. Giáo dục không chỉ hoàn
thành việc đào tạo những con người thích ứng với xã hội mà còn đào tạo ra
những con người đủ phẩm chất và trí tuệ để đón đầu sự phát triển của xã hội.
Giáo dục Mầm non là tiền đề cho giáo dục Tiểu học với nhiệm vụ
chăm sóc giáo dục trẻ từ 0 đến 5 tuổi một lứa tuổi vô cùng quan trọng.
Nhà tâm lý học người Nga Ma Ca Ren Cô đã nói: “Những cái không
có được ở trẻ em trước 5 tuổi thì sau này rất khó hình thành và nhân cách đã
sai lệch từ nhỏ thì sau này khó cải tạo”
Trẻ ở tuổi Mầm non ngoài sự chăm sóc dạy dỗ của ông bà, cha mẹ trẻ
ở gia đình thì yếu tố quan trọng quyết định lớn về sự phát triển toàn diện của
những trẻ đến trường Mầm non là đội ngũ giáo viên.

Chính vì lý do trên là một cán bộ quản lý tôi đã xác định việc xây dựng
đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà mình không
được phép sao nhãng, phải bằng mọi cách để xây dựng một đội ngũ có đủ
trình độ, năng lực, sức khỏe mẫu mực, có đủ khả năng chăm sóc giáo dục trẻ
theo yêu cầu hiện nay.
Tôi càng thấm nhuần sâu sắc câu: Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết
định chất lượng giáo dục.
II - THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ :
* Thực trạng chung nhà trường:
Trường mầm non xã Nga Tiến có truyền thống chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy
dỗ các cháu tốt, là trường nằm trong danh sách những trường đạt danh hiệu
trường chuẩn quốc gia đầu tiên trong huyện Nga Sơn. Chính vì vậy mà nhà
trường có nề nếp dạy và học đã đi vào ổn định. Ban giám hiệu luôn gương
mẫu, năng động, sáng tạo, xây dựng được tập thể sư phạm đoàn kết thống
nhất.

2


Mặt khác nhà trường luôn được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp lãnh đạo
như: Sở GD-ĐT, phòng giáo dục huyện Nga Sơn, Đảng uỷ, uỷ ban nhân dân xã
Nga Tiến, các cơ quan ban ngành đoàn thể trên địa bàn.
Bên cạnh những thuận lợi nhà trường cũng còn gặp phải một số khó
khăn như: Trường đóng trên địa bàn xã nghèo. Nga Tiến là một xã vùng ven
biển, là vùng có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy sự huy động nguồn lực trong
việc phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường còn gặp nhiều khó khăn và trở
ngại.
* Thực trạng giáo viên:
Nhà trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên trẻ, khoẻ, nhiệt tình, ham mê học
hỏi bồi dưỡng, chuyên môn, nghệp vụ trong công tác giáo dục, tập thể cán bộ,

giáo viên trong nhà trường là một khối, đoàn kết cùng nhau một lòng, chị em
thương yêu, giúp đỡ lần nhau trong mọi lĩnh vực công tác, yêu nghề, mến trẻ, và
luôn có sự trao đổi kinh nghiệm trong qua trình công tác, năm học: 2011- 2012
nhà trường có 23 cán bộ giáo viên trong đó: trình độ đạt chuẩn là 7 = 30,4 % và
trên chuẩn là 16 = 69,6 %.
Một số giáo viên có tính hay đối phó, ỷ lại, chưa chịu khó sưu tầm và
làm đồ dùng dạy học đồ chơi. Một số khác do trình độ chuyên môn thấp
kém, chưa tự mình xây dựng được kế hoạch học tập và giảng dạy phù hợp
với chương trình và thực tế của địa phương hoặc không còn điều kiện đi học
nâng cao trình độ do tuổi cao nên rất sợ và ngại bị kiểm tra.
* Khảo sát chất lượng giáo viên đầu năm:
T
T

Nội dung khảo sát

- Tâm lý của giáo viên
khi được kiểm tra
- Số giáo viên có đầy
2
đủ đồ dùng, đồ chơi
dạy học.
1

3

- Chất lượng giờ dạy.
- Chất lượng lồng
4 ghép thực hiện các
chuyên đề.


Tổng
số
giáo
viên
21

Tốt
Số %
GV Số
28.
6
5

Kết quả
Khá
TB
GV Số
% Số
% GV
38.
23.
8
5
1
8

Yếu
GV


%

2

9.5

21

7

33.3

7

33.3

5

23.
8

2

9.5

21

5

23.

8

8

38.
1

6

28.
5

2

9.5

21

4

19.1

8

38.
1

7

33.3


2

9.5

3


* Thực trạng trẻ:
Qua khảo sát chất lượng trẻ đầu năm kết quả chung như sau:
* Kết quả khảo sát chất lượng trẻ đầu năm:

TT
1
2
3
4

Độ tuổi

Số trẻ

Nhà
trẻ1836tháng
Mẫu giáo 3-4 tuổi
Mẫu giáo 4-5 tuổi
Mẫu giáo 5-6 tuổi

40


Tốt
Số %
trẻ
10 25

73
69
95

24
22
30

Kết quả
Đạt
Khá
TB
Số %
Số %
trẻ
trẻ
12 30
14 35

32.9 25
31.9 22
31.6 31

34.2 18
31.9 19

32.6 27

Chưa
đạt
Số %
trẻ
4
10

24.7 6
27.5 6
28. 7
4

8.2
8.7
7.4

III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Nhận thức của bản thân về công tác kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo
viên:
Rachencô một nhà giáo dục học người Anh đã viết: “ Kiểm tra trong quản
lý trường học là phương thức thu nhận thông tin về tình hình chất lượng, về nội
dung và tổ chức của các hoạt động, giáo dục là một hệ thống những quan sát,
xem lao động sư phạm thực tế có phù hợp với kế hoạch, tiêu chuẩn, qui tắc,... đã
dự kiến trước hay không. Đó là sự vạch rõ kết quả tác động của chủ thể đến
khách thể, vạch rõ những lệch lạc đã phạm phải so với yêu cầu sư phạm và
nguyên tắc tổ chức,..”
Kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục của người giáo viên là một chức
năng của người quản lý. Kiểm tra nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá các hoạt

động sư phạm, xác định kết quả giáo dục có phù hợp với mục tiêu, nội dung, kế
hoạch đã đề ra hay không. Đánh giá toàn bộ kế hoạch trong nhà trường nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đưa nhà trường tiếp cận đến mục tiêu
giáo dục phù hợp.
Bản thân là hiệu phó phụ trách chuyên môn giáo dục, tôi là người đưa ra
các nội dung hoạt động chuyên môn trong một năm học. Do đó xếp loại giáo
viên đưa ra hoạt động kiểm tra, đánh giá tiến tới hiệu quả cao nhất.
Hiệu phó kiểm tra hoạt động chuyên môn trong nhà trường cũng chính là
kiểm tra hoạt động quản lý của chính mình. Làm hiệu phó tôi phải làm tốt công
tác kiểm tra, đánh giá đó là một chức năng quản lý, không kiểm tra xem như
không làm.

4


Trong nhà trường hoạt động chính là dạy và học, kết quả dạy và học có
đạt hiệu quả cao hay không là nhờ vào các giờ lên lớp. Vì vậy kiểm tra, xếp loại,
đánh giá giáo viên là một khoa học không phải ai cũng làm được. Do đó kiểm
tra đánh giá xếp loại giáo viên trước hết là phát huy ưu điểm, khắc phục nhược
điểm về chuyên môn, xử lý các thắc mắc, các mâu thuẫn, các khiếu nại, khắc
phục bệnh quan liêu đối với lãnh đạo.
Đứng dưới góc độ quản lý, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên sẽ đánh
giá về nhiều mặt:
+ Về giáo viên: Thông qua kiểm tra đánh giá xếp loại người quản lý nắm
bắt được trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực tri thức của giáo viên, khả
năng chuyên sau, năng lực chuyên biệt về hoạt động nào đó trong chuyên môn.
Qua đó người quản lý cũng đánh giá được phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống
của người giáo viên đó là tinh thần trách nhiệm của cô giáo đối với trẻ. Xem giáo
viên đó chuẩn bị tốt, chu đáo những điều kiện cần thiết cho giờ dạy hay không,
có yêu thương trẻ không, đã quan tâm công bằng, đã thông cảm với mọi trẻ hay

chưa, giáo viên phối hợp với phụ huynh như thế nào?
+ Về phía học sinh: Kiểm tra đánh giá xếp loại người quản lý sẽ nắm bắt
được tình hình của học sinh về sức khoẻ, tâm lý, chất lượng học tập.
+ Về cơ sở vật chất: Qua kiểm tra người quản lý còn nắm bắt được chất
lượng, số lượng đồ dùng dạy học, đồ chơi của lớp, thực trạng của lớp,...
Kết quả: Qua việc nhận thức đúng về công tác kiểm tra đánh giá, xếp loại
giáo viên tôi nắm bắt được thông tin đầy đủ, chính xác và chủ động về những
hoạt động của giáo viên, từ đó tôi đã đưa ra những quyết định đúng lúc, kịp thời
trong công tác quản lý điều hành của mình.
2. Xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên:
Nhà trường đã quan tâm sao sát trong công tác kiểm tra đánh giá, xếp loại
giáo viên: Bởi tôi nghĩ rằng “Việc kiểm tra, đánh giá, xếp loại giáo viên chính là
nắm chắc được thực trạng giảng dạy của cô và trẻ, nó là căn cứ để xem xét tiến
độ thực hiện mục tiêu của cấp học, cũng là cơ sở để thực hiện tốt công tác thi
đua khen thưởng, tạo sự công bằng trong nhà trường.
Từ việc nhận thức của bản thân về công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại
giáo viên như trên, ngay từ đầu năm học 2011-2012 tôi đã chủ động xây dựng
các kế hoạch thanh tra, kiểm tra cụ thể như sau:
+ Kế hoạch thanh tra xếp loại toàn diện 2 lần/ năm.
+ Kế hoạch dự giờ thường xuyên.
+ Kế hoạch thực hiện lồng ghép các chuyên đề.
+ Kế hoạch thi giáo viên giỏi.
Ví dụ: Tôi xây dựng kế hoạch là số giờ cho một giáo viên phải dự trung
bình trên một năm là: 18- 20 hoạt động. Đối với giáo viên có chuyên môn chưa
5


cao thì phải dự tăng 4- 6 hoạt động trong một năm như cô Tạ Thị Hương, Cô
Phạm Thị Xuân, cô Mai Thị Duyên.
Khi kiểm tra, đánh giá, xếp loại giáo viên theo một hoạt động nào đó tôi

phải xây dựng một qui trình thực hiện với 8 bước sau:
Bước1: Yêu cầu dự giờ, dự gìơ ai, dự lớp nào, mục đích gì? thời gian nào?
Bước 2: Bước chuẩn bị:
Nắm được mục đích của bài dạy, bài đó có đúng chương trình không, có
phù hợp với mục tiêu của lứa tuổi hay không, nội dung bài dạy cô giáo cần
truyền đạt những kiến thức gì, kiến thức ấy được vận hành trong hoạt động như
thế nào và tổ chức lực lượng giáo viên cùng dự thi.
Bước 3: Dự giờ
Chú ý quan sát, ghi chép các thông tin mà trong quá trình dự thấy được
ghi chép các sự việc diễn ra trong mối tương tác giữa cô và trẻ; với đồ dùng dạy
học, ghi chép các tình huống sản phẩm diễn ra, cách xử lý của giáo viên.
Bước 4: Phân tích so sánh
Căn cứ vào nội dung yêu cầu của bài dạy theo những tiêu chí khoa học để
so sánh, phân tích thành công hoặc thiếu sót theo 3 mặt:
+ Kiến thức
+ Kỹ năng
+ Thái độ
Bước 5: Đánh giá
Đánh giá dựa trên bảng chuẩn ( ba zem) một hoạt động
Bước 6: Nhận xét, góp ý.
Hiệu phó phải đưa ra những quan điểm của mình; khen chê một cách rõ
ràng, đúng mức để mọi người phấn đấu.
Bước 7: Kết luận
Hiệu phó đưa ra cho giáo viên những ý kiến kết luận đó là những qui định
của quản lý, có hai loại qui định:
+ Qui định chi tiết: Đó là những ý kiến nhỏ nhẹ về một vấn đề nào đó.
+ Qui định lớn: Có tính chất quyết định cả bài.
Bước 8: Lưu hồ sơ và yêu cầu kiểm tra lại
Đứng về góc độ quản lý việc xây dựng kế hoạch thực hiện trong một năm
học là việc làm cần thiết và vô cùng quan trọng, nó giúp cho các hoạt động

chuyên môn của nhà trường được diễn ra thường xuyên và xuyên suốt và không
bị chồng chéo trong năm học. Khi xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra tôi
cũng bám sát vào các kế hoạch sau:
+ Kế hoạch cụ thể về mục tiêu, nội dung giáo dục cho từng độ tuổi.
+ Kế hoạch thời gian thực hiện các chủ đề.
+ Kế hoạch hoạt động của các tổ chuyên môn.
+ Kế hoạch thực hiện các chuyên đề trọng tâm.
6


Sau khi xây dựng kế hoạch xong tôi kiểm tra, rà soạt lại cho thật chính
xác, tỉ mỉ, kỹ lưỡng về nội dung các hoạt động, phân bổ thời gian các ngày làm
việc và các ngày nghỉ trong năm để làm sao khi kế hoạch tới tay giáo viên không
còn nhiều sai sót.
Việc kiểm tra đánh giá, xếp loại giáo viên đã được tôi lập kế hoạch cụ thể
và biến thành kế hoạch cụ thể hoá cho từng kỳ học, từng tháng, từng tuần, từng
giáo viên, từng hoạt động.
Kết quả: Tôi đã xây dựng đầy đủ các kế hoạch thanh tra, kiểm tra, trong
năm học các nội dung được thực hiện xuyên suốt, không bị chồng chéo và sai
sót nào.
3. Làm tốt công tác tư tưởng, nắm bắt tâm lý chung của đa số giáo viên.
Đa số giáo viên là rất ngại kiểm tra, cho là kiểm tra tạo ra áp lực cho giáo
viên. Vì vậy là hiệu phó phụ trách chuyên môn giáo dục tôi luôn quan tâm đến
vấn đề giải quyết khâu tư tưởng cho giáo viên bằng các cách như: thông qua Đại
hội công nhân viên chức, qua các đại hội công đoàn, các buổi sinh hoạt chuyên
môn, ...phân tích rõ vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo
viên, giúp giáo viên hiểu rằng kiểm tra đánh giá xếp loại giáo viên là việc làm
thường xuyên của quản lý; nắm được thực trạng, chất lượng chuyên môn của
giáo viên để có kế hoạch bồi dưỡng kịp thời, đúng đối tượng nhằm nâng cao chất
lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên và để thúc đẩy nhà trường phát triển

chứ không phải vì lý do cá nhân nào khác. Ngoài ra tôi còn gần gũi giáo viên, trò
chuyện, hỏi han, giải đáp thắc mắc về chuyên môn cho giáo viên vào mọi lúc,
mọi nơi như: Khi đi dự giờ, thăm lớp,…một cách nhỏ nhẹ, phân tích, giải thích
đơn giản rõ ràng cho giáo viên, đặc biệt là giáo viên cao tuổi. Vì vậy mà tình
cảm của tôi với giáo viên càng gần gũi, không còn sợ sệt, lo lắng, che dấu những
gì mình không biết.
Kết quả: Nhờ biện pháp trên mà tôi đã khắc phục được tâm lý của một số
giáo viên có trình độ chuyên môn chưa cao.
4. Tiến hành các biện pháp quản lý thanh tra, kiểm tra:
Biện pháp 1: Kiểm tra đánh giá theo định kỳ.
Duy trì hình thức kiểm tra đánh giá theo định kỳ là việc làm thường xuyên
của nhà trường trong năm học: Trước khi dự giờ tôi lên kế hoạch thông báo
trước về thời gian, địa điểm và đối tượng giúp cho giáo viên có sự chuẩn bị về
tâm lý, chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết cho hoạt động dạy học.
Học kỳ I năm 2011- 2012 nhà trường dự được 110 hoạt động đạt 64% kế
hoạch năm học, tăng gần 14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó số hoạt động
được xếp loại giỏi là 45 hoạt động đạt 40,9%, số hoạt động xếp loại khá là 65
hoạt động đạt 59,1% .
7


Sau đây là danh sách giáo viên có hoạt động được xếp loại giỏi trong học
kỳ I năm học 2011- 2012.
TT
1
2
3
4
5
6

7
8
9
10

Họ tên giáo viên
Hoàng Thị Huân
Nguyễn Thị Hoa
Bùi Thị Lý
Vũ Thị Minh
Phạm Thị Hiền
Mai Thị Thơm
Mai Thị Tuyết
Nguyễn Thị Thảo
Trương Thị Thoa
Nguyễn Thị Sương

Đơn vị lớp, nhóm
Lớp mẫu giáo lớn
Lớp mẫu giáo lớn
Lớp mẫu giáo lớn
Nhóm trẻ 25- 36 tháng
Lớp mẫu giáo bé
Lớp mẫu giáo nhỡ
Lớp mẫu giáo nhỡ
Lớp mẫu giáo bé
Nhóm trẻ 18- 24 tháng
Nhóm trẻ 25- 36 tháng

Xếp loại giỏi

9 hoạt động
7 hoạt động
5 hoạt động
5 hoạt động
3 hoạt động
2 hoạt động
2 hoạt động
2 hoạt động
2 hoạt động
3 hoạt động

Biện pháp 2: Tiến hành kiểm tra đánh giá xếp loại đột xuất.
Xen vào các đợt kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên định kỳ, tôi thường
kết hợp kiểm tra, đánh giá, xếp loại đột xuất. Khi kiểm tra đột xuất không báo
trước chỉ khi đến giờ học tôi mới xuống lớp đề nghị giáo viên cho kiểm tra một
hoạt động bất kỳ, kiểm tra đột xuất để nắm bắt cụ thể khách quan chính xác về
sự chuẩn bị bài lên lớp và kết quả giảng dạy của giáo viên, khắc phục được tình
trạng đối phó, ỉ lại của một số giáo viên có tinh thần tự giác chưa cao. Bằng
phương pháp này tôi đã góp phần làm tăng tinh thần tự giác chủ động, tích cực
của giáo viên.
Học kỳ I năm học 2011- 2012 nhà trường đã kiểm tra đánh giá xếp loại
đột xuất 10 giáo viên/ 10 nhóm lớp, với số hoạt động là 18 hoạt động. Trong đó
hoạt động được xếp loại giỏi là 7 hoạt động đạt 38,8 %, hoạt động được xếp loại
khá là: 11 hoạt động đạt 61,2%
Kết quả kiểm tra đánh giá xếp loại đột xuất:
TT
1
2
3
4

5
6
7
8
9

Họ tên giáo viên
Hoàng Thị Huân
Nguyễn Thị Hoa
Bùi Thị Lý
Vũ Thị Minh
Phạm Thị Hiền
Mai Thị Thơm
Mai Thị Tuyết
Nguyễn Thị Thảo
Trương Thị Thoa

Đơn vị lớp, nhóm
Lớp mẫu giáo lớn
Lớp mẫu giáo lớn
Lớp mẫu giáo lớn
Nhóm trẻ 25- 36 tháng
Lớp mẫu giáo bé
Lớp mẫu giáo nhỡ
Lớp mẫu giáo nhỡ
Lớp mẫu giáo bé
Nhóm trẻ 18- 24 tháng

Xếp loại
2 hoạt động giỏi

2 hoạt động giỏi
2 hoạt động giỏi
1 hoạt động giỏi
2 hoạt động khá
2 hoạt động khá
1 hoạt động khá
2 hoạt động khá
2 hoạt động khá
8


10

Nguyễn Thị Sương

Nhóm trẻ 25- 36 tháng

2 hoạt động khá

Biện pháp 3: Kiểm tra đánh giá xếp loại giáo viên gián tiếp.
Ngoài các hình thức kiểm tra trên, tôi còn áp dụng kiểm tra đánh giá xếp
loại giáo viên gián tiếp bằng cách kiểm tra khảo sát chất lượng trẻ thông qua bài
tập khảo sát chất lượng theo 5 lĩnh vực phát triển của Mẫu giáo ( Lĩnh vực phát
triển thể chất, lĩnh vực phát triển nhận thức, lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, lĩnh
vực phát triển tình cảm- quan hệ xã hội, lĩnh vực phát triển thẩm mỹ) , 4 lĩnh vực
phát triển của nhà trẻ (Lĩnh vực phát triển thể chất, lĩnh vực phát triển nhận thức,
lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, lĩnh vực phát triển tình cảm, quan hệ xã hội và
thẩm mỹ ), riêng với lớp 5 tuổi còn kiểm tra khảo sát trẻ qua bộ công cụ chuẩn
mà nhà trường xây dựng 30 chỉ số. Chất lượng của trẻ đạt được có thể nói là kết
quả giáo dục của giáo viên. Vì vậy kết quả giờ dạy của giáo viên được thể hiện

rõ trên kết quả của trẻ, giáo viên có dạy đúng, dạy đủ chương trình, kế hoạch hay
không.
Kết quả khảo sát sác xuất trẻ học kỳ I các nhóm lớp như sau:
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Tên nhóm,
lớp
5-6 tuổi
5-6 tuổi
5-6 tuổi
4-5 tuổi
4-5 tuổi
3-4 tuổi
3-4 tuổi
25- 36 TT
25- 36 TT
18-24 TT

Giáo viên chủ
nhiệm

Hoàng Thị Huân
Nguyễn Thị Hoa
Bùi Thị Lý
Nguyễn Thị Thảo
Phạm Thị Hiền
Mai Thị Thơm
Mai Thị Tuyết
Vũ Thị Minh
Trương Thị Thoa
Nguyễn Thị Sương

Số trẻ
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5

Kết quả
Đạt
Chưa đạt
5
5
4
1

5
5
4
1
3
2
4
1
4
3
2

Biện pháp 4: Đánh giá giáo viên qua phong trào thi giáo viên dạy giỏi
Hàng năm, không năm nào nhà trường bỏ qua việc tổ chức phong trào
thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, giáo viên lên lớp 2 hoạt động học có chủ
định và một hoạt động góc; đồng thời tổ chức thi lý thuyết cho giáo viên.
Thực tế cho thấy rằng việc tổ chức phong trào thi giáo viên dạy giỏi có tác
dụng rất lớn trong việc nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên; bởi vì
khi tham gia thi giáo viên dạy giỏi đòi hỏi giáo viên phải suy nghĩ nghiên
cứu nội dung chương trình kỹ hơn, tìm tòi những phương pháp, biện pháp
lên lớp thật linh hoạt, sáng tạo trong khi lên lớp, tạo những tình huống mới lạ
9


để trẻ tập trung chú ý hơn, hứng thú trong giờ học. Bên cạnh đó giáo viên
đầu tư nhiều hơn về việc làm đồ dùng dạy học, đồ chơi phục vụ cho hoạt
động vui chơi, đồ dùng có nhiều sáng tạo để tham gia dự thi đạt kết quả cao.
Và một điều quan trọng hơn đây là đợt sinh hoạt, giao lưu học hỏi, trao đổi
về chuyên môn nghiệp vụ. Cứ sau mỗi lần tổ chức thi , thì số giáo viên tham
gia nhanh chóng nắm vững chuyên môn, tạo được uy tín đối với đồng nghiệp

với các bậc cha mẹ các cháu.
Năm nay theo với kế hoạch cụ thể mà tôi đã xây dựng đầu năm học,
giáo viên đã xác định rõ tư tưởng, trách nhiệm của người giáo viên phải tổ
chức dược các hoạt động cho trẻ, phải hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học. Do
đó giáo viên đã chủ động tự học, nghiên cứu tài liệu, tham khảo những
phương pháp dạy học mới để tự tin khi tham gia hội thi.
Kết quả: Tổng số giáo viên tham gia dự thi cấp trường là 21 giáo viên.
Tổng số giáo viên xếp loại giỏi là 20/21= 95%.
Biện pháp 5: kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên theo chuyên đề.
Hàng năm thường có những chuyên đề mới, chuyên đề được chỉnh sửa
về nội dung, phương pháp. Trong những năm gần đây giáo dục mầm non có
một số chuyên đề sau:
+ Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
+ Giáo dục bảo vệ môi trường.
+ Giáo dục kỹ năng sống.
+ Giáo dục an toàn giao thông.
+ Giáo dục tiết kiệm năng lượng.
+ Giáo dục phòng ngừa thảm hoạ, thiên tai....
Tôi đã chú ý, lên lịch kiểm tra, xếp loại giáo viên theo từng chuyên đề:
tháng 9-10 kiểm tra chuyên đề “Giáo dục kỹ năng sống”, tháng 11 kiểm tra
chuyên đề “ Giáo dục dinh dưỡng và VSATTP”, tháng 12 kiểm tra chuyên
đề “ Giáo dục và bảo vệ môi trường”, tháng 1 kiểm tra chuyên đề “ Phòng
ngừa thảm hoạ, thiên tai”, tháng 2 kiểm tra chuyên đề “ Tiết kiệm năng
lượng”, tháng 3 kiểm tra chuyên đề “ Giáo dục an toàn giao thông”. Bằng
cách làm này tôi nắm được tiến độ thực hiện yêu cầu của chuyên đề với mục
đích là đi sâu vào từng chuyên đề, từng hoạt động, giúp giáo viên được củng
cố khắc sâu thêm vấn đề mới của chuyên đề, tạo nên sự hoạt động đồng bộ
chuyên đề trên toàn trường.

10



Để thực hiện được tốt các chuyên đề ngay từ đầu năm học tôi yêu cầu
các nhóm, lớp phổ biến mảng chuyên môn trong đó nhằm nhấn mạnh nội
dung các chuyên đề trọng tâm trong năm mà lớp thực hiện. Kết quả hầu hết
các bậc phụ huynh đồng tình ủng hộ và cử ban chấp hành hội phụ huynh có
trách nhiệm sưu tầm, góp lại tranh, truyện, sách báo, các vật liệu phế thải,..
có liên quan và có thể sử dụng được đến chuyên đề.
Ngoài ra tôi còn phát động giáo viên sưu tầm sáng tác thơ chuyện,...
tranh chữ to có nội dung liên quan đến các chuyên đề. Qua đợt phát động này
nhà trường đã có 110 bộ tranh thơ, chuyện các loại ở các độ tuổi phù hợp cho
chuyên đề và có thể sử dụng được các chủ đề trong năm học.
Để thực hiện tốt các chuyên đề bản thân tôi là người có trách nhiệm lên
kế hoạch chỉ đạo cho các giáo viên thực hiện lồng ghép các chuyên đề xuyên
suốt trong cả năm học.
Các chuyên đề được kiểm tra thường xuyên cụ thể hoặc lồng ghép vào
các đợt kiểm tra khác...qua đó rút ra được ưu điểm, nhược điểm của giáo viên
để góp ý kịp thời. Bên cạnh đó tôi còn tổ chức các hoạt động dạy mẫu chuyên
đề để giáo viên được dự giờ rút kinh nghiệm.
Đặc biệt ở mỗi loại chuyên đề các giáo viên đều có quyển sổ riêng
thường xuyên ghi chép lại quá trình phát triển của trẻ vào sổ và giáo viên dành
thời gian tạo cơ hội tiếp xúc trao đổi với phụ huynh về tình hình sức khoẻ cũng
như học tập để phụ huynh kết hợp cùng với cô giáo để dạy giỗ thêm về các kiến
thức chuyên đề cho trẻ góp phần tăng cường chất lượng giảng dạy.
Đạt giáo viên giỏi các chuyên đề
T
T
1
2
3

4
5

Họ tên GV

Hoàng Thị Huân
Mai Thị Tuyết
Phạm Thị Hiền
Vũ Thị Minh
Nguyễn Thị Sương

GD dinh
dưỡng và
VSATTP

Giáo
dục bảo
vệ môi
trường

Giáo
dục kỹ
năng
sống

Tiết
kiệm
năng
lượng


x
x
x
x
x

x
x
x
x
x

x
x
x

x
x
x

Giáo
dục an
toàn
giao
thông

x

x
x


Phòng
ngừa
thảm hoạ,
thiên tai

x
x
x
x

Theo sự kế hoạch chỉ đạo của Phòng giáo dục và Đào tạo năm học
2011- 2012 sẽ tổ chức hội thi “ Bé khoẻ- Bé ngoan”ở các cấp. Tôi đã phổ
biến cho tất cả các nhóm, lớp phải chú trọng hơn tới hai chuyên đề “ Giáo
11


dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm”, chuyên đề “Giáo dục và bảo
vệ môi trường”. Hai chuyên đề này ngoài cung cấp các kiến thức cơ bản
bằng lý thuyết thì giáo viên phải chuẩn bị, sưu tầm các tranh ảnh có hình ảnh
minh hoạ thật nhiều, phong phú, đa dạng cho trẻ quan sát. Đặc biệt đối với
chuyên đề “ Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm” tôi yêu cầu
các nhóm, lớp, chuẩn bị đầy đủ các loại tranh thơ, chuyện và phải lồng ghép
cho trẻ được thực hành ở góc phân vai
Ví dụ: Góc “ Bé tập làm nội trợ” tôi yêu cầu phải có đầy đủ đồ dùng,
đồ chơi cho trẻ hoạt động thực hành chế biến món ăn, có đủ các loại tài liệu
sách, báo, tập san có hình ảnh hướng dẫn các bước, qui trình chế biến cho trẻ
quan sát học tập và tập làm theo.

( H1: Hình ảnh góc “Bé tập làm nội trợ” mà tôi đã chỉ đạo cho giáo viên

thực hiện).
Kết quả: Tất cả các nhóm lớp đã thực hiện rất tốt các nội dung của
chuyên đề và hoàn thành tốt hội thi ở các cấp, nhà trường đã đạt giải ba hội
thi “ Bé khoẻ- Bé ngoan”cấp huyện.

12


Tóm lại việc kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên theo chuyên đề thì
chất lượng của giáo viên và học sinh đã được nâng lên rõ rệt.
Biện pháp 6: Tổ chức thi, thanh tra kiểm tra đồ dùng dạy học và
đồ chơi theo từng chủ đề.
Căn cứ vào tháng 8, tháng 9 hàng năm ngoài thời gian dự học lớp
chuyên đề tôi còn tổ chức cho giáo viên làm đồ dùng đồ chơi để phục vụ cho
hoạt động học tập. Bởi đồ dùng đồ chơi đóng một vai trò rất quan trọng trong
việc giáo dục Mầm non, nó là phương pháp hữu hiệu nhất để truyền thụ kiến
thức cho trẻ.
Vì đặc điểm của lứa tuổi này là thông qua con đường chơi mà học, học
mà chơi. Qua vui chơi trẻ có thể tiếp thu kiến thức của bài học nhanh nhất ,
lớn nhất. Thực tế qua vui chơi giúp trẻ phát huy được tính tò mò, ham hiểu
biết, giúp trẻ nảy sinh nhiều ý sáng tạo, trẻ rất thích chơi vơi đồ dùng đồ chơi
và đồ chơi được luôn luôn thay đổi sẽ thu hút trẻ vào cuộc choi lâu hơn,
hứng thú trong khi chơi hơn.
Trong điều kiện địa phương còn nghèo nàn, cha mẹ các cháu không có
tiền để mua thêm đồ chơi cho các cháu học. Nhà trường đã hướng dẫn cho
giáo viên tận dụng một số phế liệu, vật sẳn có tại địa phương để làm ra đồ
dùng đồ chơi đẹp mắt cho các cháu và phục vụ dạy học.
Xuất phát từ điều trên mà hàng năm trong các hoạt động phong trào của
nhà trường tôi không bao giờ bỏ qua việc lên kế hoạch tổ chức cho giáo viên
tham dự thi đồ dùng đồ chơi dạy học.

Năm học 2011-2012 để lập thành tích chào mừng kỉ niệm ngày thành
lập “Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam” tôi đã lên kế hoạch tổ chức thi chấm đồ
dùng dạy học và đồ chơi cấp trường.
Tôi xây dựng kế hoạch thi trên 10 nhóm lớp, với chủ đề thi là: “ Thi làm
đồ dùng, đồ chơi và thuyết trình về đồ dùng đồ chơi ở các góc bằng nguyên
vật liệu phế thải và vật liệu sẵn có ở địa phương”.
Kết quả: Hội thi tổ chức rất thành công và đạt được kết quả rất tốt so
với dự kiến đề ra.
+ 1 giải xuất sắc là cô Hoàng Thị Huân với bộ đồ dùng “Góc âm nhạc”
+ 2 giải nhì: Cô Phạm Thị Hiền lớp 3-4 tuổi bộ đồ chơi “Góc xây
dựng” và cô Nguyễn Thị Sương nhóm trẻ 25- 36 tháng với bộ đồ chơi “ Hoạt
động với đồ vật”.
+ 3 giải ba: Cô Nguyễn Thị Hoa lớp 5-6 tuổi bộ đồ chơi “ Góc tạo
hình” và cô Mai Thị Tuyết lớp 4-5 tuổi bộ đồ dùng, đồ chơi “Góc phân vai”;
13


cô Vũ Thị Minh nhóm 25-36 tháng tuổi bộ đồ dùng, đồ chơi “ Góc nghệ
thuật”....

( H.2: Hình ảnh tổ chức chấm thi đồ dùng đồ chơi trường Mầm non Nga
Tiến.)
Qua việc tổ chức hội thi theo chủ đề từng góc đã giúp cho các giáo
viên ở các nhóm lớp học hỏi lần nhau, vì thế mà bộ đồ dùng, đồ chơi ở các
góc trong trường tôi thêm đầy đủ và phong phú, đa dạng.
Ngoài việc đánh giá xếp loại giáo viên qua đợt tổ chức thi làm đồ
dùng, đồ chơi, hàng tháng tôi còn kiểm tra số lượng đồ dùng, đồ chơi và đồ
dùng dạy học theo từng chủ đề. Số lượng này tôi căn cứ vào kế hoạch nội
dung trọng tâm trong tháng của giáo viên đã lên trong “Sổ tổng hợp”. Sau đó
tôi ghi vào cuốn sổ tay ghi chép của mình và từng chủ đề tôi tổng hợp lại để

làm căn cứ đánh giá xếp loại giáo viên cụ thể.
Ví dụ: Khi tôi duyệt kế hoạch trọng tâm tháng cho cô Hoàng Thị Huân,
cô lên kế hoạch làm đồ dùng cho chủ đề “Thế giới thực vật” là 8 cây ăn quả,
8 cây hoa, 8 cây cảnh, làm tranh 5 loại rau ăn lá, 5 loại rau ăn củ.
Đến cuối tháng tôi duyệt kế hoạch xong và đi kiểm tra xem kết quả số
lượng đồ dùng mà cô làm được. Nếu cô Huân làm đầy đủ số lượng theo kế
hoạch đề ra thì trong tháng cô Huân được xếp loại tốt.
14


Qua việc thường xuyên duy trì nội dung thi làm đồ dùng dạy học và
đồ chơi kết hợp với việc kiểm tra đồ dùng dạy học và đồ chơi theo từng chủ
đề mà tất cả các nhóm, lớp đều có số lượng đồ dùng dạy học phong phú, đa
dạng. Bởi giờ dạy có đầy đủ đồ dùng đồ chơi nên việc truyền thụ kiến thức
cho các cháu dễ dàng hơn, vì lứa tuổi này phương pháp quan trọng nhất là
trực quan, hình ảnh, sinh động.
Tóm lại: Việc bồi dưỡng một số kỹ năng làm đồ dùng dạy học, và việc
quản lý, kiểm tra đồ dùng dạy học của người quản lý là một trong những yêu
cầu quan trọng giúp cho giáo viên nâng cao được chất lượng giờ dạy, tạo
điều kiện cho giáo viên hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Biện pháp 7: Làm tốt công tác hướng dẫn và quản lý đánh giá xếp
loại theo hồ sơ, sổ sách:
* Làm tốt công tác hướng dẫn làm hồ sơ, sổ sách.
Hàng năm cứ vào đầu năm học tôi thường tổ chức một buổi sinh hoạt
họp chuyên môn đầu năm để kiểm tra lại, hướng dẫn lại, bổ xung thêm cho
các giáo viên về cách thức làm hồ sơ, sổ sách theo đúng với yêu cầu của
chương trình; mỗi giáo viên đều có sổ tay ghi chép sinh hoạt chuyên môn để
ghi những nội dung cần thiết trong tháng, những nội dung được chỉnh sửa,
thay đổi so với năm cũ cho giáo viên cập nhật để có biện pháp thực hiện cho
đúng.

Ví dụ 1: Năm học 2011- 2012 có nội dung thay đổi về việc tổng hợp
báo cáo sức khoẻ cân đo theo định kỳ tôi triển khai cho giáo viên nội dung
chỉnh sửa so với năm trước là:
+ Những năm trước: trẻ mẫu giáo cân, đo 3 tháng 1 lần; nhà trẻ cân, đo
1 tháng 1 lần
+Năm 2011- 2012: Trẻ mẫu giáo cân 3 tháng 1 lần, đo 6 tháng 1 lần;
trẻ nhà trẻ 25- 36 tháng cần 3 tháng 1 lần, đo 3 tháng 1 lần, trẻ 18- 24 tháng
cân 1 tháng 1 lần, đo 1 tháng 1 lần.
Ví dụ 2: Năm học 2011-2012 còn có chuyên đề bổ sung về chương
trình giáo dục Mầm non mới như: cách xây dựng mục tiêu, mạng nội dung,
mạng hoạt động cho giáo viên, có một số thay đổi về tên gọi như:
+ Năm trước có tên gọi là “Hoạt động có chủ định” và mục đầu tiên
cho hoạt động này là “Mục đích yêu cầu”
+ Năm nay chuyển là “Hoạt động có chủ định” và gọi là “Mục đích”.
Hoặc: + Những năm trước khi xây dựng kế hoạch hoạt động cho từng chủ đề
giáo viên lên đã dầy đủ 5 lĩnh vực phát triển của Mẫu giáo, 4 lĩnh vực phát

15


triển cho nhà trẻ, nhưng mục tiêu của các lĩnh vực đang còn lên chung chung
chưa cụ thể rõ ràng.
+ Năm nay tôi hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch cũng dựa trên 5
lĩnh vực phát triển của Mẫu giáo, 4 lĩnh vực phát triển cho nhà trẻ nhưng cụ
thể, rõ ràng hơn
Ví dụ: Tôi hướng dẫn cho giáo viên xây dựng mục tiêu của chủ đề của
mẫu giáo phải xây dựng cụ thể theo bảng sau:
Các lĩnh vực
- Phát triển thể chất
- Phát triển nhận thức


- Phát triển ngôn ngữ
- Phát triển tình cảm, kỹ
năng xã hội.
- Phát triển thẩm mỹ

Mục tiêu
+ Giáo dục dinh dưỡng - Sức khoẻ.
+ Phát triển vận động
+ Khám phá khoa học
+ Làm quen với toán
+ Khám phá xã hội
+ Khả năng nghe - nói
+ Khả năng đọc viết
+ Phát triển tình cảm
+ Kỹ năng xã hội
+ Tạo hình
+ Âm nhạc

Kết quả:Qua việc hướng dẫn và bổ sung những điều cập nhật hồ sơ sổ
sách về chuyên môn tôi thấy giáo viên nắm vững chắc hơn về kiến thức
chuyên môn, cách làm hồ sơ, sổ sách theo yêu cầu của ngành đề ra.
* Quản lý, đánh giá xếp loại theo hồ sơ, sổ sách:
Công tác quản lý hồ sơ, sổ sách bản thân tôi luôn có kế hoạch cụ thể
cho hàng tháng ngày từ đầu năm học, thông qua buổi họp chuyên môn đầu
năm, tôi đưa ra yêu cầu 1 tháng kiểm tra hồ sơ, sổ sách duyệt giáo án 2 lần/
tháng. Qui định đầu tháng vào ngày mồng 3, cuối tháng vào ngày 27.Tôi cứ
căn cứ lịch đều đặn như vậy và yêu cầu giáo viên chủ động nộp hồ sơ về văn
phòng để tôi duyệt.
Cứ như vậy kết quả duyệt hồ sơ của hàng tháng tôi cũng ghi ra sổ tay

ghi chép những mặt đã làm được và chưa làm được để có kế hoạch triển khai
vào buổi họp chuyên môn thường kỳ cho giáo viên.

16


Kết quả kiểm tra hồ sơ, sổ sách tôi cũng ghi chép lại để cuối học kỳ
tổng hợp và xếp loại giáo viên.
Kết quả xếp loại hồ sơ của giáo viên năm học 2011-2012 như sau:
TT Tên giáo viên
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Hoàng Thị Huân
Nguyễn Thị Hoa
Bùi Thị Lý
Vũ Thị Minh
Phạm Thị Hiền
Mai Thị Thơm
Mai Thị Tuyết
Nguyễn Thị Sương
Trương Thị Thoa

Nguyễn Thị Thảo

Nhóm, lớp
Lớp mẫu giáo lớn
Lớp mẫu giáo lớn
Lớp mẫu giáo lớn
Nhóm 25- 36 tháng
Lớp mẫu giáo bé
Lớp mẫu giáo nhỡ
Lớp mẫu giáo nhỡ
Nhóm 25-36 tháng
Nhóm 18-24Tháng
Lớp 3-4 tuổi

Tốt
x
x
x
x

Xếp loại
Khá
TB

x
x
x
x
x
x


III. KIỂM NGHIỆM:
Bằng những giải pháp, biện pháp chỉ đạo “ Công tác kiểm tra, đánh giá
xếp loại giáo viên” trên đây trường tôi đã bước đầu thu được những kết quả
sau:
* Kết quả giáo viên:
Khắc phục được tâm lý chung của đa số giáo viên là không còn lo
ngại, mặc cảm khi được kiểm tra.
Công tác kiểm tra đánh giá xếp loại giáo viên được tiến hành một cách
nhịp nhàng, chủ động không bị chồng chéo.
Duy trì được các hình thức kiểm tra, khắc phục được tình trạng đối
phó, ỉ lại, đảm bảo đánh giá chính xác, khách quan năng lực của từng giáo
viên.
Nâng cao chất lượng giờ lên lớp, hiệu quả chăm sóc- nuôi dạy các
cháu ngày được nâng lên.
Số các cháu thi Huyện hàng năm đều được giải cao.
Nâng cao hiệu quả tự làm đồ dùng dạy học và đồ chơi cho trẻ. Số
lượng đồ dùng, đồ chơi các lớp nhiều hơn, đa dạng, phong phú hơn.
Chất lượng chuyên môn của giáo viên ngày được nâng lên.
17


Công tác quản lý hồ sơ sổ sách được dễ dàng, thực hiện nghiêm túc
đều đặn hơn.
Việc lồng ghép các chuyên đề của giáo viên trong các chủ đề cũng
được thực hiện đầy đủ.
* Kết quả trẻ:
Chất lượng trẻ cũng được nâng lên rõ rệt và được thể hiện qua các
bảng tổng hợp sau.
* Khảo sát chất lượng giáo viên cuối năm:


TT

1
2
3
4

Nội dung khảo
sát
- Tâm lý của
giáo viên khi
được kiểm tra
- Số giáo viên
đầy đủ đồ dùng,
đồ chơi dạy học.
- Chất lượng giờ
dạy.
-Chất lượng lồng
ghép thực hiện
các chuyên đề.

Tổng số
giáo viên

Tốt
Số %
GV Số

Kết quả

Khá
TB
GV Số
% Số
% GV

Yếu
GV

%

21

10

47.6

8

38.
1

3

14.3

0

0


21

9

42.9

8

38.
1

4

19

0

0

21

8

38.
1

10

47.6


3

14.3

0

0

21

9

42.9

8

38.
1

4

19

0

0

* Kết quả khảo sát chất lượng trẻ cuối năm:

TT

1
2
3
4

Độ tuổi

Số trẻ

Nhà
trẻ1836tháng
Mẫu giáo 3-4 tuổi
Mẫu giáo 4-5 tuổi
Mẫu giáo 5-6 tuổi

64

Kết quả
Đạt
Chưa
đạt
Tốt
Khá
TB
Số %
Số %
Số %
Số %
trẻ
trẻ

trẻ
trẻ
19 29.7 22 35.3 20 31.3 3
4.7

73
69
95

25
23
31

34.2 25
33.3 23
32.6 32

34.2 19
33.3 19
33.7 29

26.1 4
27.5 4
30. 3
5

5.5
5.8
3.2


18


Những biện pháp tôi đã áp dụng trên đây đã đem lại những kết quả nhất
định và trở thành kinh nghiệm của bản thân trong công tác quản lý. Do đó
phương hướng tới là tiếp tục áp dụng những biện pháp trên và nâng cao yêu cầu
để buộc giáo viên của đơn vị mình, phải luôn luôn rèn luyện và hành động, phát
huy những biện pháp tốt mang lại hiệu quả cao. Đồng thời cũng rút ra những hạn
chế trong các biện pháp, luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi suy nghĩ, phát hiện những
điều hay, những cái mới của các lớp tập huấn, của đồng nghiệp để vận dụng tốt
hơn vào công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT:
1. Kết luận:
Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ giáo, muốn nắm được chắc trình độ chuyên
môn của mỗi giáo viên thì phải làm tốt công tác kiểm tra dánh giá xếp loại giáo
viên. Người quản lý cần thật sự khách quan, trung thực để đánh giá tình hình giờ
lên lớp thì mới có thể hiểu được thực chất tình trang, tình hình để đề ra những
biện pháp thích hợp, người quản lý cần phải giải quyết tốt vấn đề tư tưởng cho
giáo viên giúp cho giáo viên hiểu sâu sắc vị trí, vai trò của công tác kiểm tra
đánh giá xếp loại, để họ không mặc cảm, không ngại khi có người kiểm tra.
Làm tốt kế hoạch kiểm tra đánh giá xếp loại giáo viên thì bản thân người
quản lý phải thật sự gương mẫu, có trình độ, có năng lực, có uy tín đối với đội
ngũ giáo viên.
Ngoài ra, tôi không ngừng học hỏi, tìm hiểu thực tế, học tập kinh nghiệm
của các đồng nghiệp đã làm tốt công tác này để nghiên cứu, vận dụng vào tình
hình của đơn vị mình nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác xây dựng
và bồi dưỡng giáo viên
Người quản lý phải ra quyết định chính xác, kịp thời về kết quả kiểm tra,
đánh giá xếp loại giáo viên để hoạt động chuyên môn theo hướng đúng đắn với
phương châm. “ Kỷ cương- Tình thương- Trách nhiệm”.

Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân về “ Một số biện pháp nâng cao
chất lượng qua công tác kiểm tra đánh gía xếp loại giáo viên”, rất mong được sự
đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, hội đồng khoa học ngành, để phát huy
sáng kiến của mình góp phần nhỏ bé vào công cuộc chăm sóc - giáo dục, vì sự
phồn vinh của đất nước
2. Đề xuất:
Là một phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn giáo dục tôi tấy tài liệu cho
giáo viên tham khảo về chương trình giáo dục Mầm non đang còn ít, vậy mong
Phòng GD huyện Nga Sơn, quan tâm đến việc cung cấp thêm tài liệu cho các nhà
trường, các giáo viên để có tài liệu học tập, cập nhật những kiến thức về chương
trình giáo dục mầm non mới, để có kiến thức giáo dục phù hợp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
19


Nga Tiến;Ngày 15 tháng 4 năm 2012
Người viết sáng kiến
Phạm Thị Phương

20



×