Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

Phát triển chính phủ điện tử ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào (tt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (354.01 KB, 26 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐALASEN SUNTHON

PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở
CỘNG HÕA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI, NĂM 2016

1


Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Bế Trung Anh

Phản biện 1: TS. Đặng Thành Lê

Học viện hành chính QG

Phản biện 2: TS. Nguyễn Bùi Nam

Viện Hàn Lâm KXXHVN

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn,


Học viện Hành chính quốc gia
Địa điểm: Phòng họp ..402.. nhà ..A... Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ,
Học viện Hành chính quốc gia
Số 77 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Thời gian: vào hồi: 14 giờ 15 phút ngày 12 tháng 01 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Học viện Hành chính quốc gia hoặc trên
trang web của Khoa Sau đại học
Học viện Hành chính quốc gia

2


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Phát triển Chính phủ điện tử đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu
của các quốc gia trên toàn thế giới. Lào đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển,
việc phát triển Chính phủ điện tử từ trung ương đến cơ sở không chỉ là yêu cầu
cấp thiết mà còn đóng vai trò hết sức quan trọng phù hợp với nhu cầu phát triển
của Lào và xu hướng phát triển của thời đại hướng tới tăng cường năng lực điều
hành nhà nước của Chính phủ; mang lại thuận lợi cho người dân; tăng cường sự
minh bạch, chống tham nhũng, giảm chi phí cho chính phủ, làm tăng thu nhập
quốc dân, cung cấp các dịch vụ cho người dân tốt hơn.
Nhận thức được vai trò và xu thế phát triển tất yếu của Chính phủ điện tử,
Lào bắt đầu triển khai dự án xây dựng Chính phủ điện tử từ năm 2007. Dự án đã
hoàn thành cơ bản việc xây dựng cơ sở hạ tầng và một số các phần mềm xong
trong năm 2011, là bước quan trọng của sự phát triển công nghệ thông tin và
truyền thông ở Lào, góp phần thức đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định, nâng
cao đời sống của nhân dân, phấn đấu đưa đất nước Lào thoát khỏi tình trạng kém
phát triển trong năm 2020. Tuy nhiên, Quá trình triển khai chính phủ điện tử ở Lào

từ trung ương tới địa phương và tới người dân trong thời gian qua vẫn còn trì trệ
và hiệu quả do các cấp lãnh đạo nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và
viên chức nhận thức chưa đầy đủ về Chính phủ điện tử; thiếu kinh phí; khả năng
sử dụng công nghệ thông tin của nguời dân, công chức, viên chức trong hệ thống
bộ máy nhà nước còn hạn chế; hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin và truyền
thông và pháp luật của Lào chưa đồng bộ; chất lượng bảo mật thông tin còn nhiều
yếu kém và kinh nghiệm về phát triển CPĐT của còn rất hạn chế. Vì vậy, nghiên
cứu về phát triển Chính phủ điện tử ở CHDCND Lào là một việc hết sức cần thiết
để giúp đất nước nhanh chóng phát trển và hội nhập. Nhận thức được tầm quan
trọng của vấn đề trên, tôi chọn đề tài: "PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở

3


CHDCND Lào" với hy vọng phần nào đó nâng cao nhận thức của mình về vấn đề
này cũng như đề xuất một số giải pháp phát triển Chính phủ điện tử tại Lào trong
thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Trong nghiên cứu này đã có một số bài viết, giáo trình, luận văn, đề tài
nghiên cứu khoa học, chuyên đề hội thảo v..v ở trong và ngoài nước mà cũng
đã đạt được những thành công nhất định.
- Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc.
+ TS. Nguyễn Đăng Hậu, TS. Nguyền Hoài Anh, CN. Ao Thu Hoài (2010),
Chính phủ điện tử, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà nội.
+ Đoàn Mạnh Hồng (2009), Nghiên cứu xây dựng lộ trình phát triển
Chính phủ điện tử tại việt nam và đề xuất mô hình Chính phủ điện tử tại đại học
Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ, Đại học Thái Nguyên.
+ Nguyễn Nam Trung (2007), CPĐT và khả năng áp dụng Chính phủ
điện tử Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Đại học Ngoại Thương (Hà Nội).
+ Trọng Cầm (2012), „Chính phủ điện tử mạnh phải cho dân quyền giám

sát‟, Báo điện tử Vietnamnet.vn, <http:// vietnamnet.vn/vn/cong-nghe-thongtin-vien-thong/81493/-chinh-phu-dien-tu-manh-phai-cho-dan-quyen-giam-sat.html>.
+ Thành Chung (2012), „Chính phủ điện tử: Minh bạch hơn, phục vụ tốt
hơn‟, Báo điện tử Baodientu.Chinhphu.vn, <
/Home/Chinh-phu-dien-tu-Minh-bach-hon-phuc-vu-tot
hon/20127/144049.vgp>.
- Nguyễn Đặng Tuấn Minh – Giám đốc tập đoàn công nghệ số MSc (2009),
E-Government Service Development – A Vital Factor in Business Environment
Improvement in Viet Nam,< EGovern ment
%20Service 20Development.pdf>
- Shailenda C.Jain Palvia and Shushil S.Sharma (2007), E-Government

4


and E-Governance: Definitions/Domain Framework and Status around theWorld,
www.iceg.net,<www.iceg.net/2007/ books/1/1_369.pdf>.
- Tình hình nghiên cứu trong nƣớc.
Vấn đề phát triển Chính phủ điện tử CHDCND Lào hầu như vắng bóng
Đã có một đề tài Từng bước quản lý nhà nước theo hướng Chính phủ điện tử,
năm 2012”. Tuy nhiên, đề tài này chỉ xem xét nghiên cứu đến hoạt động quản
lý nhà nước theo hướng Chính phủ điện tử nhưng vấn đề về phát triển Chính
phủ điện tử mà chưa đề cập đến tại CHDCND Lào.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Mục đích:
Xây dựng căn cứ khoa học về cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển Chính
phủ điện tử ở CHDCND Lào.
- Nhiệm vụ:
+ Tập hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến Chính phủ điện tử
tạo ra bước đột phá trong hợp tác để thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin
trong CQNN và phát triển Chính phủ điện tử tại Lào, để từ đó đề xuất các giải

pháp phù hợp cho phát triển Chính phủ điện tử tại Lào.
+ Đánh giá những thành tựu, thực trạng chính phủ điện tử và vấn đề đặt ra
trong thực hiện chính phủ điện tử thời gian qua tại CHDCND Lào.
+ Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm phát triển Chính phủ
điện tử trong thời gian tới với mục tiêu đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử,
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ
người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn; công khai, minh bạch hoạt động
của các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động Chính phủ điện tử tại Lào với việc
giao dịch và cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp
là đối tượng được hưởng các dịch vụ của chính phủ.

5


- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cưú thực trạng triển khai
Chính phủ điện tử ở CHDCND Lào từ năm 2011 đến nay trên cơ sở phân tích
mặt những lợi thế và khó khăn trong hoạt động xây dựng Chính phủ điện tử nhằm
tìm ra phương hướng và giải pháp phát triển Chính phủ điện tử ở Lào trong thới
gian sắp tới đáp ứng nhu cầu cần thiết của đời sống xã hội ngày càng cao theo
hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở cho
việc nghiên cứu. Trên cơ sở đó, tác giả sử dụng các phương pháp nhận thức khoa
học cụ thể như: sử dụng phương pháp phân tích tài liệu liên quan đến Chính phủ
điện tử ; từ phân tích tài liệu, tổng hợp lại xây dựng thành cơ sở lý luận và pháp lý
về phát triển Chính phủ điện tử ở chương 1 để tìm ra các phương hướng phát
triển chính phủ điện tử của thế giới ở mục 3.1.1 và mục 3.1.2; sử dụng phương
pháp thống kê phân tích thực trạng triển khai Chính phủ điện tử tại CHDCND

Lào thông qua hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng ở mục 2.2.1 và hoạt động
nâng cao trình độ CNTT cho cán bộ-công chức ở mục 2.2.3, hoạt động cung cấp
dịch vụ công điện tử ở mục 2.2.4; từ những thành tựu và vấn đề đặt ra trong
thực hiện Chính phủ điện tử thời gian qua đánh giá sự phát triển của Chính phủ
điện tử của CHDCND Lào ở mục 2.3.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn cuả luận văn.
- Ý nghĩa lý luận:
Luận văn đã xây dụng hệ thống và tổng hợp nền tảng lý luận bổ sung thêm
kho tàng kiến thức về Chính phủ điện tử và cơ sở để phát triển Chính phủ điện tử.
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Luận văn góp phần hoàn thiện giải pháp cụ thể hóa lộ trình và bước đi
phù hợp giúp Lào đạt những thành công khi triển khai Chính phủ điện tử trong
thời giai đoạn tới.
+ Cung cấp nhũng thông tin và giai pháp có ý nghĩa cho cơ quan chức năng

6


chịu trách nhiệm chủ đạo việc triển khai Chính phủ điện tử.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm 3 chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển chính phủ điện tử.
Chƣơng 2: Thực trạng phát triển chính phủ điện tử ở Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào.
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp phát triển chính phủ điện tử ở
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

7



Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ
VỀ PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
1.1.1. khái niệm về chính phủ điện tử.
CPĐT là Chính phủ sử dụng CNTT & TT để tăng cường khả năng truy
cập và cung cấp các dịch vụ của Chính phủ tới các công dân, các doanh nghiệp
và các nhân viên Chính phủ làm việc có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn,
cung cấp thông tin tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, các tổ chức và tạo điều
kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý nhà
nước. Nói một cách ngắn gọn, CPĐT là chính phủ hiện đại, đổi mới, vì dân,
hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn trên cơ sỏ ứng dụng
CNTT & TT [22,4].
1.1.2. Đặc điểm Của chính phủ điện tử.
CPĐT có các đặc điểm chung sau:
Thứ nhất, CPĐT là việc Chính phủ sử dụng CNTT & TT để tự động hóa,
số hóa các thủ tục, giấy tờ, dịch vụ hành chính truyền thống;
Thứ hai, CPĐT thay đổi phong cách lãnh đạo, quản lý, tạo ra cách thức
mới trong việc xây dựng và quyết định chiến lược, giao dịch kinh doanh, lắng
nghe người dân và cộng đồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông
tin;
Thứ ba, CPĐT nhằm mục tiêu tăng cường năng lực của chính phủ theo
hướng quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính công khai, minh bạch
nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế và xã hội của đất nước vì mục tiêu
phát triển;
Thứ tư, CPĐT nhằm mục đích cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch
vụ chính phủ nhằm đem lại lợi ích cho người dân.

8



Thứ năm, CPĐT là Chính phủ làm việc với người dân 24/24 giờ, 7 ngày
mỗi tuần và 365 ngày mỗi năm, người dân có thể thụ hưởng các dịch vụ công
dù họ ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào.
1.1.3. Các mục tiêu của chính phủ điện tử.
- Tăng cường sự tin tưởng của công chúng vào bộ máy nhà nước và cung
cấp các dịch vụ xã hội “tốt hơn”
-Tạo môi trường kinh doanh tốt hơn.
- Khách hàng trực tuyến, không phải xếp hàng.
- Tăng cường sự điều hành có hiệu quả của chính phủ và sự tham gia rộng
rãi của người dân.
- Nâng cao tính minh bạch và tin cậy của chính phủ thông qua việc đẩy
nhanh ứng dụng ICT trong quản lý và điều hành cũng như mở ra các cơ hội mới
cho người dân được chủ động trong quá trình tham gia vào việc hoạch định
chính sách của chính phủ.
- Nâng cao năng suất và tính hiệu quả của các cơ quan chính phủ.Việc
tái lập lại các qui trình và thủ tục để giảm bớt nạn quan liêu, hỗ trợ việc cung
cấp dịch vụ, nâng cao năng suất về mặt hành chính và tăng cường tíết kiệm là
những lợi ích mà CPĐT đem lại.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng vùng sâu vùng xa.
- Cải thiện mối tác động qua lại giữa 3 chủ thể chính của xã hội và kinh tế
của đất nước.
1.1.4. Lợi ích của chính phủ điện tử.
Về mặt lợi ích, CPĐT có nhiều ưu điểm và lợi ích hơn so với Chính phủ
truyền thống:
Thứ nhất, sự vận hành của chính phủ truyền thống diễn ra thủ công, nhiều
thủ tục, tốn nhiều công sức và tài chính cho cả nhà nước, doanh nghiệp và nhân
dân; người dân chỉ có thể liên hệ với Chính phủ 5 ngày/tuần, 8h/ngày tại trụ sở
của các CQNN.

9



Thứ hai, xét về tốc độ xử lý các dịch vụ giữa CPĐT và Chính phủ truyền
thống, việc tin học hóa và tự động hoá thủ tục hành chính của CPĐT cho phép
giải quyết các dịch vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, gọn hơn, đơn giản hơn rất nhiều.
Thứ ba, với những khách hàng trực tuyến, CPĐT sẽ giúp làm giảm thiểu
sự tham gia của các cán bộ chính phủ trong việc cung cấp một cách hiệu quả các
dịch vụ công cộng cho người dân.
Thứ tư, CPĐT sẽ khắc phục và đẩy lùi những tiêu cực diễn ra trong hoạt
động công vụ đó là cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, trì trệ, quan liêu …., các
“thủ tục bôi trơn”.
Thứ năm, CPĐT là nên tảng để chuyển từ nên hành chính truyền thống
sang nền hành chính phát triển, mà thực chất là chuyển từ nền hành chính cai
trị sang nền hành chính phục vụ.
-Đối với Chính phủ.
+ Tăng cường tính hiệu quả và chất lượng dịch vụ của bộ máy nhà nước
(hay đồng nghĩa với giảm trì trệ - quan liêu).
+ Giảm “nạn giấy tờ” văn phòng – công sở, tiết kiệm thời gian, hợp lý hóa
việc vận hành công việc, cho phép các cơ quan Chính phủ cung cấp các dịch vụ
chất lượng cao hơn và giảm ngân sách chi tiêu của chính phủ.
+ Hợp lý hóa việc vận hành công việc, cho phép các cơ quan chính phủ
cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn và giảm ngân sách vận hành bộ máy
nhà nước.
+ Tăng cường sự minh bạch, giảm tham nhũng: Do không bị giới hạn bởi
không gian và thời gian, CPĐT tạo ra luồng thông tin thông suốt và minh mạch
cũng như khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ một cách dễ dàng, thuận tiện.
+ Giảm chi phí cho chính phủ: giúp hoạt động mua sắm công của chính
phủ hiệu quả hơn nhờ giảm chi phí giao dịch từ 10-20% [23, 23].
1.1.5. Các giai đoạn xây dựng Chính phủ điện tử.
Quá trình xây dựng CPĐT chia làm 4 giai đoạn như sau:


10


- Giai đoạn 1: Sự hiện diện (Presence)
Sự hiện diện là giai đoạn đầu của sự phát triển và thiết lập một địa chỉ
cung cấp thông tin trong tương lai.
- Giai đoạn : Tương tác (Interaction)
Giai đoạn thứ hai cho thấy các giao dịch dựa trên web tương tác cung cấp
khả năng nâng cao, tuy nhiên vẫn tương đối đơn giản và thường xoay quanh
cung cấp thông tin và còn hạn chế trong khả năng sắp xếp hợp lý và tự động
hóa các chức năng của chính phủ.
- Giai đoạn : Giao dịch (Transaction)
Những chức năng cung cấp dịch vụ đa dạng hơn, không còn là đơn thuần
là cung cấp thông tin hướng dẫn và thể hiện các hình thức hoạt động phổ biến
liên quan của CPĐT.
- Giai đoạn : Chuyển đổi (Transformation)
Cấp cao nhất của sự phát triển CPĐT là giai đoạn chuyển đổi. Ở cấp độ này,
công nghệ được sử dụng đầy đủ tính năng để biến đổi chức năng của Chính phủ
được hình thành, tổ chức và thực hiện.
1.1.6. Các mô hình giao dịch trong chính phủ điện tử.
Một mô hình CPĐT hiệu quả sẽ bao gồm cách thức giải quyết quan hệ
tương tác về thông tin giữa ba chủ thể: chính phủ, công dân và doanh nghiệp.
Trên cơ sở quan hệ giữa các chủ thể trên, ta có thể phan loại CPĐT ra thành 4
loại, tương ứngvới 4 dạng dịch vụ Chinh phủ bao gồm:
- G2C (Government to Citizens);
- G2B ( Government to Business);
- G2E ( Government to Employees);
- G2G ( Government to Government).
1.1.7. Các hình thức và các dạng dịch vụ chủ yếu của chính phủ điện tử.

- Các hình thức hoạt động chủ yếu của CPĐT.
+ Thư điện tử ( e-mail).

11


+ Mua sắm công trong CPĐT.
+ Trao đổi dữ liệu điện tử.
+ Tra cứu, cập nhật thông tin qua mạng.
- Các dạng dịch vụ mà CPĐT cung cấp.
Một số dịch vụ công có thể cung cấp qua mạng là:
+ Cung cấp thông tin văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương chính sách;
+ Cung cấp thông tin kinh tế, xã hội và thị trường;
+ Cung cấp dịch vụ đăng ký, cấp phép xuất nhập khẩu trực tuyến;
+ Cung cấp dịch vụ khai báo thuế trực tuyến;
+ Cung cấp dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến GIS và các dịch vụ
được cung cấp qua CPĐT.
CPĐT có thể sử dụng Internet và GIS để cung cấp được nhiều những dịch
vụ mới mà người dân và doanh nghiệp quan tâm.
+ Cung cấp dịch vụ ứng dụng của GIS để quản lý đất đai, giấy phép xây
dựng.
+ Cung cấp dịch vụ thông tin quy hoạch.
+ Cung cấp dịch vụ ứng dụng GIS để trao đổi thông tin giữa các cơ quan,
chính quyền các cấp phục vụ quản lý tài nguyên.
1.2. Cơ sở và các yếu tố để xây dựng và phát triển chính phủ điện tử.
1.2.1. Cơ sở để xây dựng và phát triển chính phủ điện tử.
1). Hạ tầng công nghệ.
2). Cơ sở hạ tầng nhân lực và chuyên gia CNTT
3). Công dân điện tử và doanh nghiệp điện tử.
4). Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội.

5). Cơ sở chính sách – pháp luật.
6). An toàn và bảo mật thông tin.
1.2.2. Các yếu tố để triển khai thành công chính phủ điện tử.
Các yếu tố để triển khai thành công CPĐT bao gồm những yếu tố như

12


sau:
1). Cải cách hành chính.
2). Vai trò của lãnh đạo.
3). Chiến lược đầu tư.
4). Cộng tác.
5). Sự tham gia của người dân..
1.3. Phát triển các dịch vụ trực tuyến.
- Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác
của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường
mạng internet.
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1;
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2;
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3;
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4;
1.4. Kinh nghiệm triển khai chính phủ điện tử.
Hiện nay, Hàn Quốc, Singapore, vương quốc Anh là những nước đứng
đầu trên thế giới về CPĐT. Như vậy, Lào nên rút kinh nghiệm từ những nước
đi trước để rút nắn thời gian triển khai CPĐT.
- Hàn Quốc.
Trước hết cần hoàn thiện pháp luật và kiến trúc tiêu chuẩn hệ thống thông
tin quốc gia nhằm chia sẻ thông tin, quản lý chất lượng thông tin thống nhất,
trong đó việc xây dựng trung tâm dữ liệu số quốc gia là rất cần thiết; hoàn thiện

cơ chế tài chính đầu tư cho dự án công CNTT nhằm thúc đẩy việc triển khai
dự án; xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chính phủ
trong việc triển khai CPĐT (cải cách hành chính nhà nước); tăng cường năng
lực và nâng cao nhận thức về CPĐT đến các cán bộ chính phủ để hiểu được
tầm quan trọng của CPĐT và sự cần thiết thay đổi ngay từ bên trong nội bộ
chính phủ, đồng thời đổi mới nhận thức của tầng lớp lãnh đạo trong việc ứng

13


dụng CNTT vào hoạt động của chính phủ; Đẩy mạnh đào tạo, tuyên truyền
CPĐT, CNTT để người dân hiểu và ủng hộ chính phủ trong công tác triển
khai CPĐT; Xây dựng đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm triển khai CPĐT.
-Singapore: Kinh nghiệm trong việc triển khai và phát triển thành công
hạ tầng số và nền kinh tế số ở Singapore có được là thông qua các kế hoạch cụ
thể, cẩn thận và các chiến lược dài hạn, ví dụ như kế hoạch tổng thể 10 năm iN
2015 của Tổ chức phát triển truyền thông (IDA) nhằm đến việc xây dựng một
quốc gia về truyền thông mà tại đó cuộc sống được làm giàu lên thông qua truyền
thông.
- Việt Nam:Trong quá trình triển khai CPĐTđã rút ra 5 kinh nghiệm:
Theo chuyên gia Việt nam cho rằng đầu tiên là việc triển khai tin học hóa
hay cải cách hành chính trước.
Thứ 2 là việc xây dựng Cổng thông tin điện tử (Portal) hay dịch vụ
công trước. Nhiều năm qua, mọi người thường chỉ chú trọng xây dựng Cổng
thông tin điện tử.
Thứ ba, hạ tầng như thế nào là đủ để xây dựng CPĐT. Hầu hết hạ tầng
hiện nay của chúng ta đã đủ. Tại một số nơi, do chắp vá nên lúc nào cũng tưởng
là thiếu.
Thứ tư là làm thế nào để triển khai rộng CPĐT khi có rất nhiều sự khác
biệt giữa các đơn vị hành chính trong cùng một địa phương.

- Vƣơng quốc Anh: Vương quốc Anh là một trong những quốc gia được
cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao trong việc xây dựng và phát triển CPĐT.
Trong lộ trình phát triển CPĐT của mình, Vương quốc Anh đã đặt mục
tiêu đến năm 2005 là tất cả những dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan chính
quyền phải được điện tử hóa và thực hiện các dịch vụ đó trên mạng Internet. Điều
này có nghĩa là các dịch vụ trên phải được cung cấp 24 giờ trong ngày, 7 ngày
trong tuần và theo một cách thức tiết kiệm chi phí.

14


CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở
CỘNG HÕA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
2.1. Hoạt động của cơ quan chính phủ Lào.
Theo luật Chính phủ cộng hòa dân chủ nhân dân Lào năm 2003, Chính
phủ là cơ quan hành pháp của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, quản lý
thống nhất thi hành trong lĩnh vực thuộc Nhà nước bao gồm chính trị, kinh tế,
văn hóa, giáo dục, quốc phòng an ninh và ngoại giao.
Cơ cấu tổ chức của Chính phủ bao gồm: văn phòng chính phủ, các Bộ, cơ
quan ngang Bộ do Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, sáp nhập theo đề nghị
của Thủ tướng Chính phủ.
2.1.1. Hoạt động của văn phòng chính phủ.
Văn phòng chính phủ là một cơ quan ngang bộ trong chính phủ Lào, là
bộ máy giúp việc của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ và các phó thủ tướng
trong việc kiểm soát hoạt động của Chính phủ và chính quyền địa phướng phối
hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận xây dựng
tổ quốc và tổ chức xã hội; quản lý, điều hành, đảm bảo an ninh và tạo điều kiện
thuận lợi về mọi mặt cho hoạt động của Chính phủ, thủ tướng chính phủ và các
phó thủ tướng chính phủ

2.1.2. hoạt động của Bộ và cơ quan ngang Bộ.
Bộ và cơ quan ngang bộ có trách nhiệm trước Chính phủ và phó thủ tướng
người chỉ đạo mảng quản lý nhà nước trong của mình.
2.2. Thực trạng triển khai chính phủ điện tử tại CHDCND Lào.
2.2.1. Hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng.
Chính phủ Lào đã thực hiện dự án CPĐT, ban đầu đã giao cho bộ khoa
học và công nghệ thực hiện, hiện nay đã chuyển giao cho bộ bưu chính viễn
thông do sử dụng nguồn vốn của Trung Quốc là vốn vay lãi suất thấp. Dự án

15


này có giới hạn 3 năm đã hoàn thành cơ bản về việc xây dựng hạ tầng cơ sở
và phần mềm cơ bản trong giai đoạn giai đoạn 1 (2007 – 2009) có giá trị đầu
tư 280.000 hoặc 36.745.407 $ nhưng thực tế thực tế dự án bị kéo dài thành 5
năm và kết thức trong năm 2011. mục tiêu của dự án gồm có:
- Xây được trung tâm nghiên cứu, phát triển và điều hành CPĐT.
- Tự động hóa và hiện đại hóa xử lý thông tin.
- Có khả năng kết nối hệ thống mạng máy tính giữa các phòng ban với
nhau.
- Cung cấp công cụ cho các phòng ban trong việc phổ biến thông tin trong
nước và quốc tế.
- Xây dựng trung tâm dịch vụ thông tin và cơ sở vật chất để nhân dân có
khả năng tiếp cận thông tin của chính phủ thuận tiện hơn.
- Thay đổi cách thức cung cấp dịch vụ nhân dân phải đến các quan nhà
nước thành dịch vụ trực tuyến, tiết kiệm chi phí và thời gian cho dân.
- Xây dựng quy chế để tạo niềm tin trong việc ứng dụng CNTT và áp
dụng CPĐT
- Đào tạo cán bộ kỹ thuật, quản lý và điều hành song song vơi việc nâng
cao nhận thức và tập huấn cách thức ứng dụng cho các phòng ban và xã hội.

Xây dựng hệ thống phần mềm CPĐT gồm có: cổng thông tin quốc gia
(National portal) có tên là: là hệ thống dữ liệu điện
tử tập hợp dữ liệu của các cơ quan có khả năng triển khai thông tin của mình
qua internet.
Ngoài ra còn có hệ thống phần mềm làm cho văn phòng của các cơ quan
hành chính Nhà nước có khả năng ứng dụng: hệ thống lưu trữ dữ liệu (E Archive);
hệ thống kiểm soát và lưu trữ (E-Document tation); hệ thống đăng ký điện tử
(E-Registration); hệ thống bản đồ điện tử (E-map), hệ hống học qua mạng (Elearning portal), hệ thống tổ chức cuộc họp từ xa (Tele conference system), hệ
thống trò chuyện điện tử, hệ thống tìm kiếm các dữ liệu và phần mềm duyệt virus.

16


Tất cả đã cài đặt xong trong năm 2010.
- Đã hoàn thành việc dịch tiếng Anh sang tiếng Lào trong hệ thống cơ sở
dữ liệu từ vựng của Google ( Google CLDR Survey Tool) số lượng 6.000 từ
hoặc câu của tổ chức Unicode để ứng dụng vào các hệ thống máy tính và di
động, tổng hợp từ ngữ tiếng Lào tất cả 3.814 câu và từ vựng trong từ điển
Anh-Lào và Lào-Anh hơn 60.000 từ cho công ty Google theo kế hoạch phát triển
và khuyến kích sử dụng tiếng Lào.
2.2.3. Hoạt động xây nâng cao trình độ CNTT cho cán bộ-công chức.
Trong năm 2015 vừa qua Bộ bưu chính viễn thông Lào đã tạo điều kiện
thuận lợi về mặt chuyên môn trong thực hiện dự án cùng nhau của các ngành
bằng việc tư vấn, góp ý, cho suất tập huấn, hỗ trợ cho các ngành thực hiện dự án.
- Tổ chức tập huấn cho cán bộ thực hiện dự án và một số nhân viên được
85 người ; tập huấn cập độ quốc gia được 2 lần và tỉnh 1 lần có người tham gia
800 người, tập huấn chuyên môn công nghệ thông tin cho cán bộ - công chức
các ngành khác được 14 lần có người tham gia 250 người. Ngoài ra còn tổ chức
tập huấn ngắn hạn 1 tuần cho người sử dụng được 14 lần có người tham gia
290 người.

- Đã cử cán bộ chuyên môn đi tập huấn ở đại học alcatel cộng hòa Trung
Hoa gồm có tập huấn về cơ sở hạ tầng 8 người, hệ thống mạng 8 người, ứng dụng
các trang thiết bị được 20 người và điều hành cuộc họp từ xa được 20 người.
- Đã hướng dẫn cách ứng dụng cụ thể ở các phòng ban được 10 đơn vị
tổ chức của các bộ có hệ thống dữ liệu cán bộ, 4 phòng chính trị và 20 văn phòng
chính quyền bản của thủ đô Viêng Chăn có cơ sở dữ liệu về công dân, 20 văn
phòng hành chính nhà nước có hệ thống điều hành hồ sơ, tiếp nhận và trả lại hồ
sơ, 30 văn phòng hành chính nhà nước có hệ thống lưu trữ văn bản điện tử, 5
văn phòng thử nghiệm dịch vụ đăng ký điện tử và 5 nhà trường đã ứng dụng
hệ thống giáo dục học từ xa vào trong việc giảng dạy.
Tổ chức tập huấn cho các văn phòng hành chính nhà nước trong nhiều

17


nội dung.
2.2.4. Cung cấp dịch vụ công điện tử.
Tổng hợp các trang web tiếng Lào hiện có hơn 1000 trang web, 20% các
CQNN có trang web phổ biến thông tin Chính phủ trên mạng, tập trung phổ biến
các điều lệ, quy tắc, các văn bản pháp luật... giúp cho công dân và doanh nghiệp
truy cập thông tin Chính phủ.
Lào vẫn còn tụt hậu quá lớn so với các nước về việc cung cấp dịch vụ
công điện tử. Hiện nay phần lớn các dịch vụ công điện tử ở Lào chủ yếu ở
mức độ 1, 2.
2.3. Đánh giá sự phát triển CPĐT của CHDCND Lào..
2.3.1.Nhận thức về chính phủ điện tử.
Các cấp lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức và người dân về vai trò,
lợi ích của CPĐT chưa đầy đủ, dẫn đến lãnh đạo các cấp tham gia thúc đẩy, cán
bộ, công chức, viên chức chưa quan tâm và sẵn sàng, người dân chưa thực sự
nhập cuộc trong việc thực hiện các dự án liên quan đến ứng dụng và phát triển

CNTT.
Theo cuộc khảo sát đầu năm 2012 trong 120 CQNN cho thấy 50% của
chưa biết hoặc chưa hiểu về CPĐT, có nhiều hơn 80% của các CQNN chưa từng
áp dụng CPĐT.
2.3.2. Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông.
Hệ thống hạ tầng mạng của các cơ quan chính phủ vẫn còn hạn chế về
dung lượng, tốc độ, an toàn thong tin, cũng như các chuẩn kỹ thuật,chưa đáp
ứng được yêu cầu trao đổi thông tin ngày càng tăng giữa các cơ quan chính phủ
và cung cấp thông tin, dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp.
Hạ tầng viễn thông và Internet của Lào vẫn thuộc vào một trong những
nước kém phát triển. Khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn, giữa những
nhóm người thu nhập khác nhau, giữa Lào và các nước trong khu vực đang có
xu thế dãn ra.

18


2.2.3. Môi trường pháp lý..
Năng lực xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật lien quan đến lĩnh
vực CNTT & TT còn nhiều hạn chế, đầu mối quản lý về việc rà soát, điều
chỉnh và xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật ứng dụng CNTT &
TT vẫn còn tản mạn, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật bị chậm
trễ.
2.2.4. Bí mật và an toàn thông tin.
Thời gian qua Đảng và nhà nước Lào đã nỗ lực phát triển hạ tầng viễn
thông từ Trung ương xuống cơ sở và cải thiện kết nối mạng đạt tiêu chuẩn
quốc tế, nhưng đến nay chưa có nhiều dịch vụ trực tuyến được cung cấp qua
mạng yêu cầu bí mật và an toàn thông tin cao, ngoài số ngành tài chính, ngân
hàng, có nhu cầu thiết yếu an toàn, an ninh thông tin khi trao đổi thông tin qua
các dịch vụ trên mạng và cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân và

các doanh nghiệp.
2.2.5.Thiếu nguồn vốn, nguồn nhân lực cao cấp.
Cũng giống như bất kỳ một dự án cơ sở hạ tầng nào của CPĐT, CPĐT
có thể được thực hiện theo nhiều giai đoạn và chi phí cho việc triển khai dự án
sẽ phụ thuộc vào mức sẵn sàng của cơ sở hạ tầng hiện nay, vào năng lực của
nhà cung cấp và người sử dụng cũng như phương thức cung cấp dịch vụ (thông
qua Internet, qua đường điện thoại trực tuyến hoặc thông qua cửa hàng “một
cửa”. Các dịch vụ mà chính phủ muốn cung cấp càng phức tạp, tinh vi thì chi
phí cho chúng càng lớn.
Do thiếu ngân sách đã làm cho nhiều dự án viễn thông không hoàn thành
theo kế hoạch như: dự án trung tâm phát sóng số 2 và 3, trung tâm Internet
Phụ số 2 và dự án CPĐT giai đoạn 1.
2.2.6. Cải cách hành chính chậm với phương thức điều hành lạc hậu.
Hiện ở CHDCND Lào chưa xác định thực sự rõ ràng cơ quan cụ thể nào
chịu trách nhiệm chủ đạo việc triển khai CPĐT, có cả văn phòng Chính phủ, Bộ

19


bưu chính viễn thông, một số cơ quan khác nữa…đều tham gia triển khai CPĐT.
Các nguyên nhân cơ bản được chỉ ra:
Nguyên nhân đầu tiên và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất là công
tác tuyền truyền về CPĐT chưa được triển khai mạnh mẽ nên các cấp lãnh đạo
nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và viên chức chưa nhận thức đúng
đắn về những lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động của Chính
phủ.
Nguyên nhân thứ hai, các đề án ứng dụng CNTT không có các mục tiêu
rõ ràng, phạm vi cụ thể, không xác định được trọng tâm, trọng điểm dựa trên
việc đánh giá nhu cầu thực tế một cách nghiêm túc.
Nguyên nhân thứ ba, do Internet là một lĩnh vực mới mẻ ở Lào nên hiện

nay hệ thống pháp luật vẫn chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của CPĐT.
Nguyên nhân thứ tư, Hệ thống hạ tầng CNTT & TT ở Lào chưa đồng bộ.
Hệ thống cơ sở dữ liệu tích hợp, cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu đặc tả (Metadata)
vẫn chưa được hoàn thiện.
Nguyên nhân thứ năm, trình độ sử dụng CNTT của nhân dân, công chức,
viên chức trong hệ thống bộ máy nhà nước còn hạn chế.
Nguyên nhân thứ sáu, dịch vụ công chưa được điện tử hóa, chủ yếu vẫn
ở quy mô nhỏ, chưa kết nối, và chưa chia sẻ thông tin trên diện rộng. Tỉ lệ các
văn bản điện tử được trao đổi qua mạng còn hạn chế; việc điều hành, xử lý công
việc qua mạng còn chưa nhiều.
Nguyên nhân thứ bảy, chất lượng bảo mật thông tin còn nhiều yếu kém.
Nguyên nhân thư tám, Lào là nước đi sau, khoa học kỹ thuật và công
nghệ về lĩnh vực CNTT & TT chưa phát triển. Do vậy kinh nghiệm về phát triển
CPĐT của Lào còn rất hạn chế.

20


CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP VÀ PHƢƠNG HƢỚNG PHÁT TRIỂN
CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở CHDCND LÀO
3.1. Phƣơng hƣớng phát triển chính phủ điện tử ở CHDCND Lào.
3.1.1. Phƣơng hƣớng phát triển chính phủ điện tử của thế giới.
Xu hướng phát triển CPĐT trên thế giới. Từ những năm đầu thập kỷ 90
của thế kỷ trước, hầu hết các nước công nghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới
đều đã tiến hành triển khai chương trình xây dựng và phát triển CPĐT, nhằm
đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu ngày một tăng của xã hội, nâng cao năng lực
và khả năng thích ứng, đồng thời giảm bớt chí phí hoạt động của chính phủ.
3.1.2. Quan điểm của Nhà nƣớc Lào.
Lào nhận thức được rằng xây dựng CPĐT giúp đổi mới hoạt động của

các cơ quan hành chính nhà nước, đưa Chính phủ tới gần dân, minh bạch hóa
hoạt động của Chính phủ, giúp Chính phủ hoạt động hiệu lực, hiệu quả
hơn.Trong báo cáo chính trị của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhân dân cách mạng Lào đã
khẳng định rằng: ứng dụng khoa học-công nghệ hiện đại đặc biệt là phát triển hệ
thống CNTT & TT (ICT) để phát triển đất nước có khả năng hòa nhập với các
nước trong khu vực và quốc tế [1,18].
3.2. Yêu cầu và giải pháp phát triển CPĐT ở CHDCND Lào.
3.2.1. Nâng cao nhận thức và thay đổi cách nghĩ về CPĐT.
Trước tiên là nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo từ trung ương
đến địa phương. Đây là công việc có tầm quan trọng vì đây là cấp có vai trò
quyết định. Một khi các cấp lãnh đạo trung ương nhận thức đầy đủ về vai trò
và tác dụng của chính phủ điện tử và có ý kiến chỉ đạo cụ thể về vấn đề này
thì việc xây dựng chương trình kế hoạch phát triển chính phủ điện tử sẽ thuận
lợi hơn.

21


Tổ chức tuyên truyền trong cơ quan Chính phủ và trong toàn xã hội về
lợi ích xây dựng và phát triển CPĐT. Nâng cao hiểu biết, nhận thức, trách nhiệm
và năng lực xây dựng CPĐT cho cán bộ, công chức, viên chức. Nâng cao hiểu
biết và khả năng khai thác các lợi ích mà CPĐT đem lại cho người dân và doanh
nghiệp. Các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm phổ biến, tuyên truyền
về xây dựng và phát triển CPĐT trong toàn xã hội.
3.2.2. Phát triển CPĐT gắn với cải cách hành chính nhà nước.
Phải gắn tin học hoá quản lý hành chính nhà nước với vấn đề cải cách
hành chính. Đây là hai quá trình có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Chuẩn hoá các quy trình hành chính, quy trình cung cấp dịch vụ công và
thanh toán trực tuyến phí dịch vụ. Tuy nhiên, CPĐT cũng cần tăng tính phối

hợp sử dụng chung giữa các hệ thống, tiết kiệm chi phí chứ không chỉ là những
chuẩn hoá quy trình triển khai tách biệt.
- Kiện toàn công tác quản lý các hoạt động ứng dụng CNTT.
+ Tập trung vào một đầu mối chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn thực hiện các
chương trình, đề án, dự án và các hoạt động cứng dụng CNTT trong các cơ quan
Chính phủ theo kế hoạch tổng thể thống nhất – kế hoạch tổng thể CPĐT.
+ Các dự án ứng dụng CNTT thuộc các Bộ, ngành, địa phương do các Bộ,
ngành, địa phương chịu trách nghiệm tổ chức thực hiện và quản lý.
- Thành lập ban điều phối quốc gia về CPĐT để điều phối có hiệu quả các
hoạt động liên bộ, liên ngành, giao cho Bộ bưu chính Viễn thông làm cơ quan
thường trực điều phối.
- Tăng cường vai trò quản lý nhà nước của Bộ bưu chính Viễn thông:
Tăng cường, tập trung và thống nhất chức năng quản lý nhà nước về CNTT trên
toàn quốc của Bộ bưu chính Viễn thông.
- Kiện toàn đầu mối quản lý CNTT tại các Bộ, ngành rà soát và tổ chức lại
các đơn vị liên quan đến quản lý CNTT thành một đơn vị quản lý ứng dụng
CNTT thống nhất, thực hiện chức năng quản lý và tổ chức triển khai có hiệu

22


quả kế hoạch thực hiện CPĐT và ứng dụng CNTT & TT tại Bộ, ngành mình.
- Kiện toàn đầu mối quản lý CNTT tại các địa phương Sở bưu chính,
Viễn thông là cơ quan giúp tỉnh ủy thực hiện chức năng quản lý và tổ chức triển
khai có hiệu quả kế hoạch thực hiện ứng dụng CNTT và phối hợp với các cơ quan
liên quan thực hiện các nội dung triển khai CPĐT tại các tỉnh.
3.2.3. Phải có lộ trình, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.
Qua tìm hiểu quá trình phát triển CPĐT của các nước, có thể thấy một
số kinh nghiệm về lộ trình phát triển chính phủ điện tử của các nước như sau:
1. Hạ tầng kỹ thuật CNTT.

Một trong những mấu chốt cho sự phát triển ứng dụng CNTT trong CPĐT
là xây dựng hạ tầng CNTT và bảo đảm an ninh thông tin.
2. Ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước
3. Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp
3.2.4. Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin.
Phát triển nguồn nhân lực CNTT là phát triển nguồn nhân lực làm công
tác về CNTT, điện tử, viễn thông; nhân lực chuyên nghiệp về CNTT, điện tử,
viễn thông làm trong các doanh nghiệp và công nghiệp; nhân lực cho ứng dụng
CNTT của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; cán bộ, viên chức và mọi người
dân sử dụng, ứng dụng tốt về CNTT.
Ngiên cứu xây dựng chế độ ưu đãi đối với cán bộ, công chức chuyên
trách về CNTT để cho họ động lực làm việc để hoàn thành công việc tốt hơn.
Khen thưởng tuyên dương cá nhân, tổ chức có thành tích trong việc ứng dụng
CPĐT trong làm việc.
3.2.5. Nâng cao chất lượng bảo mật thông tin đảm bảo an toàn, an ninh
thông tin.
Để đảm bảo an toàn thông tin và dữ liệu cho dịch vụ công điện tử cần
phải tiến hành bảo mật theo nhiều mức: mức mạng, mức xác thực người sử

23


dụng, mức cơ sở dữ liệu. đồng thời việc xác thực và mã hóa dữ liệu cần phải có
cơ chế xác thực, cấp phép truy cập, mã hóa thông tin, dữ liệu cho việc truy cập
vào các thông tin, dịch vụ cần phải định danh người truy cập nhằm đảm bảo an
toàn cho trang thông tin điện tử trong quá trình khai thác, vận hành
3.2.6. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý để triển khai
CPĐT.
Củng cố môi trường pháp lý, tạo điều kiện thúc đẩy CPĐT. Tiếp tục rà soát,
điều chỉnh và xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo hoàn thiện

hệ thống môi trường pháp lý hỗ trợ tích cực phát triển CPĐT Lào.
Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý để triển khai CPĐT.
Xây dựng một đề án tổng thể thật cụ thể về CPĐT để trình các cơ quan
có thẩm quyền xem xét, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động xây dựng chính phủ
điện tử.
Xác định nhiệm vụ rõ ràng, phân công phân cấp và phối hợp thực hiện
giữa trung ương và địa phương một cách đồng bộ, trung ương làm gì và địa phương
phải làm những gì khi xây dựng CPĐT.
Điều chỉnh, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách liên
quan cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của quá trình thực hiện, triển khai các
dự án ứng dụng CNTT & TT và xây dựng CPĐT.
3.2.7. Phát triển nguồn tài chính cho phát triển CPĐT.
Chính phủ cần phải huy động tối đa các nguồn vốn khác nhau để phát
triển CPĐT. Cân đối kinh phí để đảm bảo thực hiện các chương trình, dự án
trọng điểm và xây dựng cơ sở hạ tầng của CPĐT. Kinh phí thực hiện CPĐT của
các Bộ, ngành, địa phương được lấy từ ngân sách của Bộ, ngành, đia phương, vốn
hỗ trợ (ODA) và các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.
3.2.8. Nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến (online).
- Các đơn vị, CQNN phải tập trung đẩy mạnh, đổi mới ứng dụng CNTT

24


trong công tác quản lý, nhất là trong công việc giải quyết các thủ tục hành chính,
cung cấp các dịch vụ công trực tuyến đối với những lĩnh vực có liên quan đến
người dân và doanh nghiệp.
- Triển khai việc thuê các doanh nghiệp về công nghệ thông tin để thực
hiện các dịch vụ về phần cứng, phần mềm, giải pháp...để tất cả các cơ quan
nhà nước có thể cung cấp được các dịch vụ công trực tuyến.
- Nâng cấp, bổ sung và tích hợp các dịch vụ hành chính công trực tuyến

của các bộ, ngành địa phương cùng các đơn vị trực thuộc lên cổng thông tin
điện tử của các bộ, ngành địa phương.
- Xây dựng một môi trường pháp lý được nhiều người quan tâm. Các quy
định về việc cung cấp dịch vụ công trên môi trường internet cùng với việc xây
dựng cơ sở hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu, nhân lực phục vụ cho các hoạt động
của cơ quan nhà nước.
- Tăng cường sự đảm bảo về an toàn và bí mật thông tin của các cá nhân
khi sử dụng dịch vụ hành chính công điện tử.
3.2.9. Học tập kinh nghiệm về phát triển CPĐT của nước ngoài, đẩy
mạnh phối hợp với các tổ chức quốc tế.
Kinh nghiệm về phát triển CPĐT của Lào còn rất hạn chế. Do vậy, việc
nghiên cứu cũng như học tập các kinh nghiệm về phát triển CPĐT của các quốc
gia trên thế giới là rất hữu ích. Nghiên cứu về đặc điểm, cách thức cũng như
những thất bại mà các quốc gia khác đã từng trải qua sẽ giúp Lào rút ra được
nhiều kinh nghiệm, từ đó tham mưu cho Chính phủ nhằm hoạch định chiến lược
tổng thể, đồng bộ hơn cho phát triển CPĐT tại Lào trong thời gian sắp tới
Để làm được này đòi hỏi chính phủ phải tăng cường hoạt động ngoại
giao, kêu gọi và hợp tác đầu tư với tổ chức, chính phủ các nước trong lĩnh vực
CNTT phục vụ cho việc xây dựng CPĐT.

25


×