Tải bản đầy đủ (.docx) (21 trang)

ứng dụng các phần mềm tin học trong hoạt động thương mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (361.21 KB, 21 trang )

ỨNG DỤNG CÁC PHẦN MỀM TIN HỌC TRONG
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
I. MỞ ĐẦU
1.1. Nhu cầu về ứng dụng các phần mềm tin học trong hoạt động thương mại
Với tiến bộ nhảy vọt trong vòng vài chục năm trở lại đây, cuộc cách mạng
công nghệ thông tin đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người.
Các phần mền tin học ngày càng được sử dụng rộng trong đời sống và phát triển
kinh tế, trong đó thương mai là một lĩnh vực cần sử dụng đến nhiều phần mềm,
nhất là khi Thương Mại Điện Tử ra đời. Sự tăng trưởng nhanh chóng của số
người sử dụng internet cùng với sự phát triển kỹ thuật công nghệ hiện đại đã góp
phần mang lại những tiện ích tuyệt vời ở mọi lĩnh vực trong cuộc sống. Bắt kịp
xu hướng này, hệ thống thương mại toàn cầu đã có bước chuyển mình quan
trọng khi Thương Mại Điện Tử ra đời và được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế
giới. Ở Việt Nam, tuy hình thức này mới bắt đầu hình thành khoảng 8 năm gần
đây, nhưng với những lợi ích vượt trội mang lại, Thương mại điện tử đang trở
thành một trong những lựa chọn hàng đầu của các nhà kinh doanh và doanh
nghiệp.
Lĩnh vực công nghệ thông tin (IT) tại Việt Nam đang phát triển với một tốc độ
đáng kinh ngạc và càng bùng nổ mạnh mẽ hơn với sự đổ bộ của ngành thương
mại điện tử (e-commerce). Công nghệ thông tin và thương mại điện tử có mối
quan hệ mật thiết, hay nói các khác IT là nền tảng phát triển của e-commerce.
Dựa trên những ứng dụng, phương pháp và công cụ kỹ thuật của công nghệ
thông tin, những nền tảng trang web, hình thức thanh toán, quy trình mua hàng...
sẽ được thiết lập nhằm mang lại cho khách hàng những trải nghiệm mua sắm
trực tuyến tối ưu nhất. Con người mua bán trao đổi hang hóa qua mạng điện tử,
thực hiện các giao dịch vào thanh toán trực tuyến. Với lợi thế dễ sử dụng nhanh
gon, không tốn nhiều công sức, nên ngày được sử dụng nhiều. Hơn nữa đây còn


là một xu hướng toàn cầu hóa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
Vì vậy nhu cầu sử dụng tin học vào thương mại rất cao và rất cần thiết .


1.2.Vai trò của ứng dụng các phần mềm tin học trong hoạt động thương mại
Trong bối cảnh nguồn nhân lực thương mại điện tử của doanh nghiệp còn ít
và nguồn tài chính còn khiêm tốn, tham gia các sàn giao dịch thương mại điện tử
(e-marketplace) là một giải pháp mang tính chiến lược và đem lại hiệu quả cao.
Theo kết quả điều tra, 10,2% doanh nghiệp đã tham gia giao dịch trên các sàn
thương mại điện tử trong và ngoài nước, so với tỷ lệ 7,9% của năm 2006. Trong
số những doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch thương mại điện tử, 63% đã ký
được hợp đồng với con số trung bình là 19 hợp đồng trong năm 2007. Giao dịch
có thể ở quy mô nhỏ, theo hình thức bán lẻ đến người dùng cuối (giao dịch thấp
nhất trên sàn giao dịch đạt 300.000 đồng) hoặc những hợp đồng xuất khẩu với
giá trị lên tới chục tỷ đồng (hợp đồng có giá trị lớn nhất ký được qua sàn giao
dịch là 9,6 tỷ đồng).

Bảng1: Mức độ tham gia sàn giao dịch của doanh nghiệp thuộc các ngành nghề
khác nhau
So sánh các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau, doanh
nghiệp thuộc ngành du lịch, dệt may - da giày và dịch vụ CNTT-TMĐT có mức
độ tham gia sàn giao dịch tích cực nhất. Các doanh nghiệp dệt may, da giày
chiếm 8,1% số doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch trong khi chỉ chiếm 5,8%
tổng mẫu điều tra. Tương tự, tỷ lệ các doanh nghiệp CNTT-TMĐT và du lịch


trong tổng số doanh nghiệp đã tham gia sàn lần lượt là 14,1% và 6,1%, cao hơn
nhiều so với tương quan của hai nhóm ngành này trong mẫu điều tra nói chung.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy 59,2% doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch có
cán bộ chuyên trách về TMĐT. Điều này minh chứng mối quan hệ giữa việc bố
trí nguồn nhân lực và hiệu quả triển khai thương mại điện tử. Doanh nghiệp có
cán bộ chuyên trách về TMĐT sẽ lựa chọn các phương thức ứng dụng thương
mại điện tử bài bản và hiệu quả hơn những doanh nghiệp chưa bố trí được nhân
sự cho hoạt động này.

Theo bà Âu Nguyễn Ngọc Dung, Phó Giám đốc Công ty Du lịch Sài Gòn Mỹ Tho (Tiền Giang), thương mại điện tử có sức lan tỏa rất rộng, trong khi chi
phí tương đối thấp so với các phương tiện quảng cáo khác. Khách hàng trong và
ngoài nước có thể dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu các sản phẩm của công ty mọi lúc
mọi nơi mà không cần phải giao tiếp với nhân viên công ty vì tất cả các thông tin
liên quan trực trực tiếp tới sản phẩm đều được cập nhật thường xuyên qua mạng.
Doanh nghiệp tư nhân SD nằm trong cụm công nghiệp Trung An (Tiền Giang)
là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu sang các thị trường châu Âu,
châu Á với với hơn 100 mặt hàng khác nhau, trong đó mỗi năm có tới 30% các
mặt hàng phải thay mới theo nhu cầu khách hàng, do đó doanh nghiệp này đã
chọn thương mại điện tử làm phương tiện giao dịch chủ yếu để tăng sức cạnh
tranh trên thị trường. Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc DNTN SD cho biết,
giao dịch điện tử đã giúp đơn vị giảm rất nhiều về thời gian và chi phí so với
phương pháp kinh doanh truyền thống. Mỗi lần điều chỉnh mẫu hàng, thay đổi
thiết kế sản phẩm, nhân viên của doanh nghiệp chỉ cần trao đổi qua mạng với các
chuyên gia ở Nhật đến khi hai bên thống nhất về kiểu cách sản phẩm mới đi vào
sản xuất.
Thực tế cho thấy, thương mại điện tử giúp tối thiểu hóa chi phí và hiệu quả
cao nhất. Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, thương mại điện tử giúp
người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch


(giao dịch được hiểu là quá trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt
hàng, giao hàng, thanh toán). Cụ thể, thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng
7% thời gian giao dịch qua Fax, bằng khoảng 0,5% thời gian giao dịch qua bưu
điện; Chi phí giao dịch qua Internet chỉ bằng 5% chi phí giao dịch qua Fax hay
qua bưu điện chuyển phát nhanh; chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng
10-20% chi phí thanh toán theo lối thông thường. Trong hai yếu tố cắt giảm này,
yếu tố thời gian đáng kể hơn, vì việc nhanh chóng thông tin hàng hóa đến người
tiêu dùng mà không phải qua trung gian có ý nghĩa sống còn trong cạnh tranh
kinh doanh.

Một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của ứng dụng thương mại
điện tử trên quy mô rộng là các dịch vụ hỗ trợ như thanh toán, vận tải giao nhận,
v.v... Việc chuyên môn hóa từng khâu của quy trình giao dịch sẽ giúp tiết kiệm
nguồn lực cho các bên tham gia, đồng thời nâng cao hiệu quả của toàn bộ quy
trình. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, thương mại điện tử chỉ có thể phát triển
nhanh và mạnh trên nền tảng các dịch vụ hỗ trợ được tổ chức tốt, có tính chuyên
nghiệp cao.

Bảng 2: Các phương thức giao hàng áp dụng trong doanh nghiệp
Trong các dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử, dịch vụ giao nhận có vai trò
quan trọng, nhất là đối với giao dịch B2C và C2C. Kết quả điều tra cho thấy các
phương thức giao hàng chưa thay đổi nhiều trong hai năm qua. Đa phần doanh
nghiệp vẫn lựa chọn phương thức “người mua đến nhận hàng tại các điểm đại
lý” (trên 40% đối tượng khảo sát chọn phương thức này), hoặc sử dụng đội ngũ
nhân viên của chính doanh nghiệp để giao hàng (tỷ lệ trên 50%). Đây là hai


phương thức giao nhận khá thủ công, không tận dụng được ưu thế của thương
mại điện tử là xoá bỏ các ranh giới địa lý cũng như tiết kiệm nguồn lực cho
doanh nghiệp. Những phương thức này chỉ có thể là giải pháp tạm thời ở giai
đoạn phát triển ban đầu của thương mại điện tử, và xu thế tất yếu sẽ phải giảm
dần vai trò khi các ứng dụng thương mại điện tử tiến đến mức độ chuyên nghiệp
hơn.
Với các đơn đặt hàng điện tử, tuỳ theo loại hình hàng hoá mà doanh nghiệp có
thể giao hàng trực tuyến, lấy hàng từ đại lý, sử dụng dịch vụ giao nhận hoặc
chuyển hàng qua bưu điện. Việc sử dụng đội ngũ giao hàng của doanh nghiệp
chỉ phù hợp với những đơn hàng trong phạm vi lân cận công ty, trong khi Việt
Nam vẫn chưa phát triển dịch vụ giao nhận chuyên nghiệp, do đó đối với những
đơn hàng từ xa doanh nghiệp thường phải sử dụng dịch vụ bưu điện để giao hàng
cho khách. Theo kết quả điều tra hai năm 2006 và 2007, phương thức chuyển

hàng qua bưu điện chiếm một tỷ lệ khá ổn định: khoảng 17-18% trong tổng số
giao dịch của doanh nghiệp.
Tỷ lệ giao hàng trực tuyến tăng từ 8,7% năm 2006 lên mức 12,3% vào năm
2007, cho thấy các sản phẩm số hoá đang ngày càng chiếm ưu thế trong môi
trường giao dịch thương mại điện tử.

Bảng 3 : Các phương thức thanh toán của doanh nghiệp
Thanh toán điện tử là một trong những nét khởi sắc của thương mại điện tử
Việt Nam năm 2007 với sự ra đời và phát triển của hàng loạt nhà cung cấp dịch
vụ.103 Tuy nhiên, cần một khoảng thời gian nhất định để những dịch vụ này có
thể thâm nhập vào thực tiễn kinh doanh và phát huy tác dụng đối với hoạt động
của từng doanh nghiệp. Kết quả khảo sát cho thấy các phương thức thanh toán
ứng dụng trong doanh nghiệp đang từng bước chuyển biến theo hướng hiện đại


hóa, mặc dù chưa có sự phát triển đột phá nào trong năm qua. Phương thức thanh
toán tiền mặt khi giao hàng đang giảm dần vai trò, với tỷ lệ doanh nghiệp áp
dụng giảm từ 75% trong năm 2006 xuống 67% vào năm 2007. Tỷ lệ doanh
nghiệp triển khai thanh toán trực tuyến tăng từ 3% lên 4%, tuy nhiên đây vẫn là
tỷ lệ rất thấp so với mặt bằng chung của thế giới và so với yêu cầu thanh toán
của thương mại điện tử. Để giao dịch B2C có thể thực sự đi vào cuộc sống, các
tiện ích thanh toán trực tuyến cần được sớm hoàn thiện và đưa vào ứng dụng đại
trà trên các website doanh nghiệp trong tương lai gần.
1.3. Những vấn đề đang đặt ra hiện nay đối với ứng dụng các phần mềm tin
học trong hoạt động thương mại
Công nghệ thông tin đã và đang thay đổi thế giới (người ta nói nhiều đến thế
giới “phẳng” hơn) cũng như tạo nên một cuộc cách mạng thực sự trong mọi lĩnh
vực của khoa học và đời sống.
Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động thương mại cũng không nằm ngoài xu
hướng đó. Khái niệm ứng dụng CNTT trong hoạt động thương mại hay còn gọi

là thương mại điện tử ra đời và đang trở thành xu thế mới thay thế dần phương
thức kinh doanh cũ với rất nhiều ưu thế nổi bật như nhanh hơn, rẻ hơn, tiện dụng
hơn, hiệu quả hơn và không bị giới hạn bởi không gian và thời gian…vv.
Tuy nhiên đối với một số nước đang phát triển nói chung và việt nam nói riêng
TMDT lại là một điều khá mới mẻ dẫu rằng việc nắm bắt xu thế và phát triển đã
và đang ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Trong công tác QLNN cũng chưa thực sự
hoàn thiện cho lĩnh vực này. Trong công tác ứng dụng ở cả DN cũng như các cơ
quan, tổ chức cũng đang ở mức độ thăm dò và hỗ trợ cho hình thức kinh doanh
truyền thống hoặc kết hợp giữa hai hình thức này.
Việc chuyên môn hóa từng khâu của quy trình giao dịch sẽ giúp tiết kiệm
nguồn lực cho các bên tham gia, đồng thời nâng cao hiệu quả của toàn bộ quy
trình. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, thương mại điện tử chỉ có thể phát triển
nhanh và mạnh trên nền tảng các dịch vụ hỗ trợ được tổ chức tốt, có tính chuyên


nghiệp cao. Tuy nhiên đây hiện vẫn là một trong các điểm yếu của môi trường
thương mại điện tử Việt Nam.
Mặc dù đã có rất nhiều doanh nghiệp biết ứng dụng và phát triển TMDT và
trở thành điển hình trong lĩnh vực này như công ty Vietgo, công ty cổ phần vật
giá với sàn giao dịch TMĐT :vatgia.com; công ty peaceoft solution với trang
web: chodientu.vn, …vv. Tuy nhiên, việc khai thác và ứng dụng TMDT luôn là
hai mặt của một vấn đề: Thứ nhất chúng ta đang ở giao thời giữa kinh doanh
truyền thống và phương thức kinh doanh TMDT, do vậy luôn có sự so sánh thực
dụng và ngắn hạn về tính hiệu quả giữa hai phương thức này. Thứ hai TMDT
cũng đòi hỏi phải có cách nhìn nhận khác hơn, trí tuệ hơn và.. khó hơn (không
theo lối tư duy cũ), việc ứng dụng và phát triển TMDT đỏi hỏi sự nhận thức sâu
rộng trong xã hội và môi trường làm việc cũng như quản lý và hạn chế các mặt
tiêu cực như việc gian lận, niềm tin, phá hoại vv.. đã và đang ở trên rất khó kiểm
soát vì tính nhanh, mạnh và kỹ thuật cao của loại hình này.
Phát triển TMDT cũng giống như lịch sử phát triển của Thương mại truyền

thống, bước đầu là tự phát khi mà mỗi cá nhân, doanh nghiệp hay một cơ quan,
tổ chức nhận thấy lợi ích của mình trong đó rồi sau đó trở nên hiện đại hơn và đa
phương thức hơn. Tuy nhiên để mở rộng và phát triển ở tầm cao cũng như tạo
nên lợi ích thực sự cho cộng đồng xã hội thì cần có “bàn tay của nhà nước” ở góc
độ mà các đơn vị không thể hoặc không muốn làm.
Vậy chúng ta phải phát triển và quản lý nó như thế nào để hạn chế tiêu cực và
phát huy tính tích cực để đạt được tính hiệu quả cac về mặt xã hội, cá nhân và
cộng đồng..? Để trả lời câu hỏi này chúng ta sẽ từng bước phân tích ở cả hai góc
độ: hỗ trợ để phát triển và quản lý để kiểm soát: Về công tác hỗ trợ để phát triển:
rõ ràng khi nhận thấy lợi ích thì các DN, TC và cá nhân sẽ tự phát ứng dụng và
phát triển nó.Tuy nhiên quy trình này thường diễn ra chậm chạp và thiếu định
hướng do vậy luôn đi kèm với nhiều vấn đề nảy sinh. Công tác hỗ trợ để phát
triển nhằm hai mục đích : phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, đồng bộ hơn và quan


trọng nhất là phát triển đúng định hướng. Hiện nay ở tỉnh ta công tác hỗ trợ cho
hoạt động này mới chỉ dừng ở công tác tuyên truyền, tập huấn và triển khai ở
một số ban ngành nhằm phục vụ cho hoạt động của nghành.
Khi đề cặp đến thương mại điện tử, nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh
nghiệp nhỏ tỏ ra ngán ngại do nghĩ chi phí đầu tư cao so với hiệu quả mang lại.
Tuy nhiên, các chuyên gia ở khoa Thương mại điện tử (Trường Đại học Thương
mại) cho biết, chỉ cần khoảng 10 triệu đồng xây dựng một Website bán hàng qua
mạng, và chi phí vận hành Website mỗi tháng không quá 1 triệu đồng, doanh
nghiệp có thể ngồi ở nhà và tìm kiếm khách hàng qua mạng, không cần phải tốn
nhiều chi phí và thời gian cho những chuyến công tác xa hay đích thân xuất
ngoại như đối với phương pháp truyền thống.
Thời gian qua, đã có rất nhiều các website về thương mại điện tử ra đời với
các dạng doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với khách hàng hay
khách hàng với khách hàng. Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu lập các website
riêng để phục vụ cho việc tiếp thị, quảng bá bán hàng, hỗ trợ bán hàng cũng như

tìm kiếm thị trường, mở rộng thị trường ra khắp thế giới. Tuy nhiên, thương mại
điện tử ở nước ta chưa có những bước tiến dài do người tiêu dùng và cả doanh
nghiệp chưa thật sự hiểu rõ lợi ích của thương mại điện tử đem lại. Vì vậy, người
tiêu dùng thì xem các trang bán hàng trên mạng là cá trò bịp, chỉ dùng để tham
khảo, còn doanh nghiệp thì làm cho có, thiếu cập nhật thông tin thực tế.
Theo điều tra của Vụ thương mại điện tử (Bộ Thương Mại), hiện nước ta có
hơn 98,3% doanh nghiệp có website giới thiệu về doanh nghiệp mình, trong đó
có đến hơn 62,5% website chỉ dùng để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ và chỉ có
khoảng 27,4% cho phép đặt hàng qua mạng trong đó số website có hỗ trợ thanh
toán trực tuyến chỉ hơn 3,2%.
Bên cạnh đó, một hạn chế rất lớn trong thời gian qua của thương mại điện tử
nước ta là thanh toán trực tuyến, bởi mấu chốt để một thương vụ thương mại
điện tử thành công là phải có hệ thống đảm bảo của ngân hàng. Yêu cầu này lại


càng quan trọng hơn đối với các nước nhập khẩu hàng hóa nước ta. Do đó, để
thương mại điện tử thật sự là giải pháp kinh doanh mang lại hiệu quả cao, các
doanh nghiệp xuất khẩu nên liên hệ với các ngân hàng có uy tín để được họ cấp
chứng nhận bảo đảm về tài chính, cũng như liên hệ với các tổ chức an ninh mạng
để có chứng chỉ bảo mật, an toàn trong giao dịch điện tử. Đứng đầu trong số các
trở ngại cho việc sử dụng Internet của doanh nghiệp là vấn đề an toàn bảo mật.
Trong nhiều năm liên tiếp, trở ngại này luôn được doanh nghiệp cho điểm bình
quân cao nhất khi được yêu cầu đánh giá những vấn đề cản trở việc triển khai
ứng dụng Internet.

2016
2017

An toàn bảo
mật

2,9
2,8

Chất lượng dịch vụ

Chi phí tốn kém

2,4
2,3

1,6
1,6

Hiệu quả chưa
rõ rệt
1,0
1,3

Năm 2007, vấn đề an toàn bảo mật tiếp tục là mối quan ngại hàng đầu với điểm
bình quân 2,88 trên thang điểm 4, vượt xa những trở ngại về công nghệ, chi phí
hay chất lượng dịch vụ, và thậm chí tăng hơn so với năm trước (điểm bình quân
cho trở ngại này theo khảo sát năm 2006 là 2,75). Kết quả trên cho thấy doanh
nghiệp đã nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề an toàn bảo mật khi ứng dụng
Internet trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng để đưa ra các biện pháp tự
bảo vệ thì nhiều doanh nghiệp vẫn còn lúng túng. Chính vì thế, thái độ của hầu
hết doanh nghiệp vẫn là e ngại và chờ đợi, chưa chủ động tìm ra giải pháp cho
vấn đề an ninh an toàn mạng nói chung và trong giao dịch thương mại điện tử
nói riêng để có thể khai thác hết tiềm năng của ứng dụng thương mại điện tử.
Theo dõi nhận định của doanh nghiệp về các trở ngại cho ứng dụng thương mại
điện tử qua kết quả khảo sát hàng năm, có thể thấy sự chuyển biến của từng yếu



tố trong tương quan chung về môi trường phát triển thương mại điện tử tại Việt
Nam. Nếu trong những năm trước, vấn đề nhận thức xã hội luôn được coi là trở
ngại hàng đầu đối với việc triển khai thương mại điện tử trên diện rộng, thì đến
năm 2007 trở ngại này đã được xếp xuống vị trí thứ ba theo đánh giá của doanh
nghiệp. Nổi lên vị trí đầu bảng trong danh sách các trở ngại là vấn đề an ninh an
toàn giao dịch. Kết quả này phản ánh đúng thực trạng thời gian qua, khi hoạt
động của các cơ quan, tổ chức xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng đã
giúp nâng cao nhận thức toàn xã hội về thương mại điện tử, nhưng mặt khác việc
đưa ứng dụng thương mại điện tử vào từng lĩnh vực của đời sống cũng nhanh
chóng làm bộc lộ những nguy cơ tiềm ẩn về an toàn an ninh mà người tiêu dùng
và doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm xử lý khi gặp phải.

* Tính trên thang điểm 4
Bảng 4: Đánh giá của doanh nghiệp về các trở ngại cho ứng dụng thương mại
điện tử
Bên cạnh việc phản ánh thực trạng môi trường ứng dụng thương mại điện tử,
đánh giá của doanh nghiệp về các trở ngại đồng thời cũng cho thấy chuyển biến
trong nhận thức đối với những vấn đề cần ưu tiên khi triển khai thương mại điện
tử. Năm 2007 là năm thứ ba liên tiếp vấn đề thanh toán có mặt ở vị trí thứ 2
trong danh sách các trở ngại, cho thấy mức độ quan tâm cũng như nhu cầu của
doanh nghiệp về một hạ tầng thanh toán hiện đại phục vụ cho hoạt động thương
mại điện tử. Với việc một loạt nhà cung cấp dịch vụ đi vào hoạt động trong năm


2007, hi vọng vấn đề thanh toán điện tử sẽ không còn là trở ngại lớn đối với tiến
trình phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam trong những năm tới. Trong khi
đó, những vấn đề về an ninh an toàn của giao dịch trực tuyến, bảo vệ dữ liệu cá
nhân, v.v... có thể sẽ nổi lên hàng đầu, tương tự như thực tiễn tại các nước có nền

thương mại điện tử phát triển hơn.

II.NỘI DUNG
2.1.Thực trạng ứng dụng các phần mềm tin học trong hoạt động thương mại
Thương mại điện tử đã, đang phát triển rất nhanh chóng trên thế giới và sẽ là
thành phần quan trọng của thương mại nói chung vào thế kỷ 21. Không chỉ có
các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển cũng ngày càng nhận thức
sâu sắc tầm quan trọng của việc phát triển thương mại điện tử trong xu thế hội
nhập, toàn cầu hoá và hướng tới phát triển “nền kinh tế số hoá”. Các quốc gia
không tính đến xu thế này sẽ khó tránh khỏi nguycơ tụt hậu nhất là trong điều
kiện mà ngành công nghệ thông tin đang phát triển với tốc độ như vũ bão hiện
nay. Với Việt Nam, trong tiến trình tham gia thương mại điện tử đã có nhiều kết
quả đáng khích lệ đặc biệt là về việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
và viễn thông phục vụ cho thương mại điện tử. Tuy nhiên, để thương mại điện tử
có thể phát triển hoàn thiện ở Việt Nam, trong điều kiện Việt Nam đang và sẽ
tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt là Hiệp định
khung e-ASEAN, còn có nhiều vấn đề đòi hỏi nước ta phải giải quyết như xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử, bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ phát sinh trong thương mại điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ lợi
ích của người tiêu dùng.
Lĩnh vực công nghệ thông tin (IT) tại Việt Nam đang phát triển với một tốc
độ đáng kinh ngạc và càng bùng nổ mạnh mẽ hơn với sự đổ bộ của ngành
thương mại điện tử (e-commerce). Chính điều này đã thu hút rất nhiều nhân tài


công nghệ thông tin đến Việt Nam làm việc. Điển hình trong thời gian gần đây,
trang web thương mại điện tử thời trang www.zalora.vn đang là điểm dừng chân
hấp dẫn của nhiều cá nhân trẻ đam mê công nghệ, trong đó có Kevin Võ. Phụ
trách vai trò Giám đốc phát triển công nghệ (Chief Technology Officer) tại
ZALORA, Kevin là một trong những thành viên đóng vai trò chủ chốt mang lại

hiệu quả hoạt động tối ưu cho trang web mua sắm thời trang trực tuyến mới mẻ
này.
Thương mại điện tử đã bắt đầu có được chỗ đứng của mình, dù rất khiêm tốn.
Ðây mới chỉ là điểm khởi đầu, những kết quả đạt được dù rất nhỏ nhưng sẽ là
nền tảng cho một sự phát triển mạnh mẽ trong những năm tới. Sự nỗ lực của các
nhà cung cấp dịch vụ Internet, sự nhạy bén của các tổ chức, doanh nghiệp tiên
phong đã góp phần đưa đến những thành công ban đầu cho thương mại điện tử
Việt nam. Có thể kể ra một số ứng dụng thương mại điện tử phổ biến hiện nay ở
Việt nam như : phần mềm ibiz24, phần mềm thương mại điện tử bizweb,…..
* Một số phần mền tin học phổ biển được áp dụng trong thương mại hiện nay
như:
-

Phần mềm in tem nhãn , mã vạch: Phần mềm BarcodeViet; Phần mềm
RedLaser; Phần mềm Bakodo; Phần mềm George Barcode Scanner; Phần

-

mềm MDZ,...v.v.
Các phần mềm quản lý bán hàng như: Perfect Sales; Ki-ốt Việt; RIC; Phần

-

mềm quản lý bán hàng thông minh Sapo
Phần mền bán hàng POS tích hợp website bán hang rất thuận lợi cho các

-

giao dịch mua bán qua mạng .
Phần mềm ERP là hệ thống quản lý hoặc định tài nguyên doanh nghiệp

giúp công ty hoạt động hiệu quả tiết kiệm chi phí thời gian nhân lực

Về phần mềm, hai nhóm được sử dụng phổ biến là phần mềm kế toán, tài
chính (88%) và phần mềm quản lý nhân sự (49%). Một số phần mềm đòi hỏi
mức độ tổ chức cao của DN như phần mềm quan hệ khách hàng (CRM), phần


mềm quản lý hệ thống cung ứng (SCM) và phần mềm lập kế hoạch nguồn lực
(ERP) được ít DN sử dụng hơn với các tỷ lệ tương ứng là 24%, 22% và 17%
(BĐ 3).

Biểu đồ tỷ lệ ứng dụng các nhóm phần mềm trong DN năm 2014
Nguồn: Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (Bộ Công Thương);
Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam, 2014.
Về mặt thông tin, thư điện tử (e-mail) có ưu thế vượt trội là tốc độ cao, chi phí
rẻ và không có khoảng cách địa lý nên được sử dụng phổ biến trong DN. DN có
trên 50% số lao động thường xuyên sử dụng email trong công việc tăng, năm
2014 là 35%, trong khi năm 2013 là 24% (BĐ 4); mục đích sử dụng e-mail để
giao dịch với khách hàng và nhà cung cấp chiếm tỷ lệ cao nhất (75%) (BĐ 5).
Số lượng DN sử dụng chữ ký điện tử tăng dần qua các năm, từ 23% năm 2012
tăng lên 45% năm 2014 (BĐ 6). DN lớn có tỷ lệ sử dụng chữ ký điện tử cao hơn
các DN SME, với tỷ lệ tương ứng là 60% và 44%.
E-mail được sử dụng để giao dịch thương mại nhiều hơn hẳn giao dịch thông
qua các website của DN. Tỷ lệ DN nhận đơn đặt hàng qua e-mail cao gần gấp
đôi so với lượng đơn đặt hàng nhận qua website, với tỷ lệ tương ứng là 78% và
36%. Tương tự, tỷ lệ DN đặt hàng qua email cũng cao gần gấp đôi so với đặt
hàng qua website, tỷ lệ tương ứng là 75% và 41% (BĐ 10, BĐ 11).


Hiện có hơn 4.000 dịch vụ công trực tuyến đang được các bộ, ngành trung

ương và địa phương cung cấp (Theo “Báo cáo Đánh giá mức độ ứng dụng công
nghệ thông tin của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” của Bộ Thông tin và Truyền thông) đã
tạo cơ hội cho DN dễ dàng tiếp cận thông tin trên website của các cơ quan nhà
nước. Năm 2014, 42% DN thường xuyên tra cứu thông tin trên các website này
(BĐ 12), có 57% DN sử dụng các dịch vụ công trực tuyến liên quan tới các thủ
tục đăng ký, cấp phép, khai báo... được cung cấp (BĐ 13).
Ví dụ tiêu biểu cho ứng dụng phần mềm tin học trong thương mại: Phần mềm
ERP cho ngành thương mại dịch vụ.
Những lợi ích cho doanh nghiệp thương mại dịch vụ khi chọn giải pháp ERP
chuyên biệt: Một số công ty cung cấp giải pháp phần mềm ERP doanh nghiệp
cho biết: ngoài những khách hàng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và phân
phối chiếm đa số thì những khách hàng trong lĩnh thương mại dịch vụ chiếm
khoảng 10%. Họ cũng nói thêm rằng số lượng doanh nghiệp thương mại dịch vụ
đang không ngừng tăng lên. Với phần mềm ERP, chủ doanh nghiệp có thể quản
lý dễ dàng hơn. Trong thực tế, các quy trình kinh doanh trong khu vực dịch vụ
phức tạp hơn nhiều so với khu vực sản xuất. Đồng thời, khi quá trình hội nhập
kinh tế diễn ra, cạnh tranh gay gắt hơn đòi hỏi doanh nghiệp phải mở rộng quy
mô, tái cơ cấu đồng thời quản lý được các hoạt động một cách hiệu quả. Do vậy,
nhu cầu hệ thống ERP ngành dịch vụ cũng ngày càng tăng lên. Các hoạt động
của lĩnh vực dịch vụ rất linh hoạt, kể cả cơ cấu, chi phí và các khía cạnh khác
cũng vậy. Nhưng nhờ giải pháp ERP cho ngành thương mại dịch vụ, bạn có thể
nắm bắt được những thay đổi một cách nhanh chóng thông qua những phân tích
và báo cáo kịp thời. Sau đó, chủ doanh nghiệp có thể đưa ra kết luận dễ dàng
dàng thay đổi đó có phù hợp với doanh nghiệp và phù hợp với thị trường hay
không. Tính năng phân tích của ERP giúp quản lý hiệu quả doanh nghiệp (EPM)


dễ dàng hơn. Tính năng này có cách tiếp cận khá độc đáo là chia tách doanh
nghiệp thành những đơn vị kinh doanh riêng để người dùng cá nhân có thể phân

tích chuyên sâu hơn. Nói tóm lại, phần mềm ERP cho ngành thương mại dịch
vụ chính là giải pháp tối ưu hóa các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Với
phần mềm này, doanh nghiệp thương mại dịch vụ có thể tiết kiệm được chi phí,
thời gian và nhân lực một cách hiệu quả.
Càng ngày càng có nhiều doanh nghiệp thấy được các lợi ích của TMĐT và
muốn ứng dụng TMĐT. Thương mại điện tử đã được ứng dụng ngày càng rộng
rãi để tiếp thị và quảng bá doanh nghiệp.Việc giao kết, ký hợp đồng và thanh
toán trực tuyến trong TMĐT chưa thực hiện được do thiếu một môi trường pháp
lý thích hợp và các hạ tầng công nghệ tin học và viễn thông cần thiết. Hiệu quả
ứng dụng TMĐT chưa cao do các doanh nghiệp tham gia TMĐT một cách tự
phát. Chính phủ chưa có sự chỉ đạo, hướng dẫn hoặc định hướng chính thức nào
và chưa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cần thiết cho các doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực phục vụ ứng dụng TMĐT còn thiếu và yếu.
2.1.Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng các phần mềm tin học
trong hoạt động thương mại
Sự phát triển thương mại điện tử là sự chuyển biến, chấp nhận thương mại
điện tử như là phương thức giao dịch trong kinh doanh của các đối tượng có liên
quan như doanh nghiệp, người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước…Đến lượt
nó, hành vi chấp nhận của các đối tượng có liên quan này lại chịu sự chi phối của
các yếu tố văn hóa và môi trường, cũng như sự tương tác qua lại của các yếu tố
này. Kalakota và Winston (1996) đã đề xuất khung phân tích tổng hợp các yếu tố
công nghệ và kinh doanh tác động đến sự phát triển của thương mại điện tử như
được trình bày ở Hình 1.4. Theo đó, sự phát triển của thương mại điện tử, hay
nói chính xác hơn các ứng dụng thương mại điện tử của các tổ chức và cá nhân
trong hoạt động kinh doanh chịu sự chi phối của các nhóm yếu tố sau:


- Thứ nhất là hạ tầng kỹ thuật và công nghệ, bao gồm hạ tầng mạng viễn thông,
hạ tầng xuất bản, hạ tầng chuyển đổi dữ liệu và các dịch vụ hạ tầng phổ biến
trong kinh doanh như bảo mật, thanh toán, xác thực…

- Thứ hai là hạ tầng thể chế hay chính sách công liên quan đến các vấn đề khung
pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử, các chính sách phát triển thương mại
điện tử…được đề xuất bởi các cơ quan quản lý nhà nước
- Thứ ba là tiêu chuẩn kỹ thuật cho việc lưu trữ, bảo mật, giao thức hay thanh
toán.

Hình1: Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thương
mại điện tử.
(Nguồn: Kalakota và Winston, 1996 )

Bảng 5: Các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự phát triển của thương mại điện
tử
Yếu tố

Tiêu chí đo lường


Công nghệ

- Hạ tầng viễn thông: mạng trục quốc gia, cấu trúc mạng
viễn thông, số đơn vị cung cấp dịch vụ, giá cả dịch vụ, tính
cạnh tranh của thị trường
- Khả năng tiếp cận công nghệ mới
- Băng thông
- Tốc độ phát triển và triển khai công nghệ của các ngành

Chính trị

công nghiệp
- Số lượng và loại chương trình phát triển thương mại điện

tử mà chính phủ áp dụng
- Luật, nghị định, thông tư, quy định mà nhà nước ban
hành
- Chính sách hỗ trợ phát triển thương mại điện tử: đào tạo

Xã hội

Kinh tế

nguồn nhân lực, miễn giảm thuế…
- Sự quản lí của Nhà nước
- Nguồn nhân lực
- Nhu cầu của người tiêu dùng
- Số lượng người dùng internet
- Số máy tính bình quân hộ dân
- Trình độ và kỹ năng công nghệ thông tin của người dùng
- Văn hóa chuộng công nghệ..
- Tăng trưởng kinh tế
- Thu nhập bình quân
- Chi phí cho công nghệ
- Sự phát triển của dịch vụ hạ tầng: thanh toán, dịch vụ hỗ
trợ phát triển kinh doanh
- Các mô hình kinh doanh mới
(Nguồn: Rana Tassabehji, 2003)

2.3. Định hướng và đề xuất giải pháp ứng dụng các phần mềm tin học trong
hoạt động thương mại


Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá thông qua các phương tiện




truyền thông và các cuộc tập huấn, hội thảo.
Tạo đầu mối hay cổng thông tin TMĐT để tập hợp và hỗ trợ công tác
quảng bá, mở rộng mối tương quan, liên kết, kết hợp nhằm mở rộng thị


trường và hỗ trợ công tác SXKD. Công tác này gần giống như tạo chợ cho


các hộ buôn bán, kinh doanh.
Tạo cơ sở hạ tầng cho việc phát triển TMĐT như hỗ trợ xây dựng website
đối với doanh nghiệp, khuyến khích công tác ứng dụng B2B, B2C và
khuyến khích phát triển các ngành phụ trợ cho TMĐT như viễn thông,
ngành CNTT..vv. (như nâng cao tốc độ đường truyền Internet đáp ứng
được yêu cầu của người dùng, nhất là trong Thương mại điện tử, khuyến
khích phát triển và có sự hỗ trợ của nhà nước trong việc phát triển các
công cụ xây dựng phần mềm; giải pháp kết hợp các phần mềm TMĐT với
các phần mềm ứng dụng và các cơ sở dữ liệu truyền thống; sự quan tâm
đầu tư của nhà nước trong công tác nâng cấp, mua sắm các máy chủ



thương mại điện tử đặc biệt (công suất, an toàn)
Hoàn thiện kiến trúc thượng tầng cho việc phát triển TMĐT (xây dựng
tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an toàn và độ tin cậy trong TMĐT; xây
dựng khung pháp lý, cơ chế chính sách thu hút và tạo mọi điều kiện về thủ




tục hành chính tương hỗ cho công tác này).
Nâng cao nhận thức của người dùng, và hoàn thiện khung pháp lý cho
TMĐT. Bên cạnh đó việc quản lý các trung tâm, đầu mối của TMĐT và
phối kết hợp với các nhà cung cấp dịch vụ để thực hiện tốt hơn công tác



quản lý ở lĩnh vực này.
Xây dựng hệ thống thanh toán TMĐT quốc gia. Theo Chương trình phát
triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2014 – 2020, một trong những giải pháp



quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển TMĐT
Xây dựng thương hiệu trực tuyến. Phát triển các sản phẩm cũng là một



giải pháp quan trọng
Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực. TMĐT đòi hỏi mối quan hệ chặt chẽ
giữa người sản xuất, người phân phối, người tiêu thụ, các nhà công nghệ
và cơ quan chính phủ




Hoàn thiện môi trường pháp lý. Để TMĐT phát triển lành mạnh cần phải
hoàn thiện môi trường pháp lý, thông qua việc ban hành và thực thi các
đạo luật và các văn kiện dưới luật điều chỉnh các hoạt động thương mại,




thích ứng với pháp lý và tập quán quốc tế về giao dịch TMĐT.
Phát triển các dịch vụ công phục vụ cho TMĐT và đảm bảo an toàn cho
các giao dịch TMĐT.

III.KẾT LUẬN
Việc ứng dụng các phần mềm tin học trong hoạt động thương mại đã giúp tiết
kiệm chi phí sản xuất, giao dịch và bán hàng cũng như mở ra nhiều cơ hội thâm
nhập thị trường sản xuất kinh doanh. Khối lượng và doanh thu từ thương mại
điện tử trên thế giới tăng với tốc độ chóng mặt trong mấy năm gần đây, thương
mại điện tử sẽ trở thành phương thức phổ biến trong thương mại quốc tế.
Sự phát triển của thương mại điện tử cũng đem lại cơ hội cho Việt Nam, một
nền kinh tế đang phát triển thúc đẩy tốc độ tăng trưởng,hội nhập với các nền kinh
tế đang phát triển thúc đẩy tốc độ tăng trưởng, hội nhập với các nền kinh tế trên
thế giới. Là một nước đang phát triển nhất là khi Việt Nam trở thành thành viên
WTO. Việt Nam cũng đứng trước cơ hội và thách thức mà xu thế phát triển khoa
học công nghệ nói chung và quá trình toàn cầu hóa nói riêng mang lại. Ứng dụng


thương mại điện tử có lẽ là con đường mà xu thế phát triển của nhân loại đã đặt
ra trước mắt. Điều này đòi hỏi chính phủ và mọi thành phàn kinh tế phải nỗ lực
hết mình xây dựng hoàn thiện các điều kiện thương mại điện tử một cách bền
vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.


Giáo trình Tin học văn phòng,NXB Giáo dục Việt Nam, 2009.
/>
3.

dien-tu-doi-voi-cac-doanh-nghiep-trong-thoi-ky-hoi-nhap
/>
4.

3.htm
http://vn/kinh-te-thi-truong/cac-nhan-to-anh-huong-den-thuong-mai-dien-

5.

tu-o-cac-nuoc.html
/>
6.

no-o-viet-nam-46454/
/>
7.

thuong-mai-dien-tu-01966747.html
/>
8.

tot-nhat-hien-nay.html
/>
9.

dich-vu-la-gi#sthash.JSgGLJ1j.dpuf

/>

10.

/>
commerce-483143.html
11. />


×