Tải bản đầy đủ (.doc) (61 trang)

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần quân đội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (428.36 KB, 61 trang )

DANH MỤC VIẾT TẮT
MBbank

Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội

NH:

Ngân hàng

NHTM:

Ngân hàng thương mại

NH TMCP:

Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTW:

Ngân hàng trung ương

NHNN:

Ngân hàng nhà nước

CSTT:

Chính sách tiền tệ

TGĐ:


Tổng giám đốc

SGD

Sở giao dịch

TSĐB:

Tài sản đảm bảo

TCTD:

Tổ chức tín dụng

VCSH:

Vốn chủ sở hữu

KHCN:

Khách hàng cá nhân


MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ


1


LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ, đứng trước những cơ hội
và thách thức lớn trong điều kiện hội nhập kinh tế. Để tồn tại và phát triển trong
thời kỳ này thì cạnh tranh là một yếu tố không thể thiếu trong mọi hoạt động kinh
tế. Cạnh tranh không những là môi trường, động lực của sự phát triển nói chung mà
còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.
Một trong những lĩnh vực vô cùng quan trọng là Tài chính-Ngân hàng cũng
chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những biến động của nền kinh tế thế giới. Cạnh tranh
trong hoạt động NH là một động lực phát triển kinh tế -xã hội, bởi vì hoạt động
ngân hàng là một trong các loại hình hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường, mà cạnh tranh chính là một đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường. Sự cạnh
tranh trong hoạt động ngân hàng có thể nhìn thấy rất rõ qua việc hàng loạt các NH
đang tích cực gia tăng số lượng các chi nhánh và phòng giao dịch, mở rộng quy mô,
phát triển đa dạng các loại hình sản phẩm dịch vụ mới để phục vụ nhu cầu ngày
càng đa dạng của khách hàng. Rõ ràng, sự cạnh tranh trong lĩnh vực NH đang diễn
ra hết sức sôi động và quyết liệt.
Trong lĩnh vực NH, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu tạo ra doanh thu
và lợi nhuận, thậm chí còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi NH. Như vậy,
cạnh tranh giữa các NH chủ yếu là cạnh tranh về hoạt động tín dụng. Do đó, các NH
đang ngày càng đua sức cạnh tranh với đa dạng các loại hình tín dụng được cung
cấp.
MBbank là một trong những NH TMCP có quy mô và uy tín lớn trên thị
trường tín dụng Việt Nam. Tuy nhiên để tồn tại và phát triển trong tình hình có rất
nhiều các NH trong hệ thống cũng đang nỗ lực gia tăng thị phần thì việc cấp thiết và
quan trọng hàng đầu là phải nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng
của MBbank trong giai đoạn tới.
Hiện nay, em đang là sinh viên thực tập tại NH TMCP quân đội – chi nhánh
Mỹ Đình, chính vì vậy em đã quyết định chọn đề tài:
“ Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
thương mại cổ phần quân đội ”



2

Đề tài được chia thành 3 phần chính:
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh trong hoạt
động tín dụng của NHTM
Chương 2: Thực trạng về khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của
NHTM cổ phần Quân đội
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong
hoạt động tín dụng của NHTM cổ phần Quân đội


3

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.1.
Tổng quan về hoạt động tín dụng của NHTM
1.1.1. Khái niệm và các hình thức tín dụng ngân hàng
1.1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng phổ biến và có vai trò quan trọng
nhất trong nền kinh tế. Đồng thời, nó còn giữ vị trí chủ chốt trong hoạt động của
mỗi ngân hàng.
Nói đến tín dụng ngân hàng là đề cập đến cả “đi vay” lẫn “cho vay”. Tuy
nhiên, trên thực tế, do tính chất phức tạp của hoạt động ngân hàng mà hoạt động
nhận tiền gửi và hoạt động cho vay laị được tách riêng, do hai bộ phận chuyên môn
độc lập nhau đảm nhận: bộ phận Nguồn vốn và bộ phận tín dụng. Hoạt động nhận
tiền gửi không được gọi là hoạt động tín dụng mà là hoạt động “huy động vốn” do

bộ phận Nguồn vốn thực hiện. Bộ phận tín dụng chỉ phụ trách mảng cho vay. Như
vậy, sẽ phù hợp hơn khi sử dụng định nghĩa sau để nghiên cứu về tín dụng ngân
hàng: “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản( tiền hoặc hàng hóa) giữa
ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó
ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định
theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho
ngân hàng khi đến hạn thanh toán.” (giáo trình Tín dụng ngân hàng- NGNDPGS_TS. Tô Ngọc Hưng)
Như vậy, tín dụng ngân hàng ở đây mang nghĩa hẹp hơn, giới hạn bên cho vay
là ngân hàng. Đây là định nghĩa mang tính chuyên nghiệp ngân hàng hơn là mang
tính lý luận, tránh được sự nhầm lẫn khi nghiên cứu về các nghiệp vụ của ngân hàng
thương mại.
1.1.1.2. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng
tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền
kinh tế quốc dân.


4

Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần
trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín
dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.
Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với
sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường hợp mà
nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không
tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị
co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản. Ngược lại
trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hoá lưu
chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là một
hiện tượng rất bình thường của nền kinh tế.

Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nổi bật so với các hình
thức khác là:
Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các
tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng
tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn.
Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau
để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.
Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với
mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.
1.1.1.3. Các hình thức tín dụng ngân hàng
Ở Việt Nam hiện nay, căn cứ theo quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 của
Thống đốc NHNN Việt Nam ngày 30/09/1998 về việc ban hành quy chế cho vay
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, NHTM có thể có các hình thức tín dụng
sau:
* Cho vay từng lần
Hình thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu và đề nghị vay vốn từng
lần, khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên hoặc khách hàng mà ngân
hàng xét thấy cần thiết phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát, kiểm tra, quản lý


5

việc sử dụng vốn vay chặt chẽ an toàn. Mỗi lần vay vấn khách hàng và ngân hàng
phải làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng. Mỗi hợp đồng tín
dụng có thể phát tiền vay một hay nhiều lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng
vốn thực tế của khách hàng. Ngân hàng cho vay phải quản lý chặt chẽ doanh số cho
vay đảm bảo tổng số tiền trên các giấy nhận nợ do khách hàng lập không vượt quá
số tiền đã ký trong hợp đồng tín dụng.
* Cho vay theo hạn mức tín dụng

Cho vay theo hạn mức tín dụng là việc ngân hàng cho khách hàng vay căn cứ
vào dự án, kế hoạch sản xuất kinh doanh để tính toán và thoả thuận một hạn mức tín
dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh. Việc
thoả thuận này phải được thể hiện và ký kết trong hợp đồng tín dụng. Khách hàng
được rút vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng cho phép căn cứ vào nhu cầu vốn của
phương án sản xuất kinh doanh và chỉ phải xuất trình những thủ tục đơn giản, tạo
thuận lợi cho doanh nghiệp. Hình thức tín dụng này thường được áp dụng cho các
khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên, sản xuất kinh doanh ổn định, có uy
tín trong quan hệ kinh doanh với ngân hàng.
* Cho vay theo dự án đầu tư
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Hình thức này
áp dụng cho các trường hợp vay vốn trung và dài hạn.
* Cho vay hợp vốn
Theo hình thức này, một nhóm các tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một
dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức tín dụng
làm đầu mối dàn xếp phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Cho vay hợp vốn
thường được áp dụng đối với các dự án có nhu cầu vốn lớn, vượt quá khả năng của
một ngân hàng hoặc có phạm vi qui mô rộng mà một ngân hàng khó có thể kiểm
soát nổi. Hình thức tín dụng này giúp cho các ngân hàng giảm thiểu rủi ro, đông
thời khác bổ sung kinh nghiệm, kiến thức cho nhau.
* Cho vay trả góp


6

Đây là hình thức tín dụng mà qua đó ngân hàng cho khách hàng vay để mua
tài sản, hàng hoá khi khách hàng không có đủ tiền trả một lúc. Khi vay vốn, ngân
hàng cho vay và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với
số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Tài sản

mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay sau khi họ trả đủ nợ gốc và lãi cho
ngân hàng. Với hình thức này, để được vay vốn khách hàng phải có phương án trả
nợ gốc và lãi vay khả thi bằng các khoản thu nhập có cơ sở chắc chắn, ổn định.
* Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng là việc ngân hàng cho vay cam kết
đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất
định để đầu tư cho dự án. Theo hình thức này, căn cứ vào nhu cầu của khách hàng,
ngân hàng và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng: hạn mức tín dụng dự
phòng, thời hạn hiệu lực của tín dụng dự phòng. Trong thời gian hiệu lực của hợp
đồng, nếu khách hàng không sử dụng hoặc không sử dụng hết hạn mức, khách hàng
phải trả phí đã cam kết theo thoả thuận. Khi khách hàng vay chính thức, phần vốn
vay được tính theo lãi suất tiền vay hiện hành.
* Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Với hình thức này, ngân hàng cho phép khách hàng trong phạm vi hạn mức để
thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các cơ sở bán hàng có chấp nhận thanh
toán thẻ hay rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động. Hình thức tín dụng này đem
lại cho khách hàng tính tự chủ cao và tiết kiệm thời gian.
* Cho vay theo hạn mức thấu chi:
Đây là phương thức cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản
chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách
hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Ngoài các phương thức cho vay kể trên, trong tình hình kinh doanh hiện nay
để tăng tính cạnh tranh trên thị trường, thu hút được nhiều khách hàng các ngân
hàng còn có thể áp dụng nhiều phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm,
phù hợp với quy định và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và


7


đặc điểm của khách hàng vay, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng vay vốn của
khách hàng.
1.1.2.

Lãi suất tín dụng

Trong quan hệ tín dụng lãi suất là biểu hiện giá cả khoản tiền mà người cho
vay đòi hỏi khi tạm thời trao quyền sử dụng một khoản vốn của mình cho người
khác trong một thời gian nhất định. Người đi vay coi lãi suất như một khoản chi phí
phải trả cho nhu cầu sử dụng tạm thời vốn của người khác. Nói một cách khác lãi
suất tín dụng là giá cả của quyền sử dụng vốn vay. Đối với hoạt động ngân hàng, lãi
suất là một trong những biến số được theo dõi chặt chẽ nhất, nó không chỉ là công
cụ điều tiết vĩ mô mà còn là phương tiện giúp các ngân hàng cạnh tranh trong cơ
chế thị trường. Thông thường lãi suất của ngân hàng được hình thành trên cơ sở lãi
suất thị trường nên luôn biến động. Trong hoạt động tín dụng, lãi suất tín dụng
thường có các giới hạn sau:
Trần lãi suất < Lãi suất < Lãi suất < Trần lãi suất < Tỷ suất lợi
huy động huy động cho vay cho vay nhuận bình quân
Đối với mọi thành viên trong hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam,
hướng dẫn thực hiện quy chế cho vay của tổ chức tín dụng được quy định như sau:
- Mức lãi suất cho vay do ngân hàng cho vay và khách hàng thoả thuận phù
hợp với qui định của NHNN và hướng dẫn của Tổng giám đốc NHCT về lãi suất
cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng. Ngân hàng cho vay công bố mức lãi
suất cho vay cho khách hàng biết.
- Lãi suất cho vay ưu đãi được áp dụng đối với các khách hàng được ưu đãi về
lãi suất do Tổng giám đốc NHCT thông báo theo qui định của Chính phủ và hướng
dẫn của NHNN.
- Trường hợp khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn, phải áp dụng lãi suất nợ
quá hạn theo mức qui định của Thống đốc NHNN tại thời điểm ký kết hợp đồng tín
dụng.

1.1.3. Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tập hợp các nội dung, kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, trình tự
các bước phải tiến hành từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một vòng quay của vốn tín


8

dụng. Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, để đảm bảo hiệu quả tín dụng. Một
quy trình tín dụng cơ bản bao gồm 6 bước:
+ Bước 1: Lập hồ sơ tín dụng
+ Bước 2: Phân tích tín dụng
+ Bước 3: Ra quyết định tín dụng
+ Bước 4: Giải ngân
+ Bước 5: Giám sát tín dụng
+ Bước 6: Thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng.
Quy trình tín dụng là cơ sở cho việc xây dựng một mô hình tổ chức thích hợp
tại ngân hàng. Trong đó nhiệm vụ của các phòng ban, bộ phận chức năng được xác
định rõ ràng các công việc liên quan đến hoạt động tín dụng từ khâu lập hồ sơ tín
dụng cho tới khâu thanh lý tín dụng, từ đó làm cơ sở cho phân công nhiệm vụ để
gắn quyền hạn và trách nhiệm ở từng vị trí.
Quy trình tín dụng còn là cơ sở để giám sát tiến trình cấp tín dụng và điều
chỉnh chính sách tín dụng cho phù hợp với thực tiễn. Thông qua kiểm soát thực hiện
quy trình tín dụng, nhà quản trị ngân hàng nhanh chóng xác định những khâu,
những công việc cần điều chỉnh cũng như hướng đào tạo và phân công nhân sự để
kiểm soát được những rủi ro khi cấp tín dụng. Ngoài ra, với việc kiểm soát tiến trình
thực hiện quy trình, ngân hàng còn kịp thời phát hiện những quy định không phù
hợp trong chính sách tín dụng và bản thân quy trình tín dụng. Từ đó, có những thay
đổi để tăng cường giám sát quá trình sử dụng vốn tín dụng của khách hàng cũng
như hoạt động tín dụng nói chung.
1.2. Cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của NHTM

1.2.1. Khái niệm cạnh tranh và các loại hình cạnh tranh
1.2.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Trong Thế kỷ XX, nhiều lý thuyết cạnh tranh hiện đại ra đời như lý thuyết của
Micheal Porter, J.B.Barney, P.Krugman…v.v.. Trong đó, phải kể đến lý thuyết “lợi
thế cạnh tranh” của Micheal Porter, ông giải thích hiện tượng khi doanh nghiệp
tham gia cạnh tranh thương mại quốc tế cần phải có “lợi thế cạnh tranh” và “ lợi thế
so sánh”. Ông phân tích lợi thế cạnh tranh tức là sức mạnh nội sinh của doanh
nghiệp, của quốc gia, còn lợi thế so sánh là điều kiện tài nguyên thiên nhiên, sức lao


9

động, môi trường tạo cho doanh nghiệp, quốc gia thuận lợi trong sản xuất cũng
nhưng trong thương mại. Ông cho rằng lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh có quan
hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau, lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi thế so
sánh, lợi thế so sánh phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh. Qua những quan điểm của các
lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy, cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau
của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh
nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các
chủ thể tham gia biết qúy trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có được, cạnh
tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước.. Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham
gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách
thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình
khi tham gia vào quá trình cạnh tranh. Vậy cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá
nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nổ
lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu
của mình. Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh
tiếng…. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo
và nó giúp cho các chủ thể tham gia đạt được tất cả những gì mình mong muốn.
Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh các chủ thể tham gia đã sử dụng

những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để làm tổn hại đến đối thủ tham gia
cạnh tranh với mình. Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêu lẫn nhau, nhưng kết
quả của cạnh tranh mang lại là hoàn toàn trái ngược.
1.2.1.2. Các loại hình cạnh tranh
Có nhiều hình thức được dùng để phân loại hình cạnh tranh bao gồm: căn cứ
vào chủ thể tham gia, phạm vi ngành kinh tế và tính chất của cạnh tranh.
- Căn cứ chủ thể tham gia:
Cạnh tranh giữa người mua và người bán: do sự đối lập nhau của hai chủ thể
tham gia giao dịch để xác định giá cả của hàng hóa cần giao dịch, sự cạnh tranh này
diễn ra theo qui luật “mua rẻ, bán đắt” và giá cả của hàng hóa đựơc hình thành.
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: sự cạnh tranh này hình thành
trên quan hệ cung - cầu. Tuy nhiên, sự cạnh tranh này chỉ xảy ra trong điều kiện
cung của một hàng hóa dịch vụ có chất lượng ít hơn nhu cầu của thị trường.


10

Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Đây có lẽ là hình thức tồn tại nhiều nhất
trên thị trường với tính chất gây go và khốc liệt. Cạnh tranh này có ý nghĩa sống
còn đối với doanh nghiệp nhằm chiếm thị phần và thu hút khách hàng.
- Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế:
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Đây là hình thức cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch
vụ nào đó, trong đó các đối thủ tìm cách thôn tính lẫn nhau, giành dựt khách hàng
về phía mình, chiếm lĩnh thị trường. Biện pháp cạnh tranh chủ yếu của hình thức
này là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí. Kết quả cạnh
tranh trong nội bộ ngành làm cho kỹ thuật phát triển, điều kiện sản xuất trong một
ngành thay đổi, giá trị hàng hóa được xác định lại, tỷ suất sinh lời giảm xuống và sẽ
làm cho một số doanh nghiệp thành công và một số khác phá sản, hoặc sáp nhập.
Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác nhau

trong nền kinh tế nhằm tìm kiếm mức sinh lợi cao nhất, sự cạnh tranh này hình
thành nên tỷ suất sinh lời bình quân cho tất cả mọi ngành thông qua sự dịch chuyển
của các ngành với nhau.
- Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh trên thị trường thì cạnh tranh gồm có
cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.
Cạnh tranh hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh mà ở đó không có người sản xuất
hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế thị trường, làm ảnh
hưởng đến giá cả. Cạnh tranh hoàn hảo được mô tả: Tất cả các hàng hóa trao đổi
được coi là giống nhau; tất cả những người bán và người mua đều có hiểu biết đầy
đủ về các thông tin liên quan đến việc mua bán, trao đổi; không có gì cản trở việc
gia nhập hay rút khỏi thị trường của người mua hay người bán. Để chiến thắng
trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp phải tự tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành
hoặc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm của mình so với các đối thủ khác.
Cạnh tranh không hoàn hảo: là một dạng cạnh tranh trong thị trường khi các
điều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không được thỏa mãn. Các loại
cạnh tranh không hoàn hảo gồm: Độc quyền; Độc quyền nhóm; Cạnh tranh độc
quyền; Độc quyền mua; Độc quyền nhóm mua. Trong thị trường cũng có thể xảy ra
cạnh tranh không hoàn hảo do những người bán hoặc người mua thiếu các thông tin
về giá cả các loại hàng hóa được trao đổi.


11

Cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của NHTM
1.2.2.1. Khái niệm cạnh tranh trong hoạt động tín dụng
Cũng giống như mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệp và là
1.2.2.

một doanh nghiệp đặc biệt, vì thế NHTM cũng tồn tại vì mục đích cuối cùng là lợi
nhuận. Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu tạo ra doanh thu và lợi nhuận cho

NHTM. Vì thế, các NHTM cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấp sản phẩm tín
dụng chất lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng với mức lãi suất cho vay cạnh
tranh nhất, thời hạn cho vay phù hợp với nhu cầu và lợi ích của khách hàng nhằm
thu hút khách hàng, mở rộng thị phần để đạt được lợi nhuận cao nhất cho ngân
hàng.
Do vậy, cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của NHTM là cũng là sự tranh
đua, giành dựt khách hàng dựa trên tất cả những khả năng mà ngân hàng có được để
đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cấp những sản phẩm tín dụng có chất
lượng cao, có sự đặc trưng riêng của mình so với các NHTM khác trên thị trường,
chẳng hạn như áp dụng các gói ưu đãi tín dụng nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm
tăng lợi nhuận ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế trên thương trường.
1.2.2.2. Những đặc thù của cạnh tranh trong hoạt động tín dụng
Với những đặc điểm chuyên biệt của mình, sự cạnh tranh trong hoạt động tín
dụng ngân hàng cũng có những đặc thù nhất định:
- Thứ nhất, hoạt động tín dụng ngân hàng có liên quan trực tiếp đến tất cả các
ngành, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Do đó:
NHTM cần có hệ thống sản phẩm tín dụng đa dạng, mạng lưới chi nhánh rộng
và liên thông với nhau để phục vụ mọi đối tượng khách hàng và ở bất kỳ vị trí địa lý
nào.
NHTM phải xây dựng được uy tín, tạo được sự tin tưởng đối với khách hàng
vì bất kỳ một sự khó khăn nào của NHTM cũng có thể dẫn đến sự suy sụp của nhiều
chủ thể có liên quan.
- Thứ hai, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng nói chung, hoạt động tín dụng
nói riêng có liên quan đến tiền tệ. Đây là một lĩnh vực nhạy cảm nên:
Năng lực của đội ngũ nhân viên ngân hàng là yếu tố quan trọng nhất thể hiện
chất lượng của sản phẩm tín dụng của NH. Yêu cầu đối với đội ngũ nhân viên ngân


12


hàng là phải tạo được sự tin tưởng với khách hàng bằng kiến thức, phong cách
chuyên nghiệp, sự am hiểu nghiệp vụ, khả năng tư vấn và đôi khi cả yếu tố hình thể.
Dịch vụ của ngân hàng phải nhanh chóng, chính xác, thuận tiện, bảo mật và
đặc biệt quan trọng là có tính an toàn cao đòi hỏi ngân hàng phải có cơ sở hạ tầng
vững chắc, hệ thống công nghệ hiện đại. Hơn nữa, số lượng thông tin, dữ liệu của
khách hàng là cực kỳ lớn nên yêu cầu NHTM phải có hệ thống lưu trữ, quản lý toàn
bộ các thông tin này một cách đầy đủ mà vẫn có khả năng truy xuất một cách dễ
dàng.
Ngoài ra, do lĩnh vực ngân hàng có tính nhạy cảm nên để tạo được sự tin
tưởng của khách hàng chọn lựa sử dụng dịch vụ của mình, ngân hàng phải xây dựng
được uy tín và gia tăng giá trị thương hiệu theo thời gian.
- Thứ ba, để có nguồn lực cho hoạt động tín dụng, NHTM phải đóng vai trò tổ
chức trung gian huy động vốn trong xã hội. Nguồn vốn để kinh doanh của ngân
hàng chủ yếu từ vốn huy động được và chỉ một phần nhỏ từ vốn tự có của ngân
hàng. Do đó yêu cầu ngân hàng phải có trình độ quản lý chuyên nghiệp, năng lực tài
chính vững mạnh cũng như có khả năng kiểm soát và phòng ngừa rủi ro hữu hiệu để
đảm bảo kinh doanh an toàn, hiệu quả.
- Cuối cùng, chất liệu kinh doanh của ngân hàng nói chung, của hoạt động tín
dụng nói riêng là tiền tệ, mà tiền tệ là một công cụ được Nhà nước sử dụng để quản
lý vĩ mô nền kinh tế. Do đó, chất liệu này được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Hoạt
động tín dụng của NHTM ngoài tuân thủ các quy định chung của pháp luật còn chịu
sự chi phối bởi hệ thống luật pháp riêng cho NHTM và chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Trung ương.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động
tín dụng của NHTM
1.2.3.1. Các nhân tố bên trong NH
Hoạt động tín dụng của NH có ngày càng tăng cường, mở rộng hay không,
điều đó phụ thuộc phần lớn vào các nhân tố tạo nên sức mạnh của NH.
• Nguồn vốn của NH:



13

Một NH cũng như một doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh thì phải có vốn. Hai nguồn vốn chủ yếu của NH là vốn tự có và vốn huy
động.
NHTM nằm trong hệ thống NH chịu sự tác động của chính sách tiền tệ, chịu
sự quản lý của NHTW và tuân thủ các qui định của luật Ngân hàng. Nếu vốn tự có
càng lớn, khả năng được phép huy động vốn càng cao, và NH càng dễ dàng hơn
trong việc thực hiện các hoạt động cấp tín dụng của mình.
NH thường cho vay bằng nguồn vốn huy động của mình. Mà hoạt động cho
vay của NH ngày càng được tăng cường, số lượng và chất lượng cho vay càng lớn
khi mà nguồn vốn của NH phải lớn mạnh. Khi nguồn vốn của NH tăng trưởng đều
đặn, hợp lý thì NH có thêm nhiều tiền cho khách hàng vay, điều đó cũng có nghĩa là
hoạt động cho vay của NH được tăng cường và mở rộng, từ đó nâng cao năng lực
cạnh tranh trong hoạt động tín dung của NHTM. Còn nếu lượng vốn ít thì không đủ
tiền cho khách hàng vay, NH sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư, lợi nhuận của NH sẽ
không cao và việc tăng cường hoạt động cho vay sẽ bị hạn chế, khách hàng sẽ tìm
đến NH khác có nguồn vốn dồi dào hơn để đáp ứng các nhu cầu của họ, và như vậy
năng lực cạnh tranh của NH trong hoạt động tín dụng sẽ bị hạn chế.
• Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với một
khách hàng, kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí, phương thức cho
vay, hướng giải quyết phần khách hàng vay vượt giới hạn, xử lý các khoản vay có
vấn đề...tất cả các yếu tố đó có tác dụng trực tiếp và mạnh mẽ đến việc mở rộng
hoạt động cho vay của NH. Nếu như tất cả những yếu tố thuộc chính sách tín dụng
đúng đắn, hợp lý, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của khách hàng về
vốn thì NH đó sẽ thành công trong việc tăng cường hoạt động cho vay, nâng cao
năng lực cạnh tranh của mình, và vẫn đảm bảo được chất lượng tín dụng. Ngược lại,
những yếu tố này bất hợp lý, cứng nhắc, không theo sát tình hình thực tế sẽ dẫn đến

khó khăn trong việc tăng cường hoạt động cho vay của NH, không thu hút được
khách hàng, giảm đi năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng.


14

Ngân hàng càng đa dạng hoá các mức lãi suất phù hợp với từng loại khách
hàng, từng kỳ hạn cho vay và chính sách khách hàng hấp dẫn thì càng thu hút được
khách hàng, thực hiện tốt mục tiêu mở rộng hoạt động cho vay. Nhưng nếu lãi suất
không phù hợp quá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu đãi thì sẽ không thu hút
được nhiều khách hàng và như vậy sẽ hạn chế hoạt động cho vay của Ngân hàng
• Chất lượng nhân sự và cơ sở vật chất thiết bị
Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên NH chính là
hình ảnh của NH. Cho nên những kiến thức, kinh nghiệm, chuyên môn của mình,
nhân viên Ngân hàng có thể làm tăng thêm giá trị dịch vụ. Đa số các ý tưởng cải
tiến hoạt động kinh doanh được đề xuất bởi nhân viên ngân hàng.
Nhân viên Ngân hàng là lực lượng chủ yếu truyển thông tin từ khách hàng, từ
đối thủ cạnh tranh đến các nhà hoạch định chính sách Ngân hàng .
Cơ sở vật chất thiết bị cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân hàng.
Nếu cơ sở vật chất thiết bị mà lạc hậu thì các nghiệp vụ của NH sẽ được xử lý kém,
chậm chạp; các hoạt động của NH được thực hiện khó khăn. Điều đó làm cho Ngân
hàng tụt hậu, kém phát triển, không thu hút được nhiều khách hàng sẽ làm hạn chế
hoạt động cho vay, giảm năng lực cạnh tranh. Ngược lại việc trang bị đầy đủ các
thiết bị tiến phù hợp với phạm vi và quy mô hoạt động, phục vụ kịp thời các nhu
cầu khách hàng với chi phí cả hai bên đều có thể chấp nhận được sẽ giúp NH tăng
cường khả năng cạnh tranh, thực hiện tốt mục tiêu tăng cường hoạt động cho vay.
• Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng
Ngân hàng muốn tồn tại, phát triển thì phải có phương hướng, chiến lược kinh
doanh. Chiến lược kinh doanh càng phù hợp thì hoạt động cho vay ngày càng được
mở rộng. Trên cơ sở các quyết định, chính sách của cấp trên, thông tin về khách

hàng, về đối thủ khách hàng, xác định vị thế của Ngân hàng trên địa bàn hoạt động;
Ngân hàng phải xác định nên tăng cường hoạt động cho vay hợp lý, nên chú trọng
hơn vào những hướng nào có hiệu quả, tìm hiểu thêm những lĩnh vực mới tiềm
năng giúp mở rộng hoạt cho vay của Ngân hàng. Môt chiến lược kinh doanh hợp lý,
hiệu quả sẽ giúp NH nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong lĩnh vực này.
1.2.3.2. Các nhân tố bên ngoài


15

Các đặc điểm trong hoạt động tín dụng của một NHTM thể hiện năng lực cạnh
tranh trong hoạt động tín dụng của NHTM đó, nhưng để phát huy năng lực cạnh
tranh này, NHTM còn chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố từ bên ngòai. Đó là:
• Môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh của NHTM thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Tình hình kinh tế trong và ngoài nước:
Nội lực của nền kinh tế của một quốc gia được thể hiện qua quy mô và mức độ
tăng trưởng của GPD, dự trự ngoại hối…
Độ ổn định của nền kinh tế vĩ mô thông qua các chỉ tiêu như chỉ số lạm phát,
lãi suất, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế…
Độ mở cửa của nền kinh tế thể hiện qua các rào cản, sự gia tăng nguồn vốn
đầu tư trực tiếp, sự gia tăng trong hoạt động xuất nhập khẩu..
Tiềm năng tài chính, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trên
địa bàn trong nước cũng như xu thế chuyển hướng hoạt động của các doanh nghiệp
nước ngoài vào trong nước.
Các yếu tố này tác động đến khả năng tích lũy và đầu tư của người dân, khả
năng thu hút tiền gửi, cấp tín dụng và phát triển các sản phẩm của NHTM, khả năng
mở rộng hoặc thu hẹp mạng lưới hoạt động tín dụng của các ngân hàng…Từ đó làm
giảm hay tăng nhu cầu mở rộng tín dụng, triển khai các dịch vụ, mở rộng thị phần
của NHTM. Để đạt được các mục tiêu trên, các NHTM sẽ áp dụng các chiến lược

khác nhau để nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của mình.
Sự biến động của nền kinh tế thế giới sẽ tác động đến lưu lượng vốn của nước
ngoài vào Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Điều này
sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM trong nước và ảnh hưởng đến
năng lực cạnh tranh của các NHTM trong nước.
- Hệ thống pháp luật, môi trường văn hóa, xã hội, chính trị: hoạt động kinh
doanh của NHTM chịu sự chi phối và ảnh hưởng của rất nhiều hệ thống pháp luật
khác nhau, luật dân sự, luật xây dựng, luật đất đai, luật các tổ chức tín dụng…Bên
cạnh đó, NHTM còn chịu sự quản lý chặt chẽ từ NHNN và được xem là một trung
gian để NHNN thực hiện các CSTT của mình. Do vậy, sức mạnh cạnh tranh trong


16

hoạt động tín dụng của các NHTM phụ thuộc rất nhiều vào CSTT, tài chính của
chính phủ và NHNN.
Ngoài những hệ thống và văn bản pháp luật trong nước, các NHTM còn phải
chịu những qui định, chuẩn mực chung của tổ chức thương mại thế giới
(WTO)trong việc quản trị hoạt động kinh doanh của mình. Do vậy, bất kỳ sự thay
đổi nào trong hệ thống pháp luật, chuẩn mực quốc tế, cũng như CSTT của NHNN
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của các
NHTM.
• Sự phát triển của thị trường tài chính và các ngành phụ trợ liên quan với
ngành ngân hàng
Thị trường tài chính trong nước phát triển mạnh là điều kiện để các ngân hàng
phát triển và gia tăng cung vào một ngành có lợi nhuận, từ đó dẫn đến mức độ cạnh
tranh trong hoạt động tín dụng cũng gia tăng. Mặt khác, đặc điểm hoạt động của các
loại hình định chế tài chính có mối liên hệ rất chặt chẽ và có sự bổ trợ lẫn nhau, như
ngành bảo hiểm và thị trường chứng khoán với ngành ngân hàng. Sự phát triển của
thị trường bảo hiểm và thị trường chứng khoán, một mặt chia sẻ thị phần với ngân

hàng, nhưng mặt khác cũng hỗ trợ cho sự tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thông
qua việc cắt giảm chi phí và tạo điều kiện cho các NHTM đa dạng hóa các loại hình
cho vay, tăng khả năng cạnh tranh nhờ tận dụng lợi thế theo phạm vi.
Ngoài ra, sự phát triển của ngành ngân hàng còn phụ thuộc rất nhiều vào sự
phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các ngành, lĩnh vực
khác như tin học viễn thông, giáo dục đào tạo, kiểm toán. Đây là những ngành phụ
trợ mà sự phát triển của nó sẽ giúp ngân hàng nhanh chóng đa dạng hóa các dịch vụ,
tạo lập thương hiệu và uy tín, thu hút nguồn nhân lực cũng như có những k ế hoạch
đầu tư hiệu quả trong một thị trường tài chính vững mạnh.
1.2.4.

Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín

dụng của NHTM.
1.2.4.1. Nhóm chỉ tiêu định tính


17

-

Uy tín, thương hiệu của NH: một NHTM có uy tín, thương hiệu càng cao

thì khả năng cạnh tranh hoạt động kinh doanh nói chung, trong đó có hoạt động tín
dụng, càng cao: và ngược lại.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng trực tiếp giao dịch với khách hàng: Nếu
chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng càng cao ( thể hiện ở tính chuyên nghiệp, thái độ
phục vụ khách hàng,…) thì NH càng có tính cạnh tranh cao hơn trong hoạt động tín
dụng so với các NH khác.
- Năng lực công nghệ: thông thường khách hàng luôn muốn tiếp cận các sản

phẩm tín dụng nhanh chóng và tiện lợi. NH nào có năng lực công nghệ cao hơn, tạo
ra tốc độ xử lý hồ sơ nhanh, ra quyết định tín dụng nhanh chóng thì có năng lực
cạnh tranh cao hơn so với các NH khác.
- Chính sách tín dụng:
- Hệ thống kênh phân phối: NH nào có hệ thống kênh phân phối càng rộng
khắp, tiếp cận càng gần được với khách hàng mục tiêu thì năng lực cạnh tranh trong
cung cấp các sản phẩm tín dụng càng cao và ngược lại.
1.2.4.2. Nhóm chỉ tiêu định lượng
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ: Năng lực cạnh tranh của NH trong hoạt động tín
dụng được biểu hiện cụ thể qua tỉ lệ tăng trưởng dư nợ. NH có tỷ lệ tăng trưởng dư
nợ cao, chứng tỏ mức độ cạnh tranh được cải thiện
Dư nợ kỳ này
Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ=
× 100%
Dư nợ kỳ trước
- Số lượng sản phẩm dịch vụ tín dụng: một NH càng cung cấp đa dạng sản
phẩm tín dụng cho khách hàng trên thị trường lựa chọn thì năng lực cạnh tranh càng
được nâng cao.
- Tốc độ tăng trưởng số lượng khách hàng trong hoạt động tín dụng, đặc biệt
là khách hàng có uy tín và làm ăn hiệu quả.
- Tốc độ tăng trưởng hay suy giảm thị phần dư nợ tín dụng:
Dư nợ của NH
Thị phần tín dụng=
× 100%
Dư nợ toàn hệ thống
- Tỷ lệ nợ xấu: Nợ xấu cũng có thể được xem là chỉ tiêu giúp đánh giá năng
lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của NH, bởi nếu một NH có tỷ lệ nợ xấu
quá lớn, chứng tỏ NH đã phải mở rộng hoạt động cho vay bằng mọi giá, hay nói
cách khác là khách hàng của NH này thiếu sự sang lọc hiệu quả.



18

Dư nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu=
×100%
Tổng dư nợ
- Thu nhập từ hoạt động tín dụng: thu nhập ở đây được tính bằng chênh lệch
giữa chi phí đầu vào và các chi phí khác cho hoạt động tín dụng với thu lãi đầu ra.
Một NH có thu nhập từ hoạt động tín dụng cao chứng tỏ NH đó có năng lực cạnh
trong trong hoạt động tín dụng cao.
Chỉ tiêu này còn giúp NH đánh giá được hiệu quả hoạt động tín dụng trong
tổng quan hoạt động kinh doanh của NH.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã nêu lên một cách khái quát về năng lực cạnh tranh của NHTM
nói chung và năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng nói riêng, cùng những
nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và các tiêu chí để đánh giá năng lực
cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên chính những đặc điểm
của các NHTM và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM.
Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu của quá trình phát triển kinh tế trong thời
đại ngày nay. Thời đại toàn cầu hóa đã mở ra nhiều cơ hội cho các quốc gia, các tổ
chức kinh tế. Toàn cầu hóa gắn liền với quá trình mở cửa thị trường. Thị trường


19

chiếm vị trí chủ đạo, do đó, ai chiếm được thị trường thì người đó có quyền chủ
động đặt ra các luật chơi, đồng thời có nhiều lợi thế canh tranh.
Trong nền kinh tế thị trường các NHTM luôn phải đương đầu với những áp

lực cạnh tranh. Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của NHTM
hiện nay đang được các NH đặc biệt quan tâm, vì đây cũng chính là yếu tố quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của NH.
Những cơ sở lý luận này là tiền đề để phân tích thực trạng năng lực cạnh
tranh trong hoạt động tín dụng của NH TMCP Quân đội trong chương 2, kế đó là
đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của NH TMCP Quân
đội trong chương 3.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NH TMCP QUÂN ĐỘI
2.1. Khái quát chung về NH TMCP Quân đội
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
NHTM cổ phần Quân đội được thành lập theo giấy phép hoạt động số
0054/NH-GP do Thống đốc NHNN Việt Nam cấp ngày 14/9/1994 và quyết định số
00374/GP-UB của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Thời gian hoạt động theo
giấy phép là 50 năm và NH chính thức đi vào hoạt động từ ngày 04/11/1994.


20

NH được thành lập nhằm thực hiện các giao dịch bao gồm:
- Huy động tiền gửi
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn từ các tổ chức, cá nhân trên cơ sở tính
chất và khả năng nguồn vốn của NH.
- Thực hiện các giao dịch ngoại tệ; dịch vụ tài trợ thương mại Quốc tế; chiết
khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác.
- Các dịch vụ NH khác được NHNN cho phép
Trong hơn 20 năm hình thành và phát triển của mình, từ một ngân hàng mới
thành lập với số vốn ít ỏi 20 tỷ đồng và 25 cán bộ nhân viên đến nay MBbank đã có

mạng lưới chi nhánh rộng khắp cả nước. Tính đến thời điểm 31/12/2015, MB có 01
trụ sở chính và 253 điểm giao dịch được NHNN cấp phép, trong đó: 02 Chi nhánh
nước ngoài tại Lào và Campuchia, 81 Chi nhánh trong nước 169 Phòng giao dịch,
01 văn phòng đại diện tại Nga.
Từ khi thành lập đến nay, MB liên tục giữ vững vị thế là một trong những
ngân hàng TMCP hàng đầu tại Việt Nam. MB không dừng lại ở quy mô hoạt động
của một ngân hàng mà đã hướng tới một mô hình tập đoàn tài chính với các công ty
thành viên đang hoạt động hiệu quả. Sự phát triển ổn định với nhịp độ tăng trưởng
cao đã giúp MB có được niềm tin của khách hàng, đối tác và nhà đầu tư. Các chỉ
tiêu tài chính chủ yếu không ngừng tăng cao trong những năm gần đây. Cùng với
tăng trưởng kinh doanh, MB đạt được những bước tiến lớn trong việc củng cố hệ
thống quản lý, hoàn thiện tổ chức, xây dựng chiến lược và tăng năng lực quản lý
điều hành. Năm 2015, MB đã hoàn thành tốt kế hoạch, đảm bảo tăng trưởng ở tất cả
các chỉ tiêu. Tính đến ngày 31/12/2015, lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 3.223 tỷ
đồng, huy động vốn tăng 8,33%, tổng dư nợ tăng 21,68% so với năm 2014.
Dấu ấn rõ rệt nhất của MB là trong giai đoạn 2012-2015 thì NH đã bứt phá
lên giữ vị trí trong nhóm đầu về lợi nhuận kinh doanh, hiệu quả hoạt động so với
các NHTM cổ phần không do nhà nước nắm cổ phần chi phối; một trong năm
NHTM tại Việt Nam về lợi nhuận và hiệu quả. Trong 04 năm liên tục, từ 2012 đến
2015, lợi nhuận của MB luôn lớn nhất trong nhóm các NHTM cổ phần. Đặc biệt,
ghi nhận những thành tựu của MB, năm 2015 - Mbbank vinh dự được Nhà nước
phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.


21

2.1.2

Mô hình tổ chức



22

Phương thức hoạt động và quản lý của hệ thống là Hội sở chính quản lý
chung, nhận kế hoạch và lợi nhuận và các chỉ tiêu khác từ Hội đồng quản trị cụ thể
hóa các kế hoạch và chỉ tiêu đó, sau đó trên cơ sở thực tế hoạt động của từng chi
nhánh phụ thuộc, Ban giám đốc sẽ giao kế hoạch cụ thể cho từng chi nhánh và
phòng giao dịch thực hiện. Các chi nhánh và phòng giao dịch có trách nhiệm lên
phương án, kế hoạch thực hiện và thường xuyên báo cáo tình hình với Ban giám
đốc. Các chi nhánh, phòng giao dịch được cấp vốn lưu động để hoạt động, hạch
toán độc lập trên cơ sở kế hoạch và ủy quyền của Ban giám đốc giao.
Để thuận tiện cho việc quản lý và điều hành Hội sở chính được chia thành
nhiều phòng ban chức năng và nhiệm vụ khác nhau giúp cho Ban giám đốc đưa ra
những quyết định đúng đắn.
Các phòng ban hiện tại của Hội sở chính bao gồm:
• Phòng khai thác kinh doanh:
+ Soạn thảo các quy chế, quy trình về nghiệp vụ, dịch vụ kinh doanh trình
TGĐ
+ Phổ biến hướng dẫn và quản lý việc thực hiện những quy chế, quy trình
nghiệp vụ, dịch vụ kinh doanh của toàn hệ thống.
+ Thẩm định và tái thẩm định, đề xuất ý kiến về các khoản cho vay, tài trợ
xuất nhập khẩu, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ vượt mức phán quyết của SGD, chi
nhánh và hội đồng tín dụng NHTM cổ phần Quân đội.
+ Tham gia hội đồng tín dụng, tham gia công tác xử lý của toàn hệ thống.
+ Nghiên cứu đề xuất cho TGĐ về quản lý cơ cấu, chất lượng tín dụng, các
chương trình đầu tư trọng điểm.
+ Thực hiện các công việc khác do ban TGĐ giao.
• Phòng nguồn vốn:
+ Quản lý, điều hòa vốn hợp lý và hiệu quả cao nhất cho toàn hệ thống.
+ Chủ động có biện pháp huy động vốn trên thị trường đáp ứng nhu cầu kinh

doanh.
+ Nghiên cứu cải tiến phương thức và kênh khai thác, phát triển các nguồn
vốn ổn định và chi phí thấp.
+ Đề xuất thực hiện các quyết định của lãnh đạo về việc tham gia khai thác
kinh doanh thị trường vốn trong và ngoài nước.
• Phòng kế toán tài chính:


23

+ Tổ chức và theo dõi việc hạch toán đầy đủ, chính xác các loại vốn, quỹ và
tất cả các loại tài sản khác, quản lý tập trung, lên bảng cân đối kế toán của toàn hệ
thống.
+ Chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ kế toán trong toàn hệ thống: Triển khai,
kiểm tra thực hiện quy trình nghiệp vụ, quản lý hồ sơ, chứng từ kế toán.
+ Theo dõi và thực hiện kế hoạch tài chính, chỉ tiêu mua sắm, xây dựng sửa
chữa.
+ Thu thập thông tin, tổng hợp và phân tích số liệu báo cáo kế toán
+ Tổ chức thực hiện công tác chuyển tiền giữa các đơn vị trong hệ thống, công
tác thanh toán bù trừ, thanh toán với nước ngoài,..
+ Nghiên cứu cải tiến và quản lý các sổ sách, mẫu ấn chỉ kế toán, chứng từ có
giá của toàn hệ thống.
• Phòng công nghệ thông tin:
+ Tổ chức thực hiện và quản lý sự vận hành của hệ thống mạng giữa Hội sở và
đơn vị trực thuộc để nắm bắt tình hình thực hiện chương trình điện toán và các hoạt
động của toàn bộ hệ thống. Quản lý, bảo quản đầy đủ, an toàn sổ sách chứng từ điện
toán.
+ Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác về số liệu trên các mặt hoạt động của
toàn hệ thống.
+ Hàng năm, kết hợp với bộ phận kế toán và các bộ phận liên quan khác xây

dựng và thực hiện kế hoạch trang bị, đổi mới công nghệ thông tin cho thích hợp
theo nhu cầu phát triển.
+ Nghiên cứu, thiết lập và đưa vào sử dụng các công nghệ mới liên quan đến
hoạt động ngân hàng, từng bước nâng cao trình độ công nghệ.
Ngoài ra còn một số phòng ban khác như:
- Phòng tổng hợp và kế hoạch
- Văn phòng tổng giám đốc
- Phòng tổ chức và đào tạo
- Phòng kiểm soát nội bộ
- Bộ phận pháp chế
- Phòng tiếp thị và quan hệ khách hàng
- Phòng quan hệ Quốc tế
2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của NH
TMCP Quân đội.
2.2.1. Các loại hình tín dụng đang được MBbank triển khai:


×