Tải bản đầy đủ (.pptx) (27 trang)

các vấn đề đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 27 trang )

NỘI DUNG
I. Đặt vấn đề
II. Khái niệm đạo đức công nghệ sinh học

III. Đạo đức sinh học trên việc thử nghiệm
dùng động vật
IV. Tế bào gốc và đạo lý sinh học
V. Thực vật chuyển gen và vấn đề đạo đức

VI. Vũ khí sinh học

VII. Đạo lý sinh học và nhà trường

VIII. Kết luận
2


3


Khoa học có thể trở thành thiên thần là nhờ con người Khoa học có thể trở thành
ác quỷ cũng bởi con người

“Ths.Phan Kim Ngọc ”

Các đạo đức sinh học lần lượt ra đời
4


II. Khái niệm
Đạo đức học là gì?


Là một lĩnh vực nghiên cứu các giá trị đạo đức và lập luận về ý nghĩa của các giá trị đạo đức này
trong
thực tiễn

Việc nhận thức
được các khía cạnh
thuộc về đạo đức
trong hoạt động
thực tiễn của
chúng ta

Khám phá ra các

Có khả năng đưa

Phát triển các

cơ sở lí luận cho

ra các đánh giá

khuôn mẫu thực

việc nên hay

về mặt đạo đức

hành tốt dựa trên

không nên làm


và đi đến quyết

các cơ sở lập

một điều gì

định

luận

5


Đạo đức sinh học là gì?

Đạo đức sinh học (Bioethicists) là sự
nghiên cứu các lựa chọn đạo đức bắt
nguồn từ sự dính dáng của con người đến
sự sống. Nó bao hàm sự đánh giá lợi ích
và rủi ro liên quan với sự can thiệp của
con người, thông qua công nghệ sinh học.



Xem xét sự cân đối giữa quyền tự
quản của cá nhân và nhiệm vụ pháp
lý. Đạo đức sinh học đòi hỏi phải đánh
giá công nghệ một cách kỹ lưỡng,
trong đó có đánh giá các tác động xã

hội và cá nhân.

6


III. Đạo đức sinh học trên việc thử nghiệm dùng động vật
1. Thử nghiệm dùng động vật
Là thuật ngữ chỉ các phương thức thực hiện trên động vật sống cho các mục đích nghiên
cứu sinh học.

0.02
9%
0.02
4%
8%

các nghiên cứu và phát triển
thuốc cho người và thuốc thú y
các nghiên cứu sinh học cơ bản
32%

sản xuất và kiểm soát chất
lượng thuốc cho người
đánh giá mức độ an toàn

12%
31%

sản xuất và kiểm soát chất
lượng thuốc thú y

chuẩn đoán các căn bệnh
giáo dục và đào tạo
mục đích khác
7


2. Những giới hạn về đạo đức của thí nghiệm sử dụng động vật

8


9


Năm 1992, Russell và Burch đã phác thảo ba nguyên lí hướng dẫn khi nghiên cứu trên động vật (mô hình 3R)

Tế nhị
(refinement) 

Giảm thiểu
(reduction) 

Thay thế
(replacment) 

10


IV.


Tế bào gốc (stem cell) là những tế bào chưa biệt hóa và chúng có khả năng biệt hóa thành các kiểu tế bào chức năng, điều này
cho phép chúng có vai trò như hệ thống sửa chữa mô, tạo những tế bào khác hoạt động bình thường trong cơ thể sinh vật

11


Tế bào gốc và đạo lí sinh học

-

Sự ra đời của cừu Dolly chứng minh rằng một tế bào thân trưởng thành khi được xử lý và đưa vào
trong một tế bào trứng (đã hút bỏ nhân) vẫn có khả năng giải biệt hóa trở thành tế bào gốc toàn năng

-

Hoàn toàn có thể tạo ra các dòng tế bào gốc phôi thậm chí một cơ thể mang gen giống hệt một cơ thể
đã có

Chính vấn đề này làm dấy lên cuộc tranh luận về vấn đề đạo đức của các nghiên cứu tế
bào gốc phôi và nhân bản luôn là những vấn đề nổi cộm

12


Thành tựu của nghiên cứu tế bào gốc và nhân bản mở ra hy vọng có được các phương pháp điều trị mới dựa trên ghép tế bào gốc,
thay thế gen, tạo nên các mô/tạng ghép phù hợp với người bệnh

Mặt khác, các nghiên cứu về tế bào gốc và nhân bản liên quan đến việc sử dụng phôi người do đó gây ra mối lo ngại về các vấn đề
đạo đức, vấn đề phạm vi và điều kiện cho các nghiên cứu loại này


13


Nghiên cứu tế bào gốc đặt ra các vấn đề đạo đức sau:

-

Sử dụng phôi/thai người là giết chết một con người : Các quan điểm chống lại việc nghiên cứu tế bào gốc phôi người chủ
yếu dựa trên vấn đề tín ngưỡng và quan niệm về việc phá hủy phôi người.

Sự sống bắt đầu từ lúc thụ thai và cho rằng các nghiên cứu tế bào gốc phôi người là sai lầm

Năm 2001, 53%

về mặt đạo đức. Phôi người phải có nhân quyền, phải được bảo vệ như đối với bảo về con
người

Các phôi thừa trong quá trình làm thụ tinh nhân tạo điều trị vô sinh thay vì vứt bỏ
Năm 2003, 38%

nên được hiến cho khoa học

Điều tra xã hội của Nisbet M.C

14


-

Công cụ hóa phôi người, biến cuộc sống thành món quà thương mại : Nhiều người lo ngại rằng các

nhiên cứu tế bào gốc và nhân bản sẽ biến phôi người thành công cụ cho các nghiên cứu y sinh học. Họ
lo ngại rằng để chữa bệnh cho một người người ta tạo ra một bản sao giống hệt người đó, giết chết
sinh linh này để lấy mô/tạng dùng cho bản gốc. Khi đó cuộc sống sẽ là món hàng để mua bán

-

Chống lại quy luật của tạo hóa, chống lại thuyết định mệnh : tạo hóa quy định quá trình sinh lão bệnh
tử của mỗi cơ thể sinh vật. Nghiên cứu tế bào gốc và nhân bản phải chăng cố gắng cưỡng lại định
mệnh, chống lại quy luật sinh học để kéo dài sự sống

15


- Nguy cơ nhân bản vô tính người, tạo ra các rối loạn về trật tự gia đình, xã hội : Các quan ngại về nguy cơ này xuất hiện trên công
luận từ năm 1996 khi cừu Dolly được nhân bản. Từ khi Hàn Quốc công bố tạo được dòng tế bào gốc (2004) từ phôi người nhân
bản vô tính thì công chúng thực sự lo lắng vì nguy cơ nhân bản vô tính người không còn quá xa

Phản ứng chính trị tỏ ra rất khác biệt giữa các quốc gia
Ở Châu Âu, một sô nước như Áo, Ba Lan, Tiệp, Thụy Sĩ và Na Uy không có đạo luật nào ngăn cấm nghiên cứu hay sử dụng tế bào
gốc

Ở các quốc gia khác như Thụy Điển, Anh tế bào gốc được cho phép nghiên cứu và sử dụng

Đức cho phép các nhà khoa học nhập cảng tế bào gốc từ các nước khác

Nhật Bản và Canada cho phép sử dụng tế bào gốc phôi trong 1 giới hạn nhất định

Ở Úc vẫn bàn cãi gay gắt về việc nhân bản tế bào gốc phôi

16



Những tranh luận xung quanh tế bào gốc phôi không chỉ giới hạn trong phòng thí nghiệm hay tôn
giáo mà còn lan rộng trong xã hội, lôi cuốn cả giới chính trị. Do vậy hợp pháp hóa hay phản đối việc
nghiên cứu tế bào gốc phôi đã trở nên căng thẳng bởi với rất nhiều người thì phôi và thai là như
nhau.

17


Tiềm năng
và ứng dụng

18


Các đạo đức cần có đối với thực vật chuyển gen

19


VI. Vũ khí sinh học
Vũ khí sinh học (biological weapons – BW) là một công cụ lợi hại và nguy hiểm chống lại con người,
chống lại sự sống. Và nói chung, loại vũ khí này chỉ được sử dụng cho mục đích chiến tranh hoặc khủng bố.
Vũ khí sinh học được coi là đứng đầu trong nhóm vũ khí hủy diệt hàng loạt

20


21



Không một ai hoài nghi về thảm họa do vũ khí sinh học gây ra, do vậy công tác phòng chống đã trở
thành nhiệm vụ tối hậu của cộng đồng nhân loại. Từng quốc gia, tập thể cho tới từng cá nhân đều có
trách nhiệm lên án và phòng chống vũ khí sinh học. Liên hiệp quốc đã có các hành động thích hợp để
ngăn ngừa và loại trừ thảm họa này. Công ước về việc loại trừ vũ khí sinh học và độc chất đã được
hơn 140 nước kí kết và thông qua, cho tới năm 2006

22


Đạo lí sinh học trước hết phải được khởi

Học sinh, sinh viên trước hết phải là

động từ nhà trường. Đưa kiến thức đạo

nhân tố có nhận thức và có ảnh hưởng

đức sinh học vào giảng dạy để nhận ra vai

mạnh tới xã hội.

trò của nó trong quá khứ và hiện tại,
nhưng quan trọng hơn cả là biểu hiện nó
trong tương lai từ các thế hệ trẻ.

23



New focus of
observation
Decision or Descriotion or

Focus of observation

“Best” Solution
Question

Values (in flux)

Contenet

Analysis and ethical deliberation

Mô hình giảng dạy thử nghiệm

24


Một số rào cản đối với việc thực hiện giáo dục đạo lí sinh học:
- Rào cản lớn nhất là sự ép buộc. Các chương trình đạo lí sinh học trong
các trường tỏ ra chưa gây hứng thú và thiết thực cho người học. Nội dung
dạy còn phụ thuộc nhiều vào quan niệm chủ quan
- Hầu hết các cá nhân và tổ chức chưa theo kịp tiến trình phát triển của
khoa học-công nghệ, nhất là trong lĩnh vực y sinh
- Các dịch vụ về đạo lí sinh học chưa nhiều
25



Không thể một sớm một chiều mà mỗi người đều nhận định một cách đúng đắn các vấn đề về
đạo đức sinh học. Không nghi ngờ gì nữa, đạo đức sinh học phải được nhận thức một cách có hệ
thống, có nền tảng trong cấu trúc tri thức của loài người. Trong thực tế, đạo đức sinh học đã trở
thành một ngành khoa học hiện đại, có phạm vi hoạt động và phát triển của riêng mình, nó phải
được thể hiện tính hiệu quả trong đời sống mỗi con người, trở thành một nguyên tắc của sự phát
triển xã hội.

24


×