Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Một số biện ph¸pnhằm gây hứng thú học môn mĩ thuật cho học sinh lớp 5 theo phương pháp mới của đan mạch

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (566.9 KB, 23 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỌ XUÂN
----------O0O----------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GÂY HỨNG THÚ
HỌC MÔN MĨ THUẬT CHO HỌC SINH LỚP 5
THEO PHƯƠNG PHÁP MỚI CỦA ĐAN MẠCH

Người thực hiện: Đào Trọng Hòa
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác:Trường Tiểu học Xuân Phú – Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Mĩ thuật

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU
2
1.1. Lý do chọn đề tài:................................................................................
2
1.2. Mục đích nghiên cứu...........................................................................
3
1.3. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................
3
1.4. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................
3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM


3
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.............................................
3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN......................................
4
2.3. Các giải pháp đã sử dụng.....................................................................
6
- Giải pháp1: Tuyên truyền đến học sinh, phụ huynh về phương pháp
6
mới..............................................................................................................
- Giải pháp 2: Phát huy và nâng cao vai trò của người thầy trong việc vận

7

dụng các phương pháp dạy học mới...........................................................
- Giải pháp 3: Xây dựng, tổ chức tốt dạy học theo nhóm........................
- Giải pháp 4: Trong cùng chủ đề luôn tạo sản phẩm mới mang tính sáng

10
14

tạo................................................................................................................
- Giải pháp 5: Tổ chức trò chơi gây hứng thú trong dạy học Mĩ thuật.
- Giải pháp 6: Đổi mới kiểm tra đánh giá, tuyên dương khen thưởng học

16
17

sinh...............................................................................................................
2.4. Hiệu quả đạt được.................................................................................

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.....................................................................
3.1. Kết luận.................................................................................................
3.2.
Kiến

19
19
19
20

nghị.......................................................................................
.......
- Tài liệu tham khảo.....................................................................................

21

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Giáo dục Mĩ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong nền giáo dục hiện đại.
Giáo dục mĩ thuật không chỉ khuyến khích sự sáng tạo của học sinh mà còn bởi
giáo dục mỹ thuật giúp phát triển đặc điểm và năng lực xã hội của học sinh,
khuyến khích học sinh tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức.

1


Môn Mĩ thuật Tiểu học không nhằm đào tạo các em thành hoạ sĩ hay những
người chuyên làm nghề mĩ thuật mà thông qua các hoạt động tạo hình để giáo dục
thẩm mĩ cho học sinh, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, làm quen, thưởng thức
cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp, biết lựa chọn giữ gìn bảo vệ sáng tạo cái đẹp trong học

tập và cuộc sống góp phần xây dựng môi trường thẩm mĩ cho xã hội.
Cùng với môn học khác học Mĩ thuật giúp các em phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính
năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục Mĩ thuật là một phần quan trọng trong nỗ lực của Đại sứ quán Đan
Mạch tại Việt Nam. Dự án này nhằm truyền cảm hứng cho giáo viên dạy Mĩ thuật,
khuyến khích giáo viên kết hợp các kỹ năng mỹ thuật với các phương pháp dạy
học lấy người học làm trung tâm, khuyến khích sự tương tác, kích thích tư duy
sáng tạo, kích thích phát triển nhận thức thông qua hoạt động thực tế.
Giáo viên sẽ tổ chức dạy cho các em học Mĩ thuật qua các hoạt động Vẽ cùng
nhau, Vẽ theo nhạc, Vẽ biểu đạt, tạo hình 3D từ các vật tìm được, Xây dựng cốt
truyện...Thông qua các hoạt động tạo hình sẽ khơi gợi và phát huy được năng khiếu
thẩm mỹ vốn có ở trẻ, gây hứng thú cho các em trước cái đẹp, tiến tới hình thành thị
hiếu thẩm mỹ của học sinh trong cuộc sống. Hoạt động giáo dục Mĩ thuật còn góp
phần đem lại nhận thức mới, niềm vui, hứng thú và sáng tạo học tập cho trẻ. Việc sử
dụng nền nhạc trong các hoạt động Mĩ thuật cũng tạo cho học sinh hứng thú, không
khí lớp học vui vẻ, thân thiện.
“Các em học sinh khi tới trường giống như những cây non có rễ cứng cáp và
đầy tiềm năng. Giáo viên chỉ đóng vai trò là những người thúc đẩy, biết cần phải
thêm chất xúc tác gì vào nước tưới để giúp những cây non đó phát triển”, đó là
thông điệp bà Kirsren Fugl, chuyên gia tư vấn Đan Mạch đã nêu tại các buổi tập
huấn cho giáo viên khi thực hiện phương pháp mới của dự án. Điểm nổi bật của
phương pháp dạy học này là giáo viên có thể chủ động theo từng nội dung tiết dạy
mà kết hợp nhiều kỹ thuật trong một bài dạy. Khi giảng dạy, giáo viên Mĩ thuật
phải nắm vững những yêu cầu để xây dựng các nội dung liên kết, đặc biệt lưu ý tới
5 lĩnh vực năng lực: kinh nghiệm; kỹ năng và kỹ thuật; phân tích giải trình; thể
hiện năng lực truyền thông tin và đánh giá với các chủ điểm chung phù hợp với
học sinh tiểu học ở các lứa tuổi khác nhau. Tổ chức lớp học phần lớn được thông
qua hoạt động nhóm theo phương châm: Lấy người học làm trung tâm, khuyến
khích sự tương tác, kích thích tư duy sáng tạo, kích thích phát triển nhận thức

thông qua hoạt động thực tế mà các em được trải nghiệm.
Mặc dù vậy, phương pháp dạy học Mĩ thuật mới được áp dụng trên toàn
Huyện từ học kì 2 của năm học 2014 - 2015 vẫn còn khá nhiều điểm mà giáo viên
băn khoăn, lúng túng, không biết thực hiện như thế nào cho đúng tinh thần đổi
mới, cho đạt hiệu quả? khơi dạy sự hứng thú, tinh thần học tập của học sinh theo
phương pháp mới đạt kết quả cao. Qua 2 đợt tập huấn và dự giờ thực tế, có thể nói
hình thức tổ chức của phương pháp mới này vẫn còn nhiều khó khăn với đại đa số
giáo viên chuyên trách. Sự thay đổi về nội dung phân phối chương trình, sự thay
đổi hình thức tổ chức lớp học, các hoạt động nhóm là một trong những vấn đề
trọng tâm khiến giáo viên không khỏi tránh được những khó khăn, vướng mắc.
- Làm thế nào để khơi dậy sự hứng thú, tinh thần học tập của học sinh.
2


- Tại sao phải khơi dậy sự hứng thú và tinh thần học tập của học sinh?
- Tổ chức hình thức học tập như thế nào để gây hứng thú và đạt hiệu quả
trong học tập?
- Hình thức tổ chức lớp học ra sao, cách thực hiện các quy trình sáng tạo như
thế nào?
- Khi học tập theo thì đánh giá học sinh như thế nào để đảm bảo đúng, chính
xác với năng lực thực tế của từng học sinh?...
Trên đây là một số các câu hỏi đặt ra mà mỗi giáo viên đều mong muốn có
được câu trả lời xác đáng. Như lời thầy Nguyễn Hữu Hạnh, chuyên viên chính Vụ
Giáo dục Tiểu học, BGD&ĐT: “Cái gì đổi mới, thời gian đầu cũng sẽ không tránh
khỏi khó khăn, điều quan trọng chính là ở chỗ, người giáo viên phải biết lấy học
sinh làm trung tâm của quá trình giảng dạy, hiểu trình độ từng em, từ đó có những
hành động thiết thực để cải thiện điều kiện học tập và kết quả học tập của các em”.
Xuất phát từ những lý do trên, với những nỗ lực của bản thân, tôi đã đi sâu
vào tìm hiểu “Một số biện pháp nhằm gây hứng thú học môn Mĩ thuật cho học
sinh lớp 5 theo phương pháp mới của Đan Mạch”, xin chia sẻ cùng đồng nghiệp.

1.2. Mục đích nghiên cứu.
Tìm ra một số giải pháp nhằm gây hứng thú học môn mĩ thuật cho học sinh
lớp 5 nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của học sinh trường tiểu học nói riêng
và ở Tiểu học nói chung.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu một số giải pháp theo chương trình môn Mĩ thuật lớp 5 nhằm
gây hứng thú học tập cho học sinh.
- Đối tượng là học sinh khối 5 của Trường tiểu học Xuân Phú, Thọ Xuân,
Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp cơ bản được sử dụng vào nghiên cứu đề tài bao gồm:
- Nghiên cứu, sưu tầm tài liệu có liên quan.
- Phương pháp vấn đáp.
- Phương pháp quan sát, khảo sát thực tế.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
* Hứng thú là gì ?
Hứng thú là một thuộc tính tâm lí - nhân cách của con người. Hứng thú là
thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ý nghĩa đối với cuộc
sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động. Hứng thú biểu
hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng
và chiều sâu của hứng thú. Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng
hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc.
* Vai trò của hứng thú trong công việc và trong học tập:

3



Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc
gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú. M.Gorki từng
nói: “Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc”.
Thực chất của việc dạy học là truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự
học của người học. Người học chỉ tự giác, tích cực học tập khi họ thấy hứng thú.
Hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai
trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Giáo viên là người có vai trò quyết
định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh.
* Hứng thú học tập môn Mĩ thuật:
Mĩ thuật là môn học tạo ra cái đẹp, thưởng thức cái đẹp và vận dụng cái đẹp
vào trong cuộc sống. Vậy thì hứng thú trong môn Mĩ thuật chính là sự yêu thích,
ham học, có cảm giác phấn chấn khi tiếp xúc môn học phát triển tối đa trí tuệ, sức
sáng tạo, tích cực tự nghiên cứu, tìm tòi dưới sự hướng dẫn của giáo viên giảng dạy.
Các em hoàn toàn chủ động trong việc trải nghiệm, sáng tạo, biểu đạt, cảm nhận,
phản ánh được suy nghĩ tình cảm, mong muốn của mình vào sản phẩm, tác phẩm.
Để truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự học của học sinh người giáo
viên cần phải thực hiện:
- Một là: Hiệu quả thực sự của việc dạy học là học sinh biết tự học; tự hoàn
thiện kiến thức và tự rèn luyện kỹ năng.
- Hai là: Nhiệm vụ khó khăn và quan trọng nhất của giáo viên là làm sao
cho học sinh thích học.
- Ba là: Dạy học ở tiểu học phải làm cho HS cảm thấy biết thêm kiến thức
của mỗi bài học ở mỗi môn học là có thêm những điều bổ ích, lý thú từ một góc
nhìn cuộc sống.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN:
Năm học 2014 – 2015 là năm chính thức áp dụng chương trình dạy học Mĩ
thuật theo phương pháp mới vào giảng dạy ở bậc Tiểu học trên toàn huyện.
* Đối với bản thân:
- Khi được tiếp thu chương trình, tôi nhận thấy tính ưu việt của phương pháp
dạy học mới. Đây là phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động sáng

tạo của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm; Kích thích sự tương tác, tư duy sáng
tạo và phát triển nhận thức. Từ đó các em có thể hình thành và phát triển ba năng
lực cốt lõi là: Sáng tạo mĩ thuật và qua đó biểu đạt bản thân qua suy nghĩ, tình cảm,
mong muốn,…; Hiểu cảm nhận và phản ánh được hình ảnh của sản phẩm/tác phẩm
mĩ thuật (phân tích, đánh giá được sản phẩm/tác phẩm); Giao tiếp, trao đổi, tiếp
nhận ý tưởng và ý nghĩa thông qua sản phẩm/tác phẩm mĩ thuật.
Bản thân tôi thấy mình được chủ động theo từng nội dung tiết dạy, được
khám phá, sáng tạo cùng học sinh để tạo ra được nhiều tác phẩm nghệ thuật bằng
nhiều chất liệu khác nhau nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu kiến thức, kĩ năng
của môn học. Qua đó tôi cũng đã nâng cao được nâng lực của bản thân cách thức
tổ chức dạy học, khả năng làm sản phẩm trên nhiều chất liệu khác nhau,…
- Khi vận dụng vào giảng dạy: Sau khi được tập huấn, tiếp thu phương pháp
dạy học mới và vận dụng vào giảng dạy, bản thân tôi cũng cơ bản lĩnh hội được nội
dung chương trình, cách thức tổ chức dạy học; biết cách lập kế hoạch và tổ chức
những quy trình dạy học linh hoạt phù hợp với điều kiện của nhà trường. Vận dụng
4


linh hoạt các phương pháp dạy học, các quy trình như: Vẽ biểu cảm, vẽ theo nhạc,
tạo hình 3D,… trong từng chủ đề cụ thể.
Tổ chức đánh giá liên tục quá trình học mĩ thuật để phát triển các năng lực
học tập, khả năng sáng tạo và kĩ năng sống cho mỗi học sinh.
- Dự giờ đồng nghiệp: Ở trường ngoài các tiết dạy mẫu, các tiết thao giảng
và được sự góp ý của chuyên môn, của tổ khối để hoàn thiện khả năng giảng dạy
của mình. Tôi cũng đã tham gia dự giờ, giao lưu các cụm chuyên môn. Tham gia
dự giờ các tiết dạy của các đồng chí ở trường TH Lam Sơn, Trường TH Thọ
Xương,…Các cụm chuyên môn cũng đã lần lượt thực hàng loạt tiết dạy chuyên đề,
để chia sẻ kỷ thuật và kinh nghiệm dạy học theo phương pháp mới.
Thông qua được dự giờ đồng nghiệp tôi thấy bản thân đã nắm bắt tốt hơn về
tinh thần của phương pháp mới, tự tin hơn trong việc áp dụng linh hoạt các phương

pháp, các quy trình trong từng tiết dạy.
* Đối với học sinh:
- Về điều kiện: Học sinh đã được cha mẹ, nhà trường tạo mọi điều kiện tốt
nhất cho các em tham gia học tập. Các em được trang bị đầy đủ đồ dùng phục vụ
cho môn học; Nhà trường trang bị phòng học riêng, bố trí cho các em học trọn vẹn,
liền mạch chủ đề học trong một buổi, đảm bảo các em không bị ngắt quãng quá
trình tạo sản phẩm theo chủ đề cũng như mạch kiến thức của bài.
- Về khả năng giao tiếp: Sau khi được học theo phương pháp mới tôi thấy
khả năng giao tiếp của học sinh đã được nâng lên đáng kể. Áp lực học tập không
còn là vấn đề với các em. Mặt khác, các em được thỏa thích với những sáng tạo thú
vị, được trao đổi, học hỏi từ bạn rất nhiều. Với việc vận dụng các quy trình như: Vẽ
cùng nhau, vẽ theo nhạc, vẽ biểu đạt, tạo hình 3D từ các vật tìm được, xây dựng cốt
truyện...đã làm tăng khả năng trải nghiệm, khả năng biểu đạt, phân tích diễn giải, giao
tiếp và đánh giá, tăng khả năng vận dụng sáng tạo về Mĩ thuật tốt hơn, phát triển kỹ
năng trình bày sản phẩm của mình trước đám đông. Các em đã dần tự tin hơn trong
học tập cũng như trong giao tiếp hàng ngày.
- Khả năng tiếp thu: Sau hai năm được học tập trải nghiệm phương pháp dạy
học mới thì khả năng tiếp thu của các em với môn học đã tốt hơn rất nhiều. Các em
không còn bỡ ngỡ, mà thay vào đó các em đã chủ động hơn tham gia vào quá trình
học tập. Các em vừa học, vừa chơi, vừa sáng tạo nên em nào cũng mong chờ đến
tiết học mỹ thuật.
- Năm 2014 – 2015:
+ Bước đầu thực hiện theo phương pháp dạy học mới bản thân giáo viên còn
bỡ ngỡ, chưa nắm bắt được tinh thần môn học; việc vận dụng các phương pháp,
các quy trình còn nhiều hạn chế, còn áp dụng máy móc, chưa có nhiều sáng tạo.
+ Học sinh cũng nhiều bỡ ngỡ, lúng túng khi tiếp thu và học theo phương
pháp mới. Chưa mạnh dạn trong hoạt động nhóm, cách thể hiện tác phẩm còn phụ
thuộc nhiều vào sách giáo khoa. Khả năng giao tiếp đánh giá, khả năng sáng tạo,…
còn nhiều hạn chế.
Vậy trước những thực trạng trên làm thế nào để giúp cho học sinh có ý thức,

có hứng thú hơn khi tham gia vào quá trình học tập của môn học đạt kết quả cao.
Tôi đã tiến hành khảo sát, thăm dò ở học sinh khối lớp 5 xem có bao nhiêu em
thích học vẽ và không thích học vẽ, để từ đó tìm ra giải pháp khắc phục.
5


* Kết quả khảo sát đầu năm:
HS có hứng thú khi HS không hứng thú khi
học môn Mĩ thuật
học môn Mĩ thuật
5A
28
20
71%
8
29%
5B
29
19
66%
10
34%
2014 - 2015
5C
28
21
75%
7
25%
Tổng

85
60
71%
25
29%
* Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên:
- Về phía giáo viên:
+ Sách đọc thêm và các tài liệu tham khảo phục vụ môn học còn chế, chưa
khai thác hết những ưu điểm khi vận dụng các quy trình vào chủ đề.
+ Chưa có nhiều sáng tạo trong việc vận dụng các quy trình để thể hiện sản
phẩm theo chủ đề.
- Về phía học sinh:
+ Chưa nắm bắt và hiểu hết được nội dung các quy trình để vận dụng triển
khai khi thực hiện giao nhiệm vụ và thực hiện theo nhóm.
+ Còn phụ thuộc nhiều vào tranh mẫu.
+ Phần lớn HS là con em dân tộc, khả năng giao tiếp còn nhiều hạn chế.
+ Nhiều em vẫn còn thiếu đồ dùng học tập dẫn đến bài tập không hoàn
thành, không được đánh giá, nhận xét…dẫn đến nhàm chán.
+ Vẫn còn tư tưởng môn học chính, môn học phụ.
Qua kết quả khảo sát và những nguyên nhân trên cho ta thấy nhất thiết phải
cải tiến phương pháp cũng như hình thức tổ chức dạy học…cần thực hiện một số
giải pháp sau:
2.3. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ ÁP DỤNG.
* Giải pháp 1: Tuyên truyền đến học sinh, phụ huynh về phương pháp mới.
Để giúp học sinh, phụ huynh hiểu về phương pháp dạy học mới để từ đó
hiểu và quan tâm đến công việc học tập của các em, bản thân tôi đã:
- Tổ chức tuyên truyền đến tất cả các đồng chí giáo viên trong nhà trường.
- Giới thiệu chương trình dạy học mới đến học sinh toàn trường.
- Thông qua giáo viên chủ nhiệm lớp để triển khai trực tiếp đến phụ huynh
học sinh qua buổi họp phụ huynh đầu năm.

- Tuyên truyền thông qua các buổi các buổi vẽ tranh ngoài trời, qua các buổi
học tập...giúp học sinh cách tiếp cận chủ đề theo phương pháp mới.
- Tuyên truyền về tầm quan trọng của môn học.
● Giới thiệu về chương trình dạy học theo phương pháp mới :
- Mục tiêu: Chương trình dạy học theo phương mới của SEAPS đều hướng
tới
mục tiêu lấy HS làm trung tâm, kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển
nhận thức. Để từ đó các em có thể hình thành và phát triển ba năng lực cốt lõi là:
+ Sáng tạo mĩ thuật và qua đó biểu đạt bản thân (suy nghĩ, tình cảm, mong
muốn,...).
+ Hiểu, cảm nhận và phản ánh được hình ảnh của sản phẩm/tác phẩm mĩ
thuật (phân tích, đánh giá được sản phẩm/tác phẩm).
Năm học

Lớp

Sĩ số

6


+ Giao tiếp, trao đổi, tiếp nhận ý tưởng và ý nghĩa thông qua sản phẩm/tác
phẩm mĩ thuật.
Cùng với việc phát triển những năng lực nói trên, HS cũng có thể phát triển
các giác quan, các kĩ năng sống, kinh nghiệm và khả năng giải quyết vấn đề, các
năng lực hợp tác, năng lực tự học và đánh giá.
- Nội dung chương trình: Nội dung chương trình giáo dục Mĩ thuật theo
phương pháp mới không theo trình tự các bài như chương trình hiện hành.
+ Các bài học theo chủ đề dựa trên các phân môn Mĩ thuật, phù hợp với lứa
tuổi HS từng khối lớp. Mỗi khối lớp có từ 12 - 14 chủ đề/35 tiết học/1 năm học

của chương trình hiện hành.
+ Mỗi chủ đề có từ 2 - 4 tiết tuỳ nội dung, phương pháp và quy trình được
vận dụng.
+ Mỗi chủ đề sẽ được vận dụng phương pháp và hình thức tổ chức thông qua 7
quy trình: Vẽ cùng nhau và sáng tác các câu chuyện; Vẽ biểu cảm, Vẽ theo âm nhạc;
Phương pháp xây dựng cốt truyện; Tạo hình 3D - tiếp cận theo chủ đề (tạo hình từ vật
tìm được); Điêu khắc - Nghệ thuật tạo hình không gian; Tạo hình con rối và nghệ
thuật biểu diễn.
● Sự ảnh hưởng trong đời sống hàng ngày:
Trong cuộc sống hàng ngày nếu như một học sinh không được trải nghiệm,
không được tham gia học tập môn mĩ thuật thì HS đó sẽ có cái nhìn về thế giới về
cuộc sống khác với những em được học mĩ thuật. Những HS được học sẽ cảm
nhận được cái đẹp, biết tạo ra được cái đẹp để phục vụ cho cuộc sống.
Ví dụ: Khi đi học, đi chơi, hay đi tham gia một chương trình, sự kiện nào đó
em sẽ biết cách lựa chọn phối màu trang phục phù hợp cho bản thân; các em cũng
biết cách trang trí lớp học, góc học tập như thế nào là ngăn nắp, gọn gàng và thẩm
mĩ; Trong gia đình em sẽ biết cách trang trí nhà cửa, sắp xếp đồ dùng phù hợp với
không gian; thông qua những hành động, những công việc đó các em cũng sẽ ý thức
được cái đẹp trong giao tiếp ứng xử, trong các mối quan hệ bạn bè, anh em,.....
Như vậy, với việc giới thiệu, tuyên truyền sâu rộng đến với học sinh, phụ
huynh bằng nhiều hình thức khác nhau về tầm quan trọng, sự ảnh hưởng của môn
học trong đời sống xã hội cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ
đã thay đổi cách suy nghĩ của phụ huynh, cũng như đã tạo được sự yêu thích, thích
thú của HS về môn học. Và kết quả đạt được là sự tiến bộ về kĩ năng giao tiếp, sự
tiến bộ về nhân cách,...cũng như sự tiến bộ về tư duy, về kĩ năng,...về mọi thứ các
em được trải nghiệm ở trường học, xã hội nơi các em tiếp xúc. Qua đó tạo được
niềm tin và sự quan tâm của học sinh, phụ huynh đến môn mĩ thuật.
* Giải pháp 2: Phát huy và nâng cao vai trò của người thầy trong việc vận
dụng các phương pháp dạy học mới.
Như chúng ta đã biết người thầy luôn có vai trò quan trọng trong việc truyền

đạt, hướng dẫn, định hướng phát triển các kỹ năng học tập. Có trách nhiệm tạo ra
môi trường an toàn và tự tin, ở đó học sinh được tham gia vào quá trình học tập, qua
đó các em có được những hiểu biết và những kĩ năng mới mà trước đó chưa có.
Trong các hoạt động dạy và học tôi luôn sáng tạo, linh hoạt, điều khiển cách
thức học tập, dẫn dắt hướng học sinh vào các chủ đề, nội dung từng bài học; các
em được chủ động khám phá, giao tiếp trao đổi, chia sẻ cùng nhau, kích thích được
7


sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức.
Bản thân tôi luôn giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức điều khiển mọi hoạt
động nói chung cũng như hoạt động nhận thức riêng của học sinh. Và trong quá
trình dạy học tôi luôn đặt ra câu hỏi để lập kế hoạch cho từng hoạt động:
- Mục tiêu tổng thể nào cần đạt?
- Bắt đầu quy trình thế nào?
- Tài liệu nào phù hợp?
- Làm thế nào để có thể kết nối các hoạt động lại với nhau một cách logic?
- Đánh giá thế nào?
Từ đó tôi lập nên các quy trình mĩ thuật tích hợp, linh hoạt; các quy trình
mĩ thuật theo chủ đề từ những nhóm chủ đề liên quan đến kinh nghiệm cá nhân,
tâm lí lứa tuổi, và kiến thức của học sinh.
Ngoài ra, tôi luôn nghiên cứu kỹ giáo án, thiết kế giáo án điện tử thành thạo,
tham khảo, tìm, tự tìm tư liệu bài giảng, tìm ra những phương pháp phù hợp cho
từng nội dung bài dạy khác nhau. Liên hệ với một số môn học khác để bài học
được phong phú như môn Âm nhạc, Tiếng Việt...Bên cạnh việc chuẩn bị giáo án
tốt tôi còn tự làm, sưu tầm tài liệu, vẽ tranh phục vụ cho từng bài dạy của mình.
Ví dụ: Chủ đề “Hoạt động ở trường em”.
Tôi áp dụng phương pháp xây dựng cốt truyện. Đây là phương pháp sư
phạm lấy học sinh làm trung tâm và khơi gợi tính tích cực của học sinh.
Vậy để học sinh tiếp cận được chủ đề, chọn điểm bắt đầu của câu chuyện;

Tôi đã nêu cho học sinh biết các yếu tố quan trọng của cốt truyện là các nhân vật,
bối cảnh, dàn dựng, sự kiện.
Bắt đầu với việc hướng dẫn học sinh tạo hình và xây dựng tính cách cho
nhân vật, tạo dựng bối cảnh và giới thiệu tình huống tới học sinh.
Học sinh làm việc theo nhóm. Các em quan sát và xác định hình dạng hình học
trong cơ thể người, sau đó tập trung thảo luận và tạo nhân vật cho riêng mình. Các em
có thể cắt, xé dán bằng các vật liệu tìm được. Học sinh sẽ tạo hình người cho mình
bằng cách ghép các hình bộ phận cơ thể vào với nhau. Giáo viên sẽ chỉ cách cho các
em tạo vận động cho nhân vật. Mỗi nhóm sẽ đóng vai là một gia đình, mỗi học sinh là
một thành viên trong gia đình đó. Các nhóm sẽ chia sẻ ý kiến và ý tưởng thông qua
các cuộc thảo luận và đối thoại cùng nhau. Cuối cùng các em sẽ tạo ra hành động của
nhân vật phù hợp với câu chuyện của nhóm mình. Và các em sẽ giới thiệu tính cách
của từng nhân vật thông qua sự hỗ trợ của giáo viên. Và từ hình tượng độc lập, các em
sẽ liên kết thành một nội dung chủ đề (VD: Một sự kiện trong gia đình). Lúc này tôi
đã giới thiệu cho các em hiểu về sự đa dạng về văn hóa và môi trường như:
• Mỗi gia đình sẽ có cơ hội trao đổi nơi sống và nghề nghiệp với một gia
đình khác trong một khoảng thời gian nhất định ở một nơi nào đó tại Việt Nam.
• Giới thiệu một bản đồ lớn về đất nước Việt Nam và nhiều bức tranh ảnh về
con người, nhà cửa, quần áo, phương tiện giao thông khác nhau.“Các thành
viêntrong gia đình” sẽ tưởng tượng và thảo luận về sự khác nhau trong lối sống ở
vùng núi, đồng bằng hay thành phố...Các thành viên trong gia đình tranh luận, nhìn
vào bản đồ và đưa ra quyết định cuối cùng sẽ đi đâu. Các thành viên thảo luận,
tưởng tượng, khám phá và thu thập kiến thức về điểm đến để tạo ngữ cảnh nơi họ
sẽ đi tới. Và bắt đầu khám phá và tìm hiểu về nơi đến để xác định được một bức
8


tranh toàn cảnh. Học sinh tạo hình cắt dán và hoàn thiện bức tranh. Giáo viên sẽ hỗ
trợ các em bằng cách đưa ra các câu hỏi:
- Em tìm thông tin ở đâu? (Thông tin trên internet, từ bố mẹ hoặc bạn bè…).

- Gia đình sẽ tập trung vào cái gì? (Khám phá, tìm hiểu về nơi sẽ đến. Thiên
nhiên, nhà cửa, quàn áo, đồ dùng hay các con vật?...).
Và cuối cùng các em hoàn thành sản phẩm lên trình bày và đánh giá bức
tranh của nhóm mình. Giáo viên hướng dẫn học sinh chia sẻ ý kiến về kết quả của
toàn bộ quá trình với một hệ thống các câu hỏi:
- Tác phẩm của em nói về câu chuyện gì?
- Ý chính câu chuyện là gì?
- Gia đình đã trải nghiệm những gì?
- Các em có thấy sự khác nhau giữa nơi đó với nơi hiện tại các em đang sống
không?
- Các em muốn mang điều gì về để chia sẻ với bố mẹ về điểm đến mới này?
- Các em đã học được gì thông qua hoạt động này?...
Như vậy thông qua vận dụng quy trình vào chủ đề, tôi luôn giữ vai trò chủ đạo
trong việc tổ chức, định hướng, truyền đạt đầy đủ thông tin,... giúp các em chủ động
trong quá trình học tập; biết giải quyết các vấn đề; thôi thúc các em tìm hiểu, sáng
tạo và nhớ lại; kích thích các em dùng nhiều kĩ năng; toán, đọc, viết, thuyết trình
và làm việc cùng nhau trong học tập môn Mĩ thuật cũng như hoạt động liên môn.
Việc vận dụng phương pháp mới, cùng với sự nhiệt tình, sáng tạo của người
thầy; thông qua hoạt động giáo dục tôi đã truyền đạt đầy đủ mục tiêu bài học, phù
hợp chuẩn kiến thức, kỹ năng, có phương pháp giảng dạy và học tập tương thích
với nội dung bài học, thỏa mãn được niềm đam mê của người thầy trên bục giảng và
khơi dạy niềm hứng thú của học trò trong giờ học. Kết quả đạt được cũng rất khả
quan, thông qua sự hướng dẫn của người thầy các em đã biết chủ động khám phá,
giao tiếp trao đổi, chia sẻ cùng nhau, đã kích thích được sự tương tác, tư duy sáng
tạo và phát triển nhận thức. Từ đó các em được trải nghiệm sáng tạo trên mọi hình
thức, chất liệu, chủ đề bài học được sáng tỏ qua nhiều góc nhìn. Và biểu đạt bản
thân, hiểu cảm nhận và phản ánh được hình ảnh của sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật.

Định hướng của thấy trong hoạt động dạy, học


* Giải pháp 3 : Xây dựng, tổ chức tốt dạy học theo nhóm.
9


Dạy học theo nhóm là hình thức tổ chức lớp học mà trong đó dưới sự hướng
dẫn của giáo viên, học sinh làm việc cùng nhau trong những nhóm nhỏ để hoàn
thành mục đích học tập chung của nhóm.
Dạy học theo nhóm cho phép học sinh có nhiều cơ hội hơn để diễn đạt và
khám phá ý tưởng của mình, mở rộng suy nghĩ, rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng
giao tiếp, kĩ năng phân tích, đánh giá sản phẩm. Học sinh phát huy được vai trò
trách nhiệm cá nhân vừa có cơ hội để học tập từ các bạn qua cách làm việc hợp tác
giữa các thành viên trong nhóm. Qua đó giúp học sinh có cảm giác thoải mái, hứng
thú hơn khi tham gia các hoạt động học tập của mình.
* Phân chia nhóm học sinh một cách khoa học, đảm bảo thành phần nhóm
gồm những học sinh có năng lực, khả năng nhận thức khác nhau.
Tùy thuộc vào mục đích và yêu cầu của tiết học mà ta có nhiều cách chia
nhóm, nhiều mô hình nhóm khác nhau. Có thể chia nhóm hai, nhóm bốn (ở hoạt
động tìm hiểu chủ đề, Vẽ cùng nhau); nhóm sáu, nhóm bảy hoặc nhóm tám (ở hoạt
động Vẽ theo nhạc, Xây dựng cốt truyện).
Khi thành lập nhóm cần lưu ý khả năng làm việc, năng lực cá nhân và mối
quan hệ giữa các thành viên trong nhóm.
- Không nên ép buộc các em phải hoàn toàn theo chủ ý sắp đặt của giáo
viên vì như thế các em sẽ mất đi sự thoải mái, nhịp nhàng, sự thích thú trong các
hoạt động của nhóm.
- Số lượng các thành viên trong nhóm nên chọn theo các năng lực đa dạng
về năng lực, đa dạng về thành phần xuất thân, môi trường sống....
- Nếu là nhóm hai, nhóm bốn: Giáo viên có thể sắp xếp, phân chia nhóm
theo vị trí các em đang ngồi để không mất thời gian di chuyển. Vấn đề nhiều học
sinh yếu hay nhiều học sinh giỏi trong cùng một nhóm sẽ ít khi xảy ra. Vì đại đa số
giáo viên chủ nhiệm đều sắp xếp học sinh có học lực khác nhau ngồi xen kẽ (theo

hình thức Đôi bạn cùng tiến, các em tự chọn bạn) để các em hỗ trợ, giúp đỡ nhau.
- Nếu là nhóm sáu, nhóm bảy, nhóm tám: Giáo viên có thể tạo nhóm bằng
hình thức ngẫu nhiên, ghép hai nhóm nhỏ thành một nhóm lớn hơn. Cũng nên thay
đổi thành phần nhóm, cách ghép nhóm theo từng chủ đề, chứ không theo từng tiết,
vì theo phương pháp mới mỗi tiết tiếp theo trong cùng một chủ đề là một phần gắn
kết liền với hoạt động của tiết trước. Cần lưu ý rằng sự thay đổi giữa các hình thức
thành lập nhóm là hết sức cần thiết để tránh sự nhàm chán trong học tập.
- Thời gian để một nhóm gắn kết với nhau có thể theo chủ đề hoặc theo học
kì (vì để lâu sẽ gây tình trạng trì trệ, thiếu năng động, dựa dẫm vào nhau).
- Cách chia nhóm:
Có nhiều cách chia nhóm. Tùy theo từng chủ đề hoặc tùy theo đặc điểm của
lớp, có thể chia nhóm theo các cách sau đây:
+ Chia theo vị trí ngồi có sẵn: Hai HS ngồi cạnh nhau, các HS ngồi cùng
một bàn, HS hai bàn quay mặt lại với nhau.
+ Chia theo ngẫu nhiên: Đếm số thứ tự 1, 2, 3,...n rồi lặp lại cho đến HS cuối
cùng (n là số nhóm cần chia). Phân chia sẵn vị trí ngồi cho các nhóm. Các HS
mang số 1 sẽ về vị trí số 1(nhóm 1). Tiếp theo cho đến nhóm n.
+ Chia theo năng lực: Nhóm có HS giỏi, khá, trung bình, yếu. Ưu điểm của
cách chia nhóm theo năng lực là: Giảm thiểu sự chênh lệch về năng lực giữa các
10


nhóm. Tạo điều kiện để HS giúp đỡ lẫn nhau.
+ Nhóm theo biểu tượng: giáo viên chuẩn bị các biểu tượng có số lượng
bằng nhau và phát ngẫu nhiên cho học sinh. Những học sinh có cùng biểu tượng
thì được xếp vào một nhóm.
+ Nhóm chọn bạn: học sinh có quyền chọn bạn để thành lập một nhóm.
Ngoài ra giáo viên cũng cần sắp xếp vị trí các nhóm sao cho phù hợp với
từng hoạt động để các em thuận lợi trong quá trình làm việc.
Ví dụ: Đối với hoạt động Vẽ cùng nhau thì chỉ cần sắp xếp bàn theo thứ tự

như ở lớp là được vì các em chỉ cần quay lại với nhau thành một nhóm 4. Ở hoạt
động Vẽ theo nhạc, giáo viên cần sắp xếp khoảng cách giữa các nhóm sao cho các
em có thể di chuyển dễ dàng xung quanh bàn học của nhóm mình, tạo khoảng
trống giữa lớp để các em có thể cắt, dán tranh thuận lợi.
Với việc lựa chọn và thực hiện phân chia nhóm khoa học, hợp lí như vậy
giúp phát huy tính tích cực của mỗi học sinh trong hoạt động nhóm, thúc đẩy mối
quan hệ hợp tác, giúp đỡ trong học tập giữa các thành viên trong nhóm. Giúp giáo
viên quan sát được các hoạt động của nhóm và cùng tham gia vào quá trình thực
hành cùng với nhóm để đặt câu hỏi, trợ giúp các nhóm hoàn thành nhiệm vụ. Qua
đó tăng cường mối quan hệ giữa thầy và trò, giúp giáo viên nhận biết được năng
lực của từng học sinh để điều chỉnh phương pháp, cách điều hành phù hợp với từng
đối tượng học sinh.
* Tổ chức, quản lý hoạt động nhóm hiệu quả.
Mục đích là lôi cuốn học sinh tích cực tham gia học tập, tránh gây ồn làm
ảnh hưởng lớp học kế bên.
Trong giảng dạy Mĩ thuật theo phương pháp mới, các hoạt động yêu cầu
phải tổ chức hình thức hoạt động nhóm đó là: Vẽ cùng nhau, xây dựng mô hình từ
vật tìm được, xây dựng cốt truyện.
Yêu cầu học sinh khi làm việc nhóm phải thực hiện theo đúng những qui định sau:
+ Mỗi thành viên trong nhóm đều phải có trách nhiệm hoàn thành tốt các
nhiệm vụ được giao.
+ Phải biết lắng nghe ý kiến của bạn và xem xét ý kiến nào là hợp lý nhất,
không được cố gắng tự làm theo chủ ý của bản thân.
+ Khi thực hiện việc phân công nhiệm vụ, mỗi cá nhân sẽ tự nhận phần việc
của mình cho phù hợp năng lực cá nhân. Đồng thời các thành viên trong nhóm sẽ
bàn bạc và quyết định ai – việc gì.
+ Nhóm trưởng có nhiệm vụ nhắc nhở các bạn trong nhóm khi trao đổi cần
nói vừa đủ nghe, không ảnh hưởng nhóm bạn và lớp kế bên.
Trong quá trình học sinh làm việc nhóm, giáo viên không được can thiệp sâu
vào công việc của các em mà chỉ gợi ý để các em thực hiện tốt hơn. Giáo viên có

thể bổ sung những gợi ý và các câu hỏi để giúp học sinh phát hiện vấn đề và tăng
hứng thú làm việc nhóm. Giáo viên theo dõi tổng quát, phát hiện và hỗ trợ cho
nhóm có khó khăn, kịp thời uốn nắn, điều chỉnh những lệch lạc của học sinh. Giáo
viên phải hạn chế đến mức thấp nhất việc nói của mình trong khi các em đang hoạt
động nhóm. Nếu cần, giáo viên cho cả lớp dừng lại để tập trung chú ý nghe giáo
viên hướng dẫn thêm.
11


- Ví dụ về các bước tiến hành tổ chức học tập theo nhóm ở hoạt động Vẽ
cùng nhau (chủ đề “Cuộc sống quanh em” – Mĩ thuật lớp 5) như sau:
Bước 1: Giao nhiệm vụ.
- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:
+ Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
+ Nhiệm vụ là gì?
+ Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
+ Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?
- Nhiệm vụ phải phù hợp với: Mục tiêu hoạt động, trình độ học sinh, thời
gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị.
Giáo viên giao nhiệm vụ và giải thích rõ ràng mục tiêu làm việc cho từng nhóm
để mỗi thành viên trong nhóm hiểu được công việc cần phải làm và mô tả một cách cụ
thể cách thực hiện các nhiệm vụ đó. Cần lưu ý là nếu không đề ra nhiệm vụ rõ ràng thì
không có được kết quả thuyết phục. Ở hoạt động Vẽ cùng nhau (chủ đề cuộc sống
quanh em – Mĩ thuật lớp 5) giáo viên cần nêu rõ như sau: Các em hãy trưng bày bài
vẽ cá nhân của tất cả các thành viên trong nhóm lên bàn học và thảo luận, chọn những
hình ảnh đẹp mà các em thích để sắp xếp vào tranh vẽ của nhóm.
Bước 2: Chia nhóm.

Phải xác định số lượng học sinh của mỗi nhóm phù hợp với yêu cầu công
việc. Ở hoạt động này giáo viên chọn số thành viên khoảng 2 hoặc 4 là hợp lý nhất.
Sau đó cần cung cấp những thông tin định hướng quá trình làm việc của nhóm để
các em có thể thực hiện đúng và hoàn thành trong thời gian cho phép.Ví dụ: Gợi ý
các em chọn nội dung tranh, phân công các thành viên, sắp xếp bố cục…
Bước 3: Làm việc trong nhóm.
Giáo viên tham gia quản lý và định hướng làm việc cùng các nhóm, hỗ trợ
cho các nhóm khi cần thiết.
Sau khi đã chia nhóm họat động, các nhóm tiến hành làm việc. Lúc này dưới
sự hướng dẫn của GV nhóm sẽ thảo luận lựa chọn hình thức thể hiện của mỗi
thành viên nhóm để tạo kho hình ảnh. Có thể lựa chọn bằng hình thức: kí họa, vẽ
theo trí nhớ, xé/cắt dán, nặn, tạo hình ba chiều...Khi đã tạo được kho hình ảnh
phong phú về cách thể hiện như vậy, nhóm tiếp tục thảo luận để lựa chọn các nhân
vật từ kho hình ảnh, sắp xếp thành một bố cục và thêm các chi tiết để thể hiện rõ
hơn hoạt động của các nhân vật, hình thành nội dung chủ đề.
Như vậy trong quá trình làm việc nhóm tất cả thành viên trong nhóm đều
được tham gia làm sản phẩm, thể hiện được sản phẩm cá nhân và sản phẩm chung
của nhóm. Từ làm việc, hoàn thiện sản phẩm cá nhân đến sản phẩm của nhóm đã
tạo được sự liên kết và sự thích thú, hăng say của học sinh khi tham gia vào quá
trình hoàn thành sản phẩm của mình.
Bước 4: Trình bày kết quả.
Đại diện các nhóm trình bày kết quả làm việc, giới thiệu nội dung tranh của
nhóm. Các nhóm khác đóng góp ý kiến và tham gia tranh luận. Giáo viên cần dự
kiến trước các hướng trả lời của học sinh để có thể xử lí tốt các tình huống, chuẩn
12


bị câu hỏi gợi mở để làm rõ vấn đề hơn.
Ví dụ:
+ Em thể hiện nội dung gì qua sản phẩm của mình?

+ Em thể hiện các hình ảnh, màu sắc như thế nào?
+ Các nhân vật trong sản phẩm là ai ? Họ có mối quan hệ như thế nào?...
Phải rèn cho học sinh có thói quen lắng nghe và khuyến khích các em đưa ra
nhận xét cụ thể hoặc ý kiến bổ sung cho nội dung nhóm bạn vừa trình bày. Cao
hơn nữa là tập cho học sinh đặt vấn đề, nêu câu hỏi tạo tình huống phản biện. Ở
hoạt động này nếu điều hành tốt thì sẽ giúp học sinh có thêm kinh nghiệm, kiến
thức và kỹ năng làm việc nhóm để thực hiện tốt hơn ở các lần sau.
Bước 5: Tổng kết.
Giáo viên tổng kết và rút ra kết luận. Cần lưu ý khích lệ tinh thần học tập
của học sinh, tuyên dương những nhóm thực hiện tốt, động viên các nhóm còn lại
cố gắng hơn.
Khi tổ chức hình thức học tập theo nhóm giáo viên cần thiết kế sao cho mọi
thành viên trong nhóm đều phải nỗ lực không chỉ vì thành tích cá nhân mà còn vì
thành công của cả nhóm. Một hoạt động nhóm được xem là thành công nếu nhiệm
vụ của nhóm sẽ được hoàn tất khi có sự đóng góp của tất cả thành viên trong
nhóm. Mặt khác, giáo viên cũng cần nắm được các nhược điểm của phương pháp
dạy học theo nhóm để trong khi chuẩn bị hoặc tổ chức thực hiện có biện pháp khắc
phục kịp thời.
Ví dụ: Khi học sinh thảo luận làm lớp ồn, ảnh hưởng lớp bên cạnh – giáo
viên cần nhắc nhở học sinh trao đổi vừa đủ nghe, yêu cầu nhóm trưởng phát huy
vai trò điều chỉnh trong nhóm. Hoặc một số em thường im lặng, thụ động, không
tham gia ý kiến thì giáo viên nên động viên, khích lệ kịp thời và gợi mở để các
em mạnh dạn phát biểu và hợp tác tốt hơn.
Sau khi vận dụng, tăng cường tổ chức dạy học theo nhóm phù hợp với nội
dung bài học, tôi thấy học sinh có nhiều tiến bộ rõ rệt. Từ khả năng làm việc cá
nhân đến làm việc theo nhóm, hoạt động tập thể, các em đã tự tin hơn, khả năng
diễn đạt tốt hơn, khả năng giao tiếp, khả năng hợp tác, khả năng phân tích đánh giá
sản phẩm được cải thiện, các em đã mạnh dạn hơn và tự nhiên hơn khi nói lên
những ý tưởng, suy nghĩ của mình trong quá trình đánh giá, nhận xét cũng như ý
tưởng về bài vẽ của cá nhân.

Như vậy, với việc áp dụng tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm chính là
đã tạo điều kiện cho tất cả học sinh tham gia vào bài học một cách chủ động, thích
thú và tạo được một môi trường xã hội thuận lợi để các em hình thành tính cách
đồng thời phát triển kĩ năng sống của mình. Hình thành cho các em tinh thần tự
chủ, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ nhau. Song song đó học tập theo nhóm còn giúp học
sinh phát triển năng lực xã hội, phát triển kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng thảo
luận, kỹ năng bảo vệ ý kiến, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn ...Giúp những học sinh
nhút nhát, thiếu tự tin có cơ hội phát biểu, trình bày ý kiến của mình và từ đó trở
nên tự tin, năng động, mạnh dạn hơn trước tập thể. Học sinh có cơ hội phát huy kỹ
năng sáng tạo, đánh giá, tổng hợp, phân tích, so sánh, biết giải quyết các vấn để và
tình huống, trong học tập một cách phù hợp, hiệu quả và sáng tạo và từ những vấn
đề, tình huống đó học sinh sẽ rút ra được những kinh nghiệm quý giá cho bản thân.
13


Ngoài ra dạy học theo nhóm con giúp các em được thoải mái, hứng thú hơn, không
bị áp lực trong hoạt động học tập.

Một số hình ảnh, sản phẩm trong hoạt động nhóm

* Giải pháp 4: Trong cùng chủ đề luôn tạo sản phẩm mới mang tính sáng tạo.
Trong chương trình Mĩ thuật mới được xây dựng và thực hiện dựa trên 7
quy trình. Bảy quy trình này đều được xây dựng chung một cấu trúc và đều hướng
tới mục tiêu lấy HS làm trung tâm; kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát
triển nhận thức giúp HS có được các khả năng: Biểu đạt và giao tiếp thông qua
hình ảnh, khám phá và hiểu được văn hóa thông qua nghệ thuật thị giác, hình thành
các kỹ năng sống trong lĩnh vực mỹ thuật, yêu thích cái đẹp và biết vận dụng vào
cuộc sống sinh hoạt, học tập hàng ngày.
Những quy trình này được vận dụng, được điều chỉnh phù hợp với từng nội
dung chủ đề để tạo ra những sản phẩm sáng tạo theo năng lực của từng cá nhân,

từng nhóm.
Ví dụ: Chủ đề “Trường em”
Với chủ đề này có thể vận dụng các quy trình khác nhau để các em tạo ra nhiều
sản phẩm với nhiều hình thức thể hiện khác nhau như: Quy trình vẽ cùng nhau và
sáng tạo câu chuyện, Tạo hình ba chiều - Tiếp cận theo chủ đề, điêu khắc nghệ thuật.
- Tạo hình không gian.
- Vận dụng quy trình vẽ cùng nhau và sáng tạo câu chuyện.
Đầu tiên tôi tạo hứng thú cho học sinh bằng cách cho các em tạo lại các dáng
hoạt động từ những tình huống trong hoạt động vui chơi, làm việc hoặc học tập.
Tạo ra các tình huống hài hước. Sau đó cho học sinh quan sát và vẽ lại các dáng
người để tạo ngân hàng hình ảnh. Hoạt động này các em được quan sát và sử dụng
tất cả các giác quan, cảm nhận và quan sát hoạt động cơ thể, tỉ lệ, kích thước các
14


bộ phận trên cơ thể.
Khi đã tạo được ngân hàng hình ảnh, các nhóm sẽ dựa vào ngân hàng hình
ảnh, nghiên cứu các hình vẽ trong ngân hàng hình ảnh có sẵn, học sinh suy nghĩ,
cùng thảo luận về câu chuyện của nhóm. Cả nhóm cùng suy nghĩ, phối hợp, và
cùng nhau vẽ tranh để thể hiện nội dung câu chuyện. Qua đó để định hướng, gợi
mở cho sự sáng tạo của các em tôi đặt các câu hỏi gợi mở như:
- Hình ảnh này thể hiện điều gì?
- Các em có thể tìm hình ảnh khác liên quan không?
- Mối quan hệ giữa những nhân vật trong hình ảnh là gì? (Gia đình, bạn bè,
hay quan hệ khác...)
- Các hoạt động trong tranh là hoạt động gì? Trong bối cảnh không gian nào?...
Sau khi hoàn thiện các nhóm sẽ trưng bày, thuyết trình, chia sẻ bức tranh, nội
dung câu chuyện. Lúc này tôi đã phỏng vấn, khuyến khích các em đưa ra phản hồi,
hội thoại với nhau về tác phẩm, tìm kiếm hình ảnh qua khung hình trên bức tranh
màu sắc trừu tượng, đóng kịch, di chuyển vị trí nhân vật trong tranh, nhân cách hóa

hình ảnh,....
Thông qua việc vận dụng quy trình này vào chủ đề thì học sinh đã phát triển
được các khả năng của mình như: Biết những quan sát về con người thành tranh
vẽ; nhận biết và phân biệt được đặc điểm và đặc tính của các loại vật liệu khác
nhau như: bút chì, sáp màu...; Các em được hợp tác và hoạt động theo nhóm, cặp;
thông qua hình ảnh để tạo ra những câu chuyện ấn tượng phù hợp với chủ đề bài
học; được vẽ và trải nghiệm hiệu ứng màu sắc; hiểu và biểu đạt được ý nghĩa của
câu chuyện của chính các em và của các bạn khác.
Cũng với chủ đề này có thể vận dụng quy trình khác như Tạo hình 3D - tiếp
cận chủ đề. Sau khi cho các nhóm tìm hiểu nội dung chủ đề qua trải nghiệm thực
tế (HS liên hệ thực tế, nhớ lại các hình ảnh, sự kiện về trường học để thảo luận tìm
hiểu chủ đề,...), HS tìm hiểu chủ đề thông qua sản phẩm trong SGK, GV chuẩn
bị...GV hướng dẫn cách thực hiện và định hướng cho HS lựa chọn cách thực hiện.
Lúc này HS sẽ thảo luận nhóm để thống nhất nội dung, vật liệu, hình thức
thể hiện, sau đó phân công nhiệm vụ để tạo hình sản phẩm. Từng thành viên trong
nhóm sẽ thực hiện cá nhân theo sự phân công để tạo kho hình ảnh (tạo hình người,
nhà, cây, hoa,...). Sau đấy cả nhóm sẽ lựa chọn hình ảnh sắp xếp thành nội dung chủ
đề, sự kiện ở trường em (Như Ngày khai giảng, ngày 20/11, biểu diễn văn nghệ,
tuyên truyền sách báo,...) để hoàn thiện sản phẩm chung của cả nhóm. Và cuối cùng
các em được trưng bày, giới thiệu sản phẩm, câu chuyện của nhóm mình.
Thông qua quy trình tạo hình 3D sẽ giúp cho HS có khả năng cùng nhau tạo
ra sơ đồ tư duy về một chủ đề được lựa chọn, được sáng tạo từ trí nhớ, lắp ráp các
vật tìm được để tạo thành một mô hình biểu đạt không gian 3 chiều, được làm việc
theo nhóm, theo cặp để hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau.
Như vậy có thể nói trong một chủ đề khi vận dụng nhiều quy trình khác nhau
sẽ sáng tạo ra được nhiều sản phẩm với nhiều hình thức thể hiện tạo nên sự phong
phú trong tiết học, tạo được sự hứng thú của học sinh khi tham gia quá trình hình
thành và hoàn thiện sản phẩm. Thông qua đó các em cũng đã hình thành và phát
triển tốt các năng lực như: Năng lực trải nghiệm, năng lực kỹ năng và kỹ thuật
thông qua các hoạt động, năng lực biểu đạt, năng lực phân tích và trình bày, năng

15


lực giao tiếp và đánh giá để hoàn thiện bản thân, nâng cao khả năng nhận thức về
môn học để không ngừng sáng tạo, tạo ra nhiều sản phẩm có ý nghĩa.

Sản phẩm sáng tạo trong cùng chủ đề

* Giải pháp 5: Tổ chức trò chơi gây hứng thú trong dạy học
Mĩ thuật.
Trò chơi là một hoạt động không thể thiếu được của con người ở mọi lứa
tuổi. Là một hoạt động vui chơi của trẻ mang nội dung giáo dục như: giáo dục đạo
đức, giáo dục đức tính kiên trì, khéo léo, nhanh nhẹn, hợp tác công việc, ứng xử
thông minh, quyết đoán....giúp cho các em học sinh “ Học vui – vui học”, “Học mà
chơi - chơi mà học” một cách hứng thú và bổ ích.
Muốn tổ chức trò chơi, giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ mục tiêu từng chủ
đề, xem những nội dung mới, quan trọng trong giờ dạy để từ đó tổ chức trò chơi
củng cố kiến thức. Tùy vào từng nội dung chủ đề, giáo viên nên tập trung vào nội
dung trọng tâm mà tổ chức trò chơi, không chơi một cách tràn lan và thời gian tổ
chức trò chơi thường diễn ra vào đầu hoặc cuối tiết dạy.
Ví dụ 1: Chủ đề: “Chân dung tự họa”
Để bắt đầu vào bài học tôi cho HS chơi trò chơi “Người họa sĩ mù”.
GV vẽ phác 2 hình có nội dung phù hợp với chủ đề bài học.
- Chọn 2 đội, mỗi đội có từ 3-5 HS lên đứng đúng vị trí và quan sát hình vẽ
trên bảng, thời gian khoảng 1’’, sau đó lấy khăn bịt mắt từng HS.
- Khi nghe hiệu lệnh của GV, lần lượt HS của mỗi đội lên vẽ tiếp sức các bộ
phận của mặt người thành bức tranh hoàn chỉnh, đội nào nhanh và đúng, đẹp sẽ
thắng cuộc.
Thông qua trò chơi tôi đã giới thiệu được tên chủ đề cũng như giúp học sinh
nhận biết được nội dung của bài học.

Ví dụ 2: Chủ đề: “Chú bộ đội của chúng em”.
Cho HS chơi trò chơi “Tìm bố cục” Mục đích là rèn kĩ năng lựa chọn bố cục
16


trong các bài vẽ cho HS.
- Chuẩn bị: 2 bộ hình bằng bìa cứng, mỗi bộ có 3 cách sắp xếp bố cục khác
nhau: to, nhỏ, vừa, hồ dán, nam châm.
- Cách chơi: Chia lớp thành 2 đội. GV phát cho mỗi đội 1 bộ gồm 3 cách sắp
xếp, yêu cầu lựa chọn các cách sắp xếp không cân đối và cân đối dán lên bảng. Khi
có hiệu lệnh của GV các đội dán lên bảng các cách sắp xếp theo yêu cầu, đội nào
nhanh và đúng sẽ thắng cuộc.
Ví dụ 3: Chủ đề: “Cuộc sống quanh em”.
Để đánh giá sản phẩm của HS có thể tổ chức trò chơi:“Tập làm giám khảo”
- Mục tiêu: Luyện tập, củng cố kiến thức đã học.
- Chuẩn bị: Sản phẩm của HS sau tiết học, kẹp treo tranh, nam châm.
- Cách chơi: GV yêu cầu mỗi nhóm trưng bày sản phẩm của nhóm lên bảng
hoặc bàn và cử 1 đại diện lên phân loại sản phẩm theo 2 mức độ: Hoàn thành và
chưa hoàn thành và nêu lí do xếp loại.
- Nhóm nào phân loại nhanh và đúng sẽ thắng cuộc.
Thông qua trò chơi HS được đánh giá, xếp loại bài vẽ của nhóm mình nhóm
bạn và luyện tập, củng cố kiến thức của bài học.
Ngoài việc tổ chức trò chơi ở phần giới thiệu bài, phần đánh giá sản phẩm
cũng có thể tổ chức trò chơi ở phần tìm hiểu và cách thực hiện.
Như vậy: Vận dụng và sử dụng trò chơi trong dạy học Mĩ thuật trong dạy
học tôi thấy kết quả là rất tốt. Nó có tác dụng không nhỏ giúp học sinh lĩnh hội một
cách đầy đủ, chính xác, sinh động nội dung kiến thức bài học, có tác dụng hình
thành, rèn luyện các kỹ năng học tập Mĩ thuật cho các em .
Trò chơi đã gây được hứng thú học tập cho học sinh, phát huy được trí thông
minh, sáng tạo, tinh thần tập thể cho các em, khơi dậy ở học sinh trí tò mò, lòng ham

hiểu biết, lòng yêu thiên nhiên, đất nước con người. Từ đó, sự thích thư, yêu thích
môn học được nâng lên, chất lượng học tập được nâng cao một cách rõ rệt.
* Giải pháp 6: Đổi mới kiểm tra đánh giá, tuyên dương khen thưởng học sinh.
Đổi mới việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập, hay tuyên dương khen
thưởng đối với học sinh cũng là phương pháp dạy học. Vì thế việc kiểm tra cần
thường xuyên khách quan sẽ gây hứng thú, động viên khích lệ học sinh:
- Kiểm tra đánh giá lúc quan sát nhận xét
- Kiểm tra đánh giá lúc thực hành
- Kiểm tra đánh giá nhận xét cuối giờ học
Ví dụ: Kiểm tra đánh giá lúc thực hành: Lúc thực hành giáo viên quan sát học
sinh vẽ và khi phát hiện nhiều học sinh mắc lỗi bố cục, giáo viên có thể chỉnh sửa trực
tiếp cho học sinh. Có thể đặt câu hỏi giúp học sinh tự suy nghĩ tìm ra cái hợp lí và chưa
hợp lí. Trong bài vẽ của học sinh chưa hợp lí về bố cục, giáo viên có thể đặt câu hỏi:
- Bài vẽ của em hoàn thành chưa?
- Cách sắp xếp hình vẽ của em có hợp lí không?
- Khoảng trống này để làm gì?
- Nếu thêm hình ảnh vào đây thì có hợp lí không?...
Hoặc bằng những câu hỏi khuyến khích như:
- Nếu em vẽ thêm hình vào vị trí này bài sẽ đẹp hơn…
Tôi hướng dẫn học sinh so sánh nhận xét để tìm ra chỗ chưa đúng của bài.
17


Như vậy học sinh sẽ hiểu hơn, tự điều chỉnh bổ sung kịp thời chỗ chưa đúng. Từ
đó tạo tâm lí ham học, ham khám phá tìm tòi.
Đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa vào mục tiêu của bài học, từng
giai đoạn trên cơ sở tiêu chí mà tôi đưa ra nhằm rèn kĩ năng cho học sinh.
Ví dụ: Giai đoạn đầu tôi hướng dẫn học sinh vẽ về bố cục, vẽ mảng, vẽ hình,
giai đoạn thứ hai tập trung hướng dẫn vẽ nét đậm, nhạt, họa tiết, vẽ màu,… khi
đánh giá dựa vào những tiêu chí đưa ra theo mục tiêu, nội dung bài học.

Sau khi học sinh hoàn thành bài vẽ của mình, học sinh mang sản phẩm lên
trưng bày, có thể GV cho HS dán bài lên bảng hoặc trình chiếu trên máy chiếu, tùy
từng nội dung bài học mà có hình thức tổ chức khác nhau.
Giáo viên dạy mĩ thuật cần biết kết quả học mĩ thuật của mỗi tiết dạy được thể
hiện cụ thể ở ngay trên từng bài tập của học sinh nhưng chúng ta vẫn chú ý sự vận
dụng về thái độ và hành vi còn quan trọng hơn. Vì vậy khi gặp những bài hoàn thành
chưa tốt không nên đánh giá nặng nề quá mà hãy động viên và cho phép học sinh về
nhà làm lại bài (vì một số học sinh hiểu được, cảm thụ được nhưng rất khó thể hiện).
Khi đánh giá kết quả học mĩ thuật ở cuối giờ chỉ nên gợi ý cho học sinh tự
đánh giá lẫn nhau. Qua hệ thống câu hỏi gợi ý của giáo viên, học sinh nói lên nhận
xét rồi tự đánh giá mức độ hoàn thành của mình để rồi tiếp tục hoàn thiện bài hơn.
Có thể cho học sinh tự đánh giá bài của mình, đánh giá cảm nhận bài của
bạn. Sau khi học sinh được đánh giá bài của nhau thì giáo viên tổng kết ý kiến,
đánh giá nhận xét chung bài của cả lớp và nêu hướng khắc phục cho các bài chưa
tốt. Có thể về nhà hoàn thành bài hoặc về nhà làm lại bài theo đúng mục tiêu, nội
dung bài học. Qua đó định hướng cho những bài hoàn thành phát triển bài vẽ cao
hơn, vận dụng và sáng tạo theo những cách khác nhau.
Ngoài ra, để khuyến khích các em khi các em đã có những bài hoàn thành
tốt, xuất sắc thì tôi hướng dẫn cho các em làm và trang trí khung tranh, treo tranh
trang trí góc học tập, trang trí lớp học, nhà cửa...có thể lựa chọn tranh vẽ tốt và
sưu tầmthêm để trưng bày, triển lãm tại trường.
Ngoài những giải pháp trên tôi còn phối hợp với các tổ chức Đoàn - Đội
trong nhà trường để tổ chức các buổi tham quan thực tế tạo điều kiện cho từng cá
nhân phát triển các kỹ năng quan sát, tìm tòi và có những trải nghiệm thực tế thú vị
ngoài lớp học như: Tham quan thực tế tại khu di tích lịch sử Lam Kinh, khu tượng
đài liệt sĩ của xã, đến thăm những tấm gương điển hình về học tập, những bạn HS
nghèo vượt khó, thăm các trang trại...
Khi đến các địa điểm các em đã tự chuẩn bị các câu hỏi để phỏng vấn, phân
tích các dữ liệu đã thu thập được và so sánh với quan điểm riêng của các em về các
địa điểm mà các em đến. Qua đó giúp các em làm quen với môi trường sống đa

dạng bên ngoài, khơi gợi niềm đam mê, tính sáng tạo, lòng yêu thiên nhiên, yêu
động vật...tìm hiểu về lịch sử truyền thống của quê hương...Biết vận dụng những
quan sát thực tế vận dụng vào các chủ đề bài học như: Cuộc sống quanh em, Ước
mơ của em, chú Bộ đội của chúng em,...
Thông qua những chuyến đi thực tế đã giúp các em phát huy khả năng bản
thân cũng như phát triển trong môi trường thực tế và thử thách hơn, đề cao khả
năng tìm tòi, suy ngẫm và tính kiên trì và các em sẽ có những bước tiến mới trong
18


việc phát triển tính tự lập và cảm thấy tự tin hơn. Các em có cơ hội phát triển các
kỹ năng về việc hợp tác, làm việc theo nhóm, kỹ năng lãnh đạo, phân tích và giao
tiếp hiệu quả trong thực tế.
Những chuyến đi ý nghĩa này đã tác động trực tiếp vào sự say mê, sự hứng
thú thực sự của các em dành cho môn học. Và đặc biệt đã đem đến cho học sinh
những cơ hội phù hợp để học cách tôn trọng và quan tâm đến những người khác và
môi trường sống xung quanh. Điều này thực sự khuyến khích các em trở thành
những thành viên có ý thức và năng động trong cộng đồng.
2.4. Hiệu quả đạt được.
Với việc áp dụng các biện pháp nói trên, tôi nhận thấy đa số học sinh đều
rất hứng thú học tập, các lớp qua kiểm tra đều đạt kết quả cao ở cuối năm học
2014 - 2015.
Sau khi thực hiện thường xuyên áp dụng các giải pháp trên, tôi thấy có kết
quả rõ rệt, không khí học tập sôi nổi hơn, học sinh phát biểu xây dựng bài nhiều hơn,
học sinh vẽ bài có sáng tạo hơn, biết cách sắp xếp bố cục, vẽ màu có đậm, có nhạt và
bài vẽ đẹp hơn tạo được dấu ấn cho người xem; Học sinh đã biết vận dụng sáng tạo
các quy trình để tạo được nhiều sản phẩm từ quy trình vẽ cùng nhau, vẽ theo nhạc,
tạo hình 2D, 3D,... Học sinh biết cảm nhận, sáng tạo, chia sẻ, giao tiếp đánh giá,
tham gia hoạt động nhóm năng động và tự giác hơn. Điều đặc biệt là tỉ lệ học sinh
chưa đạt giảm đáng kể và tỉ lệ học sinh hoàn thành tốt môn học tăng lên khá rõ so

với những năm học trước. Hiện nay tỷ lệ đạt ở mức 100% đối với học sinh của khối
5. Tôi hy vọng rằng với phương pháp giảng dạy này sẽ tạo cho các em niềm say mê
môn học, có niềm tin ở chính mình và việc dạy và học sẽ đạt kết quả cao hơn, dần
dần sẽ không còn học sinh chưa đạt và chán nản về bộ môn học này. Điều đó chứng
tỏ kết quả đã được qua trải nghiệm hoàn toàn có sức thuyết phục.
Năm học

Lớp

Sĩ số

2014 - 2015

5A
5B
5C
Tổng

28
29
28
85

HS có hứng thú khi
học môn Mĩ thuật
28
29
28
85


100%
100%
100%
100%

HS không hứng thú
khi học môn MT
0
0
0
0

0%
0%
0%
0%

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
3.1. Kết luận.
Qua thực tế giảng dạy trong những năm qua tôi luôn xác định được mục tiêu
trong nhà trường tiểu học đồng thời cũng hiểu sâu sắc được vai trò của môn Mĩ
thuật trong việc giáo dục học sinh, phát hiện ra những mặt hạn chế và có một biện
pháp nhằm gây hứng thú cho học sinh học môn Mĩ thuật ở lớp 5. Tôi thấy việc
nắm vững phương pháp và cách tổ chức cơ bản về môn Mĩ thuật cũng như việc xây
dựng cho mình một cách tổ chức dạy học vững chắc, tìm ra những giải pháp dạy
học phù hợp của môn Mĩ thuật sẽ có tác dụng và ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt
động dạy và học, giúp cho giáo viên có một định hướng đúng đắn, phù hợp một
cách thức tổ chức giờ hợp lý giúp cho học sinh hứng thú tìm hiểu, khám phá thế
giới thẩm mĩ một cách say mê, hấp dẫn, góp phần giáo dục nên những con người
19



toàn diện hơn. Nó giúp học sinh hoàn thiện nhân cách có ý thức tu dưỡng, biết yêu
thương, quý trọng mọi người, biết hướng tới những tình cảm cao đẹp hơn, từ đó
điều chỉnh nên những con người mới với những nhân cách tốt.
Nếu vận dụng tất cả các giải pháp, cùng với cách dạy linh hoạt của giáo viên
chắc chắn chất lượng dạy học sẽ có bước đột phá đáng kể, góp phần đào tạo những
mầm non mĩ thuật. Tạo điều kiện cho học sinh học tốt các môn học khác. Nâng cao
hiệu quả dạy học, tạo điều kiện cho hoc sinh có đủ niềm tin bước vào thế giới muôn
màu, muôn vẽ, nhẹ nhàng trong suy nghĩ và hành động ngây thơ của trẻ con, yêu cảnh
vật thiên nhiên, yêu con người. Đó chính là sức mạnh của cái đẹp, cái đẹp làm cho
cuộc sống trong sáng, hài hòa, phong phú, đa dạng hơn. Mặt khác sự tư duy Mĩthuật
của các em mà tốt sẽ giúp các em làm bất cứ công việc gì cũng thành công.
Qua quá trình tìm hiểu, đúc kết kinh nghiệm bản thân tôi cũng chỉ với mong
muốn được góp một phần công sức bé nhỏ của mình vào sự nghiệp giáo dục chung.
Có thể giải pháp nêu trên chưa phải là tối ưu nhưng đó chính là một cách cần thiết
và dễ dàng áp dụng, giúp giáo viên thực hiện tốt hơn vai trò của mình khi giảng dạy
bộ môn Mĩ thuật ở Tiểu học theo phương pháp mới. Chẳng có phương pháp dạy học
nào gọi là hay là dở đối với bất kỳ tiết học nào và đối tượng nào. Vấn đề chỉ là việc
vận dụng nó thế nào cho đúng lúc, đúng cách để phát huy hiệu quả.
3.2. Kiến nghị.
Qua quá trình giảng dạy phân môn môn Mĩ Thuật ở trường Tiểu học và
thông qua việc áp dụng sáng kiến tôi có một số kiến nghị, đề xuất như sau:
- Đối với nhà trường: Cần có thêm tủ đồ dùng, vị trí đặt tủ để đựng đồ dùng
học tập của học sinh, của môn học.
- Đối với gia đình: Cần quan tâm mua sắm trang thiết bị học tập cho các em
học sinh, giúp các em có đủ điều kiện tham gia học tập.
- Các cấp, các ngành liên quan cần mở những lớp tập huấn, hội thảo về
giảng dạy mĩ thuật, tạo kinh phí cho giáo viên mĩ thuật đi tham quan các danh lam
thắng cảnh để mở rộng tầm hiểu biết.

Trên đây là là một số giải pháp nhằm gây hứng thú học môn Mĩ thuật cho
học sinh lớp 5 theo phương pháp mới của Đan Mạch góp phần tích cực vào việc
đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập trong nhà
trường, giúp học sinh hứng thú và yêu thích môn học Mĩ thuật.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện và viết sáng kiến kinh nghiệm không
tránh khỏi những hạn chế. Kính mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp./.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN
VỊ

Thanh Hóa, ngày 21 tháng 5 năm
2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
NGƯỜI THỰC HIỆN

20


Đào Trọng Hòa
STT
1

2
3
4
5
6


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu dạy học Mĩ thuật dành cho giáo viên Tiểu học – NXB Giáo
dục.
Tài liệu tập huấn giảng dạy Mĩ thuật Tiểu học theo phương pháp mới
(Dự án SAEPS) do Bộ Giáo dục ban hành.
Sách dạy Mĩ thuật lớp 5 (Theo định hướng phất triển năng lực) – Nhà
xuất bản giáo dục Việt Nam.
Sách giáo viên Nghệ thuật 5 - NXB Giáo dục.
Mĩ thuật – phương pháp giảng dạy Mĩ thuật – NXB Đại học Huế.
Hỏi – đáp về dạy học môn Mĩ thuật ở các lớp 1,2,3 - NXB Giáo dục.

21


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Đào Trọng Hòa
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên – Trường TH Xuân Phú – Thọ Xuân
Cấp đánh
Kết quả
giá xếp loại
đánh giá Năm học đánh
TT
Tên đề tài SKKN
(Phòng, Sở, xếp loại (A,
giá xếp loại
Tỉnh...)
B, hoặc C)

1.
Một số biện pháp giúp học
Phòng
2012 - 2013
sinh lớp 4 nắm vững cách
GD&ĐT
Loại C
trang trí và áp dụng vào bài Thọ Xuân
vẽ trang trí hình tròn
2.

Một số biện pháp nhằm gây
hứng thú học môn Mĩ thuật
cho học sinh lớp 5

Phòng
GD&ĐT
Thọ Xuân

Loại C

2015 - 2016

3.
4.
5.
...

22




×