Tải bản đầy đủ (.docx) (74 trang)

CHI TIÊU CHO THUỐC LÁ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI HUYỆN QUỐC OAI, HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN, NĂM 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (736.89 KB, 74 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM QUANG HUY

CHI TIÊU CHO THUỐC LÁ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI
HUYỆN QUỐC OAI, HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN
QUAN, NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2016

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM QUANG HUY
CHI TIÊU CHO THUỐC LÁ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI
HUYỆN QUỐC OAI, HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN
QUAN, NĂM 2015

Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số

: 60720301


LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Hoàng Văn Minh

2


HÀ NỘI – 2016LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn ban Giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội,
ban lãnh đạo Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, phòng quản lý
đào tạo Trường Đại học Y Hà Nội, phòng đào tạo Viện đào tạo Y học dự
phòng và Y tế công cộng, bộ môn Kinh tế y tế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
và giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu để em có thể hoàn thành
luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, tạo điều kiện của Trung tâm Y tế
huyện Quốc Oai và sự tham gia nhiệt tình, trách nhiệm của nhóm điều tra viên
là các cộng tác viên y tế và nhân viên y tế huyện Quốc Oai.
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc của người học trò, em xin
bày tỏ lòng biết ơn tới PGS. Hoàng Văn Minh – người Thầy kính mến đã dạy
dỗ, tận tình chỉ bảo, định hướng và giúp đỡ em hoàn thành luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị nhân viên của Trung tâm nghiên
cứu Sức khỏe cộng đồng trường Đại học Y tế công cộng đã giúp đỡ em rất
nhiều trong quá trình thực hiện luận văn.
Và cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn
bè đã luôn bên cạnh dành cho em mọi sự động viên, khích lệ và hỗ trợ để em
vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2016
Sinh viên

Phạm Quang Huy


3


LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:


Phòng quản lý đào tạo sau đại học trường Đại học Y Hà Nội;



Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng;



Phòng đào tạo, nghiên cứu khoa học Viện đào tạo Y học dự phòng và Y
tế công cộng;



Bộ môn Kinh tế y tế Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng;



Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp;

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, cách
xử lý, phân tích số liệu là hoàn toàn trung thực và khách quan. Các kết quả
nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ tài liệu nào.

Nếu có sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà nội, ngày 30 tháng 06 năm 2016
Sinh viên

Phạm Quang Huy

4


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CO

Carbon monoxide

PCTHTL

Phòng chống tác hại thuốc lá

GATSĐiều tra toàn cầu về hút thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt Nam
TCTK

Tổng cục thống kê

HMU

Đại học Y Hà Nội

WHO


Tổ chức Y tế thế giới

CDC

Centers for Disease Control and Prevention

ASH

Action on smoking and health

5


6

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng thuốc lá được biết đến là một nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong và có thể ngăn ngừa được trên thế giới. Thuốc lá gây tử vong ở một nửa
số người dùng nó và một nửa số này tử vong ở độ tuổi trung niên. Hiện nay
ước tính trung bình trên thế giới cứ một ngày có 10000 người tử vong vì
thuốc lá. Ảnh hưởng của thuốc lá tới kinh tế - xã hội của mỗi gia đinh, mỗi
quốc gia là vô cùng to lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ của Tổ chức y tế thế
giới, thế giới hiện có hơn một tỷ người hút thuốc lá và mỗi năm tiêu thụ hơn
6000 tỷ điếu thuốc, tức là hơn 8 triệu tấn thuốc lá. Nếu tính thành tiền, mỗi
năm thế giới có đến hơn 200 tỷ đô la Mỹ đã biến thành mây khói, một số tiền
bằng tổng số các ngân sách chi cho công tác y tế của tất cả các nước đang
phát triển [1].
Việt Nam là một nước có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất thế giới, với tỷ lệ
hút thuốc lá vào năm 2010 của nam là 47,4% và của nữ là 1,4% và có tới
23.8% người trưởng thành nói chung đang hút thuốc lá. Trong số những

người hút thuốc lá hàng ngày, có khoảng 69,0% hút từ 10 điếu trở lên mỗi
ngày, 29,3% hút từ 20 điếu trở lên mỗi ngày. Trung bình mỗi năm, một người
hút thuốc ở Việt Nam phải chi gần 700.000 đồng. Với 12 triệu người hút, mỗi
năm chúng ta tốn hơn 8.400 tỷ đồng cho mặt hàng này [2]. Tổng chi phí điều
trị và tổn thất do mất khả năng lao động vì ốm đau và tử vong sớm chỉ trong 5
nhóm bệnh (ung thư phổi, ung thư đường tiêu hóa - hô hấp trên, bệnh phổi tắc
nghẽn mãn tính, nhồi máu cơ tim, đột quỵ…) trong số 25 bệnh do thuốc lá
gây ra đã chiếm một con số khổng lồ, lên tới hơn 23 nghìn tỷ đồng/năm. Đây
mới chỉ là chi phí trực tiếp 25 bệnh do thuốc lá gây ra, nếu tính cả chi phí gián
tiếp gây ra cho xã hội do bệnh tật và tử vong sớm thì con số tổn thất sẽ cao
hơn rất nhiều [3].
6


7

Chính phủ đã có những biện pháp đưa ra để nhằm giảm nhu cầu thuốc
lá tại Việt Nam. Đầu năm 2013, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt
“Chiến lược quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá đến năm 2020”. Tuần
lễ Quốc gia không hút thuốc lá đã được triển khai nhằm kêu gọi các cơ quan,
tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm quy định cấm hút thuốc lá tại nơi làm việc,
trường học, bệnh viện và một số nơi công cộng theo quy định [4]. Theo luật
thuê tiêu thụ đặc biệt, thuế suất đối với mặt hàng thuốc lá từ ngày 1/12/2016
sẽ tăng từ 65% lên 70% và từ ngày 1/1/2019 sẽ tăng từ 70% lên 75%. Tuy
nhiên việc tăng này tác động đến tiêu dùng thuốc lá là không đáng kể, theo
ước tính tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới sẽ chỉ giảm nhẹ 0.6%, tiêu dùng chỉ
giảm nhẹ vào năm tăng thuế nhưng lại tiếp tục tăng ở các năm còn lại.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc chi tiêu cho thuốc lá. Mặc dù
hầu hết người Việt Nam đã có nhận thức về tác hại tiêu cực của việc hút thuốc
là và ảnh hưởng kinh tế của nó, tuy nhiên tỷ lệ hút thuốc, chi tiêu cho thuốc lá

vẫn còn rất cao, gây những thiệt hại nặng nề cho gia đình và xã hội. Vậy nên
chúng tôi thực hiện đề tài: “Chi tiêu cho thuốc lá ở người trưởng thành tại
huyện Quốc Oai, Hà Nộivà một số yếu tố liên quan,năm 2015” với mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng chi tiêu cho thuốc lá của người trưởng thành tại
huyện Quốc Oai, Hà Nội, năm 2015.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến mức chi tiêu cho thuốc lá ở
đối tượng nghiên cứu.

7


8

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Thuốc lá
1.1.1. Khái niệm
Thuốc lá là một loại cây có độc, nhất là những lá già, có hàm lượng
Nicotin cao, lá của cây được hái về phơi khô để dùng hút, nhai hoặc hít.Từ thế
kỉ 15 người ta đã tìm thấy thuốc lá ở Châu Mỹ. Đến đầu thế kỷ 19 thuốc lá đã
được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu. Hàm lượng nicotin trong các loại thuốc
thay đổi trong khoảng 2% đến 10%, một số loại thuốc tốt có thể chứa 16%.
Nicotin được sử dụng ở liều thấp, tạo ra sự sảng khoái nhẹ nhàng, làm dịu cơn
đói và bớt mệt mỏi. Tuy nhiên nếu dùng lâu dài sẽ gây lệ thuộc và độc hại cho
cơ thể, liều cao sẽ gây tử vong. Cùng với việc sử dụng thuốc lá thì ngành
công nghiệp sử dụng thuốc lá cũng phát triển mạnh mẽ mang về những món
lợi vô cùng lớn. Mãi đến thế kỷ XX người ra mới thấy được những tác động
tiêu cực của hút thuốc lá đến sức khỏe con người[5].
Người ta phân biệt ra hai nguồn khói thuốc: khói thuốc chính và khói
thuốc đảm bảo:

- Khói thuốc chính là khói thuốc do người hút hít vào, thở ra có chứa
hơn 4700 chất khác nhau gồm những chất chính sau:
+ Nicotine, trong một điếu thuốc có chứa khoảng 1 –3mg Nicotine là
một chất gây nghiện và rất độc.
+ Carbon monoxide (CO), trong một điếu thuốc có chứa khoảng 20ml
CO, đây là một chất ngăn cản sự vận chuyển Oxy trong máu.
+ Các chất gây kích thích (aldéhyd, acid, phenol…) gây viêm phế quản
mạn, gây rối loạn thông khí và nguy hiểm nhất là các chất gây ung thư, đó là

8


9

các

chất

như:

Benzopyrens,

Dibenzoanthracène,

Benzofluenthène,

Dibenzopyrène, cancérogènes, các phức hợp Nitrite đa vòng…[5],[6].
- Khói thuốc phụ là khói toả ra ở đầu điếu thuốc để cháy tự nhiên khi
không hút và thành phần chất độc chứa trong khói thuốc phụ cũng tương tự
như trong khói thuốc chính nhưng cao hơn rất nhiều lần vì vậy nó rất nguy

hiểm cho người hút đặc biệt là những người hút thuốc thụ động. Chính vì vậy
khi hút thuốc lá nguy cơ bị những bệnh lý cao hơn người bình thường gấp
nhiều lần [5],[6],[7].
1.1.2 Sử dụng thuốc lá
Sử dụng thuốc lá là hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc
lá [5].
Hút thuốc lá được chia làm 2 loại là hút thuốc lá chủ động và hút thuốc
lá bị động:
+ Hút thuốc lá chủ động là hành vi người hút trực tiếp hút thuốc.
+ Hút thuốc lá bị động là hành vi một người không trực tiếp hút thuốc
mà hít thở trong môi trường có khói thuốc
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có rất nhiều loại thuốc lá của trong
và nước ngoài như: White Horse, Vinataba, Thăng Long, Era, Sông Cầu, 555,
Zet, hero, xì gà…[2], [5].
1.2. Ảnh hưởng của thuốc lá tới sức khỏe
Hút thuốc là sự thiêu đốt không hoàn toàn các sợi thuốc lá trải qua hai
giai đoạn: Giai đoạn hút thuốc lá chủ động, xảy ra khi người nghiện hít khói
thuốc lá vào cơ thể mình. Giai đoạn hút thuốc lá thụ động. Những người có
mặt xung quanh sẽ hít phải lượng khói thừa mà người hút thải ra [7].
Theo các dự báo của WHO nếu tình trạng hút thuốc lá ngày như hiện
nay thì sẽ có tới 500 triệu người đang sống sẽ bị tử vong do thuốc lá, hơn một
nửa trong số đó hiện nay còn nhỏ hoặc ở tuổi vị thành niên. Tới năm 20202030 thuốc lá có thể là nguyên nhân tử vong lớn nhất cho nhân loại , có thể

9


10

gây tử vong 10 triệu người mỗi năm, trong đó có 7 triệu người ở các nước thế
giới thứ 3 [8], [9], [10].

Thuốc lá là nguyên nhân gây ung thư, ước tính khoảng một phần ba
trong tổng số các ca tử vong do ung thư có liên quan đến sử dụng thuốc lá.
Thuốc lá không chỉ gây ra gần 90% trong tổng số các ca tử vong do ung thư
phổi mà còn gây ra ung thư ở nhiều cơ quan khác như họng, thanh quản, thực
quản, thần, bàng quang, ruột…Tỷ lệ tử vong do ung thư các cơ quan khac
nhau của người hút thuốc gấp hai lần người không hút [7], [11].
Các nguy cơ bệnh lý thường gặp khi hút thuốc lá chủ động:
- Bệnh lý ở hệ hô hấp: Theo WHO, có tới 80 – 85% trường hợp viêm
phế quản mạn tính và khí phế thũng có liên quan đến hút thuốc lá.


Bệnh lý ở đường hô hấp trên: như viêm mũi mạn tính, viêm họng mạn
tính, viêm thanh quản mạn tính, ung thư xoang hàm, ung thư vòm
họng, ung thư thanh quản.



Bệnh lý ở đường hô hấp dưới: viêm phế quản mạn tính, hen suyễn,
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư phế quản.



Bệnh lý ở phổi: viêm phổi, dãn phế nang, ung thư phổi [7].
- Bệnh lý hệ mạch máu: bệnh xơ vữa động mạch, bệnh động mạch

vành, bệnh thuyên tắc động mạch, tai biến mạch máu não.
Đối với phụ nữ hút thuốc lá thường xảy ra hiện tượng phình động
mạch, viêm mạch, xuất huyết màng não nhiều hơn so với phụ nữ không hút.
- Ung thư các cơ quan khác: ung thư môi, ung thư thanh quản, ung thư
thực quản, ung thư bàng quang và thận, ung thư cổ tử cung.

- Các ảnh hưởng của thuốc lá lên chức năng sinh sản:


Thai nghén: giảm trọng lượng thai nhi trung bình khoảng 200g, sinh
non, băng huyết sau sinh, dễ sẩy thai ngẫu nhiên, gia tăng tần suất sinh
ra thai nhi bị bất thường bẩm sinh.

10


11



Thời kỳ cho con bú: nicotine được thải qua sữa có thể ảnh hưởng đến trẻ sơ
sinh. Nam giới hút thuốc lá có thể bị suy nhược sinh dục hay liệt dương.
- Ảnh hưởng của thuốc lá lên hệ thần kinh: những chứng minh gần đây

cho thấy hút thuốc lá làm giảm số lượng các tế bào thần kinh trong não [7].
Khói thuốc phụ là khói toả ra ở đầu điếu thuốc để cháy tự nhiên khi
không hút và thành phần chất độc chứa trong khói thuốc phụ cũng tương tự
như trong khói thuốc chính nhưng cao hơn rất nhiều lần [7].
1.3Tình hình sử dụng thuốc lá
1.3.1. Trên thế giới
Thuốc lá được sử dụng trong nhiều thế kỷ qua, nhưng cho đến thế kỷ
19 thuốc lá mới trở thành phổ biến và ngày càng lan rộng nhanh chóng ra
khắp toàn cầu với quy mô không nhưng tăng. Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, tại
các nước tư bản ngành công nghiệp thuốc lá bước sang giai đoạn độc quyền..
Sau chiến tranh thế giới thứ II, các quốc gia giành được độc lập cũng bắt đầu
chú ý phát triển ngành công nghiệp thuốc lá như: Trung Quốc, Indonesia,

Triều Tiên, Ấn Độ, Philippines, Ai Cập, Pakistan, Việt Nam [11].
Trên thế giới có nhiều hình thức sử dụng thuốc lá như ăn trầu thuốc, hút
tẩu thuốc, hút điếu. Trong đó các loại điếu và thuốc lá cuộn bằng tay hiện này
chiếm khoảng 85% lượng thuốc tiêu dùng trên thế giới[10]. Hiện nay trên thế
giới vẫn có tới khoảng 1,1 tỷ người hút thuốc. Ước tính đến nắm 2025, số
người hút thuốc trên thế giới đạt tới con số trên 1,6 tỷ người [12].
Theo WHO, trong năm 2012, 21% dân số thế giới trong độ tuổi 15 trở
lên hút thuốc lá. Tỷ lệ hút thuốc ở nam giới cao nhất là Tây Thái Bình Dương
với 48% nam giới hút thuốc. Tỷ lệ nữ giới hút thuốc lá cao nhất là ở khu vực
Châu Âu với mức 19% [1].

11


12

Hiện nay, trên thế giới tỷ lệ hút thuốc lá ở nam là 47% và ở nữ là 12%,
nhưng ở những nước phát triển thì tỷ lệ nữ hút thuốc cao gấp đôi là 24% và ở
nam tỷlệ có cao hơn một chút là 42%.
Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ nữ hút thuốc lá thấp hơn các nước
phát triển (khoảng 7%), ở nam giới thì lại cao hơn (khoảng 48%) [12].
Ở Châu Á khoảng 60% nam giới hút thuốc và 5% nữ giới hút thuốc. Ở
Trung Quốc tỷ lệ hút thuốc của nam giới là 63% và nữ giới là 3,8%. Ở
Campuchia 66% nam giới hút thuốc và 8% nữ giới sử dụng thuốc lá. Trong
khi đó ở Ấn Độ tỷ lệ hút thuốc của nam giới là 43% và nữ giới là 3% [1].
Theo một điều tra ở Canada năm 2003, có 28% tưởng đương 1,4 triệu
người trưởng thành hút thuốc lá, chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm những
người hút thuốc. Tỷ lệ thanh niên hút thuốc chiếm 8%. Khoảng 1 phần 5
những người trưởng thành hút thuốc thì đã hút điếu đầu tiên khi 18 tuổi [11].
Một điều khiến các chuyên gia lo ngại là tỷ lệ nữ hút thuốc lá có xu

hướng tăng. Ngành công nghiệp thuốc lá không ngừng nỗ lực tìm kiếm những
khách hàng mới để thay thế cho những người đã bỏ thuốc hoặc tử vong sớm
vì các bệnh do hút thuốc. Và trong số đó nữ giới là nhóm đích mà các công ty
hướng tới. Lý do là tỷ lệ phụ nữ sử dụng thuốc lá còn khá thấp. Cũng vì thế,
trong khi tỷ lệ nam giới hút thuốc tại nhiều quốc gia đang giảm theo tốc độ
chậm thì tỷ lệ nữ giới hút thuốc lại đang tăng.
Trong số 151 quốc gia có điều tra về xu hướng hút thuốc lá ở thanh
thiếu niên gần đây, thì có khoảng một nửa trong số các nước này có tỷ lệ trẻ vị
thành niên nữ hút thuốc xấp xỉ trẻ vị thành niên nam. Trẻ vị thành niên hút
thuốc lá sẽ dễ dàng tiếp tục hành vi này và trở thành người hút thuốc lá khi
trưởng thành [10].

12


13

1.3.2. Tại Việt Nam
Việt Nam vẫn xếp vào số 15 nước có tỷ lệ người hút thuốc lá cao nhất
thế giới. Đặc biệt, xu hướng hút thuốc ở thanh niên ngày càng trẻ hóa. Không
khó để bắt gặp hình ảnh những bạn học sinh, sinh viên trên tay phì phèo điều
thuốc lá tại các địa điểm vui chơi mà giới trẻ hay lui tới như: quán internet,
quán giải khát, các hàng quán bán đồ ăn vặt ngay gần cổng trường.
Theo điều tra GATS(2010), ở Việt Nam 47,4% nam và 1,4% nữ và
23,8% người trưởng thành nói chung (15,3 triệu người lớn) đang hút thuốc lá.
Trong số những người hút thuốc, 81,8% hút thuốc hàng ngày và 26,9% hút
thuốc lào. Chỉ có 1,3% người lớn (0,3% nam và 2,3% nữ) đang dùng thuốc lá
không khói [2].
Khoảng 69,0% những người hút thuốc hàng ngày hút từ 10 điếu thuốc lá
trở lên mỗi ngày; 29,3% hút từ 20 điếu trở lên mỗi ngày. Tuổi bắt đầu hút thuốc

trung bình là 19,8 ở nam và 23,6 ở nữ, và 19,9 ở người trưởng thành nói chung.
Trong số những người hút thuốc hàng ngày có 66,2% người hút điếu thuốc đầu
tiên mỗi ngày trong khoảng thời gian 30 phút đầu tiên ngay sau khi thức dậy [2].
Số người hút thuốc lá tử vong do thuốc lá gây ra gấp ba lần số người tử
vong vì tai nạn giao thông và HIV/AIDS. Đây là một gánh nặng cho ngành y
tế của Việt Nam bởi những hệ lụy do bệnh tật gây ra như quá tải cho hệ thống
y tế, tăng cao sự lây nhiễm chéo các loại bệnh…[5], [13].
1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc hút thuốc lá
Theo một nghiên cứu được triển khai ở Thái Lan và Malaysia cho thấy
rằng tần số hút thuốc ở những người có trình độ giáo dục thấp từ cấp tiểu học
trở xuống là cao hơn những người có trình độ hơn. Sự tăng lên trình độ giáo
dục và thu nhập trong quá trình phát triển đất nước cũng có tác động tích cực
trong việc hạn chế hút thuốc lá và bỏ thuốc [11].

13


14

Theo điều tra tại Canada năm 2003 cho thấy, tỷ lệ hút thuốc trong giới
sinh viên, chuyên gia, nhân viên hành chính thấp hơn đáng kể so với các
ngành công nghiệp, ngành nghề. Thanh thiếu niên từ các nền kinh tế xã hội
thấp hơn thì có khả năng hút thuốc lá cao hơn [14].
Tại Việt Nam đã có hai nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết những người hút
thuốc lá thường bắt đầu hút ở độ tuổi rất sớm, kết quả cho thấy tuổi trung bình hút
thuốc lá của nhóm thanh thiếu niên trong khoảng 17,2 đến 17,3 tuổi [15], [16].
Theo nghiên cứu của Ngô Văn Toàn (2007) thực hiện tại Hà Nội đã chỉ
ra mối liên quan giữa tuổi và hành vi hút thuốc lá. Cụ thể là tuổi càng lớn thì
nguy cơ hút thuốc lá càng cao.Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng yếu tố bạn thân có
hút thuốc lá thường gặp nhiều hơn ở nhóm học sinh có hút thuốc lá [17].

Điều tra GATS(2010) cho thấy tỷ lệ hút thuốc chung cao nhất ở nhóm
tuổi 45-64 (29,7%) và thấp nhất ở nhóm tuổi 15-24 (13,3%). Phân bố theo
trình độ học vấn, tỷ lệ hút thuốc nói chung cao nhất ở những người tốt nghiệp
cấp hai và thấp nhất ở những người tốt nghiệp cao đẳng trở lên. Ở cả hai giới,
tỷ lệ hút thuốc cao nhất ở những người trình độ tiểu học hoặc thấp hơn (nam:
61,4%; nữ: 4,4%) và thấp nhất ở những người có trình độ cao đẳng trở lên
(nam: 39,7%; nữ: 0,3%) (Đối với phụ nữ có trình độ cấp hai trở lên, tỷ lệ hiện
hút thuốc cũng là 0,3%) [2].
Theo nghiên cứu của Phạm Hoàng Anh và Nguyễn Bá Đức, những
người hút thuốc lá có xu hướng uống rượu cao gấp 16 lần so với người không
hút thuốc [18].
Có sự liên quan chặt chẽ giữa việc hút thuốc và việc có bạn bè hút
thuốc hoặc trong gia đình có người hút thuốc. Những người có bạn thân hút
thuốc hoặc sống trong gia đình có người thân hút thuốc có xu hướng hút thuốc
cao gấp nhiều lần những người không có bạn và người người thân hút thuốc
[9].

14


15

1.5. Chi tiêu cho thuốc lá và gánh nặng về kinh tế.
1.5.1. Thế giới
Năm 2014 tại Mỹ đã có khoảng 264 tỷ điếu thuốc lá được bán ra, giảm
so với năm 2013 (273 tỷ điếu thuốc lá). Chi phí trung bình của người tiêu
dùng cho 20 điếu là 6,28 $ (đã bao gồm các loại thuế). Ba công ty lớn là
Philip Morris USA, Reynolds American Inc. và Lorillard chiếm khoảng 85%
doanh số thuốc lá, thuốc lá nhập khẩu chiếm 7,7% vào năm 2013 và 8,2% vào
năm 2014, được nhập khẩu chủ yếu từ Canada và Hàn Quốc. Ngoài ra có

khoảng 13 tỷ điếu xì gà đã được bán ra, gồm 12,4 tỷ điếu xì gà lớn và 0,6 tỷ
điếu xì gà nhỏ [19].
Theo một số nghiên cứu của WHO đã chỉ ra rằng trong các hộ gia đình
nghèo nhất trong số các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình đã chi
tiêu cho thuốc lá hơn 10% trên tổng chi tiêu của hộ đó. Điều này cũng làm
cho gia đình đó có ít tiền để dùng cho các khoảng chi tiêu cơ bản khác như
giáo dục, sức khỏe, thực phẩm, ăn uống. Sử dụng thuốc lá dẫn đến tăng chi
phí chăm sóc sức khỏe, góp phần làm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tỷ lệ mù chữ
cao hơn. Thuốc lá là gánh nặng cho xã hội, nó làm trầm trọng thêm nạn đói
nghèo, cản trở sự phát triển kinh tế của đất nước[1], [20].
Theo CDC tại Mỹ, chi phí cho các bệnh liên quan đến thuốc lá mỗi
năm lên tới 300 tỷ đô la trong đó gồm: 170 tỷ đô la cho chăm sóc trực tiếp
những người sử dụng thuốc, 156 tỷ đô là do giảm năng suất lao động, và 5,6
tỷ đô la vì giảm năng suất lao đông do tiếp xúc với khói thuốc lá[21].
Theo ASH, ước tính khoảng 77 tỷ điếu thuốc lá được tiêu thụ trong
năm 2014 tại Anh. Một người hút 20 điếu của một nhãn hiệu thuốc cao cấp sẽ
tiêu khoảng 2900 bảng Anh mỗi năm. Giá thuốc lá đã tăng 80,2% trong mười
năm từ năm 2003 đến năm 2013. Văn phòng thống kê quốc gia ước tính tổng

15


16

chi tiêu cho thuốc lá của các hộ gia đinh ở Anh là khoảng 18,7 tỷ bảng, chiếm
tỷ trọng 1,8% tổng chi tiêu cho hộ gia đình [22].
Cũng theo ASH, chi phí xã hội của nước Anh cho thuốc lá lên tới 12,9
tỷ bảng, trong đó gồm: 2 tỷ bảng cho điều trị các bệnh do hút thuốc lá, 3 tỷ
bảng cho việc mất khả năng lao động, tử vong, 6 tỷ bảng cho nghỉ việc do
bệnh liên quan đến thuốc, 1,1 tỷ bảng để khắc phục, chăm sóc sức khỏe cho

những người đã từng hút thuốc lá, 391 triệu bảng chi phí cho các vụ cháy do
hút thuốc lá gây ra [22].
Theo nghiên cứu của Wang, Sindelarvà Busch (2006) chi tiêu cho thuốc
lá ở các hộ gia đình nông thôn Trung Quốc đã chiếm chi phí cho các chi tiêu
cơ bản khác như giáo dục, chăm sóc y tế, bảo hiểm, đầu tư cho nông nghiệp,
chăn nuôi[23].
Tại Thổ Nhĩ Kì 5,375 tỷ bao thuốc lá đã được sản xuất vào năm 2007.
Trung bình có tới 316 bao thuốc là được tiêu thụ bởi một người trên một năm.
Người Thổ Nhĩ Kỳ chi tiêu 17 triệu đô la cho việc hút thuốc lá mỗi ngày và
6,5 tỷ đô la cho hàng năm. Ngoài ra có tới 2 tỷ đô la là chi phí cho các bệnh
sức khỏe liên quan đến việc hút thuốc lá. Như vậy tổng chi phí cho việc chi
tiêu và điều trị các bệnh liên quan đến hút thuốc lá lên tới 8 tỷ đô la mỗi năm
[24].
Theo điều tra củaMamuka Djibuti và cộng sự tại 6 nước về năm 2006
cho thấy chi tiêu cho thuốc lá tạo nên một gánh nặng lớn cho các hộ gia đình
nghèo tại Nga, Kazakhstan, Tajikistan và Kyrgyzstan, chi tiêu cho thuốc lá lần
lượt chiếm 2,75%, 2,47%, 1,32% và 0,53% trên tổng chi tiêu hàng tháng của
những hộ gia đình đó [24].
1.5.2. Việt Nam
Sử dụng thuốc lá đang là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật và tử
vong lớn nhất trên thế giới mà chúng ta có thể phòng tránh được. Theo WHO,
Việt Nam đang phải đối mặt với gánh nặng to lớn về kinh tế và sức khỏe do sử
16


17

dụng thuốc lá. Mỗi năm thuốc lá gây ra 40.000 ca tử vong sớm và chi phí điều trị
và mất năng suất lao động do thuốc lá gây ra ước tính lên tới 1 tỷ USD/năm [10].
Tại Việt Nam, trung bình mỗi người hút thuốc lá nhà máy chi 135.000

mỗi tháng cho thuốc lá(khoảng 7 đô la Mỹ). Như vậy trung bình, những người
hút thuốc lá chi 1.618.600 đồng (tương đương với 87,5 USD) cho thuốc lá
trong năm 2010. Điều đáng chú ý là số tiền này tương đương với hơn 8% thu
nhập quốc dân trên đầu người của Việt Nam năm 2009 [2].
Một người hút thuốc lá chi hơn 8% sản phẩm quốc dân trên đầu người
cho thuốc lá. Con số này cho thấy ngoài việc sử dụng một loại sản phẩm có
hại cho sức khỏe của mình, những người hút thuốc Việt Nam còn làm giảm
khả năng tiêu dùng các hàng hóa có lợi khác cho bản thân và gia đình [2].
Theo Bộ Y tế, chi phí cho thuốc lá ở Việt Nam gấp đôi chi phí của
người dân cho giáo dục và gấp sáu lần cho sức khỏe. Những người hút thuốc
trung bình 1 bao/ngày nếu bỏ thuốc sẽ tiếp kiệm được khoảng 3.600.000
đồng/năm. Hơn nữa họ còn mất các khoản tiền cho tiền thuốc, viện phí để
chữa các bệnh do hút thuốc gây ra, số tiền này có thể dùng được vào các công
việc hữu ích hơn rất nhiều cho cuộc sống như: giáo dục, sức khỏe, vui chơi
giải trí. Các chi phí cho các vấn đề do hút thuốc gây ra như chữa bệnh, nghỉ
hoặc mất việc, duy trì môi trường sống, là một tổn thất lớn không chỉ cho cá
nhân, gia đình mà còn cho toàn xã hội [25].

17


18

Biểu đồ1.1. Tổn thất kinh tế do tiêu thụ thuốc lá so hiệu quả kinh tế
ngành công nghiệp thuốc láđem lại (2013).
Trong Sổ tay hướng dẫn Hoạt động Phòng chống tác hại thuốc lá
(PCTHTL) do Văn Phòng Chương trình PCTHTL (VINACOSH) trực thuộc
Bộ Y tế ban hành, biểu đồ cho thấy tổng thu ngân sách từ thuế thuốc lá năm
2013 là 16.965 tỷ đồng. Trong khi đó, năm 2012 người dân Việt Nam đã chi
cho việc mua thuốc lá là 22.000 tỷ đồng. Những tổn thất này bao gồm chi tiêu

cho hút thuốc, chi cho khám, điều trị bệnh liên quan đến hút thuốc, do mất
khả năng lao động vì bệnh tật và tử vong sớm, tổn thất do cháy nổ, ô nhiễm
môi trường... Chi tiêu cho thuốc lá làm giảm các chi tiêu thiết yếu khác của hộ
gia đình, đặc biệt là các hộ có thu nhập thấp [26].
Nghiên cứu “Chi phí y tế cho 5 nhóm bệnh liên quan đến hút thuốc lá ở
Việt Nam” được tiến hành năm 2010-2011 bởi ĐH Y tế công cộng và Tổ chức
HealthBridge Canada được công bố cho thấy: Mỗi năm người Việt Nam chi
hơn 22.000 tỷ cho sử dụng thuốc lá và phải chi tới 23.139,3 tỷ đồng để giải
quyết 5 (trong số 25) nhóm bệnh do hút thuốc lá mang lại, gồm: Ung thư
phổi, đột quỵ, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, ung
18


19

thư đường hô hấp và tiêu hóa trên. Con số này chiếm khoảng 0,91% GDP của
Việt Nam (năm 2011) [27].
Theo nghiên cứu “Thuế thuốc lá ở Việt Nam” của G Emmanuel
Guindon, Nguyễn Thị Thu Hiền, Hoàng Văn Kình, Emily McGirr, Đặng Vũ
Trung, Nguyễn Tuấn Lâm, thì giá thuốc lá, thuốc lào (gọi chung là thuốc lá)
thấp ở Việt Nam là nguyên nhân dẫn đến mức độ hút thuốc cao ở nam giới.
Ngoài ra, thu nhập theo đầu người đã tăng lên đáng kể trong khi đó thì giá
thực của các sản phẩm thuốc lá (sau khi điều chỉnh theo mức lạm phát) lại đã
giảm nhẹ càng làm cho thuốc lá trở nên dễ mua được. Hút thuốc có thể làm
tăng đói nghèo vì người hút thuốc dùng tiền mua thuốc lá thay vì chi cho các
nhu cầu thiết yếu và có ích khác [28].
Đối với hai phần năm dân số Việt Nam với thu nhập thấp nhất, chi tiêu
gia đình hàng năm vào thuốc lá thường chiếm một phần lớn so với số chi tiêu
cho các nhu cầu thiết yếu như thực phẩm, quần áo và giáo dục. Nếu các hộ gia
đình nghèo ở Việt Nam có người hút thuốc lá chuyển số tiền chi dùng cho

thuốc lá sang thực phẩm sẽ có khoảng 11% số hộ này có thể nâng mức sống
lên trên ngưỡng nghèo đói [28].
Theo Trương Văn Hậu, Thái Dũng Nam và Nguyễn Thanh Bình thực
hiện một nghiên cứu ở Thành Phố Cần Thơ, chi tiêu cho thuốc lá của những
người hút thuốc lá tương đối lớn, chiếm 6.5% tổng chi tiêu của gia đinh, số
tiền này tương đương với chi phí cho gas- điện- nước hay chi cho giáo dục
của con em họ [29].
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Lâm và cộng sự điều tra thì các
hộ nghèo tại Việt Nam phải tiêu tốn khoảng 5% thu nhập của gia đình vào
thuốc lá. Ở những hộ này, khoản tiền mua thuốc lá thậm chí cao hơn khoản
tiền chi cho y tế hay cho giáo dục. Nếu người hút thuốc nghèo bỏ thuốc, họ sẽ

19


20

có nhiều tiền hơn để mua thức ăn hoặc để trả tiền học cho con cái của
mình[30].
1.4. Một số yếu tố liên quan đến chi tiêu cho thuốc lá
Theo “Điều tra toàn cầu về hút thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt
Nam”của Hoàng Văn Minh và các cộng sự vào năm 2010 (GATS 2010) về
chi tiêu cho thuốc lá đã cho thấy:


Theo giới tính, một người hút thuốc nam trung bình chi cho thuốc lá
nhiều hơn một người hút thuốc nữ trung bình 31%.




Theo nhóm tuổi, nhóm 15-24 tuổi chi từ 14% - 26% ít hơn so với các
nhóm tuổi 25-34, 35-44 và 45-55. Tuy nhiên, hai nhóm lớn tuổi nhất chi
ít nhất cho thuốc lá. Hai nhóm này chi cho thuốc lá ít hơn nhóm 15-24
tuổi 40%.



Theo tình trạng nghề nghiệp, công nhân viên chức nhà nước chi cho thuốc
lá 15% ít hơn so với công nhân viên ngoài quốc doanh và 26% nhiều hơn
so với sinh viên. Sinh viên chi cho thuốc lá ít hơn tất cả các nhóm tình
trạng nghề nghiệp khác.



Theo tình trạng giàu nghèo, nhóm nghèo nhất (nhóm 1) có chi tiêu
nhiều nhất cho thuốc lá. Xu hướng này giảm dần khi mức sống tăng
lên. Nhóm nghèo nhất chi cho thuốc lá từ 26% - 39% cao hơn so với
các nhóm khác [2].



Theo khu vực cư trú, trung bình một người hút thuốc ở thành thị chi cho
thuốc lá nhiều hơn một người ở nông thôn là 27%. Bên cạnh đó, người dân
tộc Kinh cũng chi cho thuốc lá nhiều hơn các dân tộc khác (57%).
Theo nghiên cứu “Ảnh hưởng kinh tế của việc chi tiêu cho hút thuốcđối

với hộ gia đình nghèo ở Việt Nam” của Nguyễn Tuấn Lâm và cộng sự điều tra
thì chi tiêu cho thuốc lá của các hộ gia đình có sử dụng thuốc lá gấp 6 lần các

20



21

hộ gia đình chỉ sử dụng thuốc lào. Trong những hộ có sử dụng thuốc lá này,
phần trăm chi tiêu thuốc lá trên tổng chi tiêu của các hộ nghèo lớn hơn đáng
kể so với các hộ giàu [30].
Một điều tra của Mamuka Djibuti và cộng sự tại 6 nước năm 2006
vềảnh hưởng các yếu tố nhân khẩu học tới việc chi tiêu cho thuốc lá cho thấy:


Những người giàu thường chi tiêu nhiều hơn so với những người
nghèo. Tỷ lệ chi tiêu cho thuốc lá của người nghèo trên tổng thu thập
hàng thàng của họ cao hơn khá nhiều so với những người giàu



Nam giới đã chi tiêu cho thuốc lá nhiều hơn đáng kể so với nữ giới,
đồng thời việc hút thuốc phổ biến ở nam giới và mọi lứa tuổi, khu vực.



Những hiện đang hút thuốc mà người thất nghiệp chi tiêu nhiều hơn so
với những người còn lại [31].
Theo điều tra của Tổng cục thống kê Australia (ABS) năm 2009- 2010

cho thấy trong những người hút thuốc lá có con dưới 5 tuổi hàng tuần chi 7,8$
cho thuốc lá, những người hút thuốc lá có con từ 5-14 tuổi chi 10,95$ cho
thuốc lá [31].
1.5. Các hoạt động phòng chống hút thuốc lá

Hàng năm trên thế giới lấy ngày 31/5 là ngày thế giới không hút thuốc
lá. Ngày thế giới không thuốc lá, nhằm thông tin rộng rãi về các nguy cơ sức
khỏe do sử dụng thuốc lá, quan tâm hơn đến mối nguy hiểm này, kêu gọi sự
ủng hộcủa các chính phủ, tổ chức, người dân đối với các chính sách hiệu quả
nhằm giảm tiêu thụ thuốc lá[1].
Theo Công ước khung của WHO về kiểm soát thuốc lá (WHO FCTC), các
nước cần thực hiện chính sách thuế và giá đối với các sản phẩm thuốc lá để giảm
tiêu thụ thuốc lá. Nghiên cứu cho thấy việc tăng thuế rất có hiệu quả trong việc
giảm sử dụng thuốc lá ở nhóm thu nhập thấp và ngăn chặn những người trẻ tuổi
bắt đầu hút thuốc. Khi tăng thuế thuốc lá sao cho giá thuốc lá tăng thêm 10%, sẽ
21


22

giúp giảm tiêu thụ thuốc lá khoảng 4% ở các nước có thu nhập cao và khoảng
8% ở hầu hết các nước có thu nhập thấp và trung bình [32].
Chính phủ Việt Nam hiểu được tác hại tiêu cực của thuốc lá nên đã đề
ra những phòng trào, cuộc vận động trên phạm vi toàn quốc cùng với đó là
những quy định, văn bản chỉ thị cấm hút thuốc lá ở nơi làm việc, một số nơi
công cộng. “Chiến lược quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá đến năm
2020” của thủ tướng chính phủ với mục tiêu giảm tỷ lệ hút thuốc của một số
nhóm đối tượng: Thanh thiếu niên (từ 15 - 24 tuổi): Từ 26% năm 2011 xuống
18% năm 2020, Nam giới: Từ 47,4% năm 2011 xuống 39% năm 2020; Nữ
giới: Xuống dưới 1,4% năm 2020. Đông thời tăng cường ý thức tuân thủ pháp
luật của người dân về thực hiện môi trường không khói thuốc [33].
Luật phòng chống tác hại thuốc lá của Việt Nam quy định rõ việc cấm
sản xuất, mua bán, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá giả, sản phẩm
được thiết kế có hình thức hoặc kiểu dáng như bao, gói hoặc điếu thuốc lá; mua
bán, tàng trữ, vận chuyển nguyên liệu thuốc lá, thuốc lá nhập lậu. Cấm quảng

cáo, khuyến mại thuốc lá; tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng dưới
mọi hình thức. Cấm bán, cung cấp thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi[4], [34].
1.6. Giới thiệu về nghiên cứu gốc
Đại học Y tế công cộng và Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh
phối hợp với Đại học Quốc gia Seoul Hàn Quốc lên kế hoạch cho dự án can
thiệp cộng đồng trong 5 năm tại huyện Quốc Oai, Hà Nội. Để thu thập các số
liệu ban đầu về kinh tế -xã hội và y tế phục vụ cho việc thiết kế can thiệp,
nghiên cứu khảo sát đầu vào được tiến hành trong thời gian từ tháng 12/2015
tới tháng 04/2016 với các mục tiêu chính:
1. Mô tả các điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường cơ bản ở huyện
Quốc Oai năm 2015.

22


23

2. Mô tả tình trạng sức khỏe, các vấn đề sức khỏe, hành vi sức khỏe,
sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống của người dân tại Quốc Oai.
3. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành, thực trạng bao phủ dịch vụ chăm
sóc sức khỏe và chi phí chi trả dịch vụ của người dân địa phương.
4. Xác định mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe và các yếu tố xã hội
có liên quan của người dân tại Quốc Oai.
Với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, nghiên cứu thực hiện trên
2400 hộ gia đình bằng cách chọn mẫu nhiều giai đoạn, dựa trên 3 tầng đồng
bằng, trung du, miền núi lập danh sách các cụm và chọn ngẫu nhiên 30 cụm
bằng phần mềm PPS, mỗi cụm chọn ra 80 hộ gia đình bằng phương pháp
chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống. Bộ công cụ phỏng vấn gồm 2 bộ câu hỏi: Bộ
20 câu hỏi hộ gia đình và bộ câu hỏi cá nhân. Bộ câu hỏi hộ gia đình hỏi chủ
hộ -là người nắm rõ nhất thông tin về các thành viên cũng như tình hình chi

tiêu trong gia đình; gồm các phần: Phần A là thông tin chung về hộ gia đình,
phần B là thông tin về các thành viên trong hộ, phần C là thông tin về tiếp cận
và sử dụng dịch vụ y tế, phần D về điều kiện sống hộ gia đình, phần E là tài
sản cố định và đồ dùng lâu bền, phần F gồm thu nhập và chi tiêu hộ gia đình.
Và bộ câu hỏi cá nhân dành cho đối tượng từ 15 –60 tuổi và trên 60 tuổi được
lựa chọn ngẫu nhiên bằng phương pháp KISH; bộ câu hỏi này gồm các phần:
Phần A là thông tin chung, phần B là tình trạng sức khỏe, phần C là kiến thức
và một số hành vi nguy cơ của bệnh không lây nhiễm, phần D là tiếp cận
truyền thông về yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm, phần E về chăm
sóc sức khỏe răng miệng, phần F về vốn xã hội, phần G dành riêng cho đối
tượng là phụ nữ có con dưới 1 tuổi và phần H đánh giá chức năng dành cho
đối tượng từ 60 tuổi trở lên.

23


24

1.7. Một số đặc điểm của huyện Quốc Oai
- Quốc Oai là một huyện nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và
đồng bằng, có hai tuyến giao thông trọng yếu chạy qua là đường Láng - Hòa Lạc
và đường Hồ Chí Minh nên có nhiều lợi thế phát triển đô thị và công nghiệp.
- Huyện Quốc Oai nằm ở phía Tây thành phố Hà Nội, cách trung tâm
thành phố khoảng 20km. Phía Đông giáp huyện Đan Phượng, huyện Hoài
Đức; phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình; phía Nam giáp huyện Chương Mỹ và phía
Bắc giáp huyện Thạch Thất và huyện Phúc Thọ.
Diện tích: 147, 01 km2
Dân số: trên 1800 nghìn người (năm 2015)
- Quốc Oai hiện có 21 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 Thị trấn
Quốc Oai và 20 xã là: Phú Mãn, Phú Cát, Hòa Thạch, Tuyết Nghĩa, Đông

Yên, Liệp Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cấn Hữu, Nghĩa Hương, Thạch Thán,
Đồng Quang, Sài Sơn, Yên Sơn, Phượng Cách, Tân Hòa, Tân Phú, Đại
Thành, Cộng Hòa, Đông Xuân.[35]
- Tại những xã đô thị hóa nhanh: cơ sở hạ tầng như cải tạo, mở rộng
đường, các đô thị mới xung quanh được xây dựng đã thay đổi rất nhiều bộ
mặt nông thôn trong những năm qua: giao thông nông thôn được cải thiện,
diện tích đất nông nghiệp giảm, số lượng hộ gia đình kinh doanh phòng trọ
tăng, các ngành dịch vụ, xây dựng cơ bản phát triển.Tuy nhiên,Y tế của huyện
mặc dù trong những năm gần đây có nhiều phát triển, nhưng vẫn còn những
hạn chế. Cán bộ y tế thiếu cả về chất lượng và số lượng; kinh phí đầu tư cho y
tế của huyện còn chưa nhiều, việc kiểm tra, giám sát và quản lý cơ sở y tế
trong và ngoài công lập còn hạn chế [36]

24


25

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu:
2.1.1. Thời gian thu thập số liệu: Tháng 12/2015 đến tháng 4/2016.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu: tại Huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội.

Hình 2.1. Bản đồ Huyện Quốc Oai
Nghiên cứu thực hiện trên 21 đơn vị hành chính trực thuộc huyện Quốc
Oai gồm 1 Thị trấn Quốc Oai và 20 xã là: Phú Mãn, Phú Cát, Hòa Thạch,
Tuyết Nghĩa, Đông Yên, Liệp Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cấn Hữu, Nghĩa
Hương, Thạch Thán, Đồng Quang, Sài Sơn, Yên Sơn, Phượng Cách, Tân
Hòa, Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa, Đông Xuân.


25


×