Tải bản đầy đủ (.pdf) (130 trang)

Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch huyện côn đảo, tỉnh bà rịa vũng tàu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.7 MB, 130 trang )

5

BẢN TÓM TẮT
TÌM HIỂU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN CÔN ĐẢO,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Mã số: SV2014-07
1. Vấn đề nghiên cứu: TÌM HIỂU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN
CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
2. Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu:
- Xác lập cơ sở khoa học nghiên cứu sự phát triển du lịch.
- Thấy được tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch của Côn Đảo.
- Xây dựng định hướng và giải pháp phát triển tiềm năng du lịch của Côn Đảo
trong thời kì mới.
3. Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu:
- Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến sự phát triển tiềm năng du lịch.
- Phân tích, đánh giá sự tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến
ngành du lịch của Côn Đảo.
- Đánh giá tiềm năng của ngành du lịch Côn Đảo và so sánh lợi thế du lịch của
địa phương với các địa phương khác trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Dựa vào đặc điểm tài nguyên và điều kiện tự nhiên liên quan, đưa ra các định
hướng và giải pháp phát triển tiềm năng du lịch Côn Đảo.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống.
- Phương pháp thống kê du lịch.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ.
- Phương pháp dự báo.
5. Kết quả nghiên cứu:
- Đánh giá “Phát triển du lịch của huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”. Trên
cơ sở đó đề ra những giải pháp để phát huy những thế mạnh, khắc phục những
hạn chế còn tồn tại để góp phần thúc đẩy du lịch ở Côn Đảo phát triển tương
xứng với tiềm năng sẵn có.


- Giúp mọi người nhận thức được vai trò và tầm quan trọng về tiềm năng phát
triển du lịch của Côn Đảo.
- Nhận ra các đặc điểm nổi bật nhằm thu hút khách du lịch đến với Côn Đảo.
- Nâng cao nhận thức của người dân trong việc phát triển du lịch gắn với việc bảo
vệ môi trường hướng tới sự phát triển bền vững.


6

LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong Khoa Sư phạm Khoa học
Xã hội đã giúp đỡ, hỗ trợ nhóm em trong suốt quá trình thực hiện công trình nghiên
cứu khoa học và đặc biệt chúng em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS.
Trịnh Duy Oánh – Thầy đã luôn sát cánh, nhiệt tình, luôn quan tâm, hỗ trợ và chỉ dẫn
tận tình cho nhóm chúng em trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
với đề tài: TÌM HIỂU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN CÔN ĐẢO,
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU.
Đây là lần đầu tiên nhóm thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học trong thời
gian tương đối ngắn. Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng nhóm em cũng đã cố gắng hết
mình bằng sự nhiệt huyết và đam mê học hỏi của tuổi trẻ để hoàn thành đề tài này. Do
thời gian có hạn và trình độ của các thành viên trong nhóm còn nhiều hạn chế nên bài
Nghiên cứu khoa học của nhóm em không tránh khỏi thiếu sót cũng như còn nhiều bất
cập. Nhóm em rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của quý thầy cô giáo và các
bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 07 năm 2015
Sinh viên thực hiện

Võ Văn Chỉ



7

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục hình
Hình
1.1

Tên hình
Mức độ tăng trưởng lượng khách tham quan ở Châu Á - Thái Bình
Dương, Việt Nam và Côn Đảo, từ năm 2008 đến năm 2013

Trang
48

2.1

Bản đồ hành chính tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

51

2.2

Bản đồ vị trí các đảo ở Côn Đảo

52

2.3


Cơ cấu kinh tế ở Côn Đảo năm 2010

57

2.4

Cơ cấu kinh tế ở Côn Đảo năm 2011

58

2.5

Bản đồ khung quy hoạch du lịch Côn Đảo

68

2.6

Số khách quốc tế và trong nước tới Côn Đảo, từ năm 2009 đến
2013

70

2.7

Số lượng du khách đến Côn Đảo theo tháng/2013

72

2.8


Doanh thu du lịch của Côn Đảo từ năm 2010 – 2013

73

3.1

Bản đồ quy hoạch các phân khu du lịch Côn Đảo

111

3.2

Bản đồ vị trí các dự án ưu tiên

112

3.3

Bản đồ vị trí bờ biển thắng cảnh của Côn Đảo

124

Danh mục bảng
Bảng

Tên bảng

Trang


2.1

Lượng lao động trên toàn huyện Côn Đảo giai đoạn 2006 – 2011

56

2.2

Giá cho thuê xe tại Côn Đảo

74

2.3

Lịch khởi hành của Vietnam Airlines cho du lịch Côn Đảo

77


8

2.4
2.5

Lịch tàu Côn Đảo 9, Côn Đảo 10, Tuyến Cảng Cát Lỡ, Vũng Tàu –
Cảng Bến Đầm, Côn Đảo
Cơ sở lưu trú / Công suất phòng ở Côn Đảo

78
79



9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SPDL

: Sản phẩm du lịch

ĐDSH

: Đa dạng sinh học

DLBV

: Du lịch bền vững

LHDL

:

HĐDL

: Hoạt động du lịch

BQL

: Ban quản lí

Loại hình du lịch



10

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Với đề tài nghiên cứu khoa học này trong khoảng thời gian 11 tháng, nhóm em
đã tìm hiểu, nghiên cứu các tiềm năng phát triển du lịch của Côn Đảo thông qua sách,
báo, kênh thông tin đại chúng, các bài nghiên cứu của các luận giả đi trước,… Qua quá
trình nghiên cứu, chúng em nhận thấy rằng, Côn Đảo là một vùng đất rất giàu tiềm
năng để phát triển du lịch. Trong những năm gần đây, Côn Đảo trong lòng người du
lịch ở trong nước trở nên gần gũi, thân thuộc hơn; đối với du khách nước ngoài cái tên
“Côn Đảo” trở nên quen thuộc hơn và là điểm đến lí tưởng cho các du khách thích
khám phá, mạo hiểm với các dịch vụ du lịch của vùng.
Để phát triển du lịch theo hướng bền vững, nhóm em cũng đã chỉ ra những thế
mạnh, hạn chế của vùng nhằm góp phần thúc đẩy du lịch ở Côn Đảo phát triển tương
xứng với tiềm năng sẵn có. Bên cạnh đó, chúng em đề ra một số giải pháp nhằm giúp
mọi người nhận thức được vai trò và tầm quan trọng về tiềm năng phát triển du lịch của
Côn Đảo; đặc biệt là nâng cao nhận thức của người dân trong việc phát triển du lịch
gắn với việc bảo vệ môi trường hướng tới sự phát triển bền vững.


11

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế trên thế giới, du lịch đã trở thành một
bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa - xã hội của con người. Du lịch không
những là một ngành kinh tế góp phần nâng cao đời sống vật chất mà còn giúp con
người có điều kiện giao lưu văn hóa giữa các quốc gia vùng miền. Chính vì vậy ngày
nay du lịch đã nằm trong chiến lược phát triển của rất nhiều quốc gia, trở thành nền

kinh tế quan trọng có đóng góp lớn trong sự phát triển của các nước.
Ở Việt Nam ngành du lịch giữ một vai trò quan trọng trong việc phát triển thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy chịu sự ảnh hưởng của những biến động toàn cầu và
khu vực nhưng với sự nỗ lực của lãnh đạo và cán bộ các cơ quan quản lý du lịch từ
Trung ương đến địa phương, các doanh nghiệp du lịch trong cả nước, du lịch Việt Nam
vẫn đảm bảo tăng trưởng vượt bậc với sự mở rộng quy mô về cơ sở vật chất kỹ thuật
dịch vụ du lịch; hệ thống hạ tầng gắn với quy hoạch và đầu tư phát triển các khu,
tuyến, điểm, đô thị du lịch trên 7 vùng du lịch của cả nước; hệ thống doanh nghiệp
thuộc các lĩnh vực lữ hành, lưu trú, vận chuyển, giải trí... với chuỗi các sản phẩm du
lịch đa dạng hướng tới nhiều thị trường mới, đồng thời với lực lượng lao động trực tiếp
và gián tiếp được tăng cường cả về số lượng và trình độ chuyên nghiệp... Những thành
tựu đó đã đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển ngành du lịch trong thời kỳ
hội nhập và phát triển mới của đất nước. Trong năm 2013, khi bối cảnh nền kinh tế vẫn
đang trong quá trình khắc phục suy thoái, tái cấu trúc và từng bước tìm kiếm động lực
tăng trưởng mới, du lịch là ngành kinh tế duy nhất duy trì tốc độ tăng trưởng cao và là
điểm sáng của nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù phải vượt qua nhiều khó khăn và thách
thức nhưng năm 2013, cả nước đã đón 7,57 triệu lượt khách quốc tế, tăng trưởng
10,6%; 35 triệu lượt khách nội địa; tổng thu trực tiếp từ khách du lịch đạt 200 nghìn tỷ
đồng, đóng góp trên 6% GDP.


12

Côn Đảo hay Côn Sơn là tên một quần đảo ngoài khơi thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng
Tàu, cách Vũng Tàu 97 hải lý và cách sông Hậu 45 hải lý. Khu du lịch Côn Đảo là
điểm du lịch mới được đưa vào khai thác và với lợi thế về cảnh quan Côn Đảo đã được
đánh giá là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn vào bậc nhất của nước ta hiện
nay. Côn Đảo được nhiều du khách đánh giá là thiên đường của nghỉ dưỡng và khám
phá thiên nhiên (rừng và biển). Côn Đảo là một trong 21 khu du lịch quốc gia của Việt
Nam với nhiều địa danh đẹp nổi tiếng như Bãi Đầm Trầu, Cầu tàu 914,... được xem là

hòn đảo du lịch với những bãi tắm hoang sơ tuyệt đẹp, làn nước trong xanh mát lạnh,
bãi cát dài phẳng mịn trải dài dưới chân những vách đá sừng sững... Không những thế,
Côn Đảo còn là nơi du khách có thể khám phá những giá trị về lịch sử của mảnh đất và
con người nơi đây được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc với nhiều
địa danh lịch sử khác như chuồng cọp Côn Đảo, nơi chứng kiến một phần cuộc chiến
gian khổ của nhân dân Việt Nam. Với những giá trị về cả thiên nhiên và văn hóa, Côn
Đảo đang dần trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách. Nhiều năm trở lại đây
khu du lịch Côn Đảo được đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác phục vụ du lịch thì du
lịch Bà Rịa - Vũng Tàu càng phát triển với định hướng khai thác du lịch thành ngành
kinh tế chủ yếu của tỉnh.
Để góp phần vào việc phát triển du lịch của đất nước, khai thác có hiệu quả tiềm
năng du lịch tại Côn Đảo – Bà Rịa – Vũng Tàu. Việc chọn đề tài “TÌM HIỂU TIỀM
NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG
TÀU” nhằm nghiên cứu và đánh giá hoạt động du lịch tại Côn Đảo, trên cơ sở đó đề
xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch, bảo vệ môi trường tự nhiên của địa
phương, góp phần tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân địa phương.
2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu
- Xác lập cơ sở khoa học nghiên cứu sự phát triển bền vững du lịch.


13

- Thấy được tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch của huyện Côn Đảo.
- Xây dựng định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch Côn Đảo đáp ứng nhu
cầu trong thời kỳ mới.
2.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến phát triển bền vững du lịch.
- Phân tích, đánh giá sự tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến ngành
Du lịch huyện Côn Đảo.

- Đánh giá tính bền vững của ngành du lịch huyện Côn Đảo và lợi thế so sánh du lịch
địa phương với các địa phương khác trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Dựa vào đặc điểm tài nguyên và các điều kiện liên quan, đưa ra các định hướng và
giải pháp phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo.
2.3. Ý nghĩa của đề tài
- Củng cố lý thuyết về phát triển du lịch bền vững.
- Xây dựng cơ sở lý thuyết phát triển du lịch bền vững cho huyện Côn Đảo.
- Điều tra, khảo sát, đánh giá khai thác tài nguyên du lịch tại khu du lịch Côn Đảo.
Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp để phát huy những lợi thế, khắc phục những hạn
chế còn tồn tại góp phần thúc đẩy khu du lịch Côn Đảo phát triển tương xứng với tiềm
năng sẵn có.
3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Cho tới nay, chưa có một báo cáo quy hoạch hay chiến lược nào để định hướng
phát triển bền vững cho du lịch Côn Đảo. Năm 2004, Ủy ban Kinh tế Trung ương triển
khai dự án “Phát triển Côn Đảo” và VNAT cũng hoàn thành báo cáo “Định hướng Phát
triển Du lịch Côn Đảo”. Những tài liệu này đánh giá sơ bộ về tiềm năng du lịch của
Côn Đảo, đồng thời tổng kết về tình hình hoạt động du lịch của huyện. Những vấn đề


14

được quan tâm bao gồm “huy động sức lực” để phát triển du lịch cùng với việc quan
tâm tới nguồn tài nguyên đất và nước trên quần đảo. Những báo cáo này cũng đưa ra
những giải pháp cho việc phát triển du lịch cũng như khẳng định quy hoạch du lịch
đóng vai trò then chốt.
4. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Nội dung nghiên cứu:
+ Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững.
+ Nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch ở Côn Đảo.
+ Định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch của Côn Đảo.

- Thời gian: từ năm 2003 – 2013.
- Không gian: toàn huyện Côn Đảo.
5. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phương pháp luận
5.1.1. Quan điểm và chính sách sách phát triển du lịch của Đảng và
Nhà nước
Nghị quyết Đại hội Trung ương Đảng lần thứ IX và X đều khẳng định phát
triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Mục tiêu phấn đấu của nhà nước là dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đồng thời Nhà nước cũng có những
chính sách phát triển du lịch thể hiện trong điều 6, chương I - Luật Du Lịch Việt Nam
(năm 2005) như sau:
- Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi năng lực, tăng đầu tư phát triển
du lịch để đảm bảo du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.


15

- Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tính dụng
đối với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực sau:
+ Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch.
+ Tuyên truyền, quảng bá du lịch.
+ Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
+ Nghiên cứu, đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch.
+ Hiện đại hoá các hoạt động du lịch.
+ Xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; nhập khẩu phương
tiện cung cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng
hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao và du lịch quốc gia.
+ Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm sử dụng lao động, hàng hoá và dịch vụ tại
chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo.

- Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ dân trí, xây dựng
kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền,
quảng bá du lịch, bảo vệ tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch, nghiên cứu ứng
dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch.
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài vào Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của khách du lịch.
5.1.2. Quan điểm hệ thống lãnh thổ
Phát triển du lịch ở bất kỳ cấp vùng hoặc trung tâm nào cũng phải là một phần
cấu thành không thể tách rời trong hệ thống du lịch chung của cả nước. Các hệ thống
lãnh thổ du lịch thường tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qua lại nội tại của từng


16

phân hệ, giữa các phân hệ du lịch trong một hệ thống với nhau và các môi trường xung
quanh, giữa các hệ thống lãnh thổ du lịch cùng cấp và khác cấp, giữa hệ thống lãnh tổ
du lịch và hệ thống kinh tế - xã hội. Quan điểm hệ thống còn đặc biệt có ý nghĩa trong
quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái đặc thù với sự phân hoá theo lãnh thổ từ cấp quốc
gia đến cấp vùng và điểm. Mặc khác, các đối tượng nghiên cứu của sinh thái cần được
xác định trên một lãnh thổ để phân tích, nghiên cứu tìm ra những sự khác biệt và mối
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
5.1.3. Quan điểm phát triển du lịch bền vững
Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của toàn
nhân loại trong thế kỷ XXI. Phát triển du lịch bền vững trở thành xu hướng và mục tiêu
phát triển ngành kinh tế du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam
trong hiện tại và tương lai. Vì vậy quan điểm phát triển này cần được soi sáng, vận
dụng trong việc tổ chức quản lý, triển khai đánh giá các hoạt động du lịch trong nghiên
cứu phát triển du lịch.
5.1.4. Quan điểm tổng hợp

Quan điểm tổng hợp là quan điểm truyền thống của địa lý học nói riêng và
nghiên cứu tự nhiên nói chung được xét dưới hai góc độ khác nhau:
- Nghiên cứu đồng bộ toàn diện về các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch
đứng từ góc độ tự nhiên và nhân văn, các yếu tố kinh tế, sự phân bố, quy luật phân bố
và biến động của chúng, những mối quan hệ tương tác chế ngự lẫn nhau giữa các yếu
tố hợp phần của các tổng thể địa lý.
- Sự kết hợp, phối hợp có quy luật, có hệ thống trên cơ sở phân tích đồng bộ và
toàn diện các yếu tố hợp phần của các thể tổng hợp lãnh thổ du lịch, phát hiện và xác
định những đặc điểm đặc thù của các thể tổng hợp lãnh thổ địa lý.


17

5.1.5. Quan điểm môi trường
Du lịch hiện nay đã thật sự trở thành một ngành kinh tế, mà hoạt động kinh tế rõ
ràng phải tính đến lợi ích và chi phí. Những lợi ích thu về trong hoạt động du lịch
không chỉ có ý nghĩa kinh tế và văn hoá mà còn phải tính đến lợi ích về môi trường. Do
đó phải tính đến những thiệt hại về môi trường, các hệ sinh thái ở các điểm - tuyến du
lịch do tác động của hoạt động du lịch. Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát
triển bền vững du lịch bởi sự tồn tại của loại hình du lịch này phụ thuộc hoàn toàn vào
tình trạng của các hệ sinh thái và môi trường.
5.1.6. Quan điểm viễn cảnh - lịch sử
Quan điểm này thể hiện ở chỗ:
- Chú ý tới khía cạnh địa lý, lịch sử khi xác định tổ chức không gian du lịch trên
phạm vi khu vực và cả nước nói chung.
- Phân tích quá trình hình thành và phát triển điểm - tuyến du lịch trong hoàn
cảnh lịch sử cụ thể.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống
Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng phổ biến trong hầu hết các công trình

nghiên cứu khoa học. Phương pháp này được sử dụng đặc biệt có hiệu quả trong
nghiên cứu tự nhiên và tổ chức khai thác lãnh thổ du lịch. Phát triển bền vững có liên
quan chặt chẽ tới các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; vì vậy, trong nghiên cứu đây
là phương pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
5.2.2. Phương pháp thống kê du lịch
Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trính nghiên cứu mặt lượng trong
mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của các hiện tượng và qúa trình, đối chiếu biến


18

động, phát triển trong hoạt động du lịch. Phương pháp này áp dụng để thống kê các hệ
sinh thái đặc thù, các tài nguyên du lịch quan trọng và phụ trợ, thống kê hệ thống cơ sở
hạ tầng phục vụ du lịch; thống kê đánh giá lượng khách; đánh giá tỷ lệ doanh thu; tỷ
trọng và mức tăng trưởng du lịch nói chung để đưa ra bức tranh chung về hiện trạng.
5.2.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp này cho phép thu thập những nguồn thông tin mới phát hiện phân
bố trong không gian của các đối tượng nghiên cứu. Bản đồ còn là phương tiện để cụ
thể hoá, biểu đạt kết quả nghiên cứu về cấu trúc, đặc điểm và phân bố không gian của
các đối tượng du lịch.
Đây là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu bất kỳ tổ chức không
gian lãnh thổ du lịch nào, đặc biệt là khi nghiên cơ sở khoa học cho sự phát triển bền
vững du lịch nói chung và tổ chức không gian hoạt động du lịch nói riêng.
Bản đồ được sử dụng chủ yếu theo hướng chuyên ngành với việc thể hiện sự
phân bố lãnh thổ của các khu bảo tồn thiên nhiên, các hệ sinh thái đặc thù, hệ thống cơ
sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật. Phương bản đồ sẽ đặc biệt có hiệu quả khi sử dụng
công nghệ GIS (Geographic Information System - hệ thông tin địa lý) để phân tích
đánh giá tiềm năng du lịch căn cứ vào mức độ quan trọng và phân hoá lãnh thổ của các
tài nguyên và điều kiện có liên quan cũng như để phân tích phát hiện các mối quan hệ
trong tổ chức không gian du lịch.

5.2.4. Phương pháp dự báo
Đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ rất quan trọng là xác lập cơ sở khoa học để tổ
chức phát triển du lịch bền vững của huyện Côn Đảo. Vì vậy phương pháp dự báo có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu, tổ chức hướng khai thác xây dựng các
điểm, tuyến du lịch; sử dụng tài nguyên du lịch một cách hiệu quả. Các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp, gián tiếp ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững du lịch là dự báo về


19

nguồn khách, cơ cấu khách và thị trường khai thác khách; dự báo về khả năng đầu tư,
tôn tạo, nâng cấp các điểm du lịch bổ trợ; dự báo về phát triển cơ sở hạ tầng, mức tăng
trưởng và phát triển của ngành du lịch.
6. BỐ CỤC CỦA BÀI NGHIÊN CỨU
Ngoài phần mở đầu và kết luận bài nghiên cứu khoa học có kết cấu thành 3
chương:
 Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phát triển bền vững du lịch
 Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch của Côn Đảo
 Chương 3: Định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch của Côn
Đảo


20

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
DU LỊCH
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Ngày nay dịch vụ là một ngành kinh tế phát triển vượt bậc trên phạm vi toàn thế
giới. Trong tất cả các hoạt động của dịch vụ thì ngành du lịch mang lại hiệu quả kinh tế

cao. Nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch là nguồn thu ngoại tệ chính, là ngành kinh tế
quan trọng.
Du lịch xuất hiện từ khi nào? Du lịch là gì? Đã có rất nhiều câu trả lời, rất nhiều
khái niệm, có nhiều cách tiếp cận với nhiều cách hiểu khác nhau, sau đây là một số
khái niệm cơ bản về du lịch.
Du lịch là một hiện tượng. Trước thế kỷ thứ XIX đến tận đầu thế kỷ XX du lịch
hầu như vẫn được coi là tầng lớp giàu có, quý tộc và đây chỉ là một hiện tượng cá biệt
trong đời sống kinh tế - xã hội.
Năm 1811 lần đầu tiên tại Anh, từ du lịch (Tourism) được xuất hiện sớm nhất
trong quyển Từ điển Oxford. Theo đó, du lịch có định nghĩa như sau:
“Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc
hành trình với mục đích giải trí”. Ở đây giải trí là động cơ chính.
Giáo sư, tiến sĩ Hunziker và giáo sư, tiến sĩ Krapf - hai người được coi là đặt
nền móng cho lý thuyết về cùng du lịch đưa ra định nghĩa như sau:
“Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc
hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không
thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”.
Trường Đại học kinh tế Praha (Cộng hòa Séc) định nghĩa như sau:


21

“Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến
cuộc hành trình của con người và việc lưu trú cho họ ngoài nơi ở thường xuyên với
nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức định
kỳ”.
Năm 1985, I.I.Pirogionic đưa ra khái niệm:
“Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên quan
tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ
ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức về văn

hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá”.
Dựa trên những lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu du lịch khoa Du lịch và
Khách sạn (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) đã định nghĩa du lịch như sau:
“Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn
du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp
ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu
cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã
hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”.
Tại khoảng 1, Điều 4, chương I của Luật Du lịch, thuật ngữ “du lịch” được hiểu
như sau:
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham
gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của
ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội.


22

1.1.2. Khái niệm về khách du lịch
Trong hoạt động du lịch, trong khai thác du lịch thì nhân tố đóng vai trò quan
trọng là khách du lịch. Bởi lẽ, nếu phát triển du lịch mà không có khách du lịch thì sẽ là
con số không. Việc xác định ai là khách du lịch có nhiều quan điểm khách nhau. Ở đây
cần phân biệt giữa khách du lịch, khách tham quan và lữ khách dựa vào tiêu thức: Mục
đích, thời gian và không gian chuyến đi.
Theo nhà kinh tế học người Anh, Odgil Vi khẳng định: Để trở thành khách du
lịch thì cần có hai điều kiện: Thứ nhất: Phải đi xa nhà thời gian dưới một năm; thứ hai:
Ở đó phải tiêu những khoảng tiền đã tiết kiệm ở nơi khác.
Giáo sư Khadginicolov – một trong những nhà đi đầu về du lịch của Bulgarie đã

đưa ra định nghĩa:
“Khách du lịch là người hành trình tự nguyện với những mục đích hòa bình.
Trong cuộc hành trình của mình họ đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi
một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”.
Các định nghĩa trên đều mang tính phiếm diện, chưa đầy đủ, chủ yếu mang tính
chất phản ánh sự phát triển của du lịch đương thời và xem xét không đầy đủ, hạn chế
nội dung thực của khái niệm – khách du lịch.
Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia – League of Nations – năm 1937 tổ chức
này đưa ra khái niệm:
“Bất ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình
trong khoảng thời gian ít nhất là 24h”.
Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam trong khoảng 2, điều 4, chương I đã
nêu rõ:


23

“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi
học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. [9]
1.1.3. Khái niệm về SPDL
Khi đề cập đến bất cứ hoạt động kinh doanh nào chúng ta cũng không thể không
nhắc đến sản phẩm của hoạt động đó. Trong du lịch khi tìm hiểu về khái niệm du lịch
thì chúng ta cũng cần phải tìm hiểu về SPDL.
SPDL là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết
hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ
sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.
SPDL = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ hàng hóa du lịch
Hiện nay khái niệm này rất khái quát, trong phạm vi bài tham luận này có thể
hiểu sản phẩm du lịch (SPDL) là tất cả những giá trị về vật chất lẫn tinh thần của một
địa phương mà du khách đến hưởng thụ và trả tiền. SPDL bao gồm sản phẩm vật thể và

sản phẩm phi vật thể, sản phẩm tự nhiên và sản phẩm nhân tạo.
Theo TS. Nguyễn Văn Bình trong bài viết “Bàn về SPDL”: có thể hiểu SPDL
theo hai hướng tiếp cận: Một là từ phía cung, SPDL là toàn bộ dịch vụ của người kinh
doanh du lịch dựa trên vật thu hút du lịch (tài nguyên) và khởi sự du lịch nhằm cung
cấp cho du khách để thỏa mãn nhu cầu hoạt động du lịch. Hai là từ phái người du lịch,
SPDL là quá trình du lịch một lần do du khách bỏ thời gian, chi phí và sức lực nhất
định để đổi được. Từ đó dẫn đến khái niệm SPDL là một tổ hợp cấu thành gồm hai yếu
tố: vật thu hút du lịch và toàn bộ hệ thống dịch vụ cung cấp cho du khách nhằm thỏa
mãn mục đích hưởng thụ tại nơi đích đến.
Tổ chức Du lịch Thế giới (UNTWO) khuyến cáo nên sử dụng một khái niệm
tiêu biểu vừa khái quát cao vừa cụ thể về SPDL. Theo đó SPDL được cấu thành từ: kết


24

cấu hạ tầng, tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
và dịch vụ cung ứng (nhân lực du lịch là yếu tố quyết định).
Theo điều 4 luật du lịch:
“SPDL là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
trong chuyến đi du lịch”.
1.1.4. Sự phát triển bền vững
Cụm từ "phát triển bền vững" có nguồn gốc từ thực tiễn quản lý rừng ở Đức vào
thế kỷ XIX, nhưng mãi đến thập niên 80 của thế kỷ XX mới được phổ biến rộng rãi.
Năm 1980, IUCN cho rằng: "phát triển bền vững phải cân nhắc đến việc khai
thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng
như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen
nhau”.
Năm 1987, Uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới WCED do bà Groharlem
Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ "phát triển bền vững" trong báo cáo "tương
lai của chúng ta" như sau: “phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp

ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng
đáp ứng nhu cầu của những thế hệ mai sau”.
Theo hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất năm 1992, được tổ chức Riodejaneiro
thì: "phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, xen cài và thoả hiệp giữa
ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội".
Ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia đều đề cập đến "phát triển bền vững"
trong quá trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn
mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển.
Đối với Việt Nam, "phát triển bền vững" đựơc thể hiện trong chỉ thị 36/CT của
Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25.6.1998: mục tiêu và các quan


25

điểm cơ bản của phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ môi trường,
bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên như một cấu thành không thể
tách rời của phát triển bền vững.
1.1.5. Du lịch bền vững
Khái niệm du lịch bền vững (Sustainable tourism) được xuất hiện vào năm
1996, trên cơ sở cải tiến và nâng cấp khái niệm về du lịch mềm của những năm 90 và
thật sự gây được sự chú ý rộng rãi. Mặc dù chưa đạt đến giai đoạn chín muồi, nhưng nó
cũng thể hiện được điểm đặc trưng cơ bản của DLBV, đó là: DLBV không chỉ cổ vũ
cho hoạt động du lịch ít gây tổn hại cho môi trường mà còn thu hút và đòi hỏi sự tham
gia của tất cả các thành tố của ngành công nghiệp du lịch: các tổ hợp khách sạn toàn
cầu, các tổ chức du lịch lữ hành, các khách sạn nhỏ bé biệt lập, với mục tiêu: sử dụng
tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ văn hoá và phúc lợi cộng đồng địa
phương; tạo lập sự công bằng trong nội bộ và giữa các thế hệ.
"Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một
cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên, các đặc
điểm văn hoá kèm theo (có thể là cả trong quá khứ và hiện tại) theo cách khuyến cáo

về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia
chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương" - (World Conservation Union,
1996).
Cũng trong thời gian này, Hội đồng Du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) khái
niệm: "Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng
Du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai".
Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào
đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn
duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ
đảm bảo sự sống (Hens L.1998).


26

Theo quan điểm của Tổng cục Du lịch Việt Nam, phát triển Du lịch phải được
định hướng và quản lí theo phương châm: kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và
tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng Du lịch; khai thác, sử dụng hợp lí và
phát triển tài nguyên Du lịch tự nhiên; chú trọng bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị
của tài nguyên du lịch nhân văn; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; tránh
hiện đại hoá hoặc làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích; xây dựng và giữ gìn
môi trường xã hội lành mạnh; đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đặc
biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm tham quan du lịch.
Như vậy, du lịch bền vững không phải là trào lưu du lịch mà đó là cương lĩnh
phát triển du lịch của thời đại.
1.1.6. Điểm du lịch
Các nhà nghiên cứu và lập pháp đã đưa điểm du lịch vào Pháp lệnh Du lịch
được chủ tịch nước ký và công bố vào tháng 2.1999, theo đó "điểm du lịch là nơi có tài
nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch".
Như vậy theo Pháp lệnh Du lịch, "điểm du lịch" là khái niệm tương đối mở,
không hạn chế về quy mô lãnh thổ. Đồng thời với khái niệm trên, "điểm du lịch" có thể

bao gồm: điểm tài nguyên (tiềm năng), nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn và có khả
năng thu hút khách song có thể chưa đưa vào khai thác; và điểm chức năng - nơi các tài
nguyên du lịch đã được khai thác đưa vào phục vụ nhu cầu khách du lịch (tức là đã có
sức thu hút khách du lịch).
Tuy nhiên khái niệm trên vẫn để ngỏ vấn đề "quy hoạch" đối với điểm du lịch.
Trong trường hợp lãnh thổ điểm du lịch được quy hoạch thì sự khác biệt với khái niệm
"khu du lich" được xác định ngay trong Pháp lệnh Du lịch, theo đó "khu du lịch là nơi
có tài nguyên du lịch…, được quy hoạch đầu tư phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu đa
dạng của du khách…" là chưa rõ ràng. Trong thực tế cuộc sống, hai khái niệm này
thường được sử dụng một cách vô thức mà chưa có sự phân biệt rõ ràng.


27

1.1.7. Tuyến du lịch
"Tuyến du lịch là lộ trình nối các điểm du lịch, khu du lịch khác nhau" (Pháp
lệnh Du lịch, 1999).
Tuyến du lịch được xem là sản phẩm du lịch đặc biệt, là một đơn vị tổ chức
không gian du lịch được tạo bởi sự kết nối nhiều điểm du lịch khác nhau về quy mô,
chức năng, sự đa dạng của các đối tượng du lịch trên một lãnh thổ. Cơ sở tiền đề cho
việc xác định tuyến du lịch là sự phân bố trong không gian hệ thống các điểm du lịch
và hệ thống giao thông liên kết chúng. Do vậy, tuyến du lịch có thể là tuyến du lịch
đường bộ, tuyến du lịch đường thuỷ, tuyến du lịch hàng không hoặc tuyến du lịch tổng
hợp với các phân đoạn có các loại phương tiện vận chuyển khác nhau.
Tuyến du lịch có thể là tuyến du lịch tổng hợp (liên kết các điểm du lịch chức
năng khác nhau), hoặc tuyến du lịch chuyên đề (liên kết các điểm du lịch có chức năng,
sản phẩm du lịch tương đồng).
Tuyến du lịch là một khái niệm không hạn chế bởi ranh giới hành chính. Các
tuyến du lịch có thể được xây dựng phát triển trong một đơn vị hành chính (trong
trường hợp có các điểm du lịch cần thiết phân bố trọn trong đơn vị hành chính đó),

song trong nhiều trường hợp, tuyến du lịch được phát triển trên lãnh thổ xuyên ranh
giới hành chính (liên xã, liên huyện, liên tỉnh/thành phố), thậm chí xuyên quốc gia.
Trong xu thế hội nhập hợp tác cùng phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch thì các
tuyến du lịch liên vùng như vậy thường chiếm ưu thế. Điều này cũng làm tăng đáng kể
sức hấp dẫn của các tuyến du lịch.
1.2. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN VÀ NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH
1.2.1. Những điều kiện cơ bản để phát triển bền vững du lịch
Để ngành du lịch phát triển một cách bền vững cần những điều kiện sau:


28

1.2.1.1. Sự đa dạng của tài nguyên du lịch
Đối với tài nguyên thiên nhiên, gắn với nó là loại hình du lịch, đòi hỏi tính đa
dạng sinh học cao.
Đa dạng sinh học bao gồm đa dạng sinh thái, đa dạng di truyền và đa dạng loài.
Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ
thể sống và mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng
trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: đất, nước, địa hình, khí hậu… đó là các hệ sinh
thái (eco - systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc một số loài sinh vật
(theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh Rio De
Janeiro về môi trường).
Đối với tài nguyên nhân văn bao gồm những di tích lịch sử, di tích cách mạng,
những công trình văn hoá, kiến trúc… kể cả những giá trị văn hoá truyền thống cần
được giữ gìn, bảo tồn để mỗi điểm du lịch mang nét độc đáo riêng tạo sự hấp dẫn đa
dạng cho ngành du lịch.
1.2.1.2. Sự am hiểu về du lịch
Người làm công tác du lịch đặc biệt là các nhà điều hành, hướng dẫn viên du
lịch và dân địa phương phải thật am hiểu - đây cũng là một trong những nguyên tắc của

du lịch bền vững.
Sự am hiểu ở đây bao gồm hiểu về tài nguyên du lịch (các đặc điểm sinh thái tự
nhiên, văn hoá cộng đồng), tác động tiềm ẩn của hoạt động du lịch đối với tài nguyên môi trường và cả ngoại ngữ. Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả của hoạt động du lịch. Muốn vậy cần phải có chiến lược giáo dục thật hiệu quả đặc
biệt đối với cộng đồng địa phương về những kiến thức về du lịch và bảo vệ môi trường.
Vì hơn ai hết chỉ có họ mới ý thức được quyến lợi họ được hưởng và bảo vệ môi
trường du lịch chính là bảo vệ cuộc sống của chính họ. Họ cũng là những người truyền


29

đạt những kiến thức đó đến du khách hiệu quả nhất. Từ đó tất cả các lực lượng tham
gia du lịch, dân bản địa cùng nhau bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, là
điều kiện quan trọng để du lịch phát triển một cách bền vững.
Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và
không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên và môi trường.
Họ chỉ đơn giản tạo cho du khách một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và
văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi. Ngược lại, để đạt
được nền du lịch bền vững, các nhà điều hành du lịch phải có được sự cộng tác với các
nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, cộng đồng địa phương và các lực lượng bảo
vệ môi trường với mục đích bảo vệ lâu dài các giá trị tự nhiên, nhân văn, văn hoá địa
phương và môi trường; cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người
dân địa phương với du khách.
1.2.1.3. Đảm bảo về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch
Giao thông vận tải: đảm bảo nhu cầu đi lại cho du khách từ đất liền ra Côn Đảo
và ngược lại; đến các điểm du lịch.
Thông tin liên lạc: đảm bảo để du khách liên lạc với gia đình, người thân.
Điện, nước: cung cấp đầy đủ cho các hoạt du lịch và sinh hoạt cho du khách.
Cơ sở lưu trú: chất lượng và phù hợp với môi trường du lịch của địa phương.
Các dịch vụ du lịch khác: ăn, uống, mua sắm… phải đảm bảo trên tinh thần tươi

sống, an toàn vệ sinh thực phẩm, giá cả phù hợp.
1.2.1.4. Tuân thủ chặt chẽ các quy định về "sức chứa"
Nhằm hạn chế tới tới mức tối đa tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên
du lịch và môi trường, đạt đến nền du lịch bền vững, cần tổ chức với sự tuân thủ chặt
chẽ các quy định về "sức chứa". Khái niệm "sức chứa" được hiểu từ bốn khía cạnh: vật


×