Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào giảng dạy tiết 1 bài 12 công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình GDCD 10

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (118.15 KB, 18 trang )

MỤC LỤC
1
1.
1
1.
2
1.
3
1.
4
2
2.
1
2.
2
2.
3
2.
4
3

Mở đầu

Trang
2

Lý do chọn đề tài

2

Mục đích nghiên cứu



3

Đối tượng nghiên cứu

3

Phương pháp nghiên cứu

3

Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

3

Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

3

Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

5

Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

6

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Kết luận và kiến nghị

Kết luận
Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO

11
13
13
14
15

1


1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Trước tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng, không ít bộ phận học
sinh thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích kỉ, vô tâm, thiếu trách nhiệm với gia đình và
bản thân, vi phạm pháp luật, đạo đức, nạo phá thai, xâm phạm tình dục, đắm
chìm trong thế giới ảo của internet...Gây bức xúc cho nhà trường, gia đình và xã
hội. Nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu hụt về kĩ năng sống. Do vậy,
các trường phổ thông cần tăng cường hơn nữa việc giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh, với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản
thân, khả năng ứng sử phù hợp với những người xung quanh, khả năng ứng phó
tích cực trước các tình huống phức tạp, muôn hình, muôn vẻ của cuộc sống.
Nằm trong chương trình các môn học ở bậc phổ thông, bộ môn Giáo dục
công dân (GDCD) trong những năm vừa qua đã và đang nhận được sự quan tâm,
sự chỉ đạo và đánh giá đúng tầm quan trọng của bộ môn trong hệ thống giáo dục,
nhất là giáo dục tư cách, đạo đức, lối sống cho học sinh. Chính vì vậy, đội ngũ
giáo viên đã và đang nỗ lực không ngừng trong quá trình công tác nhằm nâng cao
chất lượng bộ môn, nâng cao tỷ lệ học sinh khá, giỏi. Tuy nhiên nếu như nhìn

vào điểm số thì có thể thấy kết quả của bộ môn GDCD tương đối cao, nhưng nếu
đánh giá dựa vào hành vi, thái độ của học sinh, kĩ năng vận dụng của học sinh
trong thực tiễn cuộc sống thì chưa được như mong muốn.
Câu chuyện về giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh không phải là mới,
nhưng đang là yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay. Do đó việc tiến hành tích hợp
giáo dục kĩ năng sống vào các môn học trong trường phổ thông, đặc biệt là với
môn GDCD là việc làm có tính cấp thiết hơn bao giờ hết.
Từ những lí do trên, bản thân tôi với lòng nhiệt tình và kinh nghiệm của mười
bốn năm công tác, luôn mong muốn góp một phần công sức của mình nhằm khắc
phục tình trạng trên với đề tài: "Tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào giảng dạy
tiết 1- Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình-GDCD 10”.

2


1.2. Mục đích nghiên cứu.
Nhằm cùng với đồng nghiệp đưa ra các giải pháp thiết thực góp phần trang bị
cho học sinh những kĩ năng sống để các em vững vàng hơn trước những khó
khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực, hiệu quả hơn;
làm chủ được bản thân và thành công nhiều hơn trong cuộc sống.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, tổng kết vấn đề tích hợp giáo dục kĩ năng sống qua tiết 1Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình- trong chương trình môn
Giáo dục công dân lớp 10.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, bản thân tôi đã vận dụng một số phương pháp
như: nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết từ những bài viết trên các tạp chí của
nhà xuất bản giáo dục, nhà xuất bản trẻ, các bài viết trên mạng internet..; phương
pháp khảo sát thực tế từ trường phổ thông nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy, từ các
trường phổ thông trên địa bàn và qua các tạp chí…; thu thập những thông tin
đáng tin cậy từ học sinh, đồng nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng…

2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trên thế giới hiện nay đã và đang tồn tại nhiều định nghĩa và quan niệm
khác nhau về kĩ năng sống. Mỗi định nghĩa được thể hiện dưới những cách thức
khác nhau. Thông thường, kĩ năng sống được hiểu là những kĩ năng thực hành mà
con người cần để có được sự an toàn, cuộc sống khỏe mạnh với chất lượng cao.
Theo quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), kĩ năng sống là tập hợp rất
nhiều kĩ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những
quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kĩ năng tự xử
lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả.
Từ kĩ năng sống có thể thể hiện thành những hành động cá nhân và những hành
động đó sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn đến

3


những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành
mạnh.
Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy kĩ năng sống bao gồm một loạt
các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của con người. Bản chất
của kĩ năng sống là kĩ năng tự quản lý bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá
nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, kĩ
năng sống là kĩ năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử với
người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của
cuộc sống.
Như vậy, các kĩ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức "cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị - "cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng”
thành hành động thực tế - “làm gì và làm bằng cách nào?” là tích cực nhất và
mang tính chất xây dựng.
Kĩ năng sống thường được thiết lập với một nền tảng riêng biệt, do đó mọi
người có thể hiểu và thực hành. Kĩ năng sống liên hệ mật thiết với những nội

dung giáo dục thực hành giúp chúng ta trả lời những câu hỏi như là: Chúng ta
cần làm gì để có thái độ quyết đoán? Quyết định của chúng ta liên quan đến
những điều gì?... Khái niệm kĩ năng sống được hiểu rất khác nhau. Ở một số
nước như: Trung Quốc; Singapore; Thái Lan ... đào tạo kĩ năng sống chính là để
giáo dục cách vệ sinh, dinh dưỡng, giáo dục phòng chống bệnh tật hoặc giáo dục
hòa bình ... Ở một số nước khác như: Mỹ; Anh; Pháp; Nhật ... kĩ năng sống đào
tạo tập trung vào giáo dục hành vi, giáo dục an toàn trên đường phố, hay giao dục
bảo vệ môi trường ...
Trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam nói riêng và bối cảnh
toàn cầu nói chung, càng ngày chúng ta càng nhận ra tầm quan trọng của việc học
các kĩ năng sống để ứng phó với sự thay đổi, biến động của môi trường kinh tế,
xã hội và tự nhiên. Chính vì vậy rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh được xác
định là một nội dung cơ bản của phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực" trong các trường phổ thông, giai đoạn 2008 - 2013 do
Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo, triển khai và thực hiện.
Qua nghiên cứu tài liệu và hoạt động thực tiễn của bản thân. Tôi nhận thấy:
những kĩ năng sống cơ bản cần tích hợp cho học sinh thông qua môn GDCD ở
bậc THPT như sau:
4


- Kĩ năng tự nhận thức
- Kĩ năng kiểm soát cảm xúc
- Kĩ năng ứng phó với căng thẳng
- Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ
- Kĩ năng thể hiện sự tự tin
- Kĩ năng giao tiếp
- Kĩ năng lắng nghe tích cực
- Kĩ năng thể hiện sự cảm thông
- Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn

- Kĩ năng hợp tác
- Kĩ năng tư duy phê phán
- Kĩ năng tư duy sáng tạo
- Kĩ năng ra quyết định
- Kĩ năng giải quyết vấn đề
- Kĩ năng kiên định
- Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm
- Kĩ năng đặt mục tiêu
- Kĩ năng quản lí thời gian
- Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin ...
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Giáo dục kĩ năng sống là một vấn đề không mới trong dạy học và cũng
không xa lạ trong thực tiễn cuộc sống vì nó là lĩnh vực giáo dục liên ngành. Tuy
nhiên, đặc trưng của môn GDCD là không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức
của môn học phù hợp với đặc điểm lứa tuổi mà điều quan trọng hơn là hình thành
và phát triển những kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống của học
sinh, đồng thời hình thành và phát triển cảm xúc, thái độ đúng đắn trước các vấn
đề liên quan đến nội dung bài học cho các em. Vì vậy, môn học này có khả năng
tích hợp ở nhiều mức độ khác nhau với các nội dung giáo dục kĩ năng sống cả về
kiến thức, kĩ năng, thái độ. Do đó, khi tích hợp giáo dục kĩ năng sống cần đảm
bảo nguyên tắc: không gượng ép, không làm nặng nội dung, không làm biến dạng
môn học.
Tuy nhiên, qua thực tế dự một số giờ của đồng nghiệp ở trường hiện nay
tôi nhận thấy, có nhiều giáo viên bộ môn GDCD quan niệm rằng: Tích hợp giáo
5


dục kĩ năng sống là vô hình dung làm nặng thêm nội dung kiến thức bài học, biến
dạng môn học dưới hình thức đơn điệu khô cứng. Bên cạnh đó, có một bộ phận
giáo viên dạy chéo môn, không tâm huyết với nghề, ít đọc sách, báo, ít quan tâm

đến các vấn đề chính trị xã hội, việc tự học, tự bồi dưỡng còn hạn chế, cho nên
ngại tích hợp vì cho rằng chỉ cần tập trung vào kiến thức bài học là đủ, không cần
phải tích hợp những nội dung khác.
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Để phát huy vai trò giáo dục bộ môn, giúp học sinh rèn luyện hành vi có
trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp học sinh có
khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối
quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an
toàn, hài hòa và lành mạnh. Giáo viên phải là những người có lòng nhiệt huyết,
biết lựa chọn và kết hợp tốt các phương pháp dạy học và hình thức kiểm tra đánh
giá, đẩy mạnh phong trào thi đua học tập sôi nổi, hiệu quả, động viên kịp thời học
sinh có những tiến bộ. Trên cơ sở đó tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, thực
hiện được mục tiêu giáo dục THPT.
Vì vậy, nhận thấy trong rất nhiều phương pháp nhằm phát huy vai trò giáo dục
bộ môn, tôi đã và đang sử dụng phương pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống
trong giảng dạy. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tôi chỉ xin trình bày việc
áp dụng của mình trong một tiết học của một bài học cụ thể: “Tích hợp giáo dục
kĩ năng sống vào giảng dạy tiết 1- bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và
gia đình- GDCD 10”.
Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình là một bài học có tính
thực tiễn cao, đặc biệt với lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông(THPT), kiến
thức gần gũi với các em, cung cấp cho các em một số hiểu biết cơ bản về tình
yêu, tình yêu chân chính, hôn nhân và gia đình, giúp các em hiểu được các đặc
trưng tốt đẹp, tiến bộ của chế độ hôn nhân và gia đình nước ta hiện nay, từ đó các
em biết yêu quí gia đình, sống có trách nhiệm trong tình yêu , hôn nhân và gia
đình, có khả năng nhận xét, đánh giá một số vấn đề về tình yêu, hôn nhân và gia
đình trong xã hội.
Với tiết 1, nội dung bao gồm :
Phần 1- Tình yêu
a) Tình yêu là gì ?

6


b) Thế nào là một tình yêu chân chính ?
c) Một số điều nên tránh trong tình yêu của nam nữ thanh niên.
Giáo viên dùng phương pháp thảo luận nhóm, với những câu chuyện phù
hợp, hấp dẫn, lôi cuốn sự tập trung của học sinh. Thông qua những câu chuyện,
tác động trực tiếp tới suy nghĩ, cảm xúc của người học. Qua đó giúp học sinh
hình thành kĩ năng xác định giá trị, cảm thông, chia sẻ với những người xung
quanh mình. Giúp học sinh tích cực suy nghĩ để có thể lập luận chặt chẽ, đưa ra
những ví dụ dẫn chứng, rèn luyện tính kiên định, tư duy phê phán và khả năng
giao tiếp có hiệu quả. Với những mối quan hệ trong cuộc sống như quan hệ với
bạn bè, bố, mẹ, hàng xóm ... học sinh sẽ lựa chọn cách ứng xử phù hợp với từng
đối tượng và trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Trong tiết học này tôi chỉ lựa chọn phần 1.b và 1.c để tích hợp.
Ví dụ: Khi dạy mục 1.b: Thế nào là một tình yêu chân chính? Giáo viên có
thể đưa ra các mẩu chuyện sau đây:
Mẩu chuyện 1: Trong một buổi giao lưu Lan đã gặp Dũng và qua thời gian
cô đã dành tình yêu cho Dũng - một người chiến sỹ biên phòng. Gia đình và bạn
bè chê bai Lan vì sao không yêu những chàng trai có địa vị xã hội, có học vấn, có
tiền của ... lại yêu một người lính.
Câu hỏi thảo luận:
- Trong trường hợp này, nếu là Lan em sẽ sử sự như thế nào?
- Vì sao em lại sử sự như thế ?
Mẩu chuyện 2: Đã hai tuần nay Hằng luôn giận dỗi Minh, gọi điện thoại
Hằng cũng không nghe, đến thăm, Hằng cũng không tiếp…chỉ vì hôm trước
Hằng bắt gặp Minh chở một người con gái. Hằng đâu biết rằng hôm ấy cô bạn
đồng hương nhờ Minh đưa ra bến xe để về quê có việc gấp, và Minh cũng chưa
kịp nói với Hằng…
Câu hỏi thảo luận:

- Theo em, vì sao Hằng lại sử sự như vậy với Minh ?
- Nếu em là bạn của Hằng, em sẽ khuyên bạn mình như thế nào ?
Với những mẩu chuyện này giáo viên cho các em thảo luận nhóm, sau khi
nhóm trưởng lên trình bày ,các nhóm khác sẽ nhận xét, bổ sung và đưa ra những
quan điểm khác nhau. Trên cơ sở đó giáo viên phân tích và đưa ra những kết
luận.
7


Ví dụ : Dạy phần 1.c Một số điều nên tránh trong tình yêu của nam nữ thanh
niên Đây là nội dung luôn mang tính thời sự, đặc biệt với lứa tuổi thanh niên khi
đang còn ngồi trên ghế nhà trường hiện nay.
Ý 1: Yêu đương quá sớm.
Với phần này học sinh sẽ rất sôi nổi và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau nếu
giáo viên sử dụng kết hợp một số phương pháp phù hợp.
Giáo viên có thể đặt câu hỏi:
Theo em, lứa tuổi học sinh THPT từ 15 đến 17 tuổi nên yêu chưa? Vì sao?
Các em sẽ xung phong lên bảng và đưa ra nhiều ý kiến khác nhau, kể cả
những quan điểm trái chiều. (giáo viên chuẩn bị bảng phụ và cho các em viết vào
những ô tương ứng theo quan điểm của mình,) sau đó giáo viên phân tích , tổng
hợp và hướng các em có những hiểu biết đúng đắn nhất.
VD Bảng liệt kê những quan điểm của các em (Giáo viên có thể chuẩn bị
trước)
Câu hỏi
Lựa chọn

Lứa tuổi học sinh từ 15 đến 17 nên yêu chưa? Vì sao?
Chưa nên yêu
Nên yêu


Lí do
lựa chọn
Ý 2: Yêu một lúc nhiều người, yêu để chứng tỏ khả năng chinh phục bạn khác
giới hoặc yêu đương vì mục đích vụ lợi.
Giáo viên có thể đưa ra mẩu chuyện tình huống để các em tranh luận đưa ra
những nhận xét, thể hiện quan điểm của mình về các vấn đề liên quan đến tình
yêu, từ đó các kĩ năng như tư duy phê phán, ra quyết định…cũng hình thành và
phát triển.
Ví dụ: Giáo viên có thể đưa ra một tình huống ”Tâm sự của một người đau
khổ”.
“Cách đây hơn một năm, trong một buổi tiệc liên hoan, bạn bè đã thách đố tôi,
nếu tôi tán đổ Hương( một hoa khôi của làng) thì thích gì bạn bè tôi cũng chiều
hết. Vậy là với máu sĩ diện của một thằng đàn ông, không muốn cho bạn bè coi
thường mình (và tôi cũng tự biết mình có rất nhiều thế mạnh trời phú trong chinh
8


phục phái nữ), tôi đã lên kế hoạch chinh phục nàng. Quả như dự đoán, chỉ một
thời gian ngắn trái tim nàng đã thuộc về tôi.
Tôi đã rất hãnh diện trước bạn bè và lẽ ra tôi phải là người rất hạnh phúc,
nhưng không –tôi đang rất đau khổ. Khi tôi biết rằng tôi yêu nàng da diết, nàng
chính là một phần đời của tôi…thì cũng là lúc nàng biết được tôi đến với nàng
bằng sự cá cược với bạn bè, rằng tôi đang đùa rỡn với tình yêu…nàng đã nói lời
chia tay ”.
Câu hỏi:
- Em có nhận xét gì về lời tâm sự của nhân vật trong mẩu chuyện trên?
- Từ tâm sự của nhân vật nói trên đã cho em bài học gì trong cuộc sống ?
Ý 3: Có quan hệ tình dục trước hôn nhân.
Đây là phần bài học mà học sinh thường e dè nhưng lại chú ý lắng nghe vì các
em rất quan tâm đến chủ đề này. Nắm được đặc điểm này, giáo viên nên kết hợp

những phương pháp phù hợp để các em tiếp thu một cách nhẹ nhàng từ đó các kĩ
năng và vốn sống của các em được hình thành ngày càng phong phú.
Ngoài nội dung trong sách giáo khoa, giáo viên có thể đưa ra những tình
huống, những mẩu chuyện hoặc số liệu thống kê liên quan để các em thảo luận,
đưa ra quan điểm, và cùng rút ra những kết luận đúng đắn.
Ở nội dung này trước hết giáo viên đưa ra câu hỏi để dẫn dắt học sinh sau đó
là những thông tin điển hình:
Ví dụ: Có người cho rằng: “khi đã yêu nhau thì phải hiến dâng cho nhau tất
cả”. Em có suy nghĩ gì về quan niệm đó?
Những thông tin:
- Tháng 3/2012, cô học sinh ngoan hiền ở trường THPT Diễn Châu 2 (huyện
Diễn Châu, Nghệ An) đã chuyển dạ trên lớp rồi sinh ra một bé gái.
- Nhiều giáo viên Trường THPT Ninh Giang, Hải Dương cũng không thể quên
được cái chết thương tâm của cô học sinh lớp 10 trường này cách đây 2 năm:
NTT yêu một học sinh lớp 12 cùng trường rồi có bầu. Quá hoảng sợ, T đã uống
thuốc trừ cỏ để…phá thai và phải đổi bằng cả tính mạng.
- Một nữ sinh lớp 10 ở trường THPT Diệp Minh Châu, huyện Châu Thành,
Bến Tre cũng sinh một bé trai 2,5 kg sau khi đi học thể dục về. Nữ sinh này cho
biết cha của cháu bé tên Tuấn, ở xã Thành Triệu, huyện Châu Thành. “ Khi em đi

9


học, sau giờ nghỉ tiết, Tuấn đến nhắn tin em để chở đi chơi. Em không ngờ là
mình đã có thai”, bà mẹ trẻ hồn nhiên tâm sự.
Câu hỏi:
- Em có suy nghĩ gì sau khi đọc những thông tin trên ?
- Vì sao những nữ sinh trong những ví vụ trên lại rơi vào hoàn cảnh thương
tâm như vậy ?
Những thông tin trên sẽ giúp em điều gì trong cuộc sống ?

Hoặc giáo viên có thể đặt các em vào tình huống có vấn đề các em lựa chọn
cách giải quyết:
“ Em quen một bạn trai cách đây 6 tháng. Thực sự em rất thích anh ấy. Có một
lần, anh ấy yêu cầu em quan hệ tình dục. Em không muốn điều đó vì chúng em
còn quá trẻ và mới quen biết nhau một thời gian ngắn. Nhưng anh ấy cứ khăng
khăng nói rằng điều này là rất bình thường đối với những người yêu nhau, anh ấy
muốn em thể hiện tình yêu của em đối với anh ấy như thế nào. Em thực sự không
đồng ý và chúng em đã tranh luận vấn đề này. Em sợ rằng sẽ mất người bạn trai
nếu em không đồng ý…"
Câu hỏi đặt ra:
- Điều gì có thể sảy ra nếu bạn gái đó đồng ý hoặc từ chối quan hệ tình dục
với bạn trai của mình?
Các em khuyên bạn gái đó nên làm gì?
Lời khuyên đối với người bạn trai đó là gì?
Có thể nói, việc vận dụng các phương pháp giảng dạy một cách phù hợp vào
từng phần của từng bài học cụ thể chính là chìa khóa giúp các em lĩnh hội tri thức
một cách chủ động và hào hứng nhất, đồng thời rèn luyện cho các em kĩ năng
sống nhằm thích ứng với mọi biến động phức tạp của hoàn cảnh.
Việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống là hướng đến người học, một mặt đáp
ứng nhu cầu của người học tạo ra những năng lực để đáp ứng trước những thử
thách của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân. Mặt
khác việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào bộ môn thông qua những phương
pháp hướng đến học sinh, phương pháp dạy học tương tác, cùng tham gia, đề cao
vai trò chủ động, tự giác của học sinh sẽ có những tác động tích cực đến mối
quan hệ giữa thầy, cô giáo và học sinh, giữa học sinh với học sinh. Đồng thời học
sinh sẽ cảm thấy mình được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến cuộc
10


sống của bản thân, học sinh sẽ thích thú và tích cực học tập hơn. Trên cơ sở đó

chất lượng giáo dục cũng được nâng lên.
Để việc tham gia rèn luyện kĩ năng sống của học sinh được hiệu quả, cần
hội tụ 4 yếu tố cơ bản: bản thân các em, gia đình, nhà trường và xã hội. Học sinh
cần có sự cố gắng và hợp tác với thầy, cô giáo trong quá trình học tập. Gia đình
phải thương yêu, định hướng, hỗ trợ tạo điều kiện nhưng không bắt ép các em,
cha mẹ cần dành nhiều thời gian lắng nghe con mình hơn. Gia đình động viên
giúp các em tránh xa tệ nạn xã hội, bố trí thời gian học tập, vui chơi phù hợp. Gia
đình phải là nơi xây dựng cho các em thái độ yêu thích môn học, không coi nhẹ
môn học. Chính việc làm này sẽ giúp học sinh hoàn thiện hơn về nhân cách, đạo
đức, nâng cao được chất lượng giáo dục. Với nhà trường, quan tâm đào tạo và
lồng ghép tích cực để tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện kĩ năng sống. Giáo viên
phải đến với học sinh bằng trái tim nồng ấm, chan chứa tình yêu thương và trách
nhiệm của mình. Đối với xã hội cần có những chủ trương, chính sách kịp thời để
nhà trường có điều kiện, có cơ sở đưa các nội dung giáo dục kĩ năng sống tích
hợp vào trong các môn học.
Thiết nghĩ việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống chỉ là một trong rất nhiều
các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, cần khẳng định việc tích hợp
giáo dục kĩ năng sống không phải là giải pháp vạn năng để giải quyết được tất cả
những tồn tại trên. Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần tích cực
chủ động áp dụng các biện pháp khác nhau để giúp cho học sinh hình thành các
kĩ năng sống phù hợp với các lứa tuổi. Bản thân tôi nhận thấy không chỉ môn
GDCD tích hợp giáo dục kĩ năng sống, mà các môn khác trong hệ thống giáo dục
cũng có thể làm được điều này.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Có thể nói rằng người giáo viên dạy giáo dục công dân phải là một chính
trị gia lão luyện, là người nghệ sỹ đích thực, đam mê, tâm huyết với mỗi tiết dạy,
phải lường hết và ứng xử linh hoạt, khéo léo trước mọi tình huống không có
trong “kịch bản”, phải thả hồn vào mỗi bài dạy để thắp sáng trong trái tim học trò
những rung cảm lành mạnh trước cái đẹp, cái chính nghĩa, cái cao cả của cuộc

đời, thanh lọc tâm hồn bằng thứ ánh sáng thuần khiết trong suốt như pha lê.

11


Chính sự trăn trở đã là yếu tố quan trọng quyết định thành công của giờ
dạy. Kinh nghiệm bản thân cho thấy: Sau khi tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng
sống vào trong các bài dạy thì học sinh học say sưa hơn, hứng thú cảm nhận bài,
đồng thời có nhiều em đưa ra những phát hiện, những ý tưởng, những câu trả lời
khá thú vị và sâu sắc, giúp học sinh hình thành mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè,
gia đình, người thân và mọi người, sống chủ động tích cực, tránh xa các tệ nạn xã
hội, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng, Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. Từ đó kết quả học tập và rèn luyện đạo đức cũng được nâng cao.
Là một giáo viên đã có 14 năm giảng dạy nhưng tôi thực hiện đề tài này trên
một đơn vị công tác mới, (tôi mới được thuyên chuyển về công tác tại trường
THPT Nguyễn Hoàng từ 1/12/2016) do đó việc khảo sát học sinh có nhiều hạn
chế, đặc biệt là việc so sánh chất lượng lĩnh hội và khả năng vận dụng tri thức
của học sinh qua các năm học.
Qua khảo sát tại 5 lớp tôi đã giảng dạy trong học kì 2, thu được kết quả
như sau:
Đa số học sinh tiếp thu bài giảng một cách chủ động, hào hứng, các em rất sôi
nổi tranh luận trong từng vấn đề, nhiều học sinh đã mạnh dạn đưa ra những ý
kiến trái chiều theo quan điểm của các em, nhiều vấn đề đã và đang diễn ra trong
cuộc sống cũng được các em liên hệ với bài học để rút ra những nhận xét khá thú
vị và bổ ích. Trên cơ sở những tiết học gần gũi, thiết thực với cuộc sống đã đem
đến cho các em lòng say mê khám phá, lĩnh hội tri thức để từ đó các em có kĩ
năng sống phong phú, giúp các em vững vàng trước những khó khăn, thử thách;
biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực, hiệu quả hơn; làm chủ được bản
thân và thành công nhiều hơn trong cuộc sống.


12


Kết quả cụ thể: Học kì 2- năm học 2016-2017:
Lớp

SS
HS

10A1

42

10A2

10A3

10A4

10A5

Tổng

43

42

39

41


207

Giỏi
8
(19%)
6
(14%
)
7
(16%)
5
(12%)
5
(12%)
31
(15%)

Kết quả xếp loại học lực
Khá
TB
Yếu
23
11
0
(55% (26% (0%)
)
)
22
15

0
(52% (34% (0%)
)
)
13
21
1
(31% (51% (2%)
)
)
16
16
0
(44% (44% (0%)
)
)
18
18
0
(44% (44% (0%)
)
)
92
81
3
(43% (40% (2%)
)
)

Kém

0
(0%)
0
(0%)
0
(0%)
0
(0%)
0
(0%)
0
(0%)

Kết quả xếp loại hạnh kiểm
Tốt
Khá
TB
Yếu
38
3
1
0
(92% (6%) (2%) (0%)
)
36
6
1
0
(84% (14% (2%) (0%)
)

)
33
7
2
0
(80% (16% (4%) (0%)
)
)
29
8
2
0
(75% (20% (5%) (0%)
)
)
34
6
1
0
(34% (14% (2%) (0%)
)
)
170
30
7
0
(83% (14% (3%) (0%)
)
)


3. Kết luận, kiến nghị.
- Kết luận.
Trong hệ thống các môn khoa học, môn GDCD có vai trò rất lớn trong việc
hình thành kĩ năng sống cho học sinh, thế nhưng cho tới nay việc giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh trong môn học còn bị coi nhẹ - một trong những nguyên
nhân cơ bản làm cho đạo đức, tư cách, lối sống của một bộ phận học sinh đang
xuống cấp ở mức báo động, đe doạ đến sự phát triển nhân cách của học sinh.
Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: "Tích hợp giáo dục kĩ năng
sống vào giảng dạy tiết 1- Bài 12: : Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đìnhGDCD 10”. Với những phương pháp tích hợp như trên, bước đầu đã thu được
những kết quả khả quan về chất lượng dạy và học của bộ môn, đặc biệt là góp
phần to lớn trong việc giáo dục tư cách, đạo đức, lối sống, kĩ năng sống cho học
sinh.
13


Để nâng cao được chất lượng giáo dục toàn diện cần phải tích hợp giáo dục
kĩ năng sống vào một số nội dung của chương trình GDCD. Cần phải hiểu việc
tích hợp kĩ năng sống không làm nặng nề, quá tải nội dung kiến thức, mà làm cho
học sinh sẽ hứng thú hơn với môn học, không còn cảm thấy kiến thức khô khan,
xa vời mà thiết thực, gần gũi với cuộc sống. Giúp cho học sinh cảm thấy bài học
nhẹ nhàng, bổ ích.
Giáo dục kĩ năng sống là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện
đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen
tiêu cực. Trên cơ sở đó giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ
năng thích hợp. Đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt
được các kĩ năng sống và tác động của kĩ năng sống đối với xã hội, học sinh.
Muốn nâng cao được chất lượng giáo dục bộ môn, giáo viên cần nhận thấy
rõ được thực trạng của quá trình giáo dục, đưa ra những cách thức khác nhau phù
hợp với đặc điểm của môn học, đặc điểm của từng học sinh, điều kiện của từng
lớp. Trong đó việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một trong

những việc làm cần thiết. Kĩ năng sống được coi là một khía cạnh của chất lượng
giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá kĩ
năng sống của học sinh.
Cách tích hợp như trên có thể áp dụng cho bất kỳ một bài học nào với sự thiết
kế và nghiệp vụ sư phạm của từng giáo viên, song đòi hỏi mỗi giáo viên phải có
sự đầu tư khá nhiều thời gian và công sức để thu thập tài liệu, thông tin, để lựa
chọn nội dung tích hợp cho phù hợp với bài học.
- Kiến nghị.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc hình thành kĩ năng sống, bản
thân tôi đã và đang nỗ lực học hỏi, lựa chọn phương pháp dạy học trong đó có
việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho phù hợp với đặc thù môn học, bám sát
đối tượng học sinh, rèn luyện kĩ năng và tinh thần tự giác, trung thực trong hoạt
động học tập, qua kiểm tra đánh giá phản ánh đúng năng lực của học sinh. Tôi
mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị sau:
- Cần hỗ trợ, tạo điều kiện hơn nữa về cơ sở vật chất, các phương tiện dạy học
như: máy chiếu Powet point, máy chiếu hắt, các phòng chức năng, đồ dùng dạy
học, băng đĩa, các tư liệu tham khảo ... Để tạo điều kiện cho giáo viên có thể thực

14


hiện đổi mới phương pháp và tích hợp các vấn đề chính trị xã hội vào bài dạy
môn GDCD tích cực, hiệu quả hơn.
- Quan tâm, chỉ đạo sát sao việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo
dục, kịp thời động viên, khen thưởng những giáo viên đã có những sáng tạo và
thu được kết quả tốt trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.
- Tổ chức các hội thảo nâng cao chất lượng bộ môn, qua hội thảo giáo viên có
thể trao đổi, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp trong việc thực hiện các giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
- Mở các lớp tập huấn về việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong bộ môn

GDCD.
- Tổ chức các buổi ngoại khóa với các nội dung trong chương trình, tạo sân
chơi lành mạnh cho học sinh, giúp các em phát huy hết năng lực, sở trường của
bản thân mình, tránh xa các tệ nạn xã hội.
- Có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo
dục thái độ, động cơ, mục đích học tập, lao động đúng đắn - hình thành kĩ năng
sống cho học sinh.
Trên đây là một chút kinh nghiệm nhỏ bé của bản thân tôi. Tuy đã có rất
nhiều cố gắng nhưng đề tài vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót.
Kính mong nhận được sự góp ý, bổ sung, giúp đỡ của đồng nghiệp và các cấp
lãnh đạo.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà trung, ngày 26 tháng 5 năm 2017
Người viết.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị.
Phạm Ngọc Sơn.

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO.
- Đặng Thúy Anh, Lê Minh Châu, Nguyễn Thị Thanh Mai, Trần Thị Tố
Oanh ... "Giáo dục kĩ năng sống trong môn giáo dục công dân ở Trường THPT" NXB giáo dục, 2010.
- Mai Văn Bính "Giáo dục công dân 10" - NXB giáo dục, 2007.
- Mai Văn Bính "Giáo dục công dân 10" sách giáo viên - NXB giáo dục,
2006.
- Lê Văn Chiến "Tài liệu tập huấn về kĩ năng sống cho trẻ em" - NXB trẻ,
2006.
- Lê Văn Chiến "Kĩ năng sống dành cho bạn trẻ" - NXB trẻ, 2006.

- Hồ Thanh Diện "Thiết kế bài giảng giáo dục công dân 10" - NXB Hà
Nội, 2006.
- Hồ Thanh Diện "Câu hỏi luyện tập giáo dục công dân 10" - NXB giáo
dục, 2006.
- Đinh Văn Đức "Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn giáo dục
công dân" - NXB Đại học sư phạm, 2010.
- Vũ Hồng Tiến "Tình huống giáo dục công dân 10" - NXB giáo dục,
2008.
- Diane TillMan "Những giá trị sống cho Tuổi trẻ" - NXB TP. HCM, 2000.
- Larry King "Những bí quyết giao tiếp tốt" - NXB TP. HCM, 2008.
- Fileserve "Tài liệu tập huấn về kĩ năng sống của Unicef" - NXB TP.
HCM, 2004.
- Website: www.tailieu.vn - www.ketnoisunghiep.vn - www.kynang.edu.vn www.hieuhoc.com - www.kynangmem.com –o

16


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT NGUYỄN HOÀNG
----------------------------------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
VÀO GIẢNG DẠY TIẾT 1- BÀI 12: CÔNG DÂN VỚI
TÌNH YÊU, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH- GDCD 10

Người thực hiện: Phạm Ngọc Sơn
Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc môn : GDCD

17


THANH HÓA NĂM 2017

18



×