VIỆN HÀN LÂM
KHOA HOC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HOÀNG ĐOÁN
CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 60.38.01.02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Võ Khánh Vinh
Phản biện 1: .....PGS.TS. Vũ Thư............................
......(Học viện Khoa học xã hội)..………
Phản biện 2: ……TS. Phạm Quang Huy....…………
…Học Viện Hành Chính Quốc Gia..…
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học xã hội ..... giờ ...... ngày 10 tháng 10 năm
2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết hiện nay Cơ quan THADS thuộc BTP quản
lý và là một trong những cơ quan độc lập trong hệ thống các cơ quan tư
pháp của BMNN của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Vì
trong tiến trình xây dựng NN pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về lĩnh vực tổ
chức, hoạt động của NN, Đảng đã chủ trương phải thực hiện đồng bộ ba
cuộc cải cách: Cải cách tư pháp, cải cách PL, cải cách hành chính.
Vậy thi hành án dân sự là gì? Đây là một trong những hoạt động
quan trọng của NN trong việc đưa các bản án, quyết định của cơ quan có
thẩm quyền ra thi hành trên thực tế.
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác THADS, Đảng và NN ta
đã đề ra mục tiêu phải: "... Xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của toà
án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi
phạm bị xử lý theo phán quyết của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành".
Công tác THADS ở tỉnh Cà Mau đã đạt được những kết quả đáng ghi
nhận: Nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng lâu năm đã được tổ chức thi hành
dứt điểm; một số án lớn, tính chất phức tạp, ảnh hưởng lớn về kinh tế, trật
tự an toàn xã hội cũng đã được chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo.
Đây cũng là những vấn đề bức xúc, rất cấp thiết đặt ra đối với công tác
THADS ở tỉnh Cà Mau trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi cần phải tiếp tục
nâng cao việc áp dụng pháp luật về THADS nói chung và công tác
CCTHADS nói riêng mới mong đảm bảo cho các quyết định, bản án của
Toà án có hiệu lực pháp luật được thi hành trong thực tế ở tỉnh Cà Mau là
vấn đề trở nên cấp bách.
1
Với tất cả những ý nghĩa đã nêu ở trên, việc chọn đề tài “Cưỡng chế
trong thi hành án dân sự từ thực tiễn Thi hành án dân sự ở tỉnh Cà
Mau” làm Luận văn Thạc sĩ Luật học là cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý
luận cũng như thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- Đề tài khoa học cấp NN độc lập 2000-58-198 do Bộ TTP chủ
trì: “Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức hoạt động
THA ở Việt Nam trong giai đoạn mới” [35].
- Đề tài cấp NN thực hiện: “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và
hoạt động THA ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do BTP chủ trì, 2009
- Đề tài: “THADS, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án
VIE/98/001” do BTP chủ trì thực hiện dự án, năm 2009 [38].
Để nghiên cứu và thực hiện đề tài “Cưỡng chế trong thi hành
án dân sự từ thực tiễn Thi hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau” Tôi đã tham
khảo, kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học
đã được công bố trên đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là tìm ra các luận cứ khoa học và thực tiễn
cho việc phát huy kết quả đã đạt được cũng như khắc phục những yếu
kém, hạn chế đang còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả THADS ở tỉnh Cà Mau hiện nay nói chung và nâng cao hiệu quả
công tác CCTHADS nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
- Phân tích cơ sở lý luận về THADS, làm sáng tỏ về pháp luật
THADS, phân tích những kết quả đạt được, điểm yếu kém, hạn chế trong
thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác THADS;
- Xây dựng những quan điểm, giải pháp có tính lâu dài, thường
xuyên liên tục để đảm bảo cho việc nâng cao hiệu quả công tác THADS,
CCTHADS được đúng quy định pháp luật, đồng bộ, thống nhất trong toàn
hệ thống các cơ quan THADS ở tỉnh Cà Mau.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và
thực tiễn áp dụng các BPCC trong THADS ở tỉnh Cà Mau.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Từ thực tiễn áp dụng BPCC trong THADS ở tỉnh Cà Mau, luận
văn nghiên cứu một cách tổng quát có hệ thống chế định CCTHADS hiện
hành. Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn việc CCTHADS của
Cục THADS tỉnh Cà Mau khi thực hiện công tác thi hành án dân sự trong
05 năm (2012-2017) và những văn bản quy phạm pháp luật về THADS
nói chung và CCTHADS nói riêng trong khoảng thời gian từ năm 1993
đến năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác
- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về NN và PL và những quan điểm của
Đảng và NN ta về công tác THADS, về chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020 và những nghiên cứu có liên quan đến áp dụng pháp luật trong
công tác CCTHADS.
3
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin, chủ yếu sử dụng các phương pháp kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể, so sánh, thống hóa,
logic, thống kê kết hợp với khảo sát thực tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của quá
`
trình hình thành và phát triển của công tác THADS nói chung và cưỡng
chế trong THADS nói riêng trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ năm
1946 đến nay.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề
xuất phương hướng và giải pháp đảm bảo tuân thủ pháp luật.
7. Cơ cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 10 tiết.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về cưỡng chế
trong thi hành án dân sự
Chương 2: Thực trạng cưỡng chế trong thi hành án dân sự ở tỉnh
Cà Mau
Chương 3: Quan diểm và giải pháp nâng cao chất lượng cưỡng
chế trong thi hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc của cưỡng
chế trong thi hành án dân sự
1.1.1 Khái niệm cưỡng chế trong thi hành án dân sự theo
pháp luật Việt Nam
Biện pháp cưỡng chế là biện pháp THADS dùng quyền lực
NN cưỡng bức bắt buộc của cơ quan THA do CHV quyết định theo
thẩm quyền nhằm buộc người phải THA phải thực hiện những hành
vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án, được
áp dụng trong trường hợp người phải THA có điều kiện THA mà
không tự nguyện THA trong thời hạn do CHV ấn định hoặc trường
hợp cần ngăn chặn người phải THA tẩu tán, hủy hoại tài sản.”
1.1.2. Đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự
1.1.2.1. Cưỡng chế thi hành án là quyền năng đặc biệt của
Nhà nước
Chỉ có cơ quan chức năng của NN, người có thẩm quyền
được NN giao mới được phép áp dụng các BPCCTHA và việc áp
dụng BPCC phải theo quy định của pháp luật, ví dụ: Theo quy định
của BLTTHS Việt Nam thì cơ quan công an, tổ chức trong quân đội
mới có quyền THA phạt tù; Còn theo quy định của LTHADS năm
2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì chỉ có CHV mới được quyền ra
quyết định áp dụng BPCCTHADS...
1.1.2.2. Cưỡng chế là một nguyên tắc cơ bản trong thi hành
án dân sự
5
1.1.2.3. Đối tượng cững chế thi hành án dân sự là tài sản
hoặc hành vi của người phải thi hành án
1.1.2.4. Người phải thi hành án phải chịu mọi chi phí về
cưỡng chế
1.1.2.5. Hiệu lực của quyết định cưỡng chế
Quyết định cưỡng chế không chỉ có giá trị bắt buộc đới với
người phải THA, mà tất cả những tổ chức, cá nhân có liên quan đều
phải tôn trọng và thực hiện. Nói một cách khác, ngoài bản thân người
phải THA phải thực hiện quyết định cưỡng chế của CHV, thì những tổ
chức, cá nhân có liên quan đều phải thực hiện.
1.1.3. Các nguyên tắc của các biện pháp cưỡng chế thi
hành án dân sự
1.1.3.1. Chỉ người có thẩm quyền thi hành án mới có quyền
áp dụng biện pháp thi hành án dân sự và chỉ được áp dụng một
trong các biện pháp cưỡng chế trong luật thi hành án dân sự
Theo PL hiện hành thì chỉ có cơ quan THADS và Văn phòng
TPL mới được NN trao cho quyền tổ chức thi hành các bản án, quyết
định có hiệu lực PL của cơ quan có thẩm quyền và chỉ người có thẩm
quyền THA mới có quyền quyết định BPCC.
1.1.3.2. Chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân
sự khi hết thời gian tự nguyện thi hành trừ trường hợp áp dụng cưỡng
chế ngay
Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của LTHADS
năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), người phải THA có điều
kiện THA mà không tự nguyện THA thì bị cưỡng chế.
1.1.3.3. Không được cưỡng chế thi hành án trong thời gian
mà pháp luật quy định không được cưỡng chế thi hành án
6
Xuất phát từ mục đích nhân đạo đối với người phải THA, PL
quy định không tổ chức CCTHA trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ
sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp
luật và các trường hợp đặc biệt như 15 ngày trước và sau tết nguyên
đán, các ngày truyền thống của các đối tượng chính sách.
1.1.3.4. Chủ thể có thẩm quyền có thể áp dụng một hoặc
nhiềucác biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Việc áp dụng BPCCTHADS phải tương ứng với nghĩa vụ
của người phải THA và các chi phí cần thiết. Trường hợp người phải
THA chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ
phải THA mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân
chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì người có thẩm quyền
THA vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, BPCC để THA.
1.1.4. Vai trò của cưỡng chế trong thi hành án dân sự
Các BPCCTHA là chế tài độc lập nhằm bảo đảm việc thi
hành nghĩa vụ của người phải THA. Một người không thực hiện
nghĩa vụ THA ngoài khả năng bị CCTHA còn có thể bị các cơ quan
có thẩm quyền chế tài bằng nhiều biện pháp.
1.2. Nội dung của cưỡng chế trong thi hành án dân sự
1.2.1. Nội dung của cưỡng chế trong thi hành án dân sự
theo Luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay
1.2.2. Căn cứ cưỡng chế thi hành án
a) Bản án, quyết định: Đây là những bản án, quyết định được
thi hành theo thủ tục THADS, gồm có: Bản án, quyết định dân sự,
hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,
xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án,
7
quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính
của Toà án.
b) Quyết định thi hành án: Là quyết định do Thủ trưởng cơ
quan THA ban hành, đó có thể là quyết định THA được ban hành
theo thủ tục chủ động ra quyết định THA án hoặc quyết định THA
được ban hành theo thủ tục THA theo đơn yêu cầu.
c) Quyết định cưỡng chế thi hành án: Là quyết định do CHV
ban hành.
1.2.3. Biện pháp cưỡng chế thi hành án
Các BPCCTHA theo Điều 71 LTHADS năm 2008 (sửa đổi,
bổ sung năm 2014), gồm có sáu biện pháp cưỡng chế sau đây:
1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá
của người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản
đang do người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện
công việc nhất định [66,68].
1.2.4. Kế hoạch cưỡng chế thi hành án
Điều 72 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)
quy định: Kế hoạch CCTHA bao gồm các nội dung chính sau đây:
BPCC cần áp dụng; Thời gian, địa điểm cưỡng chế; Phương án tiến
hành cưỡng chế;
1.2.5. Chi phí cưỡng chế thi hành án
8
Chi phí CCTHA được xác định là các khoản chi phí do
người phải THA chịu để tổ chức CCTHA, trừ trường hợp pháp luật
quy định chi phí CCTHA do người được THA hoặc do ngân sách
NN chi trả. Đối tượng chịu chi phí CCTHA theo quy định tại Điều
73 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) .
1.2.6. Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp
Khi cưỡng chế đối với tài sản của người phải THA mà có
tranh chấp với người khác thì CHV tiến hành cưỡng chế và yêu cầu
đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ
quan có thẩm quyền giải quyết. CHV xử lý tài sản đã kê biên theo
quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền.
1.3. Cơ sở pháp luật về cưỡng chế trong thi hành án dân
sự
1.3.1. Cơ sở lý luận
Thứ nhất, từ yêu cầu của việc áp dụng kết hợp giữa biện
pháp tự nguyện THADS và biện pháp bảo đảm THADS.
Thứ hai, từ yêu cầu của việc đa dạng hóa biện pháp tổ chức
THADS và sự khác nhau giữa biện pháp tự nguyện THADS và biện
pháp bảo đảm THADS.
1.3.2. Cơ sở thực tiễn
Qua thực tiễn công tác THADS, chúng ta thấy khi người
phải THA không tự nguyện THA thì sẽ bị CHV áp dụng biện pháp
đảm THADS với một số biện pháp như phong tỏa tài sản; tạm giữ tài
sản, giấy tờ của đương sự và tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch,
thay đổi hiện trạng về tài sản.
1.3.3. Các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự
theo pháp luật Việt Nam hiện hành
9
1.3.3.1. Cưỡng chế thi hành đối với tài sản là tiền
Khấu trừ tiền trong tài khoản. Trừ vào thu nhập của người
phải thi hành án. Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải
thi hành án. Thu tiền của người phải thi hành án đang giữ. Thu tiền
của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
1.3.3.2. Cưỡng chế đối với tài sản là giấy tờ có giá
Khi phát hiện người phải THA hoặc cơ quan, tổ chức, cá
nhân đang giữ giấy tờ có giá của người phải THA thì CHV ra quyết
định thu giữ giấy tờ đó để THA. Người phải THA hoặc cơ quan, tổ
chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của người phải THA phải chuyển
giao giấy tờ đó cho cơ quan THADS theo quy định của PL.
1.3.3.3 Cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ
CHV ra quyết định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở
hữu của người phải THA. Nếu người phải THA là chủ sở hữu quyền sở
hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.
Định giá và bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ
1.3.3.4. Cưỡng chế đối với tài sản là vật
Kê biên tài sản
Tài sản không được kê biên
a) Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài
sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân
sách NN cấp cho cơ quan, tổ chức.b) Tài sản sau đây của người phải
THA là cá nhân: c) Tài sản sau đây của người phải THA là doanh
nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
Thực hiện việc kê biên. Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất,
tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm.
10
Kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp. Kê biên tài sản của
người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ. Kê biên vốn góp.
Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói. Kê biên tài sản gắn liền với đất. Kê
biên nhà ở
Kê biên phương tiện giao thông. Kê biên hoa lợi
b) Định giá tài sản kê biên
- Đương sự không thoả thuận được về giá và không thoả
thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá.
- Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc
ký hợp đồng dịch vụ.
- Thi hành phần bản án, quyết định thuộc diện chủ động thi
hành án quy định tại khoản 2 Điều 36 của LTHADS năm 2008 (sửa
đổi, bổ sung năm 2014).
c) Giao tài sản để thi hành án
Trường hợp đương sự thoả thuận để người được THA nhận
tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được THA thì CHV lập biên bản
về việc thoả thuận đó.
d) Cưỡng chế khai thác đối với tài sản
- Cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành án
- Hình thức cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án
- Chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản
1.3.3.5. Cưỡng chế đối với tài sản là quyền sử dụng đất
- Quyền sử dụng đất được kê biên, bán đấu giá để thi hành án
- Kê biên quyền sử dụng đất
- Tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng diện tích đất đã kê biên
a) Diện tích, loại đất, vị trí, số thửa đất, số bản đồ;b) Hiện trạng sử
dụng đất;c) Thời hạn tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất;
11
d) Quyền và nghĩa vụ cụ thể của người được tạm giao quản lý, khai
thác, sử dụng đất.
- Xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên
a) Trường hợp tài sản gắn liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của
người khác thì xử lý như sau:
b) Trường hợp tài sản thuộc sở hữu của người phải THA gắn liền với
quyền sử dụng đất đã kê biên thì CHV xử lý tài sản cùng với quyền
sử dụng đất.
c) Đối với tài sản là cây trồng, vật nuôi ngắn ngày chưa đến mùa thu
hoạch hoặc tài sản đang trong quy trình sản xuất khép kín chưa kết
thúc thì sau khi kê biên, Chấp hành viên chỉ tiến hành xử lý khi đến
mùa thu hoạch hoặc khi kết thúc quy trình sản xuất khép kín.
1.3.3.6. Cưỡng chế trả vật, giấy tờ, chuyển quyền sử dụng
đất
- Thủ tục cưỡng chế trả vật; Cưỡng chế trả nhà, giao nhà; Cưỡng
chế trả giấy tờ; Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
1.3.3.7. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không
được thực hiện công việc nhất định
- Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định
a) Trường hợp công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thay thì
CHV giao cho người có điều kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người
phải THA chịu.
b) Trường hợp công việc đó phải do chính người phải THA thực hiện thì
CHV đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu TNHS về tội không chấp
hành án.
- Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc
nhất định
12
- Cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao
nuôi dưỡng theo bản án, quyết định
- Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng (tác động) đến cưỡng chế trong thi
hành án dân sự
1.4.1. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trong thời gian qua, nhiều bản án, quyết định không thi hành
được trên thực tế hoặc thi hành trong thời gian quá dài đã làm giảm lòng
tin trong nhân dân đối với PL của NN, tác động tiêu cực đến chính trị,
kinh tế, trật tự xã hội trong bối cảnh chúng ta đang xây dựng NN pháp
quyền XHCN, hội nhập kinh tế, quốc tế.
1.4.2. Hệ thống pháp luật của Nhà nước điều chỉnh biện pháp
cưỡng chế trong thi hành án dân sự
Để BPCC trong THADS ở nước ta được triển khai có hiệu quả
trong thời gian tới đòi hòi sự thống nhất giữa LTHADS năm 2008 (sửa
đổi, bổ sung năm 2014) với ngành Luật khác đã được thông qua (và dự
kiến sắp tới được thông qua).
1.4.3. Chất lượng xét xử trong giai đoạn xét xử
Biện pháp cưỡng chế trong THADS có căn nguyên từ việc THA,
quyết định của Tòa án, trọng tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Trên
thực tế, hệ thống cơ quan THADS chủ yếu thi hành những bản án, quyết
định của Tòa án.
1.4.4. Trình tự thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế trong
THADS ở Việt Nam hiện nay còn rườm rà, chưa chặt chẽ và chưa bảo
đảm yếu tố hiệu quả
13
- Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) không có
quy định cụ thể về thời gian nào phải ra quyết định cưỡng chế kê biên tài
sản, trừ trường hợp CHV đã áp dụng biện pháp bảo đảm THA trước đó.
1.4.5. Cơ chế xử lý vi phạm pháp luật, kiểm sát về bán đấu giá
tài sản thi hành án dân sự
“1. Người phải thi hành án cố ý không chấp hành bản án, quyết định;
không tự nguyện thi hành các quyết định về thi hành án thì tùy theo tính
chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện các quyết định về thi hành
án thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành
chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường; nếu là cá nhân thì còn có thể
bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.
1.4.6. Trình độ, đạo đức nghề nghiệp của các chủ thể có thẩm
quyền xử lý tài sản thi hành án dân sự
Trong hoạt động tư pháp, trình độ, đạo đức nghề nghiệp của
các chức danh tư pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, bảo vệ pháp chế XHCN,
xây dựng NN pháp quyền XHCN. Trong thời gian vừa qua, trình độ,
điều kiện, tiêu chuẩn của các TP, CHV, đấu giá viên ở Việt Nam đã
được nâng lên một cách đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu
cầu thực tiễn công việc.
14
Chương 2
THỰC TRẠNG CƯỠNG CHẾ TRONG
THI HÀNH ÁN DÂN DỰỞ TỈNH CÀ MAU
2.1. Khái quát về Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau
2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của các
cơ quan thi hành án dân sự Việt Nam trước năm 1993
2.1.1.1 Giai đoạn từ tháng tám 1945 đến năm 1989.
2.1.1.2. Giai đoạn từ 1990 đến 1993
2.1.2. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của
các cơ quan Thi hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau
Như chúng ta đã biết trong lịch sử hình thành và phát triển
của tỉnh Cà Mau với rất nhiều lần được Đảng và NN sáp nhập và
chia tách, mà cụ thể lần gần nhất là vào ngày 06/11/1996, tại Kỳ họp
thứ 10, Quốc hội khóa IX đã phê chuẩn việc tách tỉnh Minh Hải ra
làm 02 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu, kể từ đó đến nay tỉnh Cà Mau bắt
đầu đi vào ổn định tổ chức về tất cả mọi mặt kinh tế, an ninh, chính trị,
xã hội.
2.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Cơ quanTHADS
tỉnh Cà Mau
Ở cấp tỉnh: THADS tỉnh Cà Mau nâng thành Cục THADS
tỉnh Cà Mau trực thuộc Tổng Cục THADS có các nhiệm vụ, quyền
hạn:
- Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định tại
khoản 2 Điều 35 của LTHADS năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm
2014).
15
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS thuộc thẩm quyền;
- Báo cáo công tác THADS trước HĐND cùng cấp khi có yêu cầu.
Ở cấp huyện: THADS huyện nâng thành Chi cục THADS và có các
nhiệm vụ quyền hạn sau:
- Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại
khoản 1 Điều 35 LTHADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS thuộc thẩm quyền;
- Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ THADS;
- Giúp ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện trách nhiệm, quyền hạn
theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 174 của LTHADS.
- Báo cáo công tác THADS trước Hội đồng nhân dân cùng cấp khi có yêu
cầu.
2.1.2.2. Ví trí, chức năng, cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất của các
cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau
Về biên chế cán bộ: Tính đến tháng 7/2017, ngành THADS tỉnh Cà Mau
được phân bổ 140 biên chế công chức, trong đó Cục THADS tỉnh được
27 biên chế công chức.
2.2. Tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự ở tỉnh
Cà Mau
Hầu hết các vụ cưỡng chế đều là các trường hợp thi hành các bản
án có giá trị tài sản lớn, tính chất phức tạp và tập trung ở thành phố Cà
Mau. Do tính chất phức tạp của các vụ án, nên khi tổ chức cưỡng chế, cơ
quan THA phải yêu cầu lực lượng hỗ trợ rất lớn kể cả phương tiện đặc
chủng như xe cứu thương, cứu hoả.
16
2.3. Kết quả cưỡng chế trong thi hành án dân sự ở tỉnh Cà
Mau
2.3.1 Số lượng việc cưỡng chế trong THADS từ 2012-2017
- 37 vụ cưỡng chế hoàn thành đã thực hiện xong các trình tự thủ
tục THA và thanh toán tiền theo quy định của pháp luật, trong đó có 5 vụ
sau khi ban hành quyết định cưỡng chế thì người phải THA đã đến cơ
quan THA thực hiện việc THA trước khi tổ chức lực lượng cưỡng chế.
2.3.2. Kết quả thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo quy
định tại Điều 71 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014)
2.3.2.1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý, giấy tờ có giá của
người phải thi hành án
Điều 76 Luật THADS quy định:
“1- Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người
phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành
án và chi phí cưỡng chế
2- Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản
của người phải thi hành án, cơ quan tổ chức đang quản lý tài khoản phải
khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự
hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ”.
2.3.2.2. Trừ vào thu nhập của người phải THA
2.3.2.3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án kể cả tài sản
đang do người thứ ba giữ
2.3.2.4. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ
2.3.4.5. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực
hiện công việc nhất định
17
2.3.3. Đánh giá kết quả công tác cưỡng chế THADS; những
tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Nhận xét, đánh giá
Những tồn tại, hạn chế
Đối với những việc đã áp dụng BPCC thì thời gian giải quyết cũng
kéo dài, số việc cưỡng chế hoàn thành trên số việc áp dụng BPCC chỉ đạt
38%.
2.4. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót của cưỡng
chế trong thi hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau
2.4.1. Nguyên nhân khách quan
Trong quá trình THADS, BPCC có liên quan trực tiếp đến quyền
và lợi ích thiết thựccủa các bên đương sự nên khi THA thì người có thẩm
quyền THA thường vấp phải sự chống đối quyết liệt của người phải THA.
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác THADS
có trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ trong
tình hình mới.
Thứ hai, nhiều trường hợp người có thẩm quyền THA chưa thật
sự tích cực, quyết liệt, đối với những vụ việc phức tạp khó khăn, ngại khó,
ngại va chạm.
Thứ ba, vẫn còn trường hợp CHV vòi vĩnh, sách nhiễu đương sự,
gây cản trở hoạt động THA, làm xói mòn lòng tin nhân dân vào PL.
2.4.3. Những bất cập đến từ quy định của pháp luật
2.4.3.1. Thiếu cơ sở pháp lý
Như đã đề cập ở phần khó khăn khi kê biên, xử lý tài sản của
người phải THA, thì kê biên tài sản của người phải THA đã bán, chuyển
18
đổi, chuyển nhượng, tặng cho người thứ ba kể từ khi có bản án của Tòa
án, quyết định gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu cơ sở
pháp lý cho người có thẩm quyền THA hủy bỏ giao dịch hợp pháp.
2.4.3.2. Mâu thuẫn giữa THA và pháp luật đất đai
Với quy định:“Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không thuộc
trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai chỉ được thực
hiện khi có bản án hoặc quyết định của TAND đã được thi hành” tại
khoản 6 Điều 87 Nghị định số: 43/2013/NĐ-CP thì người có thẩm quyền
THA yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ
đó và cấp giấy tờ mới cho nguyên đơn để giải quyết việc THA theo yêu
cầu của người được THA là không có tác dụng, việc cưỡng chế buộc
chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ gần như không đạt
được mục đích.
19
Chương 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Ở TỈNH CÀ MAU
3.1. Quan điểm, yêu cầu của việc nâng cao chất lượng cưỡng
chế thi hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau
3.1.1. Quan điểm, yêu của Đảng và Nhà nước đối với công tác
Thi hành hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác THADS trên địa bàn
tỉnh Cà Mau, Ngày 20/10/2015 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cà Mau đã ban
hành Công văn số 20-CV/TU về việc tăng lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu
quả công tác THADS trên địa bàn tỉnh.
3.1.2. Quan điểm, yêu cầu của việc nâng cao chất lượng cưỡng
chế trong thi hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau
3.1.2.1. Bảo đảm thực hiện cưỡng chế trong thi hành án dân sự
phải gắn với mục tiêu, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp
Bảo đảm thực hiện BPCCTHADS một cách hiệu quả là nhằm
nâng cao chất lượng hoạt động THADS, đáp ứng yêu cầu xây dựng NN
pháp quyền XHCN Việt Nam. Việc bảo đảm hiệu quả BPCC trong
THADS, đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phải gắn liền với
mục tiêu, quan điểm của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp.
3.1.2.2. Thực hiện biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân
sự ở tỉnh Cà Mau phải bảo đảm đúng pháp luật
Thực hiện tinh thần Điều 106 Hiến pháp 2013 [67] đòi hỏi quan
điểm thực hiện pháp luật về THADS nói chung và thực hiện BPCC nói
20
riêng phải luôn luôn tuân thủ đúng PL, đó chính là nguyên tắc xuyên suốt
trong tất các các hình thức, hành vi của chủ thể thực hiện PL.
3.1.2.3. Bảo đảm pháp luật cưỡng chế trong thi hành án dân sự
phải tập trung vào khâu đột phá là nâng cao chất lượng đội ngũ Chấp
hành viên
Có năng lực, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công việc
mà mình đảm nhiệm.
Tận tâm, mẫn cán với công việc, thể hiện trách nhiệm và đạo đức
công vụ trong khi thực hiện công việc được giao. Có tinh thần hợp tác,
giúp đỡ đồng nghiệp.
3.1.2.4. Thực hiện pháp luật về cưỡng chế trong thi hành án dân
sự ở tỉnh Cà Mauphải bảo đảm quyền và lợi ích hợp của các bên liên
quan, bảo đảm ổn định, trật tự an ninh xã hội và phục vụ nhiệm vụ chính
trị địa phương
Để nguyên tắc này được thực hiện đòi hỏi phải có một hệ thống
PL về cưỡng chế trong THADS hoàn chỉnh; cơ chế thi hành phù hợp; tinh
thần trách nhiệm cao của các tổ chức, cá nhân có liên quan; ý thức chấp
hành, tôn trọng PL của các đương sự và các điều kiện kinh tế - xã hội…
của các cơ quan hữu quan.
3.2. Những giải pháp nâng cao chất lượng cưỡng chế trong
thi hành án dân sự ở tỉnh Cà Mau
Từ những nghiên cứu về mặt lý luận và chỉ ra những bất cập
trong việc áp dụng BPCC trong THADS sự theo quy định của LTHADS
năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Đồng thời để các quy định về
BPCC trong THADS được người có thẩm quyền THA áp dụng trong
21
thực tế được triệt để, góp phần tổ chức THADS đạt hiệu quả, Học viên
xin đề xuất một số giải pháp như sau:
3.2.1 Về cơ chế quản lý công tác THADS
Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh những trường hợp cán bộ,
công chức trong ngành vi phạm PL, đặc biệt là các vu ̣việc liên quan đến
tham nhũng, sách nhiễu đương sự.
3.2.2 Về xây dựng pháp luật
Trong thời gian vừa qua mặc dù LTHADS năm 2008 (sửa đổi,
bổ sung năm 2014) và Nghị định số 62 năm 2015 đã hướng dẫn chi tiết về
công tác cưỡng chế trong THA.
3.2.3 Một số ý kiến khác
Tăng cường công tác giáo dục thuyết phục, kiên quyết áp dụng
BPCC khi giáo dục, thuyết phục không hiệu quả; Tăng cường công tác
tuyên truyền trước, trong và sau khi cưỡng chế để tranh thủ sự ủng hộ của
nhân dân kết hợp với giáo dục, nâng cao nhận thức pháp luật về THADS
của các đối tượng phải THA khác.
22
KẾT LUẬN
Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật có thi hành
một cách nghiêm chỉnh hay không, pháp chế XHCN có được đảm bảo
hay không, quyền lợi của NN, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của
các cá nhân tổ chức có được bảo vệ hay không, phụ thuộc nhiều vào kết
quả của việc THA.
Thuyết phục để các bên tự nguyện THA là nhiệm vụ của CHV,
của Cơ quan THADS và các cơ quan ban ngành liên quan trong quá trình
tổ chức THA.
Cưỡng chế thi hành án là biện pháp nghiêm khắc nhất mà CHV
và cơ quan THA áp dụng khi thực thi các bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực PL. Đó cũng chính là việc CHV và Cơ quan THA sử dụng
quyền lực NN bắt buộc đương sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình nhằm
đảm bảo pháp chế XHCN, đảm bảo tính nghiêm minh của PL, đảm bảo
bản án, quyết định của Tòa án được thi hành kịp thời nghiêm chỉnh, đúng
PL bảo về quyền lợi của NN; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ
chức, cá nhân.
Hiện nay, chúng ta đang xây dựng NN pháp quyền XHCN, đòi
hỏi sự tôn trọng PL từ mọi chủ thể, ngược lại quyền và lợi ích của mọi cá
nhân, tổ chức cần phải được bảo vệ tối đa bằng PL. Khi quyền và lợi ích
hợp pháp của mình bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền gửi đơn đến Tòa
án để yêu cầu giải quyết, hoạt động xét xử phải kịp thời, nghiêm minh,
đúng PL. Đồng thời, các phán quyết của Tòa án phải được thi hành
nghiêm chỉnh, triệt để, kịp thời mới bảo vệ được quyền và lợi ích hợp
pháp của các đương sự. Công tác THADS nói chung và các BPCC trong
23