Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

TIỂU LUẬN GIÁO dục học PHƯƠNG HƯỚNG đổi mới PHƯƠNG PHÁP dạy học TRONG các TRƯỜNG đại học HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (146.25 KB, 25 trang )

PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY.
Phương pháp là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong mọi lĩnh vực
hoạt động của con người, từ giản đơn cho đến những hoạt động phức tạp, khó khăn.
Thực tiễn đã cho thấy, có những hoạt động không đạt được chất lượng, hiệu quả,
thậm chí thất bại không phải vì không có mục tiêu phương hướng rõ ràng mà chủ
yếu vì thiếu phương pháp thích hợp. Hoạt động càng khó khăn, phức tạp thì càng
đòi hỏi phải có phương pháp thích hợp mới đem lại chất lượng hiệu quả cao.
Quá trình dạy học trong các nhà trường đại học quân sự là quá trình chuẩn bị
con người cho một hoạt động đặc thù - hoạt động quân sự, là một hoạt động mang
tính chất khó khăn, phức tạp. Vì vậy, việc xác định, lựa chọn, sử dụng phương pháp
dạy học một cách đúng đắn, phù hợp là một vấn đề rất quan trọng và tối cần thiết.
Từ xa xưa trong lịch sử giáo dục vấn đề phương pháp dạy học đã là một
mối quan tâm lớn. Nhờ đó, ngày nay đã xuất hiện và phát triển lý luận dạy học
đại học, trong đó lý thuyết về phương pháp dạy học đại học tồn tại như một bộ
phận hữu cơ của bộ phận lý luận đó. Tuy nhiên, lý luận dạy học ở đại học quân
sự chưa được quan tâm xây dựng và phát triển nhiều.
Ở Việt nam, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu phương pháp dạy
học trong các nhà trường quân sự đã được quan tâm đầu tư, tạo được những
chuyển biến lớn trong nhận thức quan niệm về phương pháp dạy học cũng như
việc lựa chọn sử dụng chúng ngày càng có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, ở các nhà
trường đại học quân sự hiện nay phương pháp dạy học còn tồn tại những hạn
chế, bất cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Trước sự phát triển của xã
hội, của quân đội và nhà trường quân đội trong thời kỳ mới, trước yêu cầu
nhiệm vụ mới đặt ra cho quá trình giáo dục đào tạo của các nhà trường quân đội,
việc đổi mới phương pháp dạy học đang đặt ra những đòi hỏi cấp thiết. Nghiên


cứu đổi mới phương pháp dạy học trong các nhà trường đại học quân sự đang là
một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.


1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới phương pháp dạy học
trong các nhà trường đại học.
1.1. Phương pháp dạy học và tình hình phương pháp dạy học trên thế
giới và ở nước ta.
Thuật ngữ phương pháp theo nghĩa chung nhất là con đường, cách thức,
biện pháp nhất định, được chủ thể sử dụng để thực hiện mục đích đặt ra.
Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức phối hợp, thống nhất giữa người
dạy và người học nhằm thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu của quá trình dạy học.
Bản chất của quá trình dạy học là quá trình hoạt động nhận thức có tính
chất nghiên cứu của người học, dưới sự chỉ đạo của người dạy, hai mặt hoạt
động này luôn thống nhất biện chứng với nhau. Vì vậy, khi chúng ta đề cập đến
phương pháp dạy học tức là chúng ta đề cập tới sự thống nhất biện chứng giữa
phương pháp dạy và phương pháp học.
Phương pháp dạy là những cách thức, biện pháp, những thủ thuật do giáo
viên sử dụng để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng và tổ chức điều
khiển hoạt động nhận thức của người học.
Phương pháp học là những cách thức, biện pháp mà người học sử dụng để
lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng, tự tổ chức, tự thiết kế, thi công
quá trình học tập và tự kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của bản thân.
Phương pháp dạy và phương pháp học rất đa dạng, phong phú và luôn có
sự thống nhất hữu cơ, phối hợp, phụ thuộc lẫn nhau. Mặt khác, mỗi phương
pháp lại có tính độc lập tương đối và có vị trí vai trò riêng. Phương pháp dạy có
vị trí định hướng, điều khiển, chỉ dẫn phương pháp học. Phương pháp học vừa
phụ thuộc vào phương pháp dạy, vừa mang tính tích cực, chủ động và có sự tác
động trở lại đối với phương pháp dạy.


Phương pháp dạy học có vị trí vai trò hết sức quan trọng và tối cần thiết.
Cùng một nội dung như nhau nhưng người học tiếp thu có hứng thú, có tích cực
hay không, có để lại những ấn tượng sâu sắc và tình cảm lành mạnh trong tâm

hồn người học hay không phần lớn phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy của
người thày. Cùng một người dạy nhưng mức độ lĩnh hội, tiếp thu của người học
khác nhau, một trong những nguyên nhân của nó là do phương pháp học của
người học khác nhau. Do có vai trò rất quan trọng nên phương pháp dạy học
luôn được các nhà giáo dục quan tâm chú ý.
Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện các nhà giáo dục trứ danh như Xô-crát, Platông,
A-rit-xtốt, Khổng Tử, Mạnh Tử... đã tổng kết và áp dụng trong thực tiễn dạy học của
mình nhiều phương pháp dạy học khá đặc sắc. Chẳng hạn như Xô-crát (469-369 tr.
CN) đã dùng phương pháp đàm thoại gợi mở để tiến hành dạy học, người dạy được
xem như “bà đỡ’ giúp người học tìm ra chân lý chứ không áp đặt. Còn ở Á Đông,
Khổng Tử (551-479 tr. CN) đã đúc rút được những cách thức dạy học mang tính chất
tích cực. Ông đòi hỏi người dạy phải biết so sánh, chỉ dẫn, gợi ý, giúp đỡ, kích thích
phát động người học; đòi hỏi người học phải năng động, tích cực trong suy nghĩ:
“nghe một phải biết mười”, “ta bảo cho một góc mà không biết tự suy xét ra ba góc thì
thôi ta không bảo cho nữa”. Ông cũng rất coi trọng việc ôn luyện, “ôn cũ để biết mới”.
Vào thế kỷ XVII, Kô-men-xki ( Nhà giáo dục người Tiệp khắc-1592-1670)
chủ trương trong dạy học không bắt người học phải thuộc lòng mà phải làm cho
họ nắm vững vấn đề và nêu lên các nguyên tắc dạy học như: Phải đi từ cái chung
đến cái riêng, đi từ cái dễ đến cái khó, công việc ở nhà trường không nên là một
gánh nặng cho ai, tiến hành mọi việc đều phải đi từng bước, chỉ nên bắt buộc
người ta làm và làm có phương pháp, dạy bất cứ điều gì cũng đặt ngay trước
giác quan của người ta, dạy điều gì cũng cần cho biết cái lợi ích thực tế của điều
ấy, dạy mọi điều phải tuân theo những nguyên tắc của một phương pháp, đó là
phương pháp tự nhiên. Ông cũng rất chú ý đến việc phát huy tính tích cực của


người học, đòi hỏi người thầy phải có những bài giảng lý thú, bổ ích và hấp dẫn,
tạo sự hứng thú cho học sinh...
Giữa thế kỷ XIX, Học thuyết Mác ra đời đã vạch ra cơ sở phương pháp
luận khoa học cho việc nhận thức và tác động vào tự nhiên, xã hội và tư duy

trong đó có hoạt động giáo dục. Cùng với việc chỉ ra một cách khoa học vai trò
của giáo dục đối với việc hình thành, phát triển nhân cách con người, với sự phát
triển xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt nền móng cho
một nền giáo dục mới, khác về chất so với các nền giáo dục trước đây - nền giáo
dục xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. C. Mác đã tìm ra giải đáp khoa học
về con đường, cách thức để đào tạo những con người hoàn thiện của xã hội
tương lai và dự báo nền giáo dục tương lai là: “...nền giáo dục sẽ kết hợp lao
động sản xuất với giáo dục và thể dục, đối với hết thảy trẻ em trên một tuổi nhất
định nào đó, và làm như vậy không những chỉ là phương pháp tăng thêm sản
xuất xã hội, mà còn là phương pháp độc nhất và duy nhất để đào tạo những con
người toàn diện”. Tư tưởng ấy của C. Mác được V. I. Lênin kế thừa và vận dụng
vào xây dựng nền giáo dục mới ở nước Nga Xô- viết. V. I. Lênin đặc biệt quan
tâm đến con đường kết hợp giáo dục với lao động. Những tư tưởng của các nhà
kinh điển Mác - Lênin về giáo dục là cơ sở phương pháp luận trực tiếp đề ra
phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Đóng góp vào những thành tựu nghiên cứu về phương pháp dạy học phải kể đến
nền giáo dục học Xô-viết cùng với những tên tuổi như V. V. Đa-vư-đốp, L. V. Zankốp, I. Ia. Léc-ne, Iu. K. Ba-ban-ki, R. A. Nhi-za-mốp, X. I. Ac-khan-ghen-xki. Các
nhà giáo dục học Xô-viết, nhìn chung, xem xét phương pháp dạy học như là một hệ
thống và nghiên cứu phương pháp dạy học cả ở bên trong và bên ngoài, cả bản chất và
hình thức biểu hiện nó. Coi phương pháp dạy học như là hoạt động cộng tác giữa
người dạy và người học, trong đó thày và trò tồn tại, hoạt động như hai chủ thể tích
cực của một quá trình. Họ cũng không tuyệt đối hoá bất kỳ một phương pháp dạy học
nào, mỗi phương pháp có vị trí, vai trò riêng, được áp dụng phối hợp với nhau để cùng


giải quyết nhiệm vụ dạy học. Phương pháp dạy học có mối quan hệ chặt chẽ với mục
đích, nội dung dạy học, giữa chúng có tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Về
phương pháp dạy học đại học, X. I. Ac-khan-ghen-xki cho rằng, phương pháp dạy học
đại học không chỉ thể hiện ở sự thống nhất các phương pháp, biện pháp dạy mà còn là
hệ thống nhận thức được định hướng trong hoạt động khoa học và học tập của sinh

viên. Ông còn cho rằng, các phương pháp dạy học đại học xuất phát từ mục đích đào
tạo chuyên gia, có các nhiệm vụ bồi dưỡng học vấn, giáo dục, thực hành và khoa học.
Còn R. A. Nhi-za-mốp đã đưa ra định nghĩa về phương pháp dạy học, coi thày và sinh
viên tồn tại và hoạt động như hai chủ thể tích cực trong quá trình dạy học. Những hành
động tích cực của thày và trò liên hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau, thày đóng
vai trò điều khiển hoạt động nhận thức của sinh viên. Nhìn chung, trong các trường đại
học và cao đẳng của Liên-xô trước đây các phương pháp dạy học cơ bản được xác
định là: phương pháp giảng bài, phương pháp công tác độc lập, trình bày trực quan,
luyện tập, phương pháp nghiên cứu, phương pháp công tác thực hành. Các phương
pháp được sử dụng phối hợp với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu dạy học.
Những thành tựu nghiên cứu về phương pháp dạy học của các nhà sư phạm Liên Xô
(trước đây) là những đóng góp quý báu vào kho tàng tri thức giáo dục thế giới, là
những cơ sở để chúng ta tiếp tục nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc vận dụng vào thực
tiễn dạy học ở các trường quân sự Việt nam hiện nay.
Ngoài những nghiên cứu nêu trên về phương pháp dạy học, chúng ta có thể tìm
thấy những kết quả nghiên cứu trong thời gian gần đây về vấn đề này ở nhiều nước khác
trên thế giới. Chẳng hạn như J.Dewey (Đi-uây) ở Mỹ, trên con đường đi tìm phương
pháp dạy học để thoát khỏi sự trì trệ của phương pháp dạy học truyền thống, đã đưa ra


một phương châm được coi là cách tân của giới sư phạm. Ông cho rằng: “Học sinh là
mặt trời xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”. Quan điểm coi người học
làm trung tâm này tuy có những điểm cực đoan nhưng thể hiện một sự tìm tòi đi tới
những cách thức dạy học nhằm phát huy tính năng động của người học.
Một tác giả người Pháp là An-ge-la Me-di-xi đã nêu lên khái niệm phương
pháp chủ động. Theo ông, phương pháp chủ động được áp dụng cho tất cả mọi lứa
tuổi và trong tất cả các bậc học, ở đó người học luôn được hỗ trợ để thâu tóm những
tri thức bằng sự quan sát và cố gắng cá nhân, ông thầy phải luôn gợi sự chú ý của
học sinh, khuyến khích, thúc đẩy cho sự hoạt động đồng đều của toàn lớp học.
Cho đến thời gian gần đây, tiến sĩ R. R. Singh (Ấn Độ) đã tiếp tục phát

triển quan điểm lấy người học làm trung tâm, cho rằng: “Khi xem “ma trận”
người học ở vị trí trung tâm và sự sáng tạo là mục tiêu, cần nêu bật một số
đường hướng và phương pháp nhất định. Người học phải là những người tham
gia tích cực vào “quá trình nhận biết - học - dạy”. Ông mặc dù đề cao vai trò của
người học nhưng không phủ nhận vai trò của người thày: “Giáo viên giữ vai trò
quyết định trong quá trình nhận biết - học - dạy và đặc trưng trong việc định
hướng lại giáo dục. Người ta luôn luôn nhận thấy rằng thành công của các cuộc
cải cách giáo dục phụ thuộc dứt khoát vào “ý chí muốn thay đổi” cũng như chất
lượng giáo viên. Không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm
những giáo viên làm việc cho nó”.
Một xu thế, một thành tựu đáng chú ý của nền giáo dục thế giới trong
những năm qua là việc kỹ thuật hoá, “công nghệ hoá” quá trình dạy học. Lúc
đầu, tư tưởng “công nghệ” dạy học được xem là việc sử dụng các phương tiện
kỹ thuật vào mục đích dạy học. Sau này, khái niệm đó ngày càng được mở rộng,
hoàn thiện. Theo quan niệm của UNESCO đưa ra năm 1984 thì: Công nghệ giáo
dục là một tập hợp gắn bó chặt chẽ những phương pháp, phương tiện kỹ thuật
học tập và đánh giá được nhận thức, sử dụng tuỳ theo những mục tiêu đang theo
đuổi, có liên hệ với những nội dung giảng dạy và những lợi ích của người học,


đối với người dạy sử dụng công nghệ giáo dục thích hợp có nghĩa là biết tổ chức
quá trình học tập và đảm bảo sự thành công của quá trình đó. Đến nay công
nghệ dạy học vẫn còn là một vấn đề phức tạp với nhiều ý kiến khác nhau về bản
chất và phương hướng ứng dụng nó, song dù sao nó vẫn tồn tại như một xu thế
đào tạo mới mang tính chất tích cực. Do đó, nghiên cứu đổi mới phương pháp
dạy học chúng ta phải đề cập đến nó.
Ở Việt nam, nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc lý luận và những kinh nghiệm
dạy học của thế giới, truyền thống giáo dục Việt nam, truyền thống dạy quân,
luyện quân của cha ông ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những di sản tư
tưởng quý báu về phương pháp huấn luyện, giáo dục. Trong đó, nổi bật lên tư

tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường
gắn liền với xã hội. Người chỉ rõ: “Phương châm, phương pháp hành động là lý
luận liên hệ với thực tế...Phải biến những điều đã học thành hành động cách
mạng thực tế, học phải đi đôi với hành, chứ không phải học để nói suông” 1. Học
tập, theo Hồ Chí Minh là “để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự
đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” 2. Người nhắc nhở chúng
ta: “Giáo viên thì thi đua tìm cách dạy cho dễ hiểu, cho chóng tiến bộ. Học sinh
thì thi đua học cho chóng, cho nhiều, cho tốt”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm
việc” Người đã chỉ ra những cách thức dạy học như sau:
- Phải phân chia nội dung các môn học mà học dần dần.
- Học tập theo nguyên tắc: kinh nghiệm và thực tế phải đi liền nhau.
- Tổ chức ra từng lớp, lấy tự học làm cốt, kết hợp với thảo luận.
- Sắp xếp thời gian và bài học phải có kế hoạch theo hệ thống khoa học.
- Huấn luyện phải thiết thực, chống chủ quan, hẹp hòi, ba hoa.
- Kết hợp xen kẽ học và làm nhưng không trở ngại đến nghề nghiệp và sức
khoẻ của người học.
- Huấn luyện phải có kiểm tra, thi khảo và thưởng phạt...
Hồ Chí Minh còn dạy chúng ta phải có phong cách học tập tự giác, tích
cực, chủ động “phải biết tự động học tập”. Người căn dặn: đọc tài liệu thì phải
1
2

Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr. 95.


đào sâu, hiểu kỹ, phải biết vận dụng những điều đã học vào thực tế, không máy
móc, giáo điều. Hồ Chí Minh cũng rất xem trọng việc bảo đảm tính hệ thống,
tính toàn diện và tính thiết thực trong huấn luyện. Phải dạy và học mọi cái chiến
tranh, chiến trường đòi hỏi. Những tư tưởng ấy của Người là nền tảng phương
pháp luận, là kim chỉ nam cho hoạt động lý luận và thực tiễn nhằm đổi mới

phương pháp dạy học của chúng ta.
Trong thực tiễn, việc nghiên cứu phương pháp dạy học ở nước ta, từ những
năm 70 (thế kỷ XX) đã được quan tâm nhiều hơn. Phần lớn các nhà sư phạm đều
xuất phát từ quan điểm hệ thống cấu trúc để xem xét các phương pháp dạy học.
Đa số các tác giả chia phương pháp dạy học thành các nhóm sau:
- Nhóm phương pháp dạy học sử dụng ngôn ngữ (dùng lời, dùng từ) có các
phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, phương pháp sử dụng tài liệu học
tập.
- Nhóm phương pháp trực quan, có các phương pháp minh hoạ, biểu diễn,
quan sát.
- Nhóm phương pháp dạy học thực hành, có các phương pháp luyện tập,
thực hành, bài tập sáng tạo, trò chơi.
- Nhóm các phương pháp kiểm tra đánh giá kiến thức, có các phương pháp
kiểm tra, phương pháp đánh giá.
Bên cạnh các nhóm phương pháp dạy học cơ bản nêu trên các tác giả cũng có
đề cập đến các phương pháp như phương pháp Algorit, chương trình hoá, nêu vấn
đề... Xem đó là những phương hướng cải tiến phương pháp dạy học nhằm tích cực
hoá quá trình dạy học. Ngoài việc phân loại, các tác giả cũng đề cập đến nhiều vấn
đề khác liên quan đến phương pháp dạy học như nhận định đáng chú ý của tác giả
Thái Duy Tuyên về xu thế phát triển phương pháp dạy học, hoặc đề tài nghiên cứu
“Cải tiến phương pháp dạy học trong các trường đại học” do PGS Lê Khánh Bằng
làm chủ trì khái quát những đặc điểm của phương pháp dạy học đại học.


Trên đây là một số nét về phương pháp dạy học và tình hình phương pháp dạy học
trên thế giới và ở nước ta. Từ đó ta có thể thấy: phương pháp dạy học có vị trí hết sức
quan trọng và tối cần thiết trong quá trình dạy học, nó luôn là mối quan tâm của các nhà
sư phạm từ xa xưa trong lịch sử giáo dục. Ngày nay, quan niệm về dạy học đã có sự
phát triển. Dạy học không những là nhằm trang bị những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo mà
còn là để phát triển trí tuệ. Yêu cầu của xã hội, yêu cầu của lý luận dạy học đang đặt ra

phải đổi mới phương pháp dạy học. Từ những vấn đề đã trình bày ở trên ta có thể khẳng
định, Đổi mới phương pháp dạy học để không ngừng nâng cao chất lượng dạy học là
một tất yếu khách quan. Ngày nay, cùng với những thành tựu của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại, cùng với sự phát triển của xã hội, việc nghiên cứu đổi mới
phương pháp dạy học không phải là chỉ riêng của nước ta mà đang là một xu thế của
thời đại. Những kết quả nghiên cứu về phương pháp dạy học trên thế giới và ở nước ta
từ trước đến nay là cơ sở lý luận quý giá cho chúng ta tiếp tục đổi mới phương pháp dạy
học trong thời gian tới. Chúng ta cần nghiên cứu kỹ lưỡng, trên cơ sở dựa chắc vào
phương pháp luận mác xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và những thành tựu mới
của khoa học giáo dục nói riêng, các khoa học khác có liên quan nói chung, tiếp thu một
cách có chọn lọc để từ đó đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả.
1.2. Thực trạng về phương pháp dạy học ở các trường đại học .
Trong các nhà trường đại học Việt nam hiện nay, quan niệm về vấn đề phương
pháp dạy học cũng như việc lựa chọn sử dụng chúng hết sức đa dạng và phong phú.
Những năm gần đây, việc nghiên cứu cải tiến đổi mới phương pháp dạy học ngày
càng thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà lãnh đạo, quản lý và các nhà sư phạm.
Những hoạt động tích cực trên lĩnh vực này đã tạo ra những bước phát triển mới trong


thực tiễn giáo dục và đào tạo của quân đội nói chung, các trường đại học quân sự nói
riêng: Đã tạo được sự chuyển biến trong nhận thức về sự cần thiết phải đổi mới
phương pháp dạy học. Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà trường đã bước đầu
được ứng dụng có hiệu quả. Chương trình, nội dung nhiều môn học được biên soạn lại
theo hướng tăng thời gian huấn luyện thực hành, thực tập. Tích cực hơn trong việc
khắc phục những hạn chế của phương pháp dạy học theo kiểu “độc thoại” theo hướng
tăng cường các phương pháp dạy học trực quan, các phương pháp dạy học mô hình
hoá, tăng thời gian tự học bắt buộc... tăng cường hiện đại hoá các phương tiện kỹ thuật
dạy học... Các hoạt động nghiên cứu khoa học được chú ý tăng cường trong quá trình
đào tạo, đặt ra chỉ tiêu cho cả giáo viên và học viên và thu được nhiều kết quả đáng
khích lệ. Ngoài ra, khâu kiểm tra đánh giá cũng được đổi mới, ngay từ thi tuyển đầu

vào đến quá trình học tập và thi tốt nghiệp ra trường theo hướng tăng hàm lượng vận
dụng những kiến thức đã được lĩnh hội vào thực tiễn, chống gian lận trong thi và kiểm
tra.
Tuy nhiên, ở các nhà trường đại học hiện nay phương pháp dạy học vẫn
còn tồn tại những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được với trình độ đào tạo ở
bậc đại học. Tính chất dạy học cơ bản vẫn là chuyển tải, nhồi nhét “thầy đọc, trò
ghi”. Nhận thức của người dạy và người học về phương pháp dạy học còn phiến
diện và tách biệt, chưa thấy được đầy đủ các đặc trưng và mối quan hệ của
phương pháp dạy học. Cách thức học giáo viên chỉ chủ yếu hướng vào chức
năng truyền thụ, còn học viên ở vị trí khách thể, thụ động tiếp nhận các kiến
thức và tìm cách tái hiện lại những điều thày giảng đã thành thói quen, tạo nên
“tính ỳ”, cản trở đến việc đổi mới phương pháp dạy học. Một số cán bộ giáo
viên đã có cố gắng bám sát lý luận dạy học hiện đại, sử dụng các phương pháp
mới nhưng chưa theo kịp, hiệu quả còn hạn chế. Trong dạy học ở nơi này, nơi
khác vẫn còn tồn tại quan niệm chưa đúng trong cả thày và trò là học chỉ để


phục vụ cho kiểm tra và thi. Về tổ chức, quản lý quá trình dạy học, nhiều nơi
lãnh đạo, chỉ huy chỉ nói đến đổi mới phương pháp dạy học trong nghị quyết, kế
hoạch, song chưa chỉ ra được nội dung, biện pháp đổi mới; thực tế đổi mới được
bao nhiêu là do giáo viên, kết quả ra sao không ai kêu, thậm chí cứ dạy theo kiểu
cũ học viên còn ca ngợi! Chưa có cơ chế pháp lý kích thích giáo viên đổi mới
phương pháp dạy học, còn nặng về kêu gọi, hô hào chung chung.
Nguyên nhân của thực trạng trên về mặt nào đó là do các nhân tố mục tiêu,
nội dung, phương tiện dạy học phát triển nhanh làm cho phương pháp dạy học
trở nên lạc hậu. Mặt khác, là do việc hoàn thiện phát triển các nhân tố đó không
tính đến sự thống nhất biện chứng với các phương pháp dạy học, làm cản trở,
hạn chế sự phát triển chung. Ngược lại, tình trạng dạy học thiếu sách giáo khoa,
thiếu trang thiết bị kỹ thuật dạy học nên cách thức dạy học dễ được chấp nhận
trong thực tế là thày ra sức giảng giải “bày cỗ”, còn trò ra sức ghi nhớ, tái hiện.

Một nguyên nhân nữa của kiểu dạy học “độc thoại” là do cách đánh giá, thi
cử còn đơn giản, lạc hậu, chưa chú ý tới khả năng sáng tạo của người học, chưa
khích lệ cách tư duy độc đáo, trả thi bằng ngôn ngữ diễn đạt riêng, phong cách
riêng của mình, mà cách đánh giá chỉ dựa vào khối lượng kiến thức, khả năng tái
hiện của người học. Chúng ta cần nghiên cứu để khắc phục những hạn chế trên.
Từ những vấn đề đã trình bày ở trên cho ta thấy, đổi mới phương pháp dạy
học trong các trường đại học hiện nay không những là tất yếu khách quan mà
còn là vấn đề cấp bách.
2. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học trong các trường đại
học hiện nay.
Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang trong quá trình vận động phát
triển, hiện tại có nhiều xu hướng đổi mới khác nhau. Để đổi mới phương pháp
dạy học có hiệu quả cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng. Đồng
thời phải coi trọng và hướng vào thúc đẩy hơn nữa sự tự vận động, tự hoàn thiện
của học viên. Đổi mới phương pháp dạy học ở đại học phải góp phần đắc lực
cho việc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng VÀ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ phát


triển mới của đất nước. Phải làm cho học viên lĩnh hội được các nội dung dạy
học hiện đại nhất trước sự phát triển của khoa học công nghệ áp dụng được vào
thực tiễn. Trong thời gian tới cần thực hiện tốt những phương hướng cơ bản sau:
2.1. Vận dụng các phương pháp kích thích tính tích cực nhận thức của
người học
Phát huy tính tích cực nhận thức của người học trong quá trình dạy học là
vấn đề quan trọng đã được các nhà giáo dục học trong mọi thời kỳ lịch sử khẳng
định. Chỉ có trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức và tính độc lập của
người học thì việc dạy học mới có kết quả.
Thực chất của phương pháp là kích thích tính tích cực nhận thức tiềm tàng của
người học trong quá trình dạy học. Phương pháp luôn coi trọng và hướng vào phát
huy vai trò chủ thể nhận thức của học viên trong dạy học. Phải làm cho mối quan hệ

giữa học viên và tài liệu học tập được thực hiện một cách năng động. Học viên phải
tự giác, tích cực thực hiện các hoạt động tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức, hình
thành kỹ năng, kỹ xảo. Giáo viên không chỉ phải truyền đạt mà còn phải tổ chức cho
học viên thực hiện các hành động tìm tòi, khám phá để tự phát hiẹn ra tri thức mới
cho bản thân mình. Hành động tự học của học viên được giáo viên lựa chọn, thiết kế
dàn dựng từ trước và tổ chức cho học viên thực hiện theo thiết kế đó. Nội dung dạy
học phải được thiết kế, cài đặt, xây dựng cấu trúc thành các tình huống, các vấn đề
hay dưới dạng bài tập nhận thức. Phải đưa học viên vào các tình huống phải giải
quyết các nhiệm vụ, đáp ứng các yêu cầu, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của
học viên. Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực nhận thức rèn luyện cho học
viên năng lực tự kiểm tra, tự điều chỉnh ngay trong quá trình tién hành hoạt động
nhận thức. Năng lực đó phát triển từ thấp đến cao. Thông qua chính các hành động
tìm tòi, khám phá và nội dung tri thức đã khám phá được, kỹ năng tự học của học
viên ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, phát triển.


Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của học viên thông
thường phải tổ chức tiến hành qua các giai đoạn: Thiết kế (hay chuẩn bị); thi
công giáo án trên lớp; củng cố tri thức; kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh, bổ sung
và giai đoạn chuẩn bị cho chu trình mới.
Những phương pháp cụ thể của phương pháp dạy học phát huy tính tích
cực nhận thức của người học rất phong phú, đa dạng. Một số phương pháp đó là:
dạy học nêu vấn đề; phương pháp đóng vai - mô hình hóa; phương pháp tổ chức
hoạt động tự học của học viên; các phương pháp dạy học thông qua tập thể học
viên...
Dạy học nêu vấn đề (với tư cách là môt phương pháp dạy học cụ thể), có
nhiều cách gọi khác nhau, song về đặc trưng chung của phương pháp thì có:
- Nội dung dạy học được thiết kế thành một vấn đề nhận thức có thể gợi ra
tình huống có vấn đề, chứ không phải là kết luận có sẵn.
- Quá trình dạy học được thực hiện trên cơ sở tình huống có vấn đề, tức là

thông qua việc hình thành và giải quyết vấn đề để truyền thụ và lĩnh hội kiến thức.
- Học viên được tham gia tối đa vào quá trình giải quyết vấn đề với trạng
thái tích cực, với ý thức chủ thể mạnh mẽ.
- Giáo viên là chủ thể tổ chức, điều khiển, quyết định cho mức độ tham gia
tích cực của học viên trong giải quyết vấn đề.
- Kết quả dạy học không chỉ là tri thức sâu sắc ở học viên mà cả sự phát
triển năng lực độc lập, sáng tạo, linh hoạt cũng như hứng thú học tập.
Về phạm vi ứng dụng có thể thiết kế tình huống nêu vấn đề cho toàn bộ nội
dung dạy học cũng có thể sử dụng xen kẽ, phối hợp với các phương pháp khác,
có thể nêu vấn đề từng phần, toàn phần...Khi áp dụng cần lưu ý, vấn đề ở đây
luôn là nội dung dạy học ứng với mục đích và nhiệm vụ dạy học cụ thể.
Phương pháp đóng vai - mô hình hoá.
Là hình thức tái tạo lại nội dung của hoạt động nghề nghiệp tương lai, mô
hình hoá các quan hệ đặc trưng cho hoạt động đó nhờ sử dụng các phương tiện
(tín hiệu), rồi qua đó tổ chức cho người học sắm các vai, thực hiện các hoạt động
đó, nhờ đó học viên nắm được quan hệ hay chính hoạt động. Như vậy, đóng vai


trong dạy học vừa mô phỏng tổng hợp các tình huống thực tế nhưng lại chứa
đựng tri thức mà học viên phải lĩnh hội.
Tuỳ theo điều kiện về thời gian, phương tiện vật chất, có thể tổ chức đóng
vai mô phỏng dạy học dưới nhiều mức độ và phạm vi khác nhau như: mô phỏng
các trang thiết bị quân sự, phương tiện kỹ thuật quân sự dành cho huấn luyện;
buồng lái điện tử, ca bin, bắn súng kẹp nòng, các thiết bị mô phỏng bắn, mô
phỏng bay... hoặc là tổ chức huấn luyện tại thực địa, diễn tập ở các cấp độ khác
nhau, các bài tập tình huống, các bài tập thực tiễn ở đơn vị.
Phương pháp tổ chức hoạt động tự học học viên
Đây là những phương pháp dạy học có tính cá thể háo việc dạy học, dựa
trên cơ sở tổ chức hoạt động tự học của học viên, do đó nó phát huy cao độ tính
tích cực nhận thức, phát triển tính tích cực độc độc lập của học viên. Phương

pháp này luôn có mặt trong nhiều phương pháp dạy học khác, đồng thời có thể
phối hợp được với nhiều phương pháp dạy học
Để sử dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học này cần có những điều kiện
sau: Học viên phải có kỹ năng tự học cơ bản, nội dung dạy học cần được thiết kế,
cấu tạo hợp lý theo kiểu chương trình hoá, thành các mô đun dạy học. Phải luôn
gắn việc lĩnh hội của học viên với tự kiểm tra, tự đối chiếu và tự điều chỉnh của họ.
Giáo viên có mặt trực tiếp đóng vai trò chủ đạo ở 2 khâu là giao nhiệm vụ học tập
ban đầu và đánh giá tổng kết hoàn thành nhiệm vụ của học viên.
Các phương pháp dạy học thông qua tập thể học viên.
Đây là các phương pháp dạy học dựa trên cơ sở tổ chức hoạt động nhận
thức cá nhân trong môi trường tập thể học viên. Từng cá nhân sẽ hợp tác với
nhau, trao đổi với nhau, tranh luận với nhau...để khám phá, tìm tòi tri thức có
tính chất tập thể trong các tình huống dạy học. Có các cấp độ tương tác cá nhân
với tập thể trong dạy học theo phương pháp này như hợp tác đôi bạn, hợp tác
trong nhóm tự phát, trong nhóm có tổ chức thảo luận tổ, lớp...
Thông thường để dạy học bằng phương pháp này, nhiệm vụ nhận thức được
giáo viên thiết kế thành các tình huống, được phân chia thành các bộ phận và


giao cho từng nhóm học viên thực hiện. Kết quả giải quyết tình huống được
thống nhất trong nhóm, trong tập thể từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ nông
đến sâu, do đó học viên lĩnh hội được tri thức hoàn chỉnh.
2.2.Tăng cường các phương pháp dạy học thực hành nghề nghiệp
Nghề nghiệp là một công việc chuyên làm, là phương tiện sinh sống cá nhân
hoặc nhóm. Hoạt động nghề nghiệp thuộc loại hoạt động lao động của con người
dựa trên những năng lực nhất định. Đào tạo nghề là giúp cho người học hình thành
và phát triển tập hợp các điều kiện nghề nghiệp, được thể hiện ở hệ thống phẩm
chất và năng lực nghề nghiệp phù hợp với hoạt động tương lai của họ.
Trong các phương pháp dạy học để hỡnh thành và phỏt triển cỏc phẩm chất,
năng lực nghề nghiệp thỡ thực hành là phương pháp rất quan trọng giúp học

viên nắm vững các tri thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách nhanh chóng, vững
chắc, sát thực tiễn hoạt động tương lai…Trong trạng thỏi tõm lý tớch cực. Thực
hành trong cỏc hệ thống phõn loại phương pháp dạy học được gọi tên và xem
xét dưới các khía cạnh cụ thể khác nhau. Nhưng nhỡn chung, núi tới thực hành
là núi tới sự thực hiện cỏc thao tỏc, cỏc hành động nhất định, qua đó mà lĩnh hội
được tri thức, hỡnh thành kỹ năng, kỹ xảo. Nếu các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó
gắn chặt hay liên quan tới hoạt động nghề nghiệp tương lai của học viên thỡ đó
là phương pháp dạy học có tính thực hành nghề nghiệp. Hoạt động quân sự là
loại hoạt động, một loại nghề nghiệp rất đặc biệt. Tính đặc biệt đó đó đũi hỏi
người học viên phải nắm vững và thành thạo nhiều tri thức, kỹ năng nghề nghiệp
ở trỡnh độ cao. Việc tăng cường các phương pháp dạy học để học viên có được
trỡnh độ cao như thế là điều rất cần thiết.
Phương pháp này đòi hỏi phải tăng cường thực hành nghề nghiệp ngay
trong quá trỡnh giảng dạy lý thuyết và cỏc mụn lý luận. Nội dung dạy học ở đại
học có một khối lượng lớn là các tri thức lý thuyết về các lĩnh vực khoa học, đặc
biệt là cỏc bộ mụn lý luận, cỏc mụn khoa học xó hội, tri thức lý thuyết chớnh là
hệ thống khái niệm, phạm trù cơ bản mà học viên phải nắm vững trong quá
trỡnh nghiờn cứu mụn học, làm cơ sở để tự đi sâu nghiên cứu các môn học đó và


các môn học có liên quan trong chương trỡnh đào tạo. Các tri thức lý thuyết
trong tổng thể chương trỡnh đào tạo sẽ tạo ra năng lực thực hành nghề nghiệp
theo mục tiêu đào tạo đó xỏc định. Vỡ vậy, cần quan tõm tăng cường thực hành
nghề nghiệp cho người học ngay cả trong giảng dạy lý thuyết và cỏc mụn lý
luận. Phương pháp cũng đòi hỏi tăng cường tính thực tiễn nghề nghiệp quân sự
trong các phương pháp dạy học thực hành. … Tăng cường tính thực tiễn nghề
nghiệp trong các phương pháp dạy học thực hành tại các trường đại học phải lựa
chọn những tri thức, kỹ năng thực hành có giá trị nghề nghiệp cao, sát với thực
tiễn sẵn sàng chiến đấu của quân đội để thiết kế các bài học thực hành và làm
căn cứ để lựa chọn phương pháp dạy học thực hành. Dạy học bằng các phương

pháp thực hành phải tạo điều kiện tối đa cho học viên tự lực thực hiện các hành
động nghề nghiệp trong tỡnh huống dạy học. Quỏ trỡnh dạy học phải tạo ra
được sự gắn bó giữa nhà trường với THỰC TẾ, để tÌnh huống thực hành trong
dạy học sỏt thực tiễn hơn và học viên có cơ hội có tay nghề ngay trong thời gian
học tập. Phải gắn chặt mục tiêu rèn luyện kỹ năng thực hành với phát triển thái
độ nghề nghiệp quân sự đúng đắn trong dạy học. Thái độ nghề nghiệp được
hỡnh thành cựng với kết quả lĩnh hội tri thức và kỹ năng nghề nghiệp, nhưng lại
có vai trũ đảm bảo cho sự phát huy hiệu quả của tri thức, kỹ năng nghề nghiệp
trong thực tiễn công tác. Do đó gắn liền mục tiêu rèn luyện trong kỹ năng thực
hành với phát triển thái độ nghề nghiệp cho học viên ngay trong quá trỡnh dạy
học là tăng cường năng lực nghề nghiệp tương lai cho học viên. Các phương
pháp dạy học thực hành phải vận dụng và thể hiện quy trỡnh thực hành thỏi độ
nghề nghiệp đó là: Bảo đảm cho học viên nắm vững các kỹ năng nghề nghiệp.
Giúp cho học viên nhận thức được ý nghĩa xó hội trong từng kỹ năng hành vi
được hỡnh thành. Đây là quá trỡnh học viờn chuyển húa thỏi độ của người khác
trong kỹ năng nghề nghiệp thành của mỡnh. Tổ chức cho học viờn thử nghiệm
thỏi độ vừa lĩnh hội qua thực hành vận dụng các kỹ năng vào tỡnh huống nghề
nghiệp cụ thể, kiểm nghiệm tính khách quan, đúng đắn của thái độ qua thảo
luận, trao đổi tập thể, qua hoạt động. Tổ chức cho học viên sử dụng thái độ đó
cú vào quan sỏt, nhận xột thỏi độ của người khác. Như vậy, tăng cường các


phương pháp dạy học thực hành nghề nghiệp trong quá trỡnh dạy học phải được
chú trọng cả trong giảng dạy lý thuyết đến tổ chức thực hành. Mục tiêu cần đạt
được trong các phương pháp dạy học thực hành không dừng lại ở các kỹ năng
nghề nghiệp mà phải phát triển thái độ nghề nghiệp đúng đắn cho học viên. Các
phương pháp dạy học thực hành có vai trũ to lớn đối với kích thích tính tích cực
nhận thức của học viên trong dạy học, đồng thời thực hiện tốt phương hướng
này sẽ loại trừ được các cách thức dạy học “giáo điều, kinh viện”, nặng về
truyền thụ lý thuyết vốn là một nhược điểm cũn tồn tại khỏ phổ biến trong các

trường đại học quân sự.
2.3. Tăng cường các phương pháp dạy học mang tớnh chất nghiên cứu
khoa học.
Dạy học và nghiên cứu khoa học có sự thống nhất chặt chẽ với nhau, đan
xen vào nhau trong quá trỡnh dạy học ở đại học. Sự thống nhất đó trước hết là ở
chỗ, dạy học và nghiên cứu khoa học cùng thuộc loại hoạt động nhận thức của
con người, do đó có cùng đối tượng mà các hành động nhận thức phải hướng
vào tác động để thực hiện mục đích của mình. Đối tượng đó có tính khách quan
đối với chủ thể nhận thức, nhưng lại chứa đựng cấu trúc, cách thức tác động,
quy luật vận hành…mà chủ thể phải tuân theo trong hoạt động nhận thức. Cấu
trúc, quy luật đó đó quy định các thao tác, các thủ thuật và cách thức tác động
của con người khi tiến hành hoạt động nhận thức. Như vậy, phương pháp dạy
học nói chung và dạy học có tính chất nghiên cứu khoa học có sự thống nhất với
phương pháp nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học. Học viên học tập
phương pháp này cũng phải mũ mẫm, nhưng là mũ mẫm đó được giáo viên lựa
chọn, dự kiến, thiết kế, dàn dựng. Quá trình mò mẫm lại được giáo viên cố vấn,
định hướng, theo dừi chặt chẽ, thúc đẩy thường xuyên và dự kiến trước kết quả
sẽ đạt tới của quá trỡnh nghiờn cứu. Nội dung khám phá của người học cũng
thống nhất với kết quả tìm tòi của nhà khoa học, nhưng không phải là toàn bộ
mà chỉ là bộ phận, những phần, những đoạn…được giáo viên lựa chọn thiết kế
theo mục đích dạy học. Trong quá trình học tập theo phương pháp đó rất có thể
học viên sẽ có tìm tòi mới, bổ xung vào kho tàng tri thức nhân loại. Điều đó có


nghĩa là, nhân cách học viên hướng tới nhân cách nhà khoa học. Mức độ phát
triển cao nhất của phương pháp dạy học có tính chất nghiên cứu khoa học là tổ
chức hoạt động nghiên cứu khoa học cho học viên. Tổ chức hoạt động nghiên
cứu khoa học trong quỏ trỡnh dạy học cú tỏc dụng kộp đối với việc thực hiện
mục tiêu dạy học. Nó không chỉ trực tiếp tạo ra phẩm chất và năng lực làm việc
độc lập trong nhân cách học viên mà cũn kớch thớch mạnh mẽ hứng thỳ học tập,

phỏt huy cao độ vai trũ chủ thể tớch cực của học viờn trong quá trình học tập.
Có thể nói đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ,
đứng trước tiến trình đổi mới của đất nước, người cán bộ trên mọi lĩnh vực kinh
tế - xó hội phải có khả năng thường xuyên bổ xung và đổi mới tri thức để thực
sự làm chủ được mọi hoạt động trên cương vị của mình.. Chính vỡ vậy, tăng
cường nghiên cứu trong các phương pháp dạy học cũng như tăng cường sử dụng
các phương pháp dạy học có tính chất nghiên cứu là vấn đề có ý nghĩa to lớn đối
với mục tiêu đào tạo, nhất là với các phẩm chất và năng lực độc lập, sáng tạo,
linh hoạt. Đây cũn là con đường rất quan trọng làm cho phương pháp dạy học và
phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học thống nhất với nhau.
Thực chất của phương pháp dạy học mang tính chất nghiên cứu khoa học là
tổ chức cho người học thực hành hành động tự lực tìm tòi, khám phá tri thức cho
chính bản thân mình thông qua các nhiệm vụ học tập được giáo viên thiết kế
thành các đề tài nghiên cứu. Để có kết quả học tập mong muốn bắt buộc học
viên phải hoàn thành được các đề tài nghiên cứu đó. Học viên nhất thiết phải có
một số các điều kiện cơ bản về kỹ năng và phương pháp thực hiện các hành
động nghiên cứu, tìm tòi, khám phá thì họ mới hoàn thành được nhiệm vụ
nghiên cứu của mỡnh. Cỏc điều kiện đó gồm các kỹ năng làm việc tự lực cơ
bản, các phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu khoa học chung và đặc thù của bộ
môn, các kỹ năng sử dụng các phương pháp kỹ thuật nghiên cứu và thiết bị
chuyên ngành của bộ môn.
Tính chất nghiên cứu trong dạy học thể hiện ở hành động tự lực tìm tòi
khám phá của học viên. Tính chất này có thể thiết kế, dàn dựng và tạo ra ở bất
kỳ phương pháp dạy học nào trên cơ sở dạy học là tổ chức hoạt động nhận thức


của học viên. Tuy nhiên, để học viên thực hiện hành động tỡm tũi, khỏm phỏ cú
hệ thống, phự hợp với cấu trỳc hoạt động nghiờn cứu khoa thỡ phương pháp dạy
học thông qua các bài học nhận thức và phương pháp tổ chức hoạt động nghiên
cứu khoa học là hai phương pháp phù hợp hơn cả.

2.4. Đổi mới phương tiện kỹ thuật dạy học và ứng dụng các thành tựu
của công nghệ thông tin trong dạy học.
Cú thể núi bất kỳ quỏ trỡnh nhận thức nào của con người cũng diễn ra theo
quy luật nhận thức chung mà V.I .Lênin đó khỏi quỏt: “Từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu trượng đến thực tiễn – đó là con đường
biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” 3
trong quỏ trỡnh đó, tư duy của con người đó đi từ cái cụ thể hiện thực đến cái
trừu tượng, khái quát rồi tiến lên cái cụ thể được tái tạo ở trỡnh độ cao trong tư
duy. Dạy học ở đại học quân sự có bản chất là hoạt động nhận thức có tính chất
nghiên cứu của học viên, do đó phải làm sao cho học viên phát triển cả tư duy cụ
thể và tư duy trừu tượng một cách cân đối. Tổ chức tốt những điều kiện vật chất
kỹ thuật cho sự quan sát trực tiếp, cho các thí nghiệm khi học viên lĩnh hội các
khái niệm khoa học đầu tiên, rồi trên cơ sở các tài liệu đầu tiên đó họ sẽ đi tới
trừu tượng hóa, khái quát hóa để nắm được bản chất sâu xa của sự vật, hiện
tượng mà khái niệm đó diễn đạt. Kết quả nhận thức khái niệm đó được phản ánh
ở khả năng diễn đạt một cách trừu tượng, khái quát dưới những hỡnh thức thớch
hợp như: định nghĩa, phát biểu định luật, mô tả bằng các phương trỡnh, mụ
hỡnh, đồ thị, ký hiệu, công thức…khoa học càng thâm nhập sâu vào bản chất
của sự vật, hiện tượng thỡ cỏc hỡnh thức diễn đạt nó càng trừu tượng, và hỡnh
thức diễn đạt này càng trừu tượng thỡ tri thức khoa học càng cụ thể, càng cú nội
dung.
Trong quá trình dạy học, học viên thường gặp khó khăn ở các bước chuyển:
chuyển từ những tài liệu thu được qua nhận thức cụ thể - cảm tính của tri giác
lên nhận thức trừu tượng – khái quát và chuyển từ tri thức trừu tượng – khái quát
3

V.I Lờnin, toàn tập, T29, Bản tiếng Việt, NXB Tiến Bộ, M.1987,
Tr179



cái cụ thể trong tư duy. Thêm vào đó, không phải bất kỳ cái cụ thể - hiện thực
nào nếu muốn cũng có thể đưa thẳng vào quá trình dạy học để học viên tri giác
trực tiếp. Vì vậy, để giúp học viên thuận lợi trong các bước chuyển đó, người ta
đó sử dụng cỏc phương tiện vật chất và tinh thần cú tính trực quan vào quá trình
dạy học và gọi là phương tiện dạy học. Tính trực quan là một thuộc tính đặc
trưng của phương tiện dạy học đó.
Trong những biện pháp tạo ra sự đổi mới phương pháp dạy học thì sự kết
hợp của các phương pháp dạy học cụ thể với phương tiện dạy học cụ thể luôn
tạo ra những khả năng mới của phương pháp dạy học. Ngày nay, phương pháp
dạy học đang phát triển theo hướng phát huy chức năng tổ chức, điều khiển của
phương pháp nhằm thu hút cao độ tính tích cực nhận thức của người học . Vì
vậy, sự tham gia của phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện kỹ thuật dạy
học sẽ tạo ra chất lượng dạy học rất cao. Vai trò của phương tiện dạy học đối với
phương pháp dạy học được thể hiện ở các mặt như:
Phương tiện dạy học hiện đại giúp cho học viên tăng khả năng thu nhận và
sử lý thông tin, do đó làm thay đổi cách học của học viên.
Phương tiện dạy học hiện đại có thể biểu diễn, minh họa nhiều tri thức bằng
hỡnh ảnh trực quan, thay thế cho sự mụ tả bằng lời của giỏo viờn làm cho cỏch
thức truyền đạt và tổ chức điều khiển trong phương pháp dạy học cũng thay đổi.
Phương tiện dạy học hiện đại có thể thay thế giáo viên trong nhiều khâu,
nhiều nội dung dạy học làm cho giáo viên có điều kiện tập trung thời gian, công
sức vào việc nghiên cứu, tỡm tũi, thiết kế, cải tiến phương pháp.
Phương tiện dạy học kích thích và lôi cuốn học viên vào hoạt động nhận
thức tích cực, làm cho phương pháp dạy học chuyển trọng tâm sang tổ chức,
điều khiển hoạt động nhận thức của học viên.
Phương tiện dạy học giúp việc thu lượm thông tin ngược được nhanh, chính
xác, khách quan, làm tăng khả năng điều khiển, điều chỉnh, tự điều khiển, tự
điều chỉnh của phương pháp dạy học. Rừ ràng, sử dụng phương tiện dạy học,
đặc biệt là phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại đó làm cho phương pháp dạy
học có sự đổi mới theo hướng chuyển từ trọng tâm là truyền đạt sang trọng tâm



là tổ chức, điều khiển, nhờ đó mà kích thích mạnh mẽ tính tích cực nhận thức
.của học viên, nâng cao chất lượng dạy học.
Sự cần thiết phải đổi mới cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học ở các
trường quân sự không chỉ xuất phát từ vai trũ to lớn trong trợ giỳp cho phương
pháp dạy học mà cũn là nhu cầu cấp bỏch đối với chất lượng dạy học. Như đổi mới
phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất kỹ thuật trong dạy học có liên quan tới nhiều
yếu tố, trong đó có yếu tố kinh tế và hiệu quả sử dụng. Phương hướng đổi mới cơ
sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học cần tập trung: Đổi mới cơ sở vật chất,
phương tiện kỹ thuật dạy học phải xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ đào tạo và dạy
học của nhà trường, của môn học, ngành học. Đổi mới cơ sở vật chất, phương tiện
kỹ thuật phải gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới cơ sở vật chất,
phương tiện kỹ thuật dạy học phải được quan tâm đầy đủ trên tất cả các môn học.
Đổi mới cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học phải gắn liền với nâng cao
năng lực khai thác sử dụng các phương tiện đó. Đổi mới cơ sở vật chất, phương
tiện kỹ thuật dạy học phải trên cơ sở phát huy tác dụng của những phương tiện hiện
có, đồng thời vừa đảm bảo tính kinh tế vừa đảm bảo tính hiện đại.
Ngày nay, sự ra đời phát triển mạnh mẽ của máy điện toán và tiếp theo là máy
tính điện tử cung cấp khả năng lưu trữ, xử lý một khối lượng lớn thông tin trong thời
gian gắn đó làm cho khoa học và toàn bộ đời sống nhân loại có một bước phát triển
cực kỳ to lớn. Các thế hệ máy tính điện tử liên tục được cải tiến, đổi mới đó dõng
hiến cho nhõn loại một khả năng vĩ đại không chỉ ở lưu trữ, xử lý thụng tin mà cả
trong việc xõy dựng thụng tin mới, truyền đạt thông tin ở mọi khoảng cách với tốc
độ xử lý, truyền tải cực nhanh. Những phát triển mạnh mẽ của máy tính điện tử với
những khả năng to lớn như trên, cùng với sự xuất hiện và ứng dụng rộng rói của mỏy
tớnh cỏ nhõn nối mạng mỏy tớnh toàn cầu và với nhiều khả năng khác đó làm cho


khỏi niệm mỏy tớnh điện tử không thể lột tả hết những chức năng to lớn mà chính

máy tính điện tử là thành phần cơ bản đó tạo ra.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin và đặc biệt là sử dụng máy tính điện tử,
máy tính cá nhân vào dạy học đang là một xu thế nổi bật ở nước ta hiện nay,
máy tính điện tử có thể thay thế giáo viên ở một số khâu, một số thao tác dạy
học như thông báo thông tin học tập, hướng dẫn hoạt động nhận thức của học
viên bằng ngôn ngữ hiện trên màn hỡnh, kiểm tra, đánh giá khách quan kết quả
lĩnh hội của học viên. Máy tính điện tử cũng có thể làm chức năng là phương
tiện dạy học để biểu diễn trực quan những nội dung tri thức nhất định. Mặt khác,
khi tổ chức cho học viên làm việc trực tiếp với máy tính điện tử cũn tạo cho họ
cú cơ hội có được tri thức, kỹ năng cần thiết về sử dụng máy tính điện tử. Như
vậy, máy tính điện tử được ứng dụng vào dạy học với tư cách là nguồn tri thức,
phương tiện thực hành về môn máy tính điện tử. Phương hướng ứng dụng công
nghệ thông tin hay máy tính điện tử cho hai nhiệm vụ đó như sau:
Công nghệ thông tin phải được coi là một phương tiện có hiệu quả nhất hiện
nay, góp phần cùng với các thành tố khác trong quá trỡnh dạy học để đạt được mục
đích đào tạo. Tuy có khả năng rất lớn nhưng công nghệ thông tin vẫn chỉ là phương
tiện của giáo viên và học viên, phát huy khả năng to lớn thông qua hoạt động của
giáo viên và học viên. Vỡ vậy, khai thỏc cỏc khả năng của công nghệ thông tin phải
căn cứ vào mục đích dạy học, đồng thời nhằm vào hoạt động dạy và học cụ thể.
Ứng dụng công nghệ thông tin phải tính tới sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh
vực này cũng như sự phát triển của khoa học – công nghệ nói chung. Sự phát
triển đó sẽ làm cho các trang thiết bị, các phương pháp và cả nội dung thông tin
có xu hướng nhanh chóng lạc hậu sau một thời gian ra đời. Tính tới sự phát triển
là phải quan tâm ứng dụng những thành tựu mới nhất, hiện đại nhất vào dạy học,
phải giảng dạy cho học viên những tri thức mới nhất về công nghệ thông tin,
trong đó đặc biệt chú trọng tới phương pháp và thái độ ứng xử với sự phát triển
của khoa học – công nghệ nói chung và công nghệ thông tin nói riêng. Ứng


dụng công nghệ thông tin phải mạnh dạn, không quá thận trọng để kịp thời ứng

dụng những thành tựu mới vào nâng cao chất lượng đào tạo. Sự thận trọng cân
nhắc, tính toán kỹ lưỡng trước mỗi quyết định ứng dụng phải tập trung vào tính
năng mới, đa dụng của công nghệ thông tin. Không nên đầu tư, phát triển tràn
lan, đồng loạt cùng một hệ thiết bị, dù là hiện đại nhất, mà nên theo hướng bổ
xung, hoàn chỉnh, thay thế dần. Bổ xung đến đâu phải nhanh chóng khai thác
triệt để mọi tính năng đến đó.
Ứng dụng công nghệ thông tin phải thực hiện tốt hơn vai trũ chủ đạo của
giáo viên, đồng thời phát huy vai trũ chủ thể nhận thức, nõng cao tớnh tớch cực,
tớnh độc lập, sáng tạo của học viên, phải làm sao để công nghệ thông tin, máy
tính điện tử thực sự là công cụ trợ giúp cho hoạt động dạy và học. Ứng dụng
công nghệ thông tin phải giúp cho giáo viên có thêm nhiều điều kiện để có thể
chuyển trọng tâm hoạt động dạy sang thiết kế, tổ chức và điều khiển hoạt động
nhận thức của học viên. Như vậy, giáo viên phải được quan tâm nâng cao trỡnh
độ chuyên môn trong mối quan hệ thống nhất với trỡnh độ làm chủ công nghệ
thông tin trong dạy học khi ứng dụng công nghệ thông tin. Có như vậy những
ứng dụng công nghệ thông tin mới thực sự biến thành hiệu quả nâng cao chất
lượng dạy học trong nhà trường.
Ứng dụng cụng nghệ thụng tin phải gúp phần phổ cập tri thức tin học rộng rói
trong nhà trường và trong xó hội. Điều đó xuất phát từ vai trũ của cụng nghệ thụng
tin đối với sự phát triển kinh tế - xó hội, phản ỏnh xu hướng thời đại, đồng thời tri
thức tin học cũn giỳp học viờn làm chủ cụng nghệ thụng tin, dành được kết quả học
tập cao hơn, làm cho hệ thống phẩm chất và năng lực của học viên qua đào tạo sẽ
đáp ứng tốt hơn thực tiễn sản xuất, chiến đấu xây dựng quân đội hiện nay.
Tóm lại, phương pháp dạy học là một vấn đề rất quan trọng và tối cần thiết,
vì vậy nó luôn được các nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu từ xa xưa trong lịch
sử cho đến ngày nay. Trước những yêu cầu mới của xã hội, yêu cầu của lý luận
dạy học, việc dạy học không những phải trang bị những kiến thức kỹ năng , kỹ


xảo mà còn để phát triển trí tuệ, thì đổi mới phương pháp dạy học là một tất yếu

khách quan.
Ngày nay, sự phát triển của quân đội, của sự nghiệp giáo dục đào tạo trong
thời kỳ phát triển mới của đất nước. Trong khi đó, phương pháp dạy học ở các
trường đại học bên cạnh những thành tựu kết quả đã đạt được vẫn còn tồn tại
những hạn chế bất cập. Vì vậy, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành một vấn đề bức thiết hiện nay.
Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học trong thời gian tới cần vận
dụng các phương pháp kích thích tính tích cực nhận thức của người học, tăng
cường các phương pháp dạy học thực hành nghề nghiệp, tăng cường các
phương pháp dạy học mang tính chất nghiên cứu khoa học, đổi mới các phương
tiện kỹ thuật dạy học và ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin vào
dạy học. Trong quá trình thực hiện cần nắm vững những ưu, nhược điểm của
từng phương pháp căn cứ vào điều kiện thực tiễn để áp dụng cho phù hợp. Luôn
bám sát các thành tựu của khoa học giáo dục hiện đại để vận dụng vào thực tiễn
dạy học. Luôn đổi mới, phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên, các lực lượng sư
phạm, các tổ chức cùng tham gia. Đổi mới phải tiến hành đồng bộ cùng với đổi
mới nội dung, mục tiêu và các thành tố trong quá trình dạy học. Có như vậy
chúng ta mới đem lại chất lượng, hiệu quả cao trong quá trình dạy học, đáp ứng
yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao trong thời kỳ mới./.



×