Tải bản đầy đủ (.docx) (101 trang)

Nghiên cứu việc vận dụng chuẩn mực kế toán tài sản cố định hữu hình tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (417.89 KB, 101 trang )

MỤC LỤC


2

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tài sản cố định là một phần quan trọng trong tài sản dài hạn của nhiều
doanh nghiệp, là một trong những yếu tố không thể thiếu trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào. Trong thực tế doanh
nghiệp (DN) không chỉ mua sắm, xây dựng mà còn phải quản lý hợp lý tài sản
cố định theo các quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, để đáp ứng kịp
thời với tình hình thực tế về yêu cầu cung cấp thông tin phù hợp, đa dạng và
tạo điều kiện hội nhập với hệ thống thông tin kế toán trong khu vực và chuẩn
mực kế toán quốc tế, Bộ tài chính đã nghiên cứu soạn thảo và ban hành 26
chuẩn mực kế toán (CMKT) Việt Nam. Các chuẩn mực này được xây dựng
dựa trên nền tảng của chuẩn mực kế toán quốc tế trong đó có điều chỉnh để
phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Tuy nhiên, từ khi CMKT được ban hành cho đến nay, việc vận dụng các
chuẩn mực kế toán nói chung và chuẩn mực kế toán Tài Sản Cố Định hữu
hình (TSCĐHH) nói riêng tại các doanh nghiệp trong thời gian qua đã xuất
hiện nhiều vấn đề cần được xem xét và nghiên cứu. Vấn đề đặt ra là CMKT
TSCĐHH được vận dụng như thế nào và ở mức độ ra sao? Từ đó có thể đưa
ra các giải pháp nhằm vận dụng tốt chuẩn mực TSCĐHH ở các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc ra đời Chuẩn mực TSCĐHH nhưng từ trước đến nay
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vẫn chưa có một nghiên cứu nào về việc vận
dụng chuẩn mực TSCĐHH trong thực tế các doanh nghiệp. Do đó, đây là lý
do tôi chọn đề tài “Nghiên cứu việc vận dụng chuẩn mực kế toán tài sản cố
định hữu hình tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”.



3

2. Mục tiêu nghiên cứu


Đánh giá việc vận dụng chuẩn mực TSCĐHH ở các DN tại thành phố Đà



Nẵng.
Đưa ra các giải pháp nhằm vận dụng tốt chuẩn mực TSCĐHH ở các DN trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3. Đối tượng nghiên cứu



Đối tượng nghiên cứu là: việc vận dụng CMKT Tài Sản Cố Định Hữu Hình
và các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng CMKT Tài Sản Cố Định Hữu
Hình tại các DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ở hai khía cạnh là đo lường
và trình bày.



Đối tượng khảo sát: kế toán viên tại tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
4. Phạm vi nghiên cứu




Phạm vi nghiên cứu: Là các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,
ngoại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp



trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán.
Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành vào năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng bảng câu hỏi để tiến hành điều tra các doanh nghiệp về
vận dụng CMKT Tài Sản Cố Định Hữu Hình, sau đó xử lý số liệu bằng phần
mềm SPSS, từ đó đưa ra các kết luận và hướng giải quyết.
Tiến trình nghiên cứu được thông qua 2 giai đoạn như sau:


4



Khảo sát sơ bộ: thiết kế nháp bảng câu hỏi, sau đó tham khảo ý kiến của
chuyên gia và những người làm công tác kế toán có kinh nghiệm lâu năm.
Tiếp đến sẽ phỏng vấn ngẫu nhiên với 10 kế toán viên tại các Doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để lấy thông tin làm cơ sở cho việc xây dựng
các ý tưởng cho bảng câu hỏi.



Nghiên cứu chính thức bằng bảng câu hỏi điều tra: Thông qua bảng câu hỏi để
thu thập thông tin về việc vận dụng chuẩn mực Tài Sản Cố Định Hữu Hình tại
các Doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Sau đó, tổng hợp các câu
trả lời từ bảng câu hỏi và xử lý bằng phần mềm SPSS để phân tích và ghi

nhận kết quả. Số lượng các DN để khảo sát là 100 doanh nghiệp.
6. Bố cục đề tài
Đề tài có kết cấu bao gồm 04 chương:
Chương 1: Chuẩn mực kế toán Tài Sản Cố Định Hữu Hình
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Một số kiến nghị
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
7.1 Các nghiên cứu trong nước



TS. Trần Đình Khôi Nguyên (2010): “Bàn về mô hình các nhân tố ảnh hưởng
đến vận dụng chế độ kế toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Nghiên cứu
cho thấy trình độ của nhân viên kế toán cùng với sự tác động của hệ thống
pháp luật đã ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng chế độ kế toán, công tác
kế toán tại các doanh nghiệp chỉ chú trọng cho mục đích kê khai thuế, sự thay
đổi về cơ chế quản lý của DN từ cơ quan thuế cũng được xem là nhân tố ảnh
hưởng đến việc vận dụng chế độ kế toán, chi phí cho công việc kế toán vẫn


5

chưa được đánh giá cao trong việc ảnh hưởng đến chất lượng thông tin và
năng lực hạn chế của nhân viên kế toán cũng ảnh hưởng đến việc vận dụng


chuẩn mực kế toán.
Nguyễn Thị Thúy An (2013): “Nghiên cứu việc vận dụng chuẩn mực kế toán
hàng tồn kho tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng”. Nghiên

cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc việc vận dụng CMKT hàng tồn
kho bao gồm: các nhân tố thuộc về xây dựng, ban hành CMKT (Đặc thù kinh
tế- xã hội, Sự phức tạp của CMKT, Ảnh hưởng của công tác kiểm toán và yêu
cầu công bố thông tin), nhân tố thuộc về DN (Nhận thức của nhà quản trị,



Trình độ của kế toán viên; Qui mô doanh nghiệp).
Cao Thị Hoa (2014): “Nghiên cứu việc vận dụng CMKT Thuế Thu nhập
doanh nghiệp tại các Doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng”. Nghiên cứu
xác định được 5 nhân tố tác động đến việc vận dụng CMKT thuế TNDN gồm:
(1) Đặc thù kinh tế- xã hội, (2) Sự phức tạp của CMKT, (3) Ảnh hưởng của
công tác kiểm toán, (4) Nhận thức của nhà quản trị, (5) Trình độ của kế toán
viên.
7.2 Các nghiên cứu nước ngoài



Szilveszter Fekete và cộng sự (2009): “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ
tuân thủ chuẩn mực kế toán quốc tế: trường hợp các công ty niêm yết trên sàn
chứng khoán ở Hungary”. Nghiên cứu được thực hiện với dữ liệu thu thập từ
18 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán ở Hungary và phân tích dữ liệu
bằng SPSS 14.0. Kết quả cho thấy có hai yếu tố tác động đến mức độ tuân thủ



chuẩn mực kế toán quốc tế là Quy mô công ty, ngành nghề doanh nghiệp.
Abdullah, Mazni (2011): “Tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS)
trong một đất nước đang phát triển: trường hợp của Malaysia”. Nghiên cứu
này sử dụng các báo cáo hàng năm của 225 công ty niêm yết của Malaysia

được kiểm tra và phỏng vấn với các nhà quản lý, nhân viên khai thuế và kiểm
toán viên được tiến hành. Nghiên cứu này cho thấy rằng các loại hình sở hữu


6

không ảnh hưởng đến việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán. Phân tích hồi quy
đa biến cung cấp bằng chứng cho thấy: Đặc thù kinh tế - xã hội; Thái độ nhận
thức của quản lý cấp cao; Sự phức tạp của các chuẩn mực kế toán; Trình độ
kế toán; Công tác kiểm toán; Yếu tố chính trị là các nhân tố có ảnh hưởng đến


việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế.
Các nghiên cứu trên chỉ mới nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc
vận dụng chế độ kế toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc nghiên cứu
việc vận dụng CMKT Hàng Tồn Kho hay vận dụng CMKT Thuế thu nhập
DN, chứ chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu vận dụng CMKT TSCĐHH tại
các DN trên địa bàn Thành Phố Đà Nẵng. Do vậy, đây cũng là một khoảng
trống nghiên cứu để tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình.


7

CHƯƠNG 1

CHUẨN MỰC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH
1.1. TIÊU CHUẨN GHI NHẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
HỮU HÌNH
1.1.1


Tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định hữu hình
Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh
nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với
tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH. (VAS 03, 2001)
Thông tư 45/2013/TT-BTC, về Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và
trích khấu hao tài sản cố định định nghĩa một cách cụ thể hơn. Theo đó, tài
sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất
thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu
kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa,
vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải...
Các tài sản được ghi nhận là TSCĐHH phải thỏa mãn đồng thời cả ba (3)
tiêu chuẩn ghi nhận sau:
a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài
sản đó;
b) Có thời gian sử dụng trên 1 năm;
c) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy và có giá
trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.
Tuy nhiên, theo chuẩn mực kế toán quốc tế thì hai điều kiện để ghi nhận
một khoản chi phí là tài sản cố định hữu hình khi khoản chi phí đó mang lại
lợi ích kinh tế trong tương lai và lợi ích đó có thể được xác định một cách
đáng tin cậy.


8

Chuẩn mực kế toán quốc tế chỉ đưa ra hai tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH
trong khi chuẩn mực kế toán Việt Nam có đưa thêm hai tiêu chuẩn về thời
gian sử dụng ước tính và tiêu chuẩn về giá trị. Sự khác biệt trong việc ghi
nhận TSCĐHH giữa hai chuẩn mực trên là do kế toán quốc tế được ban hành
để áp dụng chung cho nhiều quốc gia trên thế giới nên giá trị đồng tiền của

mỗi quốc gia là khác nhau vì vậy không thể dùng một tiêu chuẩn giá trị chung
cho tất cả các quốc gia được. Từng quốc gia tuỳ vào đặc điểm kinh tế, xã hội,
hệ thống luật pháp, giá trị đồng tiền… mà vận dụng chuẩn mực kế toán quốc
tế để đưa ra một tiêu chuẩn giá trị về TSCĐHH hợp lý nhất cho quốc gia
mình. Tương tự như thế, mặc dù có nhiều quốc gia chọn năm dương lịch cũng
là năm tài chính nhưng quan điểm năm tài chính của nhiều quốc gia còn phụ
thuộc vào các yếu tố khác như lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc thù doanh
nghiệp,… do đó chuẩn mực kế toán quốc tế không đưa ra tiêu chuẩn về thời
gian sử dụng của TSCĐHH.
1.1.2. Đặc điểm tài sản cố định hữu hình
Từ khái niệm về TSCĐHH, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra những đặc
điểm của nó:
Một là, đặc điểm đầu tiên dễ nhận thấy nhất của TSCĐHH là những tài
sản có hình thể vật chất cụ thể, rõ ràng mà chúng ta có thể nhận diện, phân
loại bằng mắt thường.
Hai là, tài sản cố định hữu hình có đặc điểm cơ bản nhất là có thời gian
sử dụng dài, có nghĩa là tài sản này sẽ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Ba là, vì tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên giá trị của
TSCĐHH không chuyển dịch một lần vào giá trị của thực thể sản phẩm được
tạo ra trong một kỳ kinh doanh mà giá trị của TSCĐHH sẽ bị hao mòn dần
trong suốt quá trình sử dụng nó. Đặc điểm này dẫn đến một thuộc tính khác


9

mà chỉ tồn tại trong loại tài sản này đó là khấu hao. Khấu hao là sự phân bổ
một cách có hệ thống giá trị của TSCĐHH vào chi phí của các chu kỳ kinh
doanh mà TSCĐHH đó tham gia.
Bốn là, theo Kế toán Việt Nam thì tiêu chuẩn giá trị hiện hành của

TSCĐHH là từ 30.000.000 đồng trở lên do đó đôi khi nó được hình thành từ
một nguồn vốn hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau. Vấn đề này chưa được đề
cập trong kế toán quốc tế.
1.2.

ĐẶC ĐIỂM CỦA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH ẢNH HƯỞNG

ĐẾN CÔNG TÁC KẾ TOÁN
Do những đặc điểm trên của TSCĐHH nên công tác kế toán đối với
TSCĐHH bị ảnh hưởng rất lớn từ khâu xác định giá trị nguyên giá ban đầu
cho tới khâu xác định giá trị hao mòn cũng như việc theo dõi chi tiết
TSCĐHH.
Đầu tiên, từ khâu xác định giá trị nguyên giá ban đầu đã có sự khác biệt
so với các tài khoản khác của doanh nghiệp.
Do TSCĐHH được phân thành nhiều loại khác nhau tuỳ thuộc vào yếu tố
hình thành dẫn đến nguyên giá của TSCĐHH cũng sẽ được xác định theo
nhiều cách khác nhau.
Hai là, việc xác định giá trị hao mòn của TSCĐHH cũng ảnh hưởng đến
công tác kế toán. Như đã đề cập ở trên, TSCĐHH có đặc điểm là tham gia vào
nhiều chu kỳ sản xuất, kinh doanh nên giá trị của nó được phân bổ dần vào
chi phí kinh doanh trong từng kỳ theo các tiêu thức phù hợp.
Ba là, theo dõi chi tiết TSCĐHH cũng là một công việc khá phức tạp.
Ngay khi tiếp nhận TSCĐHH, doanh nghiệp phải phân loại một cách chính
xác TSCĐHH đó thuộc loại nào, ghi vào sổ, thẻ TSCĐHH một cách chính


10

xác. Hằng năm khi lập BCTC DN phải theo dõi chi tiết cho từng TSCĐHH ở
3 khía cạnh là nguyên giá, giá trị khấu hao và giá trị còn lại.


1.3. CƠ SỞ GIÁ ĐỂ ĐO LƯỜNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH
1.3.1

Giá gốc hay giá lịch sử
Giá gốc (giá lịch sử) là giá thực tế phát sinh liên quan đến việc hình
thành tài sản, nợ phải trả ở doanh nghiệp. Đối với TSCĐHH, đo lường theo
giá gốc phản ánh số tiền hoặc tương đương tiền được chi ra để có được một
TSCĐHH tại thời điểm mà TSCĐHH đó ở trạng thái sẵn sàng sử dụng. (Kế
toán tài chính 1, Đại học kinh tế Đà Nẵng, 2010)
Giá gốc được sử dụng đến trong các trường hợp tiếp nhận TSCĐHH, khi
lập BCTC.
Giá gốc có ưu điểm là loại giá được sử dụng phổ biến trong đo lường tài
sản và nợ phải trả vì tính khách quan và sự xác thực của nó giữa các bên có
liên quan đến một nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Thông tin kế toán được phản
ánh qua giá gốc đảm bảo được tính tin cậy do có những bằng chứng đáng tin
cậy, do vậy có ích cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc ra quyết
định.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc sử dụng giá gốc cũng có một số
hạn chế. Khi thị trường có biến động lớn hoặc nền kinh tế có mức lạm phát
cao sẽ khiến khoảng cách giữa giá gốc và giá thị trường là rất lớn, điều này sẽ
làm thông tin kế toán phản ánh không xác thực với tình hình tài chính hiện tại
của doanh nghiệp.


11

1.3.2.

Giá thay thế

Giá thay thế là loại giá mà nó phản ánh số tiền hoặc tương đương tiền
phải chi ra ở thời điểm hiện tại để có được một tài sản tương tự hay thanh lý
một khoản nợ tương tự. (Kế toán tài chính 1, Đại học kinh tế Đà Nẵng, 2010)
Giá thay thế được sử dụng khi doanh nghiệp có những biến động lớn như
giải thể, phá sản, sáp nhập, định giá lại,…
Ưu điểm của giá thay thế là giá gần đúng nhất so với giá trị của tài sản
trên thị trường. Do đó, giá thay thế phản ánh thông tin xác thực với tình hình
tài chính hiện tại của doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế có biến động
lớn về giá.
Nhược điểm của loại giá này là không đảm bảo tính tin cậy và khách
quan vì không có những chứng cứ xác thực chứng minh.

1.3.3

Giá trị có thể thực hiện được/Giá trị thanh lý
Nếu giá thay thế được xem là giá đầu vào thì giá trị có thể thực hiện
được xem như giá đầu ra. Giá trị có thể thực hiện được hay giá trị thanh lý là
số tiền hay tương đương tiền mà đơn vị kỳ vọng có thể thu được từ bán những
tài sản hiện tại của đơn vị do yêu cầu thanh lý tài sản. (Kế toán tài chính 1,
Đại học kinh tế Đà Nẵng, 2010)
Khác với hai loại giá trên, loại giá này liên quan đến hoạt động bán,
thanh lý một tài sản.
Ưu điểm của loại giá này là khi doanh nghiệp thanh lý tài sản, giá này
thường được quan tâm để những bên có liên quan đến lợi ích doanh nghiệp có
thể ước tính khả năng tiếp cận các phần vốn còn lại của họ trong doanh
nghiệp.
Tuy nhiên, nhược điểm của giá này là khi vận dụng giả thuyết hoạt động
liên tục, loại giá này ít được vận dụng trong công tác kế toán.



12

1.3.4

Giá trị hiện tại hay hiện giá
Giá trị hiện tại là giá trị dự kiến của các dòng tiền trong tương lai có liên
quan đến một tài sản hoặc một khoản nợ phải trả, được chiết khấu theo một
lãi suất nào đó. Theo cách đo lường này, giá trị của tài sản là giá trị chiết khấu
hiện tại của các dòng tiền thu vào trong tương lai dự kiến thu được từ tài sản
này. Tương tự, giá trị khoản nợ phải trả là giá trị chiết khấu hiện tại của các
ḍòng tiền chi ra trong tương lai dự kiến phải trả để có được khoản nợ đó. (Kế
toán tài chính 1, Đại học kinh tế Đà Nẵng, 2010)
Giá trị hiện tại được sử dụng khi doanh nghiệp muốn xác định lợi ích
kinh tế từ tài sản tạo ra trong tương lai. Kế toán sử dụng giá trị hiện tại để tính
nguyên giá TSCĐHH hình thành qua hoạt động thuê tài chính. Do đặc điểm
của hoạt động thuê tài chính là doanh nghiệp không phải thanh toán ngay tiền
mua và việc thanh toán sẽ diễn ra trong nhiều kỳ. Khi đó việc tính giá trị hiện
tại như là cơ sở cho việc xác định một cách hợp lý giá trị của TSCĐHH nhận
được qua thuê tài chính.
Đo lường theo giá trị hiện tại thực chất là dựa vào khái niệm lợi nhuận
kinh tế. Cách định giá này có ưu điểm là đã quy đổi tài sản, nợ phải trả theo
một giá trị tương đương.
Tuy nhiên, nhược điểm của giá này liên quan đến tính tin cậy khi xác
định các yếu tố để hiện tại hoá như: rủi ro, tỷ lệ chiết khấu, thay đổi tỷ lệ lãi
suất và tính không chắc chắn của dòng tiền tương lai.
1.4. ĐO LƯỜNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH


13


1.4.1.

Đo lường tài sản cố định hữu hình tại thời điểm ghi nhận ban đầu theo
mô hình giá gốc của kế toán Việt Nam

a)

Tài sản cố định hữu hình mua sắm
Theo Chuẩn mực số 03 Tài Sản Cố Định Hữu Hình thì nguyên giá
TSCĐHH mua sắm được tính theo công thức sau:
Nguyên giá TSCĐHH mua sắm = Giá mua - CKTM, giảm giá + Các
khoản thuế không được hoàn lại + Các chi phí liên quan đến việc đưa TS vào
trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Trong đó, các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản cố định vào
trạng thái sẵn sàng sử dụng như: lãi tiền vay phát sinh trong quá trình đầu tư
mua sắm tài sản cố định; chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí
lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan trực tiếp khác.
Đối với TSCĐ hữu hình hình thành do đầu tư xây dựng theo phương
thức giao thầu, nguyên giá là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng, các
chi phí liên quan trực tiếp khác và lệ phí trước bạ (nếu có).
Trường hợp mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với
quyền sử dụng đất thì giá trị quyền sử dụng đất phải được xác định riêng biệt
và ghi nhận là TSCĐ vô hình.
Trường hợp TSCĐ hữu hình mua sắm được thanh toán theo phương thức
trả chậm, nguyên giá TSCĐ đó được phản ánh theo giá mua trả ngay tại thời
điểm mua. Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá mua trả
ngay được hạch toán vào chi phí theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch
đó được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình (vốn hóa) theo quy định của
chuẩn mực kế toán “Chi phí đi vay”.
Các khoản chi phí phát sinh, như: Chi phí quản lý hành chính, chi phí

sản xuất chung, chi phí chạy thử và các chi phí khác... nếu không liên quan
trực tiếp đến việc mua sắm và đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng thì


14

không được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình. Các khoản lỗ ban đầu do
máy móc không hoạt động đúng như dự tính được hạch toán vào chi phí sản
xuất, kinh doanh trong kỳ.
b)

Tài sản cố định hữu hình tự xây dựng hoặc tự sản xuất
Theo Chuẩn mực số 03 Tài Sản Cố Định Hữu Hình thì nguyên giá
TSCĐHH tự xây dựng hoặc tự sản xuất được tính theo công thức sau:
Nguyên giá TSCĐHH tự xây dựng, tự sản xuất = Giá thành thực tế của
TSCĐ + Chi phí lắp đặt, chạy thử.
Trường hợp doanh nghiệp dùng sản phẩm do mình sản xuất ra để chuyển
thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm đó cộng (+) các chi
phí trực tiếp liên quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Trong các trường hợp trên, mọi khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyên
giá của các tài sản đó. Các chi phí không hợp lý, như nguyên liệu, vật liệu
lãng phí, lao động hoặc các khoản chi phí khác sử dụng vượt quá mức bình
thường trong quá trình tự xây dựng hoặc tự chế không được tính vào nguyên
giá TSCĐ hữu hình.

c)

Tài sản cố định hữu hình thuê tài chính
Trường hợp đi thuê TSCĐ hữu hình theo hình thức thuê tài chính,
nguyên giá TSCĐ được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán “Thuê

tài sản”.

d)

Tài sản cố định hữu hình mua dưới hình thức trao đổi
Theo Chuẩn mực số 03 Tài Sản Cố Định Hữu Hình thì nguyên giá
TSCĐHH mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐHH không tương tự
hoặc tài sản khác được xác định theo giá trị hợp lý của TSCĐHH nhận về,
hoặc giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền
hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu về.


15

Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ
hữu hình tương tự, hoặc có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở
hữu một tài sản tương tự (tài sản tương tự là tài sản có công dụng tương tự,
trong cùng lĩnh vực kinh doanh và có giá trị tương đương). Trong cả hai
trường hợp không có bất kỳ khoản lãi hay lỗ nào được ghi nhận trong quá
trình trao đổi. Nguyên giá TSCĐ nhận về được tính bằng giá trị còn lại của
TSCĐ đem trao đổi. Ví dụ: Việc trao đổi các TSCĐ hữu hình tương tự như
trao đổi máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, các cơ sở dịch vụ hoặc TSCĐ
hữu hình khác.
e)

Tài sản cố định hữu hình tăng từ các nguồn khác
Nguyên giá TSCĐHH được tài trợ, được biếu tặng, được ghi nhận ban
đầu theo giá trị hợp lý ban đầu. Trường hợp không ghi nhận theo giá trị hợp lý
ban đầu thì doanh nghiệp ghi nhận theo giá trị danh nghĩa cộng (+) các chi phí
liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.


1.4.2.

Đo lường các chi phí sau ghi nhận ban đầu liên quan đến tài sản cố định
hữu hình

a)

Đặc trưng các loại chi phí sau ghi nhận ban đầu



Chi phí sửa chữa thường xuyên
Là công việc sửa chữa nhỏ, lặt vặt, mang tính duy tu, bảo dưỡng hoặc
thay thế những bộ phận, chi tiết nhỏ của TSCĐ. Việc sửa chữa này nhằm giữ
cho TSCĐ có trạng thái tốt, bình thường đảm bảo an toàn lao động trong quá
trình sản xuất kinh doanh.
Đặc điểm của loại hình sửa chữa này là thời gian tiến hành sửa chữa
ngắn, chi phí sửa chữa chiếm một tỉ trọng nhỏ không đáng kể so với tổng chi
phí kinh doanh trong kỳ.


16

Vì vậy chi phí sửa chữa thường xuyên được tập hợp trực tiếp vào chi phí
kinh doanh của kỳ hạch toán mà nghiệp vụ sửa chữa diễn ra. Chi phí sửa chữa
này được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh của kỳ hiện hành.


Chi phí sửa chữa lớn mang tính phục hồi

Chi phí sửa chữa lớn mang tính phục hồi là những chi phí liên quan đến
việc sửa chữa, thay thế những bộ phận, chi tiết bị hư hỏng trong quá trình sử
dụng mà nếu không sửa chữa, thay thế thì TSCĐHH đó sẽ không hoạt động
được hoặc hoạt động không bình thường.
Chi phí sửa chữa lớn này là khá cao, thời gian sửa chữa thường kéo dài
và công việc sửa chữa có thể tiến hành theo kế hoạch định sẵn hoặc ngoài kế
hoạch. Toàn bộ chi phí sửa chữa lớn mang tính phục hồi được tập hợp riêng
theo từng công trình hay từng TSCĐHH và được đưa vào chi phí phải trả (nếu
sửa chữa theo kế hoạch) hoặc tính vào chi phí trả trước (nếu sửa chữa ngoài
kế hoạch).



Chi phí sửa chữa lớn mang tính nâng cấp
Chi phí sửa chữa lớn mang tính nâng cấp là công việc sửa chữa nhằm
kéo dài tuổi thọ của TSCĐHH hay nâng cao năng suất, tính năng, tác dụng
của TSCĐHH, bao gồm các trường hợp sau:
Một là, thay đổi, bổ sung thêm các bộ phận của TSCĐHH làm tăng thời
gian sử dụng hữu ích hoặc làm tăng công suất sử dụng của chúng;
Hai là, cải tiến bộ phận của TSCĐHH làm tăng đáng kể chất lượng sản
phẩm sản xuất ra;
Ba là, áp dụng quy trình công nghệ sản xuất mới làm giảm chi phí hoạt
động của TSCĐHH so với trước.
Toàn bộ chi phí sửa chữa lớn mang tính phục hồi được tập hợp riêng
theo từng công trình hay từng TSCĐHH và khi việc sửa chữa hoàn thành, bàn


17

giao, toàn bộ chi phí sẽ được ghi tăng nguyên giá của TSCĐHH (không phân

biệt sửa chữa theo kế hoạch hay ngoài kế hoạch).
b)

Nguyên tắc xử lý chi phí sau ghi nhận ban đầu
Theo đặc trưng của 03 loại chi phí sau ghi nhận ban đầu đã trình bày thì
chúng ta cũng có 03 nguyên tắc xử lý chi phí sau ghi nhận ban đầu, đó là: ghi
nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, ghi nhận chi phí trả trước và
tiến hành phân bổ hoặc trích trước và vốn hóa (ghi tăng nguyên giá)
TSCĐHH.



Ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
Doanh nghiệp chỉ được ghi nhận các khoản chi phí sửa chữa thường
xuyên vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.



Ghi nhận chi phí trả trước và tiến hành phân bổ hoặc trích trước
Các loại chi phí sửa chữa lớn mang tính phục hồi được ghi nhận là chi
phí trả trước và tiến hành phân bổ hoặc trích trước. Khi đó các chi phí sửa
chữa TSCĐHH không được ghi nhận tăng nguyên giá (vốn hoá) TSCĐHH mà
được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ,
nhưng tối đa không quá 3 năm.
Đối với những tài sản cố định mà việc sửa chữa có tính chu kỳ thì doanh
nghiệp được trích trước chi phí sửa chữa theo dự toán vào chi phí hàng năm.
Nếu số thực chi phí sửa chữa TSCĐHH lớn hơn số trích theo dự toán thì
doanh nghiệp được tính thêm vào chi phí hợp lý số chênh lệch này. Nếu số
thực chi sửa chữa TSCĐHH nhỏ hơn số đã trích thì phần chênh lệch được
hạch toán giảm chi phí kinh doanh trong kỳ.

Khi doanh nghiệp tiến hành trích trước chi phí điều đó cũng có nghĩa là
toàn bộ chi phí sửa chữa trong trường hợp này đều được tính vào chi phí kinh
doanh trong kỳ và đã được dự toán trước từ đầu năm. Việc làm này cho thấy
doanh nghiệp đã chủ động trong việc ghi nhận các khoản chi phí trên và lập


18

kế hoạch dự toán trong kỳ. Tuy nhiên, nếu số tiền phát sinh lớn thì doanh
nghiệp không nên sử dụng phương án này vì sẽ làm ảnh hưởng lớn đến lợi
nhuận cuối kỳ cũng như ảnh hưởng đến nguyên tắc phù hợp trong kế toán.
Ngược lại khi doanh nghiệp tiến hành ghi nhận vào chi phí trả trước và
tiến hành phân bổ cũng có nghĩa là không có một dự toán chi phí và lợi nhuận
vào đầu kỳ và thường doanh nghiệp sẽ chọn chính sách này khi khoản chi phí
sửa chữa phát sinh bất thường, không có tính chu kỳ hay khoản chi phí phát
sinh này lớn.


Vốn hóa (ghi tăng nguyên giá) tài sản cố định hữu hình.
Các chi phí sửa chữa lớn mang tính nâng cấp thì doanh nghiệp không
được trích trước hay ghi nhận vào chi phí trả trước và tiến hành phân bổ mà
phải được phản ánh tăng nguyên giá TSCĐHH đó. Từ đó làm thay đổi giá trị
khấu hao, thời gian sử dụng của TSCĐHH đó.

1.4.3.
a)

Khấu hao tài sản cố định
Khái niệm về hao mòn và khấu hao tài sản cố định
Trong quá trình được sử dụng, dưới tác động của nhiều nguyên nhân nên

tài sản cố định bị hao mòn dần.
Hao mòn tài sản cố định: là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của tài
sản cố định do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của
tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật... trong quá trình hoạt động của tài sản cố định.
(Thông tư 45/2013/TT-BTC)
Hao mòn TSCĐ có thể chia thành hai loại là hao mòn hữu hình và hao
mòn vô hình.
Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị
cọ sát, bị ăn mòn, bị hư hỏng từng bộ phận. Hao mòn hữu hình có thể diễn ra
hai dạng dưới đây:



Hao mòn dưới dạng kỹ thuật xảy ra trong quá trình sử dụng.


19



Hao mòn do tác động của thiên nhiên không phụ thuộc vào việc sử
dụng. Do có sự hao mòn hữu hình nên tài sản mất dần giá trị và giá trị sử
dụng lúc ban đầu, cuối cùng phải thay thế bằng một tài sản khác.
Hao mòn vô hình: là sự giảm dần về giá trị tài sản cố định do tiến bộ
của khoa học kỹ thuật và công nghệ; nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà
TSCĐ được sản xuất ra ngày càng có nhiều tính năng và năng suất cao hơn.
Trong một nền kinh tế càng năng động, càng phát triển thì tốc độ hao mòn
càng nhanh. Vì vậy, đòi hỏi trước hết của các doanh nghiệp là nhà nước phải
có một chính sách hợp lý về quản lý và trích khấu hao, như thế mới đảm bảo
cho doanh nghiệp có thể đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.

Để thu hồi lại giá trị hao mòn của TSCĐHH người ta tiến hành trích
khấu hao.
Khấu hao tài sản cố định: là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ
thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong
thời gian trích khấu hao của tài sản cố định. (Thông tư 45/2013/TT-BTC)
Về phương diện kinh tế, khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh được
giá trị thực của tài sản, đồng thời làm giảm lợi nhuận ròng của doanh nghiệp.
Về phương diện tài chính, khấu hao là một phương tiện tài trợ giúp cho
doanh nghiệp thu được một phần giá trị đã mất của TSCĐHH.
Về phương diện thuế, khấu hao là một khoản chi phí được trừ vào lợi
nhuận chịu thuế, tức là được tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp.
Về phương diện kế toán, khấu hao là việc ghi nhận sự giảm giá của
TSCĐHH.

b)

Các phương pháp khấu hao tài sản cố định hữu hình
Cả Chuẩn mực TSCĐHH của kế toán Việt Nam hay kế toán quốc tế đều
đưa ra 03 phương pháp khấu hao TSCĐHH, gồm:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng;


20

+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh; và
+ Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.
Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, số khấu hao hàng năm không
thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Theo phương pháp
khấu hao theo số dư giảm dần, số khấu hao hàng năm giảm dần trong suốt
thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Phương pháp khấu hao theo số lượng

sản phẩm dựa trên tổng số đơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra.
Phương pháp khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐ
hữu hình phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách
thức sử dụng tài sản đó.
Doanh nghiệp không được tiếp tục tính khấu hao đối với những TSCĐ
hữu hình đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn còn sử dụng vào hoạt động sản
xuất, kinh doanh.
• Phương pháp trích khấu hao đường thẳng
Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, mức khấu hao hàng năm của
một TSCĐ được tính theo công thức sau

Trong đó:
Tỷ lệ khấu
hao năm

= 1 / Số năm sử dụng dự kiến

Mức trích khấu hao trung bình tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm
chia cho 12 tháng


21

Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của TSCĐ thay đổi, doanh
nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của TSCĐ bằng cách
lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia cho thời gian sử dụng xác định lại hoặc
thời gian sử dụng còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng
đã đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của TSCĐ.
Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng TSCĐ
được xác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao luỹ kế đã thực

hiện đến năm trước năm cuối cùng của TSCĐ đó.
Đối với những tài sản cố định được mua sắm đầu tư mới thì số năm sử
dụng dự kiến phải nằm trong khoảng thời gian sử dụng tối đa và tối thiểu do
Nhà nước quy định. Tuy nhiên, để xác định số năm sử dụng dự kiến cho từng
TSCĐ cụ thể, doanh nghiệp phải dựa vào những căn cứ chủ yếu sau:



Tuổi thọ kỹ thuật của tài sản cố định theo thiết kế.
Hiện trạng tài sản cố định (Thời gian tài sản cố định đã qua sử dụng, thế hệ tài



sản cố định, tình trạng thực tế của tài sản,…)
Tuổi thọ kinh tế của tài sản cố định: Được quyết định bởi thời gian kiểm soát
TSCĐ hoặc yếu tố hao mòn vô hình do sự tiến bộ kỹ thuật.

• Phương pháp trích khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
Phương pháp trích khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh được sử
dụng đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay
đổi, phát triển nhanh và TSCĐ phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:



Là TSCĐ đầu tư mới (chưa qua sử dụng).
Là các loại máy móc, thiết bị, dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm.


22


Các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh tế cao được khấu hao
nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương
pháp đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ. Tài sản cố định tham
gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao nhanh là máy móc, thiết bị,
dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm, thiết bị và phương tiện vận tải, dụng
cụ quản lý, súc vật, vườn cây lâu năm. Khi thực hiện trích khấu hao nhanh,
doanh nghiệp phải đảm bảo kinh doanh có lãi.
Doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của TSCĐ theo quy định tại
Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành kèm theo Quyết
định số 206/2003 QĐ - BTC của Bộ tài chính.
Xác định mức trích khấu hao năm của TSCĐ trong các năm đầu theo
công thức dưới đây:

Trong đó:
Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ khấu hao
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo phương
Hệ số điều
=
X
nhanh (%)
pháp đường thẳng
chỉnh

Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng xác định như sau:
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ
theo

phương


pháp =

1
Thời gian sử dụng của TSCĐ

X 100


23

đường thẳng (%)
Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của TSCĐ quy định tại
bảng dưới đây:
Thời gian sử dụng của TSCĐ

Hệ số điều chỉnh (lần)

Dưới 4 năm ( t < 4 năm)

1,5

Từ 4 đến 6 năm ( 4 năm < t < 6 năm)

2,0

Trên 6 năm ( t > 6năm)

2,5

Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số

dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa
giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ, thì kể từ năm đó mức
khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng
còn lại của TSCĐ.
Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia
cho 12 tháng.
• Phương pháp trích khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm
Phương pháp khấu hao theo sản lượng được áp dụng để tính khấu hao
các loại máy móc, thiết bị thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:



Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm.
Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất



thiết kế của TSCĐ.
Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không thấp



hơn 50% công suất thiết kế.


24



Trình tự thực hiện phương pháp khấu hao TSCĐ theo số lượng, khối lượng




sản phẩm như sau:
Căn cứ vào hồ sơ kinh tế – kỹ thuật của TSCĐ, doanh nghiệp xác định tổng số
lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ, gọi



tắt là sản lượng theo công suất thiết kế.
Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối



lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của TSCĐ.
Xác định mức trích khấu hao trong tháng của TSCĐ theo công thức dưới đây:
Mức trích khấu
hao trong tháng

Số lượng sản phẩm
=

của TSCĐ

sản xuất trong
tháng

Mức trích khấu hao
X


bình quân tính cho
một đơn vị sản phẩm

Trong đó:
Mức trích khấu hao bình
quân tính cho một đơn vị
sản phẩm

Nguyên giá của TSCĐ
= suất thiết kế
Sản lượng theo công

Mức trích khấu hao năm của TSCĐ bằng tổng mức trích khấu hao của 12
tháng trong năm, hoặc tính theo công thức sau:

Mức trích khấu hao năm của TS
Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của TSCĐ thay đổi,
doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của TSCĐ đó.
1.4.4.
a)

Đo lường tài sản cố định hữu hình tại thời điểm lập báo cáo tài chính
Mô hình giá gốc
Đến thời điểm lập báo cáo tài chính, doanh nghiệp cần phải tiến hành đo
lường TSCĐHH của mình. Theo mô hình giá gốc, thì tại thời điểm lập báo


25

cáo tài chính thì TSCĐHH được phản ánh bởi chỉ tiêu giá trị còn lại theo công

thức sau:
Giá trị còn lại của TSCĐHH = Nguyên giá TSCĐHH - Hao mòn lũy kế
của TSCĐHH
Thực tế theo mô hình giá gốc cũng tồn tại khoản tổn thất tài sản của
TSCĐHH. Theo mô hình này, khoản lỗ từ giảm giá trị TSCĐHH được ghi
nhận vào kết quả kinh doanh. Và nếu tài sản bị giảm giá trị, không cần phải
xóa sổ số hao mòn lũy kế hoặc tạo thêm khoản giảm giá trị lũy kế mà có thể
gộp chung khoản giảm giá trị vào hao mòn lũy kế của tài sản đó. Tuy nhiên,
nếu tài sản bị giảm giá trị thì khấu hao sẽ được tính toán dựa trên giá trị có thể
thu hồi mới. Mà giá trị có thể thu hồi là giá cao hơn giữa giá trị hợp lý trừ đi
chi phí bán và giá trị sử dungjcuar tài sản. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế
Việt Nam không áp dụng loại giá này nên khoản tổn thất tài sản không được
đề cập đến.
b)

Mô hình giá hợp lý
Theo mô hình giá hợp lý thì tại thời điểm lập báo cáo tài chính,
TSCĐHH của doanh nghiệp cũng được phản ánh bởi chỉ tiêu giá trị còn lại
nhưng được tính bằng công thức sau:
Giá trị còn lại của TSCĐHH = Giá hợp lý TSCĐHH - Hao mòn lũy kế
của TSCĐHH - Tổn thất tài sản.
Trong đó:
Giá trị hợp lý của tài sản cố định: là giá trị tài sản có thể trao đổi giữa các
bên có đầy đủ hiểu biết và tự nguyện. Về cơ bản, giá trị hợp lý là giá thị trường,
nó thể hiện chi phí cơ hội khi bán tài sản hoặc khi gánh chịu một khoản nợ.
Việc xác định giá trị hợp lý thường sử dụng những ước tính và đánh giá chuyên
môn. Doanh nghiệp ước tính giá trị sẽ nhận được nếu giả định họ bán tài sản



×