Tải bản đầy đủ (.pdf) (59 trang)

Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới môi trường nước và đa dạng sinh học của huyện điện biên, tỉnh điện biên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 59 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------

HOÀNG NGUYỄN THÁI
Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI
MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA
HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Khoa học môi trường

Lớp

: K9 - KHMT

Khoa

: Môi trường

Khóa học


: 2013 – 2015

Giảng viên hướng dẫn

: TS. Nguyễn Chí Hiểu

Thái Nguyên, năm 2014


LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, e xin chân thành cảm ơn!
Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, cùng
toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Môi Trường - Trường Đại học Nông
Lâm – Thái Nguyên.
Cô TS.Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Tổng cục Truyền thông Môi trường Hà
Nội, cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong phòng Truyền thông Môi
trường Hà Nội.
Đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện Đồ án tốt nghiệp
và hoàn thành bài Đồ án này.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn Chí Hiểu
(giảng viên khoa Môi trường, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên) đã
trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bài Đồ án tốt nghiệp này. Em cũng xin
chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Môi trường đã góp những ý
kiến chân thành sâu sắc cho bài Đồ án của em.
Em xin chân thành cảm ơn bạn bè và những người than đã động viên,
tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện Đồ án và hoàn thành
bài Đồ án tốt nghiệp theo đúng tiến độ.
Một lần nữa em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vì sự giúp
đỡ và hướng dẫn quý báu đó.
Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2014

Sinh viên

Hoàng Nguyễn Thái


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BĐKH

Biến đổi khí hậu

BTNMT

Bộ Tài nguyên và Môi trường

ĐDSH

Đa dạng sinh học

FFI

Tổ chức bảo tồn động vật hoang dã quốc tế

GDP


Tổng sản phẩm nội địa

HST

Hệ sinh thái

IPCC

Ban liên chính phủ về BĐKH

TNN

Tài nguyên nước

TTCN

Tỷ trọng công nghiệp

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1. Trận lụt bất thường lịch sử tại Hà Nội vào 11/2008 ....................... 12
Hình 2.2. Rét đậm và rét hại kèo dài tại Mẫu Sơn (Lạng Sơn) đầu tháng
01/2011 ............................................................................................................ 12
Hình 2.3. Mưa lớn giữa tháng 04/2013 gây lũ ống, lũ quét và những hậu quả

của nó ............................................................................................................. 13
Hình 4.1. Địa điểm nguyên cứu và vị trí ranh giới giáp ranh của huyện Điện
Biên ...........................................................................................................................20
Hình 4.1. Thích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH tới Tài nguyên nước ở
huyện Điện Biên......................................................................................................28
Hình 4.2: Biểu đồ các họ thực vật có nhiều loài tại khu vực Hồ Pa Khoang,
2012 ..........................................................................................................................30
Hình 4.3. Sơ đồ xây dựng hàm chuyển theo phương pháp PP và MOS ..........38
Hình 4.4. Mức thay đổi nhiệt độ trung bình qua các năm của thế kỷ 21 so với
thời kỳ 1980 – 1999 ................................................................................................41
Hình 4.5 : Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với
thời kỳ 1980 - 1999 của huyện Điện Biên ứng với kịch bản phát trung bình
(B2) [12] ...................................................................................................................44


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Các kịch bản về phát thải KNK (SRES), kinh tế, xã hội, khí hậu và nước
biển dâng..................................................................................................................8
Bảng 2.2. Bảng thống kê so sánh nền nhiệt độ và lượng mưa huyện Điên Biên trong
05 tháng đầu năm 2013 .............................................................................................17
Bảng 4.1: Đa dạng các taxon thực vật khu vực hồ Pa Khoang, 2012 .......................29
Bảng 4.2: Những họ thực vật có trên 20 loài ............................................................30
Bảng 4.3: Số loài thực vật quí hiếm khu vực hồ Pa Khoang, 2012 ..........................31
Bảng 4.4: Số loài thú, chim, bò sát, ếch nhái khu vực hồ Pa Khoang, 2012 ............31
Bảng 4.5. Đa dạng Thú ở khu vực Hồ Pa Khoang Bộ móng guốc chẵn ..................32
Bảng 4.6: Danh sách các loài Thú quý hiếm khu vực hồ Pa Khoang 2012 ..............33
Bảng 4.7: Hệ số tương quan của nhiệt độ .................................................................39
Bảng 4.8: Mức tăng nhiệt độ trung bình (oC) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với
thời kỳ 1980 - 1999 của huyện Điện Biên ứng với kịch bản phát thải trung bình ...41

Bảng 4.9 : Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời
kỳ 1980 - 1999 của Điện Biên ứng với kịch bản phát trung bình (B2) ....................42

Bảng 4.10: Các ngành và đối tượng chịu tác động của biến đổi khí hậu .........47


MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU ......................................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................3
1.3 Ý nghĩa của đề tài ..................................................................................................4
PHẦN II TỔNG QUAN CHUNG CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...........................5
2.1. Khái niệm chung về biến đổi khí hậu ..................................................................5
2.2. Xu hướng chung của biến đổi khí hậu toàn cầu, Châu Á và khu vực Đông Nam
Á ..............................................................................................................................6
2.2.1. Xu hướng chung của Biến đổi khí hậu toàn cầu ...........................................6
2.2.2. Xu hướng của Biến đổi khí hậu ở Châu Á và khu vực Đông Nam Á ...........9
2.3. Xu thế BĐKH tại Việt Nam và tỉnh Điện Biên, huyện Điện Biên ....................11
2.3.1. Xu thế của Biến đổi khí hậu tại Việt Nam ..................................................11
2.3.2. Xu thế của Biến đổi khí hậu tại tỉnh Điện Biên và huyện Điện Biên: ........14
2.3.2. Xu thế của Biến đổi khí hậu tại tỉnh Điện Biên và huyện Điện Biên: ........15
PHẦN 3 .....................................................................................................................18
PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI ...................18
3.1. Địa điểm và phạm vi nghiên cứu .......................................................................18
3.2. Thời gian nghiên cứu .........................................................................................18
3.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................18
3.4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................18
PHẦN 4 .....................................................................................................................20
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................................................20
4.1. Điều kiện tự nhiên, xã hội của huyện Điện Biên ..............................................20

4.2. Ảnh hưởng BĐKH tới môi trường nước tại huyện Điện Biên ...........................22
4.2.1. Hiện trạng môi trường nước .......................................................................22
4.2.2. Ảnh hưởng của BĐKH tới Môi trường nước ...............................................23
4.3. Ảnh hưởng của BĐKH tới đa dạng sinh học .....................................................28
4.3.1. Hiện trạng đa dạng sinh học của huyện Điện Biên.....................................28
4.3.2. Ảnh hưởng của BĐKH tới đa dạng sinh học ...............................................33
4.3.3. Các giải pháp phòng ngừa và ứng phó với BĐKH đối với đa dạng sinh học
...........................................................................................................................35
4.4. Xây dựng kịch bản chi tiết, mô hình dự báo BĐKH đối với huyện Điện Biên
đến năm 2100 ........................................................................................................36


4.5. Đánh giá chung về ảnh hưởng của BĐKH đến môi trường, kinh tế và xã hội của
huyện Điện Biên ........................................................................................................44
PHẦN 5 .....................................................................................................................48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................48
5.1 KẾT LUẬN: ........................................................................................................48
5.2 KIẾN NGHỊ: .......................................................................................................49
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................51


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với
nhân loại trong Thế kỷ 21. Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất,
đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nước biển
dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây

rủi ro lớn đối với công nghiệp và hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai.
Tại Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng
khoảng 0,7oC, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm. Hiện tượng El-Nino, La-Nina
ngày càng tác tác động mạnh mẽ đến Việt Nam. Biến đổi khí hậu thực sự đã làm
cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt. Theo tính toán, nhiệt
độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3oC và mực nước biển có thể dâng 1 m
vào năm 2100. Số các đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam đã giảm đi rõ
rệt trong hai thập kỷ qua; bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn với quỹ đạo
bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn.
Nhằm đưa ra giải pháp bảo vệ môi trường, góp phần giảm nhẹ phát thải
khí nhà kính, ngày 05 tháng 09 năm 5/2013 Thủ Tướng Chính phủ đã ra Quyết
định số 1216/QĐ-TTg “Phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Tại điều 1 của Quyết định có nội dung: Xây
dựng năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính;
Khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo
tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Đưa ra các giải pháp hướng tới mục tiêu
phục hồi, tái sinh các hệ sinh thái tự nhiên đã bị suy thoái.
Đặc biệt, kết luận của Hội nghị Trung ương 7, Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa XI đã nhất trí thông qua Nghị quyết về “Chủ động ứng phó với biến
đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và môi trường” và khẳng định, đây là


2

vấn đề chiến lược có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển bền vững của nước ta.
Trong bối cảnh khí hậu toàn cầu diễn biến phức tạp, do đặc điểm địa hình, vị trí địa
lý, trình độ phát triển, nước ta dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu;
tài nguyên, môi trường chịu áp lực lớn từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tổ quốc, bao
gồm 9 đơn vị hành chính là thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay, và các

huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo, Điện Biên, Điện Biên Đông
và Mường Ảng. Trong những năm gần đây, dưới sự tác động của biến đổi khí hậu
thì các loại hình thiên tai đều đã gia tăng cả về mức độ lẫn tần số; các tai biến thiên
nhiên liên quan đến trượt lở đất, lũ lụt, lũ ống, lũ quét…đang có xu hướng ngày một
gia tăng. Trên địa bàn huyện Điện Biên trong những năm qua, những biểu hiện của
BĐKH đã biểu hiện rõ rệt, đó là lượng mưa trung bình năm có xu hướng suy giảm
nhưng số ngày mưa lớn trung bình tháng đã có sự dịch chuyển rõ rệt từ tháng 7 sang
tháng 8 trong giai đoạn 2006 – 2012; tần xuất và cường độ các trận lũ quét gia tăng;
các hiện tượng cực đoan của thời tiết diễn biến bất thường, đặc biệt là số lượng và
cường độ các đợt rét. Từ tháng 10/2012 đến tháng 5/2013, có 4 đợt rét đậm và rét
hại ảnh hưởng tới huyện Điện Biên trong đó có 2 đợt rét hại xảy ra trên diện rộng.
Cùng với những tác động do thiên tai, ngoài đặc điểm khó khăn về điều kiện
phát triển kinh tế nêu trên huyện Điện Biên còn có số lượng dân tộc thiểu số sinh
sống lớn, có 08 dân tộc sinh sống. Đây là những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương
nhất đối với những thách thức do BĐKH gây ra. Ngoài ra, huyện Điện Biên là một
trong những huyện có tỷ lệ số xã đặc biệt khó khăn lớn. Tính đến năm 5/2013,
huyện Điện Biên có 16.544 hộ nghèo chiếm 37,01%; số hộ cận nghèo còn 2.617 hộ,
tỷ lệ hộ cận nghèo 5,35% (theo chuẩn nghèo, cận nghèo giai đoạn 2011 - 2015).
Là một huyện của một tỉnh mới được tách ra từ tỉnh Lai Châu cũ. Lại là một
huyện miền núi, những thiệt hại do thiên tai gây ra là không nhỏ, ảnh hưởng rất lớn
đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Để ứng phó với những thách thức nói
trên, trong những năm qua, huyện đã tiến hành một số các giải pháp như di dời dân
cư ra khỏi vùng nguy cơ xảy ra lũ quét cao, quy hoạch các khu vực kinh tế phù hợp


3

với điều kiện từng địa phương. Nhưng những giải pháp này là chưa đủ và đòi hỏi
phải có những giải pháp đồng bộ và đặc biệt là phải tính tới các yếu tố BĐKH. Vấn
đề biến đổi khí hậu vừa có tính trước mắt, vừa có tính lâu dài, phức tạp và liên quan

đến tất cả các ngành, trên phạm vi khu vực và toàn cầu. Vì thế, để thực hiện được
mục tiêu ứng phó và giảm nhẹ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với Tỉnh,
cũng như của huyện việc xây dựng các giải pháp, kế hoạch và công tác chỉ đạo thực
hiện cần được nghiên cứu, trao đổi ở tất cả các cấp, các khu vực, các lĩnh vực (môi
trường nước, đất, môi trường, các hệ sinh thái…) và trong tất cả các ngành, quan
trọng nhất là năng lượng, giao thông, công nghiệp, nông lâm nghiệp, thuỷ sản, du
lịch, tài nguyên và môi trường.
Thực tế cho thấy BĐKH đã và đang tác động tới nhiều vấn đề trong cuộc
sống. Xuất phát từ những lý do đó, việc xây dựng và đề xuất đề tài: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới môi trường nước và đa dạng sinh học của
huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” là cần thiết để làm cơ sở cho dự án “Xây dựng
và triển khai kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Điện Biên”.
Đồng thời cung cấp những dẫn liệu khoa học cho việc nâng cao năng lực ứng phó
với biến đổi khí hậu của người dân trên địa bàn huyện nhằm bảo vệ tài nguyên và
môi trường trong sự phát triển bền vững.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
+ Điều tra đánh giá được hiện trạng môi trường nước và đa dạng sinh học; Xu
thế biến đổi khí hậu của huyện Điện Biên.
+ Đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu tới môi trường nước và đa
dạng sinh học của huyện Điện Biên.
+ Xây dựng các kế hoạch hành động nhằm giảm thiểu và thích ứng với các
ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH tới môi trường nước và đa dạng sinh học trên địa
bàn huyện.


4

+ Cung cấp những dẫn liệu khoa học cho việc nâng cao năng lực ứng phó
với biến đổi khí hậu của người dân trên địa bàn huyện nhằm bảo vệ tài nguyên
và môi trường trong sự phát triển bền vững tương lai.

1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học: thời gian làm đề tài tốt nghiệp là
dịp sinh viên tự khẳng định mình, biến những kiến thức đã học thành kiến thức của
mình. Cũng qua quá trình làm đề tài em học được cách làm việc nghiên cứu độc lập,
tính kỉ luật trong công việc, tiếp cận dần với công việc và rút ra kinh nghiệm thực tế
phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Đánh giá ảnh hưởng BĐKH tới môi trường nước.
+ Đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đa dạng sinh học của huyện Điện Biên.


5

PHẦN 2
TỔNG QUAN CHUNG CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm chung về biến đổi khí hậu
+ Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một điểm nhất định, được xác định bằng
tổ hợp các yếu tố như: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa. Các hiện tượng
nắng, mưa, mây, gió, nóng, lạnh… thường thay đổi nhanh chóng qua từng ngày,
từng tháng, từng năm. Thời tiết có thể được dự báo hàng ngày, hàng giờ hay dài hơn
đến một tuần [10].
+ Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó. Thí dụ,
như trong phạm vi một tỉnh, một nước, một châu lục hoặc trên toàn cầu trên cơ sở
của một chuỗi dữ liệu dài (khoảng 30 năm trở lên). Khi ta nói “khí hậu Việt Nam là
khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiểu”. Điều đó có nghĩa là nước ta
thường xuyên có nhiệt độ trung bình hàng năm cao và lượng mưa trung bình hàng
năm lớn, đồng thời có sự thay đổi theo mùa. So với thời tiết, khí hậu thường ổn định
hơn [10].
+ Biến đổi khí hậu là gì? BĐKH là “sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với
trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài, thường là từ vài

thập kỷ hoặc dài hơn”. Ví dụ, sự ấm lên hay lạnh đi. Sự biến đổi về trạng thái khí hậu
đó xảy ra do quá trình tự nhiên hoặc do con người gây ra đối với các thành phần khí
quyển [10].
+ Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung Sự thay đổi thành phần và
chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên
Trái đất. Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng
đất thấp, các đảo nhỏ trên biển. Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn
năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các
loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người. Sự thay đổi cường độ
hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự
nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác. Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ


6

sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
2.2. Xu hướng chung của biến đổi khí hậu toàn cầu, Châu Á và khu vực Đông
Nam Á
2.2.1. Xu hướng chung của Biến đổi khí hậu toàn cầu

Nông
nghiệp

Tài
nguyên

Y tế và
sức khỏe

BĐKH


Môi
trường

Lâm
nghiệp

Năng
lượng
Du lịch

Hình 1. Các tác động của biến đổi khí hậu

a.Thực trạng
Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu
(IPCC) công bố tháng năm 2007 [6] nhận định rằng:
- Sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện nay là chưa từng có và rất rõ
ràng từ những quan trắc về sự tăng lên của nhiệt độ không khí và đại dương trung
bình toàn cầu, sự tan chảy của băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn và sự dâng lên
của mực nước biển trung bình toàn cầu.
- Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 - 2005) là 0,74oC,
lớn hơn xu thế tăng nhiệt độ 100 năm thời kỳ 1901 - 2000, trong đó riêng ở Bắc cực
nhiệt độ đã tăng 1,5oC, gấp đôi tỷ lệ tăng trung bình toàn cầu.


7

- Xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,13oC/thập kỷ, gấp gần 2 lần
xu thế tăng nhiệt độ của 100 năm qua. Nhiệt độ tăng tổng cộng từ 1850 - 1899 đến
2001 - 2005 là 0,76oC (0,58 - 0,95oC) [6].

- 11/12 năm gần đây (1995 - 2006) nằm trong số 12 năm nóng nhất trong
chuỗi số liệu quan trắc bằng máy kể từ 1850 [6].
- Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8 mm/năm
trong thời kỳ 1961 - 2003 và với tỷ lệ 3,1mm/năm trong thời kỳ 10 năm 1993 2003. Tổng cộng, mực nước biển dâng quan trắc được là 0,31m (± 0,07)/100 năm
gần đây [6].
- Diện tích băng biển trung bình năm ở Bắc cực đã thu hẹp với tỷ lệ trung bình
2,7%/1 thập kỷ. Riêng trong mùa hè là 7,4%/1 thập kỷ. Diện tích cực đại của lớp
phủ băng theo mùa ở bán cầu Bắc đã giảm 7% kể từ 1990, riêng trong mùa xuân
giảm tới 15% [6].
- Ở Bắc cực, khối băng có độ dày khoảng 3km đang mỏng dần và đã mỏng đi
66cm. Ở Nam cực, băng cũng đang tan với tốc độ chậm hơn và những núi băng ở Tây
Nam cực đổ sụp. Ở Greenland, những lớp băng vĩnh cửu tan chảy. Ở Alaska (Bắc
Mỹ), nhiệt độ trung bình những năm gần đây đã tăng 1,50C so với trung bình nhiều
năm, làm tan băng và diện tích lớp băng vĩnh cửu giảm 40%, lớp băng hàng năm
thường dày 1,2m nay chỉ còn 0,3m [6].
b. Xu thế BĐKH trong thế kỷ và những biểu hiện của nó:
- Năm 2005, nồng độ khí CO2, loại khí nhà kính lớn nhất trong khí quyển đạt
379 ppm, tăng khoảng 30% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280 ppm). Tổng lượng
phát thải khí nhà kính toàn cầu đạt 48 tỷ tấn CO2 tương đương vào 2004. Dự tính,
đến cuối thế kỷ 21, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển sẽ đạt 540 - 970ppm, nghĩa là
tăng ít nhất gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp (1750). Và như vậy, nhiệt độ
trung bình toàn cầu sẽ tăng 2,0 - 4,5oC. Mực nước biển trung bình dâng lên tương ứng
là 0,18m đến 0,59m vào thời kỳ 2090 - 2099 so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999.
- Thực tế, lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu trong 15 năm qua, kể từ khi có
Công ước Khung của Liên hiệp quốc về BĐKH, vẫn tiếp tục tăng. Nếu cứ theo


8

chiều hướng này thì trong 15 năm tới, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng vượt quá

20C so với thời kỳ tiền công nghiệp, nghĩa là tình trạng "BĐKH nguy hiểm" với
thảm họa sinh thái là không thể tránh khỏi [5].
Bảng 2.1. Các kịch bản về phát thải KNK (SRES), kinh tế, xã hội,
khí hậu và nước biển dâng
Năm

Dân số
TG
tỷ
người)

GDP
toàn
cầu
(1012

Tỷ lệ thu nhập
theo
đầu người.
(nước PT/ nước

Hàm
lượng
Ôzôn
tăng

USD/
Năm)

ĐPT)


thấp
(ppm)

Hàm
Lượng
CO2

Biến

Nước biển

đổi
nhiệt độ

dâng toàn
cầu (cm)

(ppm)

toàn
cầu

1990

5,3

21

16,1


-

354

0

0

2000

6,1- 6,2

25-28

12,3- 14,3

40

367

0,2

2

2050

8,4-

59-187


2,4- 8,2

60

463- 623

0,8- 2,6

5- 32

197-550

1,4- 6,3

>70

478-

1,4- 5,8

9- 88

11,3
2100

7,015,1

1099


(Nguồn Tài nguyên và Môi trường TP Hà Nội kết hợp với Trung tâm dữ liệu và
truyền thông phòng ngừa thiên tai )
Một số biểu hiện chính của BĐKH [10] trong những năm gần đây là:
+ Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung.
+ Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống
của con người và các sinh vật trên Trái đất.
+ Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất
thấp, các đảo nhỏ trên biển.
+ Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành
phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
+ Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác
nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh


9

thái và hoạt động của con người.
2.2.2. Xu hướng của Biến đổi khí hậu ở Châu Á và khu vực Đông Nam Á
Hiện tượng khí hậu bề mặt Trái đất ấm lên sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức
khỏe con người ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, gây ra "nhiều đột biến" trong
mọi lĩnh vực: từ việc giảm GDP, gia tăng các hiện tượng hạn hán, lũ lụt, giảm đa
dạng sinh học... đến những biến đổi bất thường của các bệnh truyền nhiễm.
Ở khu vực Châu Á, BĐKH tác động rõ rệt tới các yếu tố sau:
+ Hệ sinh thái: BĐKH gây hiện tượng các hệ sinh thái có xu hướng di chuyển
về các vùng cực. Điều này có nghĩa là các quẫn xã sinh vật ôn đới như các thảo
nguyên và rừng ôn đới sẽ thay thế cho phần lớn các rừng taiga Siberian. ở các vùng
Trung và Đông á, các trảng cỏ khô có nguy cơ bị sa mạc hóa do lượng mưa ở các
vùng này giảm đi [4];
+ Chế độ gió mùa: Trái Đất nóng lên làm tăng cường hệ thống ENSO gây ra
nhiều biến đổi dị thường của chế độ gió mùa ở á lục địa khiến xuất hiện hạn hán và

thất thoát mùa màng [4];
+ ENSO: Hiện tượng El Nino tăng cường gây hạn hán và cháy rừng tự nhiên ở
Đông Nam Châu Á.
+ Xói lở vùng ven biển: Mực nước biển tăng lên sẽ là thách thức lớn đối với
Châu Á cũng như các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, một số nước Đông Nam
Á sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn trong đó Bangladesh và Việt Nam sẽ dễ bị ảnh
hưởng nhất.
+ Xoáy lốc nhiệt đới: Tây Thái Bình Dương là vùng điển hình có nhiều bão
hơn các vùng khác trên Trái Đất và theo dự báo của một số nhà khoa học thì bão sẽ
càng tăng cường cả về số lượng và cường độ do ảnh hưởng của sự tăng nhiệt độ
toàn cầu [4].
Bên cạnh đó, dự báo từ các trung tâm khí tượng thủy văn trên thế giới cho
biết, băng tan ở đỉnh Himalaya làm gia tăng lũ lụt, lở đá ở các sườn núi và tác động


10

đến nguồn nước trong hai đến ba thế kỷ tới. Tiếp sau sẽ là giai đoạn dòng chảy dòng
sông suy giảm và các sông băng bị thu hẹp.
Nước ngọt chứa trong các lưu vực sông lớn thuộc Đông Á, Nam Á, Trung Á
và Đông Nam Á sẽ bị suy giảm do biến đổi khí hậu và sự gia tăng dân số, gia tăng
nhu cầu sử dụng nước phục vụ cuộc sống. Điều này sẽ tác động tiêu cực tới hơn một
tỷ người vào năm 2050 [4].
Các khu vực duyên hải, đặc biệt các đồng bằng lớn, đông dân ở Nam Á, Đông
Á và Đông Nam Á sẽ đối mặt với những rủi ro lớn nhất do nước biển dâng và một
số châu thổ rộng lớn bị ngập lụt do nước sông.
Biến đổi khí hậu sẽ tác động đến sự phát triển bền vững của hầu hết các nước
đang phát triển tại Châu Á do nó tạo áp lực đối với môi trường và tài nguyên thiên
nhiên cùng với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và phát triển kinh tế. Người ta
ước tính rằng, vào giữa thế kỷ 21, sản lượng mùa màng có thể tăng 20% ở khu vực

Đông và Đông Nam Á, nhưng ở khu vực Trung và Nam Á, sản lượng sẽ sụt giảm
30%. Tác động của việc tăng trưởng dân số và quá trình đô thị hoá nhanh chóng
kèm theo sẽ tạo nên nguy cơ cao về thiếu lương thực ở một số nước đang phát triển.
ở khu vực Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á, biến đổi khí hậu gây nên sự biến đổi
của chu trình thuỷ văn khiến hạn hán và ngập lụt gia tăng, dẫn đến dịch bệnh và tử
vong do tiêu chảy. Sự gia tăng nhiệt độ nước ở các vùng duyên hải sẽ làm trầm
trọng thêm bệnh dịch tả tại khu vực Nam Á [4].
Ở các quốc gia Đông Nam Á, ngày càng nhiều khí thải nhà kính đổ vào không
khí. Trong tương lai, vấn đề này có thể tác động xấu đến điều kiện môi trường và
cảnh quan khí hậu khu vực. Theo dự báo của Trung tâm nghiên cứu năng lượng
Châu Á-Thái Bình Dương (APERC, cơ quan do Diễn đàn APEC bảo trợ), từ năm
2002 tới 2030, lượng khí thải nhà kính tại Đông Nam Á có khả năng sẽ tăng gấp 4
lần - gấp đôi Nhật Bản và bằng khoảng 1/3 của Mỹ, 1/4 của Trung Quốc [4].
Nghiêm trọng hơn, mức độ hấp thụ tự nhiên các loại khí thải nhà kính tại
Đông Nam Á đang có chiều hướng giảm do nạn phá rừng, đặc biệt tại các khu vực
vốn có thảm thực vật bao phủ như đảo Kalimantan (Indonesia), bang Sarawak và


11

Sabah trên đảo Borneo (Malaysia) và khu vực miền núi dọc theo sông Mekong tại
Việt Nam, Lào, Campuchia, một số khu vực của Myanmar, Thái Lan.
Đông Nam Á được dự báo là một trong những khu vực dễ bị tác động
nhất trước tình trạng biến đổi khí hậu Trái Đất, do phần lớn trong số 500 triệu dân
của khu vực sống trong các khu vực đồng bằng châu thổ hoặc các quần đảo có độ
cao tương đối thấp so với mực nước biển. Những khu vực này rất dễ bị ngập nếu
mực nước biển dâng lên do hiện tượng Trái đất nóng lên. Tuy nhiên, vấn đề này
chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của dư luận và chính quyền các nước [4].
2.3. Xu thế BĐKH tại Việt Nam và tỉnh Điện Biên, huyện Điện Biên
2.3.1. Xu thế của Biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Sự biến đổi khí hậu tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng thấy rõ rệt
như: nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,1 - 0,30C. Theo kịch bản dự đoán về biến
đổi khí hậu đến năm 2010, 2050, 2070 nhiệt độ ở các vùng duyên hải sẽ lần lượt
tăng 0,3; 1,1; 1,50C, và ở vùng nội địa tăng lên 0,5; 1,8; 2,50C [4].
Mô hình khí hậu dự báo các khả năng thay đổi của khí hậu và lượng mưa ở
thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh và các vùng lân cận dựa trên nguồn số liệu của
IPCC năm 1992 cho thấy, nhiệt độ ở Hà Nội tăng khoảng 10C vào năm 2050 và tăng
2,50C vào năm 2100. Cũng theo dự báo này, sự thay đổi nhiệt độ tại thành phố Hồ
Chí Minh là không đáng kể.
Thay đổi khí hậu tác động đến Việt Nam ở nhiều phương diện với các mức
độ khác nhau. Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng các hiện tượng thiên nhiên nguy hiểm.
Tần suất và cường độ các hiện tượng bão, mưa lớn, nhiệt độ cao, hạn hán tăng hơn
nhiều trong thập niên vừa qua. Có thể thấy ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với
Việt Nam ở 1 số biểu hiện sau:
- Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,10C/thập kỷ. Mùa đông, nhiệt độ
giảm đi trong các tháng đầu mùa và tăng lên trong các tháng cuối mùa. Nhiệt độ
trung bình các tháng mùa hè có xu thế tăng rõ rệt trong khi nhiệt độ trung bình của
các tháng khác không tăng hoặc giảm chút ít, dẫn đến nhiệt độ trung bình năm có xu
thế tăng lên [10];


12

- Xu thế biến đổi của lượng mưa không nhất quán giữa các khu vực và các
thời kỳ. Sự thay đổi về tổng lượng mưa tháng và mưa năm không thể hiện xu thế
tăng hay giảm nhưng cường độ mưa đang có xu hướng tăng lên rõ rệt. Trên phần
lớn lãnh thổ, lượng mưa giảm đi trong tháng 7, 8 và tăng lên trong các tháng 9, 10,
11. Mưa phùn giảm đi rõ rệt ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ [10];
- Trung bình hàng năm có khoảng 4,7 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng
đến nước ta. Ba thập kỷ gần đây, số cơn bão ảnh hưởng đến nước ta và mức độ ảnh

hưởng cũng có xu hướng tăng. Bão thường xuất hiện muộn hơn và dịch chuyển
xuống vĩ độ thấp hơn;
- Trong thời gian gần đây, lũ lụt lớn xảy ra ở các tỉnh miền Trung và Đồng
bằng sông Cửu Long có xu thế tăng hơn nửa đầu thế kỷ trước. Năm 1999, miền
Trung đã ghi nhận một trận lụt lịch sử xẩy ra vào cuối mùa mưa;
- Mùa khô ở Nam Bộ và Tây Nguyên hầu như năm nào cũng có hạn gay gắt
hơn. Các thập kỷ gần đây hạn có phần nhiều hơn so với các thập kỷ trước [10];
- Nước biển dâng khoảng 5 cm/thập niên và năm 2070 sẽ dâng khoảng 33 đến
45 cm, đến năm 2100 dâng khoảng 100 cm;
- Tần suất và cường độ El-Nino tăng lên rõ rệt trong những năm cuối thế kỷ
trước và những năm đầu thế kỷ này. Trong 5 thập kỷ gần đây hiện tượng ENSO
ngày càng có tác động mạnh mẽ đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu trên nhiều
khu vực của Việt Nam;
Các ảnh hưởng trên đã gây thiệt hại nặng nề về kinh tế khi phải khắc phục
hậu quả của những cơn bão và các trận lũ lớn, hoặc thất thoát mùa mạng do hạn
hán... Thay đổi khí hậu cũng dẫn tới thay đổi môi trường sống của nhiều loại sinh
vật, đặc biệt là một số loài động vật hoang dã ở Việt Nam, dẫn tới giảm đa dạng
sinh học (có tới 355 loài thực vật và 365 loài động vật đang có nguy cơ bị đe dọa).
Bên cạnh đó, sự tăng nhiệt độ và độ ẩm không khí là nguy cơ gây các bệnh truyền
nhiém, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của con người [10].
Theo các chuyên gia Việt Nam, trước mắt có 3 khu vực chịu tác động rõ nhất
do biến đổi khí hậu là vùng núi Tây Bắc Việt Nam (Lạng Sơn) sẽ có một số loài


13

thực - động vật bị tuyệt chủng do nhiệt độ tăng, tỉnh Ninh Thuận diện tích bị hoang
mạc hóa tăng nhanh, hạn hán kéo dài dẫn đến nguy cơ không thể tồn tại các loài
động thực vật, và đặc biệt là vùng ven biển tỉnh Bến Tre (nơi thấp nhất trên cả
nước), do nằm ở ven biển đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều cửa sông, cù lao có

độ cao địa hình rất thấp. Hiểm họa do biến đổi khí hậu tác động đến Bến Tre là xâm
nhập mặn và nước biển dâng, sự tăng nhiệt độ và tăng lượng mưa. Theo các kịch
bản thì đến năm 2050 và 2100 mực nước biển dâng tương ứng là 0,65 - 1 mét [4].
Theo tài liệu thống kê, ở Việt Nam từ năm 1998 đến năm 5/2013 có 67 cơn
bão, 36 áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) hoạt động trên biển Đông. Trong đó có 33 cơn
bão, 14 ATNĐ ảnh hưởng đến thời tiết nước ta. Liên tiếp trong 3 năm (2000, 2001,
2002) lũ lớn gây ngập lụt nghiêm trọng ở đồng bằng sông Cửu Long, mưa lớn trên
diện rộng gây lũ đặc biệt lớn ở Miền Trung trong các năm 1998, 1999, 2002, 2003.
Về mùa khô, hạn hán gay gắt kéo dài, đặc biệt ở Tây Bắc, Tây Nguyên và cực Nam
Trung Bộ…. Lũ quét, lũ ống cũng xảy ra hết sức phức tạp và dữ dội, chỉ riêng năm
2005 đã xảy ra 12 trận lũ quét ở khu vực miền núi các tỉnh: Sơn La, Lào Cai, Phú
Thọ, Yên Bái, Thanh Hoá, Nghệ An, Kon Tum… gây thiệt hại nghiêm trọng về tài
sản và người cho nhân dân các địa phương. Ở khu vực Bắc Trung Bộ, diễn biến thời
tiết khí hậu, thuỷ văn càng có nhi ều biểu hiện phức tạp và dị thường.Trận lũ quét
lịch sử tháng 9/2002 trên sông Ngàn Phố - Hà Tĩnh đã làm chết 77 người, thiệt hại
ước tính trên một ngàn tỷ đồng. Trên sông Nậm Mộ thượng nguồn sông Cả tại
Mường Xén, năm 2005 đã xảy ra hai đợt lũ quét có mực nước đỉnh lũ lớn hơn lũ
lịch sử. Bão số 7 năm 2005 là một cơn bão mạnh nhất trong vòng 10 năm nay đã đổ
bộ vào phía nam TP Thanh Hoá gây nhiều thiệt hại cho nhân dân các tỉnh từ Nghệ
An tới Hải Phòng [4]. Dưới đây là một số hình ảnh minh họa về sự biến đổi khí hậu
gây ra những hiện tượng thời tiết bất thường bất thường tại Việt Nam:


14

Hình 2.1. Trận lụt bất thường lịch sử
tại Hà Nội vào 11/2008

Hình 2.2. Rét đậm và rét hại kèo dài tại
Mẫu Sơn (Lạng Sơn) đầu tháng 01/2011



15

2.3.2. Xu thế của Biến đổi khí hậu tại tỉnh Điện Biên và huyện Điện Biên:
Trong những năm qua, những biểu hiện của BĐKH trên địa bàn tỉnh đã có
những biểu hiện rõ rệt, đó là lượng mưa trung bình năm có xu hướng suy giảm
nhưng số ngày mưa lớn trung bình tháng đã có sự dịch chuyển rõ rệt từ tháng 7 sáng
tháng 8 của giai đoạn 1994 – 2002; tần xuất và cường độ các trận lũ quét gia tăng;
các hiện tượng cực đoan của thời tiết diễn biến bất thường, đặc biệt là số lượng và
cường độ các đợt rét.
Trong 20 năm trở lại đây, trên địa bàn tỉnh đã có hơn 30 trận lũ quét làm 229 người
bị chế, hơn 300 người bị thương. Thiệt hại kinh tế ước tính trên 300 tỷ đồng [13].
- 6.920 ha lúa và hoa màu bị thiệt hại nặng nề;
- 2.220 ha ruộng bị xói lở, vùi lấp.
- 2.752 ngôi nhà bị đổ trôi, 4.776 nhà bị hư hỏng nặng.
- Hàng triệu m3 đất đá sạt lở làm ách tắc nhiều tuyến đường giao thông, vùi
lấp hàm trăm km kênh mương.
Năm 2010, có 14 đợt ảnh hưởng tới Điện Biên trong đó có 5 đợt rét hại xảy
ra trên diện rộng. Một số hình ảnh minh họa cho diễn biến thời tiết bất thường của
huyện Điện Biên được thể hiện chi tiết tại hình 1.3 dưới đây:

Hình 2.3. Mưa lớn giữa tháng 04/2013 gây lũ ống, lũ quét và
những hậu quả của nó


16

Để đánh giá diễn biến khí hậu ở huyện Điện Biên, chúng tôi đã sử dụng chuỗi
số liệu 50 năm (1961 – 2010) tại trạm Điện Biên (độ cao 475.1 m) [12].

Đánh giá xu thế diễn biến của nhiệt độ được xác định trên cơ sở chuỗi số liệu
chuẩn sai (0C) và xu thế diễn biến lượng mưa được xác định thông qua tỷ chuẩn sai
(%) có dạng:
dR =

Ri − R
R

× 100%

Trong đó: + Ri là lượng mưa năm thứ i;
+ R là lượng mưa trung bình thời kỳ được đánh giá.
+ Nhiệt độ:
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê tỉnh Điện Biên và
Trung tâm Dữ liệu và Truyền thông phòng ngừa thiên tai (2012) – Cục Khí tượng
Thủy văn và Biến đổi khí hậu cho thấy, nhiệt độ trung bình của huyện qua các thập
kỷ đều có xu hướng tăng dần, trong thập kỷ 1961 – 1970, ở vùng thấp có nhiệt độ
trung bình khoảng 23oC, ở vùng cao khoảng 22,3oC và vùng núi cao khoảng 18,3oC.
Đến thập kỷ 2001 – 5/2013, nhiệt độ trung bình ở các vùng này lần lượt là 23,9oC,
23,2oC và 19,0oC. Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm ở huyện Điện Biên
tăng khoảng 0,2 đến 0,30C/1thập kỷ. Trong đó, nhiệt độ trung bình tháng I tăng là 0,3
– 0,40C/1thập kỷ, còn nhiệt độ tháng VI tăng chậm hơn, khoảng 0,2 – 0,30C/1thập kỷ.
Trong giai đoạn 1963 – 5/2013, tại trạm khí tượng Điện Biên có tổng số ngày
mà nhiệt độ Tmin dưới 130C (ngày rét hại) theo xu thế giảm dần, tại trạm Điện Biên
trung bình trong thập kỷ 1963 – 1970 là 80,1 ngày, trong thập kỷ tiếp theo trung
bình là 70,8 ngày và đến thập kỷ 1991 – 2000 là 50,4 ngày, đến thập kỷ gần đây
nhất (2001 – 5/2013) là 49,7 ngày [12].
Số ngày có nhiệt độ Tmax trên 350C (ngày nắng nóng) trong thập kỷ 1963 –
1970 tại trạm Điện Biên là 9,5 ngày cao nhất trong 5 thập kỷ quan trắc, đến thập kỷ
tiếp theo (1971 -1980) giảm xuống còn 2,2 ngày thấp nhất trong 5 thập kỷ đã qua,

các thập kỷ tiếp theo tăng dần lên và đến thập kỷ 2001 – 5/2013 đạt 7,2 ngày [12].


17

Ngoài ra theo số liệu thống kê của Trung tâm dự báo Khí tượng và Thủy văn
TW trong 05 tháng đầu năm 2013 cho thấy: nền nhiệt độ trung bình của huyện Điện
Biên đo đạc theo các tháng đều có xu hướng tăng so với nền nhiệt độ trung bình 30
năm trước đây. Số liệu cụ thể được thể hiện chi tiết tại bảng 1.1 dưới đây:
Bảng 2.2. Bảng thống kê so sánh nền nhiệt độ và lượng mưa huyện Điên Biên
trong 05 tháng đầu năm 2013
Huyện Điện Biên năm 2013
Trung bình
30 năm
Nhiệt độ

Nhiệt độ trung
bình tháng(oC)

Trung bình 30
năm lượng mưa

Lượng mưa
trung bình tháng
(mm)

1

19,3


20,2 - 21,5

103

65 - 90

2

21,7

19,7 – 20,8

110

80 - 120

3

22,8

22,5 - 23,5

116

50 - 100

4

24,1


23,3 – 24,6

132

115 – 160

5

25,3

25,1 -26,4

178

150 - 250

Tháng

(Nguồn: Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy Văn TW, 2013 [13] )
+ Lượng mưa:
Lượng mưa trung bình năm ở trạm Điện Biên có xu thế tăng dần qua các thập
kỷ, từ trên 1.400mm trong thập kỷ 1961 – 1970 tăng lên khoảng trên 1.500mm
trong thập kỷ 2001 – 5/2013. Tại trạm Điện Biên, lượng mưa trong mùa ít mưa có xu
hướng giảm với mức giảm khoảng xấp xỉ 1%/1thập kỷ. Tuy nhiên lượng mưa lại có
xu hướng tăng lên. Do lượng mưa trong mùa mưa chiếm khoảng 80 – 85% lượng
mưa năm nên xu thế của lượng mưa năm tương tự xu thế diễn biến của lượng mưa
mùa mưa [12].
Số ngày có lượng mưa trên 50mm (ngày mưa lớn) trong thập kỷ 1963 – 1970
tại trạm Điện Biên là 3,5 ngày (thấp nhất trong 5 thập kỷ quan trắc), đến 2 thập kỷ
tiếp theo là 6,1 ngày (cao nhất trong 5 thập kỷ quan trắc). Đến 2 thập kỷ tiếp theo

(2001 – 5/2013) giảm xuống còn 5,4 ngày [12].


18

PHẦN 3
PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
3.1. Địa điểm và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu: Huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
3.1.2: Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH tới 2 lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều nhất
trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên là:
+ Môi trường nước;
+ Đa dạng sinh học.
3.2. Thời gian nghiên cứu

-Thời gian thực hiện: Từ ngày 05/05 /2014 đến ngày 05 /08/2014
3.3. Nội dung nghiên cứu
+ Thu thập những thông tin, số liệu về hiện trạng môi trường nước và đa
dạng sinh học tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
+ Nghiên cứu, thu thập số liệu và đánh giá mức ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu tới môi trường nước và đa dạng sinh học của huyện Điện Biên, tỉnh
Điện Biên đến tháng 5 năm 2013.
+ Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp bảo vệ, quản lý, sử dụng có
hiệu quả môi trường nước và đa dang sinh học thích ứng khi biến đổi khí hậu
xảy ra.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Là phương pháp thu thập thông tin
cần thiết từ những tài liệu, bản đồ, ảnh, các công trình nghiên cứu có liên quan đến
khu vực nghiên cứu. Tài liệu thu thập phải được xử lý, đưa lên thành bảng biểu, đồ

thị và phân tích, phân loại để từ đó xác định những vấn đề cần đánh giá.
+ Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý các số liệu về điều kiện khí
tượng, thủy văn, kinh tế xã hội của huyện Điện Biên; Các số liệu về hiện trạng
môi trường nước và đa dạng sinh học.


×