Tải bản đầy đủ (.pdf) (82 trang)

Địa vị pháp lý của kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn huyện củ chi, thành phố hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (699.65 KB, 82 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN TRƢƠNG HIỀN

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN TRƢƠNG HIỀN

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH

Hà Nội - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn thạc sỹ “Địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong
giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
từ thực tiễn huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu
khoa học do bản thân tôi thực hiện với sự hướng dẫn của GS.TS Võ Khánh Vinh.
Kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố tại bất kỳ công trình
khoa học nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2018

Tác giả luận văn

Phan Trƣơng Hiền


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM
SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ .......................7
1.1. Khái niệm, nhiệm vụ và mục đích của điều tra vụ án hình sự .........................7

1.2. Khái niệm, vị trí, chức năng của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự .....................................................................................................................9
1.3. Khái niệm, nội dung địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự .........................................................................................................14
Chƣơng 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA
KIỂM SÁT VIÊN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ................................28
2.1. Các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự từ năm 1945 đến 2015 ..............................................28
2.2. Các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ....................36
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM SÁT
VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI HUYỆN CỦ
CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC
HIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ...........................................................................................47
3.1. Thực trạng thực hiện địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ..............................47
3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự ...................................................................................60
KẾT LUẬN ..............................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS


Bộ luạt tố tụng hình sự

CQĐT

Cơ quan điều tra

KSĐT

Kiểm sát điều tra

KSHĐTP

Kiểm sát hoạt động tư pháp

THQCT

Thực hành quyên công tố

TTHS

Tố tụng hình sự

VKS

Viện kiểm sát

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân



DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU
Bảng 3.1: Số vụ án/bị can yêu cầu khởi tố, yêu cầu quyết định không khởi
tố; Viện kiểm sát hủy quyết định khởi tố bị can .......................................................48
Bảng 3.2: Tổng số người tạm giữ, tạm giam trên địa bàn huyện Củ Chi từ
năm 2013 đến năm 2017 ...........................................................................................49
Bảng 3.3: Số người bị bắt tạm giữ được thả tự do trên địa bàn huyện Củ Chi
từ năm 2013 đến năm 2017 .......................................................................................49
Bảng 3.4: Số vụ án/bị can Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thụ lý kiểm
sát điều tra từ năm 2013 đến năm 2017 ....................................................................53


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều tra được coi là giai đoạn giữ vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình
tố tụng hình sự. Kết quả của giai đoạn điều tra vụ án hình sự đóng vai trò quyết định
đối với chất lượng, hiệu quả của hoạt động buộc tội và là cơ sở, nền tảng để các
chức năng tố tụng hình sự khác trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo được tiến hành.
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự với hoạt động tố tụng chủ đạo là hoạt động của Cơ
quan điều tra (CQĐT), được đánh giá là giai đoạn tố tụng tiềm ẩn nhiều nhất nguy
cơ sai sót, vi phạm pháp luật, kể cả những sai sót, vi phạm pháp luật nghiêm trọng
dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự oan, sai.
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát (VKS) có chức năng,
nhiệm vụ Thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra. Với chức năng, nhiệm vụ đó, VKS giữ vai trò quan trọng trong giai đoạn
điều tra, đảm bảo tính pháp chế của hoạt động điều tra, ngay từ khi khởi tố, bắt giữ
người phạm tội, yêu cầu điều tra thu thập chứng cứ cho đến khi kết thúc điều tra
nhằm làm rõ toàn bộ sự thật khách quan của vụ án, nhằm mục đích phát hiện nhanh

chóng, chính xác, điều tra để truy tố mọi tội phạm. Hoạt động THQCT và Kiểm sát
hoạt đông tư pháp (KSHĐTP) của VKS hướng đến tính chính xác, khách quan của
quá trình chứng minh sự thật của vụ án hình sự thuộc phạm vi trách nhiệm của
CQĐT, bảo đảm việc truy cứu TNHS có căn cứ và hợp pháp, ngăn ngừa xảy ra các
trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội.
Kiểm sát viên là người trực tiếp thực hiện hai chức năng quan trọng của VKS
là THQCT và KSHĐTP của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, đảm bảo việc điều tra, truy tố chính xác, nhanh
chóng và xử lý công minh đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội
phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân. Do vậy, Kiểm sát viên đóng vai trò rất quan trọng với tư cách là một
chủ thể tham gia quá trình giải quyết vụ án hình sự, thể hiện qua việc nắm giữ vai
1


trò đầu mối và là chủ thể xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chức năng THQCT và KSHĐTP trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự của Kiểm sát viên chưa được hiệu quả, chất lượng chưa
cao, chưa bám sát chặt chẽ quá trình điều tra vụ án. Việc quyết định khởi tố vụ án,
khởi tố bị can chưa đạt hiệu quả, tình trạng đình chỉ điều tra do bị can không phạm
tội còn xảy ra, còn có những trường hợp truy tố không đúng, tòa án tuyên không
phạm tội hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Tính chiến đấu và chủ động của Kiểm sát
viên trong giai đoạn điều tra còn nhiều trường hợp thụ động, phát huy trách nhiệm
chưa cao. Mặt khác, năng lực chuyên môn, kiến thức pháp luật và kinh nghiệm thực
tế của Kiểm sát viên hiện còn chưa đồng đều.
Trước tình hình trên và trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng
chống tội phạm ở nước ta trong tình hình hiện nay, hoàn thành tốt nhiệm vụ cải

cách tư pháp thì việc tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích tình hình thực
tiễn, qua đó đưa ra phương hướng, giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Kiểm sát
viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là đòi hỏi mang tính khách quan và cấp
thiết.
Nghiên cứu về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự là vấn đề quan trọng, không chỉ giúp cho mọi người nhận thức đúng, đủ
về chủ thể này trong hoạt động TTHS mà còn thông qua đó hoàn thiện hệ thống
pháp luật, cơ chế tổ chức, các chế độ đãi ngộ đối với Kiểm sát viên; tạo điều kiện
cho đội ngũ Kiểm sát viên có thể thực hiện tốt vai trò của mình. Đây cũng chính là
lý do học viên chọn đề tài “Địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều
tra các vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện
Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước luận văn đã có một số công trình nghiên cứu về Kiểm sát viên, có thể
kế đến như:
2


Nguyễn Phương Nhung, “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố
ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân - thực tiễn tại tỉnh Yên Bái”, Luật
văn thạc sĩ luật học 2016, Đại học quốc gia Hà Nội [12]. Công trình đã nghiên cứu
toàn diện cơ sở lý luận về thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra và đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp
luật được đúng đắn, nâng cao hơn nữa chất lượng thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Nguyễn Thị Hạnh, “Người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân
theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Thành phố
Hà Nội)”, Luận văn thạc sĩ luật học 2015, Đại học quốc gia Hà Nội [5]. Công trình
đã nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về những người tiến hành
tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và thực tiễn hoạt động của những

người tiến hành tố tụng trong VKSND Thành phố Hà Nội.
Trần Công Hòa, "Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - Điều
tra vụ án hình sự”, Luận văn thạc sĩ luật học 2004, Đại học quốc gia Hà Nội [7].
Luận văn đã làm rõ bản chất của hoạt động này trong giai đoạn khởi tố - điều tra và
mối liên hệ chặc chẽ giữa các khâu kiểm sát trong hoạt động kiểm sát khởi tố - điều
tra vụ án hình sự.
Đoàn Tạ Cửu Long, “Hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình
sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Luận án tiến sĩ luật học 2015, Trường Đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh [11]. Luận án góp phần hoàn thiện lý luận về hoạt
động của VKS trong điều tra vụ án hình sự; từ đó tạo cơ sở cho việc nhận thức
thống nhất về chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của VKSND trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp.
Qua nghiên cứu cho thấy nội dung của các công trình nghiên cứu, luận văn
trong thời gian qua, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005
của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020 thì hầu hết các công trình đó đều là những công trình nghiên cứu trực
diện về chức năng, nhiệm vụ của VKSND; về địa vị pháp lý của tất cả các chủ thể
3


tiến hành tố tụng trong VKSND; hoặc đề cập đến hoạt động của Kiểm sát viên trong
cả một quá trình tố tụng hình sự từ khi khởi tố cho đến thi hành án. Chưa có một
công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về địa
vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự. Chính vì
vậy, vai trò của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và những hạn
chế, bất cập còn tồn tại chưa được phân tích đầy đủ và có hệ thống để có những
phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của chủ thể này trong quá trình tham gia
giải quyết vụ án hình sự tại giai đoạn điều tra.
Từ nhận định trên, luận văn này sẽ tiếp tục nghiên cứu về địa vị pháp lý của
Kiểm sát viên nhưng ở trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, với sự phân tích số

liệu cụ thể trên thực tiễn địa bàn huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đưa
ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao vị trí, vai trò của Kiểm
sát viên trong giai đoạn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của Kiểm sát
viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và phân tích tình hình thực tiễn để từ đó
đưa ra những giải pháp tăng cường vị thế, vai trò của đội ngũ Kiểm sát viên trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận như khái niệm, nhiệm vụ và mục
đích của điều tra vụ án hình sự; Khái niệm, vị trí, vai trò, địa vị pháp lý của Kiểm
sát viên trong điều tra vụ án hình sự;
- Phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm
sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự;
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác THQCT và KSĐT của Kiểm sát
viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế,
vướng mắc và nguyên nhân của nó.
4


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là các vấn đề lý luận và các quy định của
pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
từ thực tiễn tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu, Luận văn tập trung nghiên cứu trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự, từ khi vụ việc vi phạm pháp luật bị CQĐT trong lực

lượng Công an nhân dân hoặc bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền khởi
động hoặc tái khởi động tiến trình điều tra vụ án hình sự bằng các quyết định khởi
tố vụ án, điều tra bổ sung, phục hồi điều tra, điều tra lại đến khi CQĐT hoàn thành
nhiệm vụ điều tra bằng việc kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc quyết định đình
chỉ điều tra vụ án. Với giới hạn không gian, thời gian nghiên cứu thực tiễn là trên
địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 5 năm (2013 2017).
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, cũng như các thành tựu của các chuyên
ngành khoa học pháp lý, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên
cứu, sách chuyên khảo, các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp lịch sử, so sánh, tổng hợp, thống kê tình hình thực tiễn kiểm sát điều
tra tại VKSND huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa mặt lý luận
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện các vấn đề lý
luận về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; từ
5


đó tạo cơ sở cho việc nhận thức thống nhất về chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò
của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trong giai đoạn hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu
của cán bộ giảng dạy, sinh viên trong các Trường đại học Luật, các cơ sở đào tạo,
bồi dưỡng các chức danh tư pháp như Học Viện tư pháp, Trường đào tạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ kiểm sát hoặc sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người quan tâm,

nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố Việt Nam trong điều tra hình
sự.
Những kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể dùng tham khảo trong
quá trình soạn thảo các văn bản pháp luật liên quan đến vị trí, vai trò của Kiểm sát
viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự như Luật tổ chức VKS, BLTTHS, Pháp
lệnh tổ chức điều tra hình sự....
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần kết luận,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Chƣơng 2: Các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Chƣơng 3: Thực trạng thực hiện địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh và các giải
pháp bảo đảm thực hiện địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự.

6


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM SÁT
VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, nhiệm vụ và mục đích của điều tra vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm điều tra vụ án hình sự
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án
hình sự và kết thúc khi CQĐT hoàn thành bản kết luận điều tra, đồng thời quyết
định đề nghị truy tố người bị nghi là tội phạm trước Tòa án hoặc ra quyết định đình
chỉ vụ án.

Trong quá trình điều tra, CQĐT được áp dụng mọi biện pháp của pháp luật
tố tụng hình sự để thu thập chứng cứ, mục đích để làm rõ sự việc phạm tội, về
người thực hiện tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như các tình
tiết khác có liên quan đến vụ án, kiến nghị biện pháp phòng ngừa với cơ quan và tổ
chức hữu quan. Hoạt động điều tra chính là hoạt động thu thập chứng cứ, phục vụ
cho việc xét xử của Tòa án. Việc thu thập, kiểm tra đánh giá chứng cử ở giai đoạn
điều tra có tính chất sơ bộ, phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá chính thức tại phiên
Tòa.
Theo “Giáo trình tố tụng hình sự Việt Nam” của trường Đại học luật Hà Nội,
Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2006: “ Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố
tụng hình sự; trong đó cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao một số hoạt
động điều tra được sử dụng một số biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để
thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có
liên quan đến vụ án làm cớ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời thông qua
hoạt động điều tra, xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ
thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa đối với các cơ quan và tổ chức hữu
quan” [24]. Như vậy, giai đoạn điều tra kết thúc bằng việc cơ quan điều tra kết luận
điều tra và đề nghị truy tố hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án. Trường hợp áp dụng
thủ tục rút gọn, khi kết thúc điều tra, CQĐT không phải làm bản kết luận điều tra
mà ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ cho VKS.
7


1.1.2. Nhiệm vụ và mục đích của giai đoạn điều tra vụ án hình sự
So với giai đoạn khởi tố vụ án, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra rộng hơn và
phức tạp hơn.
Các giáo trình, tài liệu về TTHS và về khoa học điều tra hình sự trình bày về
nhiệm vụ của giai đoạn điều tra còn có sự khác nhau. Theo giáo trình Luật TTHS
của Trường Đại học Luật Hà Nội, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra có 04 nhiệm vụ
là: Xác định tội phạm và người phạm tội; Xác định tội phạm do người phạm tội gây

ra, tạo điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án; Lập hồ sơ, đề nghị truy tố bị
can; Xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan tổ chức hữu
quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn chặn.
Tuy nhiên, qua tổng hợp các tài liệu và từ thực tiễn hoạt động điều tra, có thể
khái quát nhiệm vụ và mục đích của giai đoạn điều tra là:
- Xác định sự việc phạm tội, người thực hiện tội phạm
Khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội,
CQĐT có nhiệm vụ thu thập các chứng cứ để xác minh có hay không sự việc phạm
tội xảy ra. Khi thực hiện nhiệm vụ này, CQĐT cần thu thập chứng cứ chứng minh,
làm rõ các đặc điểm: tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính chống đối pháp
luật hình sự, tính phải chịu hình phạt của tội phạm. Khi có tố giác hoặc tin báo về
tội phạm, CQĐT và các cơ quan có thẩm quyền khác tiến hành xác minh sơ bộ và ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu thấy có dấu hiệu tội phạm.
Thực tế, sau khi đa phần các vụ án xảy ra, cơ quan tiến hành tố tụng chưa
biết ai là người thực hiện tội phạm, trừ những trường hợp phạm tội quả tang hoặc
những vụ án thông qua đấu tranh chuyên án của ngành Công an, nên nhiệm vụ đặt
ra trong giai đoạn điều tra là phải truy tìm người thực hiện tội phạm. Đồng thời
CQĐT còn có nhiệm vụ thu thập chứng cứ để chứng minh hành vi của họ có thỏa
mãn các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự hay không.
Trong quá trình điều tra, CQĐT cần phải thu thập chứng cứ xác định vụ án do một
người hay nhiều người thực hiện và có đồng phạm hay không, vai trò tính chất, mức
độ tham gia của mỗi người trong vụ án đồng phạm để làm cơ sở cho việc giải quyết
vụ án.
8


- Xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội; kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, biện pháp phòng
ngừa.
Những nguyên nhân và điều kiện phạm tội chung của tình hình tội phạm đã

được giải quyết trong tội phạm học, song nguyên nhân và điều kiện phạm tội trong
tường hợp cụ thể thì phải được xác định, làm rõ trong quá trình điều tra. Vì vậy, khi
tiến hành điều tra cần phải thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm và những
nguyên nhân, điều kiện phạm tội để từ đó có biện pháp khắc phục thích hợp.
- Xác định tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, kịp thời
có biện pháp để đảm bảo cho việc bồi thường và khắc phục hậu quả.
Luật tố tụng hình sự quy định các cơ quan điều tra có quyền kiến nghị, yêu
cầu các cơ quan khắc phục các thiếu xót trong quá trình quản lý con người, quản lý
tài sản và quản lý xã hội. Để làm được việc này, CQĐT phải xác định được tính
chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Những yêu cầu, kiến nghị của
CQĐT phải được các cơ quan, các tổ chức và mọi người trong xã hội nghiêm chỉnh
thực hiện và phải báo cáo các kết quả với cơ quan điều tra.
1.2. Khái niệm, vị trí, chức năng của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự
1.2.1. Khái niệm Kiểm sát viên
Hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng trong TTHS ở Việt Nam bao gồm
CQĐT, VKS, Tòa án. Mỗi cơ quan đều có vai trò nổi bật ở những giai đoạn tố tụng
khác nhau. Trong ba cơ quan nêu trên chỉ có duy nhất VKS là cơ quan tiến hành tố
tụng tham gia xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự. Từ khi thành
lập đến nay,VKS với đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực chuyên môn, phẩm
chất chính trị vững vàng, đạo đức chuẩn mực đã có những đóng góp to lớn vào công
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật, phát hiện chính xác và xử
lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội; bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân
được tôn trọng; trật tự an ninh, an toàn xã hội được giữ vững. Đóng góp vào thành
9


tích đáng tự hào của VKS là hoạt động của đội ngũ Kiểm sát viên - những người đại
diện trực tiếp cho VKS tham gia quá trình TTHS theo quy định của pháp luật.

Nói tới vai trò là nói tới tác dụng, chức năng của ai hoặc của cái gì trong sự
hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức, một quá trình, một sự
việc. Vai trò của một chủ thể được xác định từ tư cách, vị trí của chủ thể đó trong
một tập thể, tổ chức, trong một quá trình, sự việc. Để xác định vai trò của Kiểm sát
viên cần xuất phát từ cách tiếp cận về Kiểm sát viên trong một mối quan hệ nhất
định, một thiết chế nhất định.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, “Kiểm sát viên là cán bộ của cơ quan
kiểm sát được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, có thẩm quyền và nghĩa vụ
luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc chấp hành triệt để nghiêm
chỉnh pháp luật của Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân” [8, tr. 563]. Từ điển
Bách khoa toàn thư chỉ ra nội hàm của khái niệm Kiểm sát viên gồm ba nội dung:
(1) là cán bộ của cơ quan kiểm sát - Kiểm sát viên ở đây có tư cách là một cán bộ
trong thiết chế cơ quan kiểm sát; (2) được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật; (3)
có thẩm quyền và nghĩa vụ luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc
chấp hành triệt để nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, tổ chức xã hội và công
dân. Tuy nhiên, nội dung thứ ba không còn phù hợp, không chính xác tại thời điểm
hiện tại khi chức năng của VKS đã thay đổi, Kiểm sát viên là người tiến hành tố
tụng của VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp của VKS.
Theo Từ điển Luật học thì: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy
định của pháp luật để làm nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành
quyền công tố” [30, tr. 263]. Khái niệm này chưa phản ánh rõ địa vị pháp lý của
Kiểm sát viên mà chỉ thể hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên theo chức năng của VKS
được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND tại thời điểm đưa ra khái
niệm và không còn phù hợp với thời điểm hiện tại.
Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 định nghĩa: “Kiểm sát viên là người được
bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và
10



kiểm sát các hoạt động tư pháp” [28, Điều 1]. Khái niệm trên đã xác định đúng về
nhiệm vụ của Kiểm sát viên từ giác độ chức năng hiện hành của VKSND nhưng
cũng tồn tại những hạn chế trong cách xây dựng khái niệm như trong Từ điển Luật
học.
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã thay thế pháp lệnh Kiểm
sát viên năm 2002, theo đó Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy
định cụ thể khái niệm Kiểm sát viên tại Điều 74: “Kiểm sát viên là người được bổ
nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Như vậy, khái niệm này đã xác định đúng về
nhiệm vụ của Kiểm sát viên là thực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp. Từ khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu rõ các vấn đề
sau:
Thứ nhất, cần khẳng định Kiểm sát viên là một công chức Nhà nước, là công
chức nhà nước, có nghĩa trước tiên họ phải thỏa mãn các điều kiện của một công
chức trong bộ máy Nhà nước. Theo Luật cán bộ công chức năm 2008 thì Kiểm sát
viên là công chức Nhà nước, có nghĩa họ phải là công dân Việt Nam được tuyển
dụng, bổ nhiệm vào ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên
trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, hưởng lương từ
ngân sách nhà nước, được xếp vào một ngạch công chức nhất định. Kiểm sát viên là
một công chức của VKS - người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để
thực hiện chức năng của VKS là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp. VKS thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua hệ thống công
chức là người tiến hành tố tụng như Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên,
Kiểm tra viên và những công chức khác, những bộ phận giúp việc khác. Như vậy,
Kiểm sát viên là một trong số các công chức góp phần thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của VKS. Hiến pháp 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành
quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [17, Điều 107]. Kiểm sát viên là chủ
thể tiến hành tố tụng, có vai trò quan trọng và trực tiếp trong việc thực hiện chức
năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong suốt quá
trình giải quyết vụ án hình sự của VKS.

11


Thứ hai, Kiểm sát viên là một chức danh tư pháp, chức danh này được sử
dụng để định danh một người hành nghề luật, làm việc trong hệ thống tư pháp mà
cụ thể là chỉ người làm việc trong VKS, nhân danh Nhà nước tham gia vào các hoạt
động tố tụng theo quy định của pháp luật. GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: “Chức
danh tư pháp chỉ những người thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề
theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo
pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định
của pháp luật” [40, tr. 5].
Như vậy, từ khía cạnh thứ hai, có thể hiểu Kiểm sát viên là một chức danh tư
pháp, thực hiện một loại hình nghề luật tương ứng - nghề công tố/nghề kiểm sát tùy
theo quan điểm của mỗi quốc gia trên thế giới và sẽ có vai trò tương ứng với tính
chất nghề nghiệp của họ trong sự phân công lao động xã hội.
Thứ ba, khi được phân công giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh
thương mại… Kiểm sát viên là một loại người tiến hành tố tụng, có các thẩm quyền
tiến hành tố tụng, có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện các quyết định và
hành vi tố tụng và cũng phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các quyết định, hành
vi tố tụng do họ thực hiện. Ở khía cạnh này, Kiểm sát viên có vai trò tố tụng của họ
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Như vậy, cả ba tư cách này của Kiểm sát viên đều gắn với hoạt động nghề
nghiệp của họ. Trong đó, tư cách người tiến hành tố tụng của Kiểm sát viên thể hiện
cả tư cách của một công chức nhà nước làm việc tại VKS và tư cách người hoạt
động nghề nghiệp. Tư cách người tiến hành tố tụng gắn với một vụ án, vụ việc cụ
thể mà họ được phân công thụ lý và cũng thể hiện đầy đủ, trọn vẹn vai trò nghề
nghiệp của họ.
1.2.2. Vị trí, chức năng của Kiểm sát viên trong điều tra vụ án hình sự
Trong hoạt động của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên là nhân tố cơ bản. Kiểm

sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức
năng THQCT và KSHĐTP. Kiểm sát viên là công chức của ngành Kiểm sát, có vị
12


trí vai trò chủ yếu trong việc thực hiện chức năng của VKS. Vị trí của Kiểm sát viên
được nhìn nhận từ sự vận hành và phát triển, đảm bảo chức năng của Viện kiểm sát
được thực hiện trên thực tế.
Kết quả hoạt động của VKS là sản phẩm của toàn bộ hoạt động tư pháp.
Viện kiểm sát thực hiện chức năng của mình thông qua hoạt động của những con
người cụ thể. Trong cơ cấu tổ chức của VKS có rất nhiều chức danh như Kiểm sát
viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên... Nhưng chỉ duy nhất KSV mới được pháp luật
trao cho quyền THQCT và KSHĐTP. Trước đây, ở chế độ phong kiến khi chưa có
sự tách biệt giữa ba quyền tư pháp, hành pháp và lập pháp thì Vua chính là quan
Tòa, người xét xử tối cao. Đến khi cách mạng tư sản ra đời đã tạo ra một cuộc cách
mạng mới về tư tưởng. Chính đều này đã hình thành nên một nhánh quyền lực độc
lập, đó là quyền tư pháp và cũng từ đó hình thành nên đội ngũ quan chức mới trong
bộ máy nhà nước. Đó là những con người làm công tác tư pháp nói chung và công
tác Kiểm sát nói riêng.
Thực hành quyền công tố và KSHĐTP là chức năng Hiến định của VKS.
Trong mỗi giai đoạn tố tụng, Kiểm sát viên là những người có vai trò chủ yếu trong
việc thực hiện chức năng này. Thông qua chức năng được pháp luật trao, Kiểm sát
viên góp phần vào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích cả nhà
nước, của xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của
người dân. Mỗi quyết định, đề xuất của Kiểm sát viên có thể dẫn tới chỗ công dân,
pháp nhân được hưởng quyền và lợi ích hoặc phải gánh chịu các hậu quả pháp lý
nhất định. Đặc biệt trong lĩnh vực hình sự, mà cụ thể tại giai đoạn điều tra vụ án, đề
xuất của Kiểm sát viên dẫn đến hậu quả pháp lý vô cùng nghiêm trọng đối với
người bị kết tội. Sai lầm trong hoạt động kiểm sát của KSV sẽ dẫn đến trình trạng
khởi tố oan, sai. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân mà có thể làm ảnh

giảm lòng tin của nhân dân vào sự công bằng của xã hội, vào pháp luật của nước ta.
Khác với các công việc khác, để đưa ra được một đề xuất giải quyết thấu
tình, đạt lý, KSV phải huy động nhiều tố chất trong một con người. Đó là sự am
hiểu pháp luật, sự hiểu biết về thực tế, tích lũy kiến thức về xã hội, tâm lý con
13


người, lương tâm của người Kiểm sát. Chỉ khi nào có sự kết hợp giữa trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của người KSV thì lúc đó mới đảm
bảo cho các quyết định của KSV thấu tình, đạt lý.
Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy vai trò trung tâm của KSV trong hoạt
động THQCT và KSHĐTP trong các giai đoạn tố tụng hình sự nói chung và trong
giai đoạn điều tra nói riêng.
1.3. Khái niệm, nội dung địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự
1.3.1. Khái niệm
Địa vị pháp lý nói chung theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông
dụng là “Tổng thể các điều kiện pháp lý mà pháp luật đòi hỏi để xác định cho một
chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”.
Theo Từ điển Luật học xuất bản năm 2006 thì địa vị pháp lý của chủ thể
pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp luật
khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Là sự thể hiện thành một tổng thể các
quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng
của chủ thể trong các hoạt động của mình. Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt
chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời có thể xem xét vị trí và
tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật.
Tố tụng hình sự được chia ra nhiều giai đoạn khác nhau. Tương ứng với mỗi
giai đoạn đó có các cơ quan tiến hành tố tụng. Các cơ quan tiến hành tồ tụng gồm:
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Trong mỗi cơ quan tiến hành tố tụng, pháp
luật quy định những người có thẩm quyền thực hiện các hành vi tố tụng theo quy

định của BLTTHS. Và những người đó được gọi là những người tiến hành tố tụng
với địa vị pháp lý rất khác nhau.
Tại VKS, những người tiến hành tố tụng gồm có: Viện trưởng, Phó Viện
trưởng, Kiểm sát viên, Điều tra viên. Kiểm sát viên ở Việt Nam bao gồm: Kiểm sát
viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, KSV Trung cấp, KSV sơ cấp và Kiểm
sát viên VKS quân sự các cấp.
14


Kiểm sát viên còn được hiểu theo nghĩa là một chức danh tư pháp. Cho đến
nay ở nước ta chưa có văn bản pháp luật nào của nhà nước quy định về khái niệm
chức danh tư pháp. Có quan điểm cho rằng những người nào trực tiếp thực hiện
quyền lực tư pháp thì mới là chức danh tư pháp. Do vậy, chức danh tư pháp bao
gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm tra viên, Hội
thẩm, Thẩm tra viên. GS.TS. Võ Khánh Vinh cho rằng “chức danh tư pháp bao
gồm những người thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một
chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp
luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của
pháp luật.” [40, tr. 5]. Trong các chức danh tư pháp thì KSV được xác định là một
chức danh tư pháp quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền tư
pháp.
Như vậy, chúng ta có thể rút ra khái niệm địa vị pháp lý của KSV là “Tổng
thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý của
Kiểm sát viên khi tiến hành các hành vi tố tụng được pháp luật quy định”.
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy, nội hàm địa vị pháp lý của
KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được phản ánh và thể hiện ở những
phương diện:
- Vai trò của KSV trong các mối quan hệ tố tụng của giai đoạn điều tra vụ án
hình sự.

- Các hoạt động thể hiện vai trò của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự
1.3.2. Vai trò của KSV trong các mối quan hệ tố tụng của giai đoạn điều
tra vụ án hình sự
Quá trình giải quyết vụ án hình sự có nhiều giai đoạn với sự tham gia của
nhiều chủ thể khác nhau. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp từ giai đoạn khởi tố, điều tra đến thi hành án hình sự. Do vậy,
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Kiểm sát viên có mối quan hệ pháp luật với
nhiều chủ thể tiến hành và chủ thể tham gia TTHS ở giai đoạn này.
15


Thứ nhất, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tiến hành tố tụng
khác của VKS.
Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tiến hành tố tụng khác
trong VKS là mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với Viện trưởng, Phó Viện trưởng và
Kiểm tra viên trong cùng một cơ quan VKS.
Trong quá trình kiểm sát vụ án hình sự ở giai đoạn điều tra, khi thực hiện
chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của VKS, Kiểm sát viên
tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng VKS cấp mình. Phó Viện
trưởng giúp Viện trưởng thực thi nhiệm vụ. Khi có vụ án xảy ra, Kiểm sát viên thực
thi nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công của Viện trưởng, Phó Viện trưởng (được
Viện trưởng ủy nhiệm). Kiểm sát viên có trách nhiệm báo cáo trung thực, chính xác,
đầy đủ nội dung vụ việc, tiến độ giải quyết và đề xuất hướng xử lý. Viện trưởng,
Phó Viện trưởng sau khi nghe Kiểm sát viên báo cáo thì ghi ý kiến chỉ đạo của mình
vào phiếu đề xuất của Kiểm sát viên. Mặc dù là người tiến hành tố tụng theo quy
định của pháp luật TTHS nhưng hoạt động của Kiểm sát viên không mang tính độc
lập cao như Thẩm phán. Kiểm sát viên chỉ được thực hiện độc lập một số hoạt động
tố tụng và đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc thủ trưởng và nguyên tắc trực thuộc
một chiều đặc thù của ngành Kiểm sát. Trong quá trình tác nghiệp, Kiểm sát viên

phải thường xuyên báo cáo với Viện trưởng, Phó viện trưởng. Mối quan hệ giữa
Viện trưởng, Phó Viện trưởng với Kiểm sát viên trong cùng một cơ quan VKSND
được điều là mối quan hệ chỉ huy, mệnh lệnh - phục tùng, xuất phát từ sự phân định
thẩm quyền hành chính và quyền hạn trong TTHS của các chức danh này. Thẩm
quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng theo quy định của pháp luật mang tính
mệnh lệnh và phải được Kiểm sát viên chấp hành nghiêm chỉnh. Trong chỉ đạo
nghiệp vụ, Viện trưởng ra quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; có trách nhiệm giám sát các hoạt động và
chỉ đạo kịp thời các vấn đề nghiệp vụ đối với Kiểm sát viên và chịu trách nhiệm về
các quyết định của mình.
Kiểm tra viên là chức danh tư pháp, được bổ nhiệm theo quy định của pháp
luật để giúp Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
16


Kiểm tra viên được hiểu là người giúp Kiểm sát viên thực thi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình theo quy định của pháp luật. Kiểm tra viên được phân công giúp việc cho
Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án nên trong mối quan hệ này, Kiểm sát
viên giữ vai trò chỉ đạo nhiệm vụ cho Kiểm tra viên, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra
Kiểm tra viên thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật. Kiểm tra
viên tiến hành nghiên cứu hồ sơ, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên, thực hiện
nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm trước Kiểm sát viên.
Thứ hai, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với Điều tra viên, người được giao
một số nhiệm vụ khác ngoài VKS.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự có sự tham gia của nhiều cơ quan tiến
hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan đó. Tham gia giải quyết
các vụ án hình sự, chủ thể có mối quan hệ với Kiểm sát viên không chỉ có Viện
trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm tra viên trong cùng một cơ quan VKS mà còn bao
gồm những người tiến hành tố tụng khác, người được giao một số nhiệm vụ khác
ngoài VKS.

Đều có chung nhiệm vụ là đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh
chính trị và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đảm bảo mọi hành vi phạm tội phải được
phát hiện kịp thời, nhanh chóng, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
nên các cơ quan VKS, Cơ quan điều tra, những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra (bao gồm các cơ quan của Bộ đội Biên phòng, Hải
quan, Lực lượng cảnh sát biển, Kiểm ngư, Kiểm lâm, Công an nhân dân được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Quân đội nhân dân được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) có mối liên hệ mật thiết với nhau trong quá
trình tiến hành hoạt động TTHS ở giai đoạn điều tra vụ án mà đại diện trực tiếp là
giữa Kiểm sát viên với Điều tra viên, những người được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra của các cơ quan theo luật định. Mối quan hệ giữa Kiểm
sát viên và Điều tra viên, những người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra vừa mang tính chỉ đạo vừa có tính chất phối hợp, kiểm soát lẫn nhau.
Tính chất chỉ đạo thể hiện ở việc Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động điều tra có quyền tác động trực tiếp vào hoạt động
17


điều tra của các Điều tra viên, các cá nhân có thẩm quyền của cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát
viên trực tiếp hoặc trình Viện trưởng VKS ra các quyết định tố tụng và yêu cầu Cơ
quan điều tra, những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra và những người tiến hành tố tụng của các cơ quan này phải thực hiện. Nhưng
ngược lại, Điều tra viên, những người có thẩm quyền thuộc các cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội Biên phòng, Hải quan,
Lực lượng cảnh sát biển, Kiểm ngư, Kiểm lâm, Công an nhân dân, Quân đội nhân
dân không có quyền can thiệp vào hoạt động của Kiểm sát viên. Pháp luật TTHS
quy định cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa Cơ quan điều tra và VKS (Nguyên tắc
kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự). Kiểm sát viên đại diện cho VKS kiểm tra,
giám sát kết quả hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều

tra của Điều tra viên được phân công giải quyết vụ án hình sự; đồng thời có trách
nhiệm thông báo các kết quả giải quyết vụ án cho Điều tra viên. Cơ chế kiểm soát
lẫn nhau giúp loại bỏ các hành vi vi phạm pháp luật, tăng hiệu quả hoạt động của
các bên khi tham gia điều tra vụ án hình sự. Bên cạnh đó, VKS và các CQĐT này
thuộc hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, có sự độc lập nhất định và không có sự
ràng buộc với nhau trong quan hệ hành chính. Pháp luật TTHS cũng không có
những quy định và chế tài về chế độ trách nhiệm của từng cơ quan, của những
người tiến hành tố tụng, của Kiểm sát viên, của Điều tra viên một cách cụ thể rõ
ràng để đảm bảo thực hiện mối quan quan hệ này [29, tr. 48]. Do đó, trong quá trình
điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì cần phải có sự phối hợp
giữa Kiểm sát viên với Điều tra viên, những người được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra. Chất lượng của hoạt động TTHS trong giai đoạn điều tra
phụ thuộc rất nhiều vào trình độ nhận thức, phương pháp cùng sự phối hợp nhịp
nhàng và hiệu quả của các Kiểm sát viên, Điều tra viên tham gia vụ án.
Thứ ba, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng.
Những người tham gia TTHS trong giai đoạn điều tra bao gồm người bị kiến
nghị khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt; người bị tạm
giữ; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ
18


liên quan đến vụ án; người làm chứng; người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự, của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người phiên
dịch, người dịch thuật; người giám định; người định giá tài sản, người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân phạm tội. Các chủ thể này đều có một vị trí nhất định trong
quá trình điều tra vụ án hình sự mà hoạt động của họ góp phần khẳng định vai trò
của Kiểm sát viên trong thực thi các nhiệm vụ, chức năng của VKS.
Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát tư
pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Trong mối quan hệ với các chủ thể
tham gia TTHS ở giai đoạn này, Kiểm sát viên đóng vai trò là người đại diện cho

quyền lực nhà nước tiến hành hoạt động TTHS mà những hoạt động đó ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền, lợi ích của các cá nhân hoặc của người họ là đại diện tham gia
tố tụng.
Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
người bị bắt; người bị tạm giữ; là mối quan hệ giữa một bên đại diện cho quyền lực
nhà nước với một bên là cá nhân có dấu hiệu phạm tội. Điều này dẫn đến tính bất
bình đẳng tất yếu trong mối quan hệ này. Kiểm sát viên với tư cách là tiến hành tố
tụng thực hiện các hoạt động trong giai đoạn điều tra, tìm ra sự thật của vụ án. Căn
cứ vào hồ sơ và bản kết luận điều tra mà VKS quyết định truy tố bị can ra trước Tòa
bằng một bản cáo trạng hay trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ
vụ án. Tuy nhiên, người bị buộc tội vẫn được coi là không có tội cho đến khi được
chứng minh theo trình tự luật định và có bản án đã có hiệu lực pháp luật tuyên họ có
tội. Vì thế, người bị buộc tội vẫn phải được những người tiến hành tố tụng, trong đó
có Kiểm sát viên tôn trọng, bảo đảm quyền con người; tuyệt đối không được đối xử
với họ như người phạm tội. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên không chỉ tiến hành buộc
tội bị cáo mà còn có trách nhiệm thu thập các chứng cứ, tài liệu để gỡ tội cho bị cáo.
Ngoài các tình tiết chứng minh tội phạm, Kiểm sát viên còn đưa ra các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự... Bên cạnh hoạt động thực
hành quyền công tố, Kiểm sát viên còn kiểm sát hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng, cơ quan được trao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động tố tụng và các
19


×