Tải bản đầy đủ (.doc) (104 trang)

Lịch sử Hlh thanh niên Việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (635.36 KB, 104 trang )

Web Site Tìm Kiếm
18 Tháng Tư 2009 - Đăng Ký - Đăng
Nhập

Nội dung chi tiết


LỊCH SỬ
HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VIỆT NAM VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN VIỆT NAM
(1925-2004)
"Thanh niên cần phải có tinh thần gan dạ, sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến
lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng…"
Hồ Chí Minh.
Phần thứ nhất
NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM SÁNG LẬP, RÈN LUYỆN
MẶT TRẬN ĐOÀN KẾT THANH NIÊN VIỆT NAM
(1925-1945)
Chương I:
Nguyễn ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước
và chủ trương thức tỉnh thanh niên,
đưa thanh niên vào con đường tranh đấu
giải phóng dân tộc giải phóng giai cấp
Sau khi nổ súng xâm lược nước ta, thực dân Pháp phải mất gần 30 năm mới đặt được bộ máy
thống trị của chúng do sự ươn hèn của vua quan nhà Nguyễn ký Hiệp ước công nhận quyền bảo hộ
cho bọn thực dân năm 1884. Từ đó, nhân dân ta phải sống trong cảnh lầm than, cơ cực dưới hai
tầng áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến. Bọn cướp nước và bè lũ tay sai bán nước đã thi
hành một chính sách cai trị cực kỳ dã man, tàn bạo. Chúng trắng trợn đàn áp về chính trị, bóc lột
tàn tệ về kinh tế, đầu độc thâm hiểm về văn hoá và tinh thần. Trong tình cảnh đó, các tầng lớp
thanh niên nước ta không sao thoát khỏi số phận đen tối. Một trong muôn vàn tội ác của bọn thực
dân phong kiến đối với thanh niên là buôn người đưa họ bán đi biệt xứ làm phu trên các đảo xa
xôi. Bán được một thanh niên, chúng lãi ba nghìn frăng (tiền Pháp). Hàng vạn thanh niên đã trở


thành nạn nhân của tội ác này, đem về cho bọn thực dân món lãi kếch xù hàng trăm triệu frăng.
Thanh niên công nhân bị bóc lột vô nhân đạo từ tuổi thiếu niên. Không ai khác, chính một nhà báo
Pháp đã viết: “Khi tôi tới thăm Hòn Gai, mỏ than lúc nhúc những người rách rưới, gầy guộc. Đằng
sau những chiếc goòng, các “nhóc” còng lưng đẩy xe, những thân hình bé nhỏ, khô rạc. Tiền lương
danh nghĩa 15 xu, thực tế 12 giờ mỗi ngày chúng chỉ nhận được 7 xu rưỡi vì chúng là nhóc". Trong
lúc đó vốn của Công ty than Hòn Gai lúc đầu là 16 triệu frăng, nhưng chỉ riêng năm 1925, bọn chủ
mỏ đã lãi tới 36,2 triệu frăng. Tiền lãi một năm nhiều hơn hai lần tiền vốn bỏ ra lúc đầu. Tương tự
như vậy, năm 1919 vốn tài chính của Công ty cao su Nam kỳ có 16 triệu frăng, sau lấy lãi bỏ thêm
vào năm 1924 tăng lên 100 triệu. Năm 1925 công ty này thu lãi trên 31 triệu frăng cho bọn chủ
thực dân. Cứ như thế trong lúc túi tiền của bọn chủ thực dân, tư bản ngày càng đầy thì:
Cao su xanh tốt lạ đời
Mỗi cây bón một xác người công nhân!
Từ khi Việt Nam bị thực dân Pháp thống trị cho đến năm 1929, nhân dân và tuổi trẻ nước ta liên
tiếp nổi dậy đấu tranh quyết liệt không quản máu chảy, đầu rơi. Mặc dù vậy, những năm đầu thế
kỷ XX, các phong trào yêu nước vẫn lâm vào tình trạng bế tắc, song ngọn lửa căm thù quân xâm
lược và dũng khí đấu tranh của nhân dân ta chưa bao giờ bị dập tắt.
Nguyên nhân cơ bản của sự bế tắc nêu trên chính là do thiếu một đường lối đúng đắn, một tổ chức
chặt chẽ nên cuối cùng các phong trào đấu tranh đều bị kẻ thù dìm trong biển máu. Tình trạng
khủng hoảng về lãnh đạo đòi hỏi phải được giải quyết để đưa cách mạng nước ta tiến lên. Đúng
vào thời điểm này, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau lấy tên là Nguyễn ái Quốc
đã mở đầu cuộc hành trình hết sức quả cảm và gian lao đi tìm đường cứu nước, cứu dân…
Giữa năm 1911, ở độ tuổi 20, Nguyễn ái Quốc xuống tàu mang tên Đô đốc Latusơ Tơrêvin tại cảng
Nhà Rồng (Sài Gòn) đi ra nước ngoài với ý thức tìm hiểu nước Pháp và các nước khác làm thế nào
mà trở lên độc lập, hùng cường rồi sẽ “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức, đoàn
kết và huấn luyện để đưa họ đấu tranh giành quyền tự do, độc lập". Nguyễn ái Quốc đã đến Pháp,
và đi qua nhiều nước châu Phi, đến Mỹ, Anh…vv… và trở lại Pháp vào cuối năm 1917 lúc chiến
tranh thế giới lần thứ nhất ở vào giai đoạn quyết liệt nhất.
Tại Paris, Người kết bạn với nhiều nhà hoạt động xã hội, văn hoá có uy tín lớn của nước Pháp.
Người viết nhiều bài báo tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở các thuộc địa, tranh thủ mọi diễn đàn,
những buổi hội họp, mít tinh, sinh hoạt câu lạc bộ để tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam, Lào,

Campuchia và các nước thuộc địa khác.
Với nhiệt huyết của tuổi thanh niên, Nguyễn ái Quốc sáng lập ra “Nhóm những người Việt Nam yêu
nước” tại Pháp. Thành viên của nhóm hầu hết là thanh niên công nhân, binh lính và những người
du học (thực dân Pháp đã bắt hơn 10 vạn thanh niên nông dân, công nhân sang phục vụ chiến
tranh thế giới lần thứ nhất tại Pháp). Nhóm hoạt động mạnh mẽ làm cho giới cầm quyền Pháp rất
lo ngại. Do công tác tuyên truyền, tổ chức của nhóm được tiến hành tích cực nên cơ sở của nhóm
phát triển khá mạnh. Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã chân thành mời hai nhà yêu nước Phan Châu
Trinh và Phan Văn Trường tham gia “Nhóm những người Việt Nam yêu nước”, song cả hai ông
không tán thành, vì các ông cho rằng “nhóm thanh niên ấy là trẻ con”.
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, Hội nghị Vécxây (Versailles) giữa các nước thắng trận
họp tại Thủ đô Paris vào ngày 18/6/1919. Nguyễn ái Quốc thay mặt nhóm những người Việt Nam
yêu nước ở Pháp đưa tới Hội nghị tám điểm đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận quyền tự do, dân
chủ, quyền bình đẳng và tự quyết của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách này được gửi đến các đoàn
đại biểu Đồng minh và tất cả các nghị viên của Quốc hội Pháp. Báo “Nhân đạo” (L'Humanité) và
nhiều nhật báo khác ở Pháp đã đăng nguyên văn hoặc trích đăng bản yêu sách chính trị quan
trọng này. Nguyễn ái Quốc cùng những đồng chí của Người đã cho in bản yêu sách thành truyền
đơn gửi về trong nước. Dư luận ở Paris cũng như ở Pháp coi việc làm của người thanh niên yêu
nước Nguyễn ái Quốc như quả bom chính trị nổ ngay giữa Paris.
Tháng 7 năm 1920, Nguyễn ái Quốc sung sướng, vui mừng vì được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất
những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin, khẳng định lập trường
kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông của Quốc tế Cộng sản.
Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba.
Tại Đại hội của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua (Tours – 12/1920), Nguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán
thành việc gia nhập Quốc tế III, và cùng những người chủ trương gia nhập Quốc tế III tuyên bố
thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế cộng sản (Section Fran?aise de I’Internationale Communiste,
viết tắt là S.F.I.C). Sự kiện Nguyễn ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, tham gia
thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước
ngoặt trong hoạt động của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con
đường cách mạng vô sản. Sự kiện này cũng đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng
hoảng về đường lối giải phóng dân tộc Việt Nam.

Năm 1921, tại Paris, Nguyễn ái Quốc cùng một số đồng chí của Người lại sáng lập ra “Hội Liên hiệp
các dân tộc thuộc địa” để đoàn kết các lực lượng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân, thông qua
tổ chức này đưa chủ nghĩa Mác – Lênin đến các dân tộc thuộc địa.
Thành viên trong tổ chức “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa” cũng bao gồm tuyệt đại bộ phận là
thanh niên giống như “Nhóm những người Việt Nam yêu nước ở Pháp”. Điều này về sau được Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định khi nhắc lại quá trình hình thành của Hội: “Hơn 40 năm trước đây,
một nhóm thanh niên yêu nước, người của các thuộc địa Pháp, trong đó có thanh niên Việt Nam và
thanh niên Ghinê, đã cùng nhau đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, để giành tự do,
độc lập cho đất nước mình…”
Đây chính là loại hình Quốc tế Thanh niên thuộc địa theo quan điểm của Lênin mà Nguyễn ái Quốc
bước đầu bắt tay thực hiện. Qua việc sáng lập các tổ chức mà đại bộ phận thành viên là những
người yêu nước trẻ tuổi Việt Nam và các thuộc địa Pháp đã giúp Nguyễn ái Quốc sớm hình thành
những quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá các khả năng cách mạng của tuổi trẻ cũng như hình
thức, phương pháp đoàn kết, tập hợp họ. Đây là một trong nhiều hoạt động của Nguyễn ái Quốc
trong phong trào thanh niên hồi đầu thế kỷ.
Thực tiễn phong phú này tạo điều kiện cho Người rút ra nhiều bài học kinh nghiệm về vận động
thanh niên các nước thuộc địa.
Báo Người cùng khổ (Le Paria) do Nguyễn ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút đã cất lên tiếng nói
đầu tiên vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc nói chung và của đế
quốc Pháp ở Đông Dương nói riêng, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, trước hết là thanh niên tiểu tư
sản, trí thức yêu nước hăng hái đứng lên đấu tranh để tự giải phóng.
Tại Việt Nam, khoảng những năm 1922, 1923 ở trường Trung học bảo hộ Hà Nội (còn gọi là trường
Bưởi, nay là THPT Chu Văn An) nơi có nhiều học sinh con em tầng lớp trên được vào học để nhà
nước bảo hộ chuẩn bị cho đội ngũ viên chức “Tây học”. Trường có kỳ thi tuyển chọn những người
giỏi, trong đó đáng chú ý là nhóm bạn thân gồm Nguyễn Đức Cảnh, Đỗ Ngọc Du, Trần Tư Chính,
Ngô Gia Tự, Trịnh Đình Cửu. Tự và Cửu là hai học sinh xuất sắc, họ hay vào thư viện tìm đọc
những tác phẩm của Molie, Huygô, Banzắc… Theo hồi ký của Trịnh Đình Cửu thì không rõ bằng con
đường nào, một hôm Ngô Gia Tự gọi Trịnh Đình Cửu đến chỗ vắng đọc cho nghe một đoạn trong
bài thơ ngắn của Phan Bội Châu từ hải ngoại gửi về:
….Thương ôi! Bách Việt giang san

Văn minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa
Hồn mê mẩn tỉnh chưa, chưa tỉnh?
Anh em ta phải tính làm sao…?
Chẳng mấy chốc nhóm bạn thân trường Bưởi đã truyền cho nhau bài thơ chứa chan lòng yêu nước,
thương nòi và trăn trở bởi câu hỏi cụ đặt ra: “Anh em ta phải tính làm sao?”
Nhưng rồi tin vui bỗng đến, mấy thanh niên từ Hải Phòng, Nam Định lên Hà Nội kể chuyện chính
họ đã được đọc báo từ Pháp mang về có đăng “Yêu sách đòi quyền tự do, tự quyết” gửi đến các đại
biểu nhiều nước dự Hội nghị Vécxây tại Paris của Nguyễn ái Quốc. Họ say sưa kể về ông Nguyễn
lập Hội, xuất bản báo ngay trên đất Pháp để đấu tranh với Pháp. Quả là chuyện lạ mà có thật vì
báo chí đã đăng, giấy trắng mực đen rõ ràng chứ đâu như thơ của cụ Phan phải truyền khẩu bí
mật.
Anh em cử người về Hải Phòng và liên hệ với cả trong Nam để bắt liên lạc với thuỷ thủ trên các
con tàu viễn dương từ Macxây (một hải cảng lớn của Pháp) sang, mong có thêm sách báo và tin
tức về người lãnh đạo mới mà họ đang hướng tới: Nguyễn ái Quốc. Trong bối cảnh bế tắc, nghi
ngờ của lớp thanh niên, học sinh, sinh viên về con đường do các sỹ phu lớp trước chủ trương bị
thất bại, Nguyễn ái Quốc đưa ra nhận định sáng suốt trong bài viết về Đông Dương: “Một luồng
gió giải phóng mạnh mẽ đang làm cho các dân tộc bị áp bức vùng lên. Người Airơlen, Ai Cập, Triều
Tiên, ấn Độ… tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay đang đấu tranh dũng cảm
cho nền độc lập ngày mai của họ”. Và Người khẳng định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người
Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm”.
Thư của Nguyễn ái Quốc gửi thanh niên Việt Nam, báo Người cùng khổ và tác phẩm Bản án chế độ
thực dân Pháp của Người từng bước thức tỉnh các tầng lớp thanh niên nước ta. Nguyễn ái Quốc là
nhà yêu nước trẻ tuổi Việt Nam đầu tiên đã giải thích một cách đúng đắn rằng mọi sự chưa thành
của lớp người đi trước là do thiếu tổ chức và thiếu người biết tổ chức, chưa có một đường lối đúng
đắn, một tổ chức chặt chẽ.
Mùa hè năm 1923, Nguyễn ái Quốc đến Liên Xô, đất nước của Cách mạng Tháng Mười và V.I.
Lênin vĩ đại. Tại Mátxcơva, Người tham gia nhiều Đại hội và Hội nghị quốc tế, viết nhiều bài đăng
trên các báo Sự thật (?pabga) và Thư tín quốc tế (Correpondance Internationnale).
Ngày 17/6/1924, Nguyễn ái Quốc là đại biểu chính thức tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V
khai diễn tại Nhà hát lớn Mátxcơva.

Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Quốc tế Thanh niên Cộng sản tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V
đã liên hệ với Nguyễn ái Quốc và chính thức mời Người tham gia công việc chuẩn bị nội dung cho
Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV sẽ họp vào thời gian sau đó. Từ khi còn hoạt động
ở Pháp, Nguyễn ái Quốc đã có mối quan hệ với Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Người đã đến Hội
trường Thanh niên Cộng hoà ở Paris để giới thiệu về phong trào thanh niên thế giới, phong trào
thanh niên Đông Dương và các chủ trương của Quốc tế Thanh niên Cộng sản được người nghe rất
hoan nghênh.
Ngày 15/7/1924, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV đã khai mạc tại Hội trường Công
đoàn ở Mátxcơva. Đại hội được tiến hành khi Lênin qua đời vừa 6 tháng.
Những phần tử cơ hội và phản động Quốc tế cấu kết với các giới đế quốc điên cuồng mở cuộc
tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Lênin và học thuyết cách mạng của Người. Phong trào Thanh
niên Cộng sản Quốc tế đứng trước nhiệm vụ cấp bách là đẩy lùi và đập tan những luận điệu lừa bịp
ấy nhằm tiếp tục tranh thủ trái tim và khối óc của hàng triệu thanh niên cộng sản trong đó có
phong trào thanh niên cộng sản ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Trong bối cảnh đó, Đại hội IV Quốc tế Thanh niên Cộng sản có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt
đối với di huấn của V.I.Lênin vĩ đại: “Sự nghiệp to lớn và tất yếu của các đồng chí là chuẩn bị cho
tuổi trẻ sẵn sàng tham gia cuộc đấu tranh cách mạng và trong việc học tập”.
Là người đại diện ưu tú của các dân tộc bị áp bức, ngay trước khi tham dự Đại hội Quốc tế Cộng
sản lần thứ V, Nguyễn ái Quốc đã đề nghị với Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản về việc thành
lập “Nhóm châu á” tại trường Đại học Phương Đông nhằm tạo điều kiện cho thanh niên, học viên
có cơ hội nghiên cứu tình hình, đặc điểm của các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Là thành viên trong đoàn Chủ tịch trực tiếp lãnh đạo Đại hội, bằng kinh nghiệm thực tiễn phong
phú đã trải qua, nhất là sự hiểu biết sâu rộng về tình cảnh thanh niên các nước thuộc địa, Nguyễn
ái Quốc đã có những đóng góp quan trọng vào việc soạn thảo hàng loạt văn kiện của Đại hội.
Đặc biệt, Nguyễn ái Quốc là người chủ trì và là tác giả chính trong nhóm tác giả soạn thảo bản
“Luận cương về thanh niên thuộc địa” nổi tiếng theo tư tưởng của Lênin, Người đã trực tiếp trình
bày văn kiện hết sức quan trọng này tại Đại hội và được Đại hội nhất trí thông qua. Luận cương
mở đầu bằng việc đánh giá và khẳng định rằng từ năm 1919 đến năm 1924, phong trào thanh
niên thuộc địa đã có những chuyển biến mạnh mẽ dưới ngọn cờ của Quốc tế Cộng sản và được ảnh
hưởng của Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga. Năm 1919 là thời điểm V.I.Lênin sáng lập ra Quốc

tế Thanh niên Cộng sản và Nguyễn ái Quốc đã may mắn sớm có mối liên hệ với tổ chức này. Luận
cương nhận định rằng thanh niên các thuộc địa dần dần hướng phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc theo thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản. Họ đi theo ngọn cờ của Lênin vì họ tìm thấy
ánh sáng soi đường trong Luận cương về vấn đề dân tộc nổi tiếng của Người.
Tiếp đến, Luận cương về thanh niên thuộc địa nêu lên yêu cầu cấp bách phải tổ chức, tập họp lực
lượng thanh niên cách mạng và xây dựng cơ sở Đoàn Thanh niên Cộng sản ở các thuộc địa. Đây là
mâu thuẫn gay gắt nổi lên trong những năm đầu thế kỷ ở các thuộc địa, giữa đòi hỏi của nhiệm vụ
cách mạng và những khả năng để giải quyết những nhiệm vụ đó. Vấn đề “Thiếu tổ chức và thiếu
người tổ chức” mà sau này vào năm 1925 trong “Thư gửi thanh niên An Nam” của đồng chí
Nguyễn ái Quốc đã chỉ rõ là tình hình chung của nhiều nước thuộc địa khác trên thế giới chứ không
chỉ riêng ở Việt Nam. Luận cương về thanh niên thuộc địa đặt ra yêu cầu khẩn thiết về việc hình
thành các đoàn thể thanh niên cách mạng và tiến tới xây dựng các tổ chức thanh niên cộng sản ở
thuộc địa là nhằm giải quyết mâu thuẫn nêu trên.
Cuối cùng, Luận cương về thanh niên thuộc địa nhấn mạnh việc tăng cường mối liên hệ giữa các tổ
chức thanh niên cách mạng, thanh niên cộng sản ở các thuộc địa với tổ chức thanh niên cộng sản
ở chính quốc.
Luận cương vạch ra những công việc cụ thể về giúp đỡ vật chất, tinh thần của các tổ chức TNCS
chính quốc với các tổ chức TNCS ở thuộc địa.
Nghiên cứu toàn bộ Luận cương về thanh niên thuộc địa do đồng chí Nguyễn ái Quốc chủ trì soạn
thảo tại Đại hội lần thứ IV Quốc tế TNCS (1924) chúng ta tìm thấy nhiều ý tưởng, quan điểm về
vấn đề thanh niên thuộc địa mà trước đó đồng chí Nguyễn ái Quốc đã nhiều lần đề cập đến trong
các bài viết của Người trên báo chí của Đảng Cộng sản Pháp hoặc trong các cuộc tranh luận nội bộ
về các vấn đề có quan hệ đến trách nhiệm của Đảng đối với phong trào thuộc địa cũng như các bài
viết của Nguyễn ái Quốc đăng trên tạp chí Thư tín quốc tế của Quốc tế Cộng sản và báo Sự thật
của Đảng Cộng sản Liên xô.
Luận cương về thanh niên thuộc địa đã đưa ra những quan điểm rất cơ bản và chỉ rõ nhiệm vụ cụ
thể về tổ chức, giáo dục và hướng dẫn cuộc đấu tranh vì những mục tiêu độc lập, tự do, giải phóng
giai cấp, giải phóng dân tộc của thanh niên các nước thuộc địa.
Luận cương vừa có giá trị như một cương lĩnh chính trị, vừa như một chương trình hành động phù
hợp với tình hình, nguyện vọng của hàng chục triệu thanh niên đang bị áp bức, đoạ đày do chính

sách và những hành động tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc cấu kết với phong kiến bản
địa.
Giữa năm 1925, nghĩa là chỉ hơn một năm sau khi Luận cương về thanh niên thuộc địa được nhất
trí thông qua tại Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, tác giả của văn kiện nổi tiếng
này: Đồng chí Nguyễn ái Quốc, lãnh tụ của dân tộc và giai cấp công nhân Việt Nam đã triển khai
thắng lợi chủ trương xây dựng một tổ chức thanh niên cách mạng ở Việt Nam, một nước thuộc địa
của Pháp là Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên (trước đây thường gọi là Việt Nam Thanh niên
Cách mạng đồng chí Hội), một tổ chức bao gồm phần lớn là thành viên trẻ tuổi theo xu hướng
cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong những năm tháng Nguyễn ái Quốc sống và hoạt động ở Liên Xô (1923-1924) cũng là lúc
phong trào cách mạng ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. Quảng Châu là trung tâm cách mạng
của đất nước Trung Hoa rộng lớn. Quảng Châu trở thành địa bàn quan trọng của những nhà yêu
nước Triều Tiên, Indonesia,… Nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam xuất dương vào đầu những năm
20 cũng đã đến đây và được tập hợp vào trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Đầu năm 1924, Phạm Hồng
Thái sang Quảng Châu và gia nhập Tâm Tâm Xã. Tháng 2/1924, Phạm Hồng Thái thực hiện nhiệm
vụ ném tạc đạn nhằm mưu sát tên toàn quyền Méclanh (Merlin) nhân dịp y đi công cán qua Quảng
Châu.
Tiếng bom Sa Diện mưu sát toàn quyền Đông Dương Méclanh của người thanh niên yêu nước
Phạm Hồng Thái tuy không thành công “nhưng nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc,
như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”, là hiệu kèn thúc giục nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam
dấn thân trên con đường tranh đấu.
Năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Hàng chục vạn thanh niên
thuộc đủ các tầng lớp trong cả nước đã sôi sục đấu tranh đòi bọn cầm quyền ở Đông Dương phải
thả cụ. Năm 1925, cụ Phan Chu Trinh mất, hơn 140 ngàn người trong đó có hàng vạn thanh niên,
học sinh đã tập hợp ở Sài Gòn để đưa đám tang cụ. Đây là một cuộc biểu dương lực lượng to lớn
có ảnh hưởng rất rộng trong cả nước, nhất là đối với phong trào thanh niên. Nguyễn ái Quốc, ngay
thời gian đó đã nêu rõ: “Chưa bao giờ có một phong trào quần chúng rộng rãi như vậy”. Đây là
một dịp rất tốt cho Nguyễn ái Quốc tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, cổ vũ đấu tranh cách mạng.
Trong phong trào đấu tranh của quần chúng, hàng loạt tổ chức yêu nước do những người trẻ tuổi
sáng lập đã ra đời. Năm 1925, nhóm sinh viên cao đẳng Hà Nội gồm 17 người, trong đó có Tôn

Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều… cùng một số thầy giáo trẻ ở miền Trung nhóm họp tại
Vinh và quyết định thành lập Hội Phục Việt sau này là Tân Việt. Tháng 3 năm 1926, nhà yêu nước
trẻ tuổi Nguyễn An Ninh tập hợp một số thanh niên viên chức, thầy giáo yêu nước vào tổ chức
Thanh niên Cao Vọng. Những tổ chức thanh niên yêu nước đó hoạt động rất hăng hái, như: Hội
Phục Việt đã vận động hội viên tham gia cuộc đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu với nhiều hình
thức phong phú, hô hào thanh niên biến cuộc đưa đám tang cụ Phan Chu Trinh thành cuộc biểu
dương lực lượng của quần chúng.
Vào thời gian có nhiều sự kiện đặc biệt đó, sau khi dự Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần
thứ IV, Nguyễn ái Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc) với trách nhiệm nặng nề đối
với phong trào cách mạng ở Đông Dương và Châu á. Người đã khẩn trương tìm hiểu tình hình và
tìm cách bắt liên lạc với những thanh niên Việt Nam yêu nước tại đây, qua sự giúp đỡ một phần
của Phái đoàn cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.
Liên tiếp trong hai ngày 18 và ngày 19 tháng 12 năm 1924, Nguyễn ái Quốc gửi thư và báo cáo
cho Đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản, trong đó Người đánh giá cao tinh thần cách mạng của một số
thanh niên yêu nước mà Người đã tiếp xúc.
Từ tháng 12 năm 1924 cho đến tháng 2 năm 1925 là thời gian Nguyễn ái Quốc làm việc mật thiết
với nhóm thanh niên trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Người đã thẳng thắn nêu lên những thiếu sót
trong nhận thức, hành động của nhóm này và tỏ rõ sự khâm phục tinh thần yêu nước của các
chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi như trường hợp Phạm Hồng Thái. Dưới hình thức những lớp bồi dưỡng
nhỏ, phân tán, Nguyễn ái Quốc đã giới thiệu với anh em về Cách mạng Tháng Mười Nga, về Quốc
tế Cộng sản, về Chủ nghĩa xã hội khoa học, về học thuyết Mác – Lênin. Tác dụng của các lớp học
đầu tiên này đối với số thanh niên đang khát khao lý tưởng thật là to lớn. Kết luận mà Nguyễn ái
Quốc rút ra cho các học trò của Người là muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải dựa vào quần
chúng nhân dân, nhất là công nhân, nông dân, phải có một Đảng tiên phong theo chủ nghĩa Mác –
Lênin lãnh đạo.
Với lý luận sắc bén, kinh nghiệm phong phú, tác phong cởi mở, Nguyễn ái Quốc đã tạo nên niềm
tin mạnh mẽ cho số thanh niên yêu nước và đưa dần họ đến với chân lý cách mạng.
Lúc này, Nguyễn ái Quốc chủ trương tổ chức một nhóm bí mật. Tuy về quy mô chỉ là nhóm đầu
tiên nhưng có đầy đủ Chương trình, Điều lệ…
Hoàn thành xong nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử này, ngày 19/2/1925, Nguyễn ái Quốc đã gửi báo

cáo tới Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản. Trong mục “Công tác đã làm được” Nguyễn ái Quốc viết:
“Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 thành viên, trong đó:
2 người đã được về nước.
3 người ở tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên).
1 người đi công cán quân sự (cho Quốc dân Đảng).
Trong số hội viên đó, có 5 người là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản.
Chúng tôi còn có 2 đoàn viên dự bị của “Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin”
Nhóm bí mật 9 người do Nguyễn ái Quốc xây dựng là mầm non của một tổ chức cách mạng mà
Người đã ấp ủ trong kế hoạch tổ chức từ sau khi tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V và
Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV.
Con đường truyền bá tư tưởng giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác-Lênin vào giai cấp công
nhân và nhân dân yêu nước Việt Nam mà Nguyễn ái Quốc đã thực hiện lúc đó dựa vào thanh niên,
lớp người trẻ tuổi có lòng yêu nước, căm thù giặc, hăng hái cách mạng, nhạy cảm với cái mới, có
học thức, được học tập lý luận giải phóng dân tộc và phương pháp tổ chức nhân dân do chính
Người đào tạo.
Chính từ kết quả đầu tiên bằng tư duy rất sáng tạo và tài tổ chức của mình, Nguyễn ái Quốc đã
yêu cầu Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản cho “Gửi sinh viên Việt Nam sang học Trường Đại học
Cộng sản ở Mácxcơva” và Người yêu cầu nói rõ hơn cho tôi biết là có thể gửi bao nhiêu sinh viên
Việt Nam sang”.
Sự ra đời của nhóm cách mạng trẻ tuổi 9 người tuy còn quá nhỏ bé trên con đường dài dựng Đảng,
dựng Đoàn, tập hợp thanh niên nhưng đó là thời điểm khai sinh ra một thế hệ thanh niên mới với
xu hướng mới làm cho thực dân Pháp và bọn cai trị run sợ. Toàn quyền Đông Dương Méclanh đầu
năm 1925 gửi báo cáo về Bộ thuộc địa Pháp nói: “Xuất hiện ở Quảng Châu một người cách mạng
Việt Nam tên là Lý Thuỵ hoạt động rất tích cực trong số những người Việt Nam tại đây và dùng
những biện pháp tuyên truyền kiểu mới có xu hướng cộng sản”.
Việc ra đời nhóm Đoàn viên Thanh niên Cộng sản Việt Nam đầu tiên này là sự kiện đặc biệt quan
trọng mở đầu cho quá trình hình thành và phát triển các tổ chức thanh niên cách mạng theo xu
hướng cộng sản chủ nghĩa cũng như sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản và các Hội thanh
niên yêu nước ở nước ta sau này.
Đối với phong trào thanh niên Cộng sản quốc tế, sự xuất hiện nhóm Đoàn viên Thanh niên Cộng

sản Việt Nam đầu tiên vào đầu năm 1925 đã góp phần minh chứng tính đúng đắn của Luận cương
về thanh niên thuộc địa do Nguyễn ái Quốc chủ trì soạn thảo.
Từ nhóm bí mật 9 người, chỉ trong vòng hơn 4 tháng sau, các chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi dưới sự
hướng dẫn của Nguyễn ái Quốc vừa lo tổ chức, huấn luyện, bồi dưỡng cho những thanh niên ở
trong nước ra, vừa lo chuẩn bị chương trình, điều lệ, vv… để đến tháng 6-1925, Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên chính thức tuyên bố thành lập và bắt đầu mở rộng các hoạt động tạo được bước
ngoặt quan trọng trong phong trào yêu nước của nhân dân, đặc biệt là của thanh niên ta.
Tuân theo di huấn của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”,
Nguyễn ái Quốc lần lượt mở các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu. Mục đích học tập là: “Học
làm cách mạng, học cách hoạt động bí mật. Học xong họ lại bí mật về nước truyền bá lý luận, giải
phóng dân tộc và tổ chức nhân dân".
Nguyễn ái Quốc cùng với các cộng sự đắc lực của Người như các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng
Phong, Lê Hồng Sơn vv… đã mở liên tiếp các lớp huấn luyện thu hút khá đông thanh niên yêu nước
ở các miền Bắc, Trung, Nam sang Quảng Châu học tập.
Theo báo cáo của Nguyễn ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, từ năm 1924 đến năm
1927, Người đã mở được ba khoá huấn luyện cho 75 người, xuất bản được 3 tờ báo nhỏ. Đây là
vốn quý mà Người đã chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Hy vọng tuyệt đại bộ phận được trở về
Trung Kỳ, Nam Kỳ, Bắc Kỳ, về Xiêm để hoạt động, tuyên truyền lý luận giải phóng dân tộc và tổ
chức nhân dân. Đồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những học viên được cử phụ trách các cơ sở
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở các tỉnh phía Nam nước ta.
Học viên tuy là những người có trình độ văn hoá (phần lớn là học sinh, giáo viên) nhưng còn hết
sức bỡ ngỡ với biết bao khái niệm chính trị, triết học… mà họ chưa biết đến.
Tất cả những điều mới mẻ trên có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với lớp thanh niên đang khát khao lý
tưởng, khát khao tìm đường cứu nước, cứu dân. Họ hấp thụ chân lý chủ nghĩa Mác – Lênin như
hấp thụ ánh sáng mặt trời.
Đối với công tác thanh niên, học viên được nghe giới thiệu về Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Đây là
đường lối công tác thanh niên theo chủ nghĩa Mác – Lênin lần đầu tiên được truyền bá vào Việt
Nam.
Các bài giảng của Nguyễn ái Quốc tại các lớp huấn luyện thanh niên yêu nước ở Quảng Châu đã
được tập hợp và in thành sách với tên chung là Đường kách mệnh.

Đường kách mệnh trở thành vũ khí chiến đấu của những người cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ
nhằm chống lại mọi trào lưu, tư tưởng phi vô sản và cơ hội chủ nghĩa trong và ngoài nước.
Với yêu cầu cần đào tạo lúc bấy giờ, Đường kách mệnh không chỉ nêu lên những vấn đề thuộc chủ
nghĩa, đường lối, sách lược mà còn hướng dẫn công việc tổ chức, tuyên truyền rất cụ thể để mỗi
học viên sau khi học xong có thể bắt tay thực hành.
Bài học đầu tiên mà học viên được nghe giảng là tư cách một người cách mạng trong đó nêu lên 3
mối quan hệ của người cách mạng: “Đối với bản thân, đối với người và đối với công việc”.
Trong cuộc chiến đấu quyết liệt mất còn với kẻ thù, vấn đề đặt ra đối với những người cách mạng,
đặc biệt là đối với lớp thanh niên chưa trải qua nhiều thử thách thì bên cạnh việc bồi dưỡng về trí
thức cách mạng, cần đặt lên hàng đầu việc bồi dưỡng về đạo đức và phẩm chất cách mạng. ấy
chính là ý nghĩa của bài học đầu tiên này.
Cùng với việc mở trường đào tạo cán bộ thanh niên tại Quảng Châu, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã
liên hệ với Quốc tế Cộng sản và Quốc tế Thanh niên Cộng sản để gửi một số thanh niên Việt Nam
đến học ở khoa đào tạo cán bộ Đoàn của trường Đảng Liên Xô.
Đồng chí Nguyễn ái Quốc cũng đã trực tiếp gửi thư cho Uỷ ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền
phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đề nghị đào tạo theo chương trình
lâu dài một số thiếu niên Việt Nam thành cán bộ Đoàn sau này. Bức thư đề ngày 22/7/1926 có
đoạn viết: “Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu – Trung Quốc) một nhóm thiếu nhi An Nam. Các em
đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu nhi cộng sản đầu tiên của nước An Nam bị chủ nghĩa đế
quốc áp bức và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm… chúng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ không từ
chối tiếp nhận 3 hay 4 bạn nhỏ An Nam". Đề nghị trên đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng
sản Lênin đáp ứng một cách nồng nhiệt, tuy nhiên do tình hình chính trị ở Quảng Châu diễn biến
xấu nên chủ trương gửi các cháu thiếu niên nói trên đi đào tạo ở Mátxcơva không thực hiện được.
Cùng với sự ra đời của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, một tờ báo lấy tên là Thanh niên,
phục vụ cho đối tượng chính là thanh niên, với tư cách là cơ quan ngôn luận của Hội đã phát hành
số đầu tiên vào ngày 21/6/1925.
Người phụ trách trực tiếp và cũng là người viết nhiều bài cho tờ báo là Nguyễn ái Quốc. Đây là tờ
báo tiếp nối sự nghiệp báo Le Paria (Người cùng khổ) trong điều kiện mới với đối tượng mới. Báo
Thanh niên in khổ nhỏ (13x19) mỗi kỳ ra 100 bản, mỗi bản 2 trang đặc biệt có số 4 trang, báo
viết bằng tiếng Việt.

Về nội dung, báo Thanh niên có các loại bài xã luận, bình luận, truyện lịch sử thế giới, truyện lịch
sử dân tộc và tin tức, đặc biệt có thêm việc hướng dẫn tổ chức các đoàn thể, kinh nghiệm các cuộc
cách mạng trên thế giới và giới thiệu về những thành tựu của Liên Xô.
Nhìn lại các bài viết trên báo Thanh niên, chúng ta thấy rõ mục đích của báo là:
- Phát động phong trào yêu nước, căm thù giặc, đặc biệt là trong các tầng lớp thanh niên, bồi
dưỡng quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược để giành lại độc lập, tự do cho đất nước.
- Giới thiệu kinh nghiệm lịch sử, nhất là kinh nghiệm các cuộc vận động cách mạng ở nhiều nước
để vận dụng vào cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, giới thiệu về chủ nghĩa cộng sản và
những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như những vấn đề chủ yếu về chiến lược,
sách lược của cách mạng Việt Nam.
- Từng bước lý giải về sự cần thiết phải thành lập một Đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác – Lê
nin; giáo dục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tuổi trẻ trước sự nghiệp giải phóng dân
tộc và giai cấp.
Với lối viết giản dị nhưng chứa đựng tinh thần tố cáo và cổ vũ sâu sắc, báo Thanh niên kêu gọi
nhân dân và tuổi trẻ đứng lên đấu tranh.
Về mức độ phổ biến của báo Thanh niên, tuy gặp nhiều khó khăn nhưng những cơ sở của Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên đã cố gắng giới thiệu báo Thanh niên cho hội viên và những người
cảm tình với Hội đọc. Các đầu mối tiếp nhận báo ở trong nước lúc đó là Cảng Hải Phòng, Hà Nội,
Nam Định v..v.. và một số cơ sở ở Sài Gòn (Nhận báo Thanh niên qua đường từ Băng Cốc đưa về).
Tên mật thám cáo già Lui Mácti đã nhận xét khái quát qua 88 số báo Thanh niên mà y có như sau:
“Trong số báo đầu tiên, Nguyễn ái Quốc nhấn mạnh trước hết sức mạnh và sự đoàn kết đã đem lại
cho một tập thể, nhấn mạnh đến lợi ích mà những cá nhân trong tập thể ấy thu được. Nguyễn ái
Quốc đã thức tỉnh tinh thần độc lập và tình cảm dân tộc, đặc trưng cho tính khí người An Nam.
Tiếp đó, dần dà ông cung cấp cho độc giả của mình những hiểu biết về lịch sử An Nam và các trào
lưu tư tưởng nước ngoài, và lịch sử các cường quốc thế giới vv… Rồi lần lượt ông đưa ra từng thuật
ngữ Hán – Việt tương ứng với một cuốn từ vựng mới về chủ nghĩa cộng sản và nêu ra một định
nghĩa rõ ràng, chính xác về thuật ngữ ấy. Từng bước, lúc đầu còn ít và về sau thường xuyên hơn,
ông công bố một câu hoặc một bài báo ngắn thông báo cho độc giả biết sự tồn tại của Liên Xô và
hạnh phúc mà nhân dân Xô Viết đã được hưởng. Nguyễn ái Quốc cũng không ngần ngại dành đến
60 số báo của mình để chuẩn bị tinh thần cho độc giả, trước khi ông nói rõ ý đồ của mình, khi ông

viết: “Chỉ có Đảng Cộng sản mới có thể đảm bảo hạnh phúc cho An Nam”.
Và chính Lui Mácti cũng thấy rõ rằng báo Thanh niên có sức hấp dẫn thanh niên, chẳng những họ
đọc mà còn chép lại để chuyển cho người khác đọc.
Báo Thanh niên thực sự đã góp phần đắc lực vào việc chuẩn bị về tư tưởng, lý luận và tổ chức cho
việc thành lập Đoàn, thành lập Đảng và đoàn kết, tập hợp thanh niên đứng lên giành giải phóng
dân tộc.
Những năm 1925, 1926, trong nước bùng lên phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân đi
đầu là thanh niên, học sinh, sinh viên đòi trả tự do cho cụ Phan Bội Châu. Cụ bị mật thám Pháp
bắt cóc ở Thượng Hải rồi đưa về giam ở Hoả Lò (Hà Nội). Dù là bậc cao niên nhưng Phan Bội Châu
tỏ ra rất khâm phục Nguyễn ái Quốc. Chính cụ Phan đã viết về Nguyễn ái Quốc rằng: “Học vấn, tri
thức nay đã tăng trưởng quá nhiều. Phan Bội Châu đây đâu có ngờ rằng sau này đứa cháu sẽ trở
thành một tiểu anh hùng như thế này…. Và mừng cho đất nước ta việc thừa kế đã có người, người
đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai” (Thư Phan Bội Châu gửi
Lý Thuỵ đề ngày 14/2/1925 trước khi cụ bị bắt cóc, lúc này cụ đã lục tuần còn Nguyễn ái Quốc mới
vào tuổi 35).
Toà án đề hình Bắc Kỳ loan tin cụ Phan sẽ bị tử hình. Tin này truyền nhanh trong các nhà máy,
trường học, công sở. Thanh niên, học sinh, sinh viên Hà thành xôn xao bàn tán. Nhóm học sinh
trường Bưởi do Ngô Gia Tự và Trịnh Đình Cửu đứng đầu họp bàn kế hoạch đấu tranh đòi trả tự do
cho cụ Phan. Có ý kiến đề xuất tổ chức bãi khoá nhưng tình hình đã khẩn trương lắm rồi nên cả
Nguyễn Đức Cảnh, Trần Tư Chính đều cho rằng trước mắt là phân công nhau vận động học sinh
các trường kéo nhau đi dự phiên toà thật đông và đấu tranh ngay tại đó để gây ảnh hưởng, lấy áp
lực của quần chúng buộc bọn thống trị phải xử công khai.
Đường lối bí mật đã được hình thành. Đó là các đường dây của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên, đường dây của nhóm sinh viên Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều ở Cao đẳng Sư
phạm… Chỉ trong thời gian ngắn, hầu hết các trường từ trung học đến đại học ở Hà Nội đều đã sẵn
sàng.
Chiều ấy có công văn của đốc học Lông Becgie trường Bưởi gửi đến tất cả các lớp: “Ngày mai cấm
học sinh đi dự phiên toà đại hình xử án ông Phan Bội Châu”. Nhưng ngày mai không những học
sinh trường Bưởi bỏ học mà nhiều trường khác học sinh, sinh viên, thầy giáo… cũng bỏ học, bỏ
dạy... Chẳng những thế mà học sinh Hà Đông, Hải Dương, đặc biệt là gần một trăm học sinh

trường Thành Chung, Nam Định cũng về Hà Nội.
Sân toà đại hình Hà Nội đông nghịt cả trong, ngoài với các tầng lớp nhân dân nội, ngoại thành và
các tỉnh, nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên. Đây là quang cảnh chưa từng có từ khi thực dân
Pháp đặt ách đô hộ lên nước ta ở Hà Nội. Toà đọc cáo trạng buộc cụ Phan phạm tội nổi loạn chống
Nhà nước bảo hộ và Triều đình. Cụ đanh thép trả lời làm nức lòng đồng bào. Đặc biệt, viên trạng
sư người Pháp đứng ghế bào chữa cũng phải thốt lên: “Thưa quý toà, trong mấy chục năm gần
đây, lịch sử Việt Nam hoà cùng lịch sử Phan Bội Châu. Dù tôi là người Pháp, đối với Phan Bội Châu
tôi cũng phải hâm mộ. Tôi hâm mộ cái thân thế quang vinh, tinh thần cao thượng, nghị lực bất
khuất của ông…”.
Tuy nhiên, bất chấp tất cả, bọn quan toà vẫn tuyên án xử tử Phan Bội Châu. Hàng nghìn người
trong đó đông nhất vẫn là thanh niên, học sinh, sinh viên thét lên phản đối cùng với nhiều tiếng
khóc phẫn uất. Không khí đang náo loạn bỗng lắng xuống khi có một người đầu đội khăn xếp, mặc
áo the, vừa thét lớn vừa băng băng chạy thẳng lên vành móng ngựa quát to:
- Không được, không được… cụ Phan Bội Châu không thể chết được! Tôi, tôi tự nguyện xin chết
thay cho cụ Phan!
Đôi mắt ông quắc lên dữ dội nhìn thẳng vào kẻ thù trong lúc rừng người đang xáo động, cảm phục
hành động chưa từng thấy. Người ấy là ông Tú Doanh - Tú Khắc Doanh, một tri thức yêu nước ở
Nam Trực (Nam Định) dẫn đầu đoàn học sinh thành Nam lên dự phiên toà.
Ngay chiều hôm ấy và suốt cả những tuần lễ sau, học sinh, sinh viên Hà Nội rồi đến các tỉnh miền
Trung, tới Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ thay nhau bỏ học biểu tình rầm rộ đòi thả cụ Phan Bội
Châu. Hàng nghìn bức điện, đơn, thư gửi đến phủ Toàn quyền và gửi cho chính Toàn quyền Pháp
Varen đòi phải thả cụ Phan.
Hoảng sợ trước phong trào đấu tranh, đúng 30 ngày sau, Toàn quyền Varen buộc phải xoá bỏ bản
án tử hình đối với nhà yêu nước Phan Bội Châu rồi đưa cụ về giam lỏng ở Huế.
Những năm cuối đời dù phải sống trong cảnh chim lồng, cá chậu nhưng cụ được lớp con cháu
thanh niên, học sinh, thầy giáo, trí thức trẻ luôn tìm tới để thăm nom, yết kiến “Ông già Bến Ngự”.
Cụ luôn “Chúc phường hậu tử tiến mau” và không quên nói về Nguyễn ái Quốc.
Sau phiên toà xử cụ Phan ở Hà Nội, bọn mật thám và cảnh binh Pháp lùng sục vào các trường lần
tìm manh mối bắt những anh chị em chúng nghi là cầm đầu các cuộc bỏ học. Tại trường Bưởi, Ngô
Gia Tự và Trịnh Đình Cửu lúc này đang học đệ tứ niên. Hai anh tức thì bị đuổi học, Tự và Cửu

không một lời xin xỏ. Các anh khinh bỉ nhìn Lôngbécgie rồi tạm biệt bạn bè, hẹn ngày gặp lại. Tiếp
liền sau các cuộc đấu tranh rầm rộ đòi trả tự do cho Phan Bội Châu là cuộc biểu dương lực lượng
của hàng trăm nghìn thanh niên, học sinh, sinh viên, thầy giáo, viên chức, cùng các tầng lớp nhân
dân Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ xuống đường thương tiếc đưa tang nhà yêu nước Phan Châu Trinh
suốt đời tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền, chăm lo: “Nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí” cho
thế hệ trẻ. Có thể nói cuộc biểu dương lực lượng của giới thanh niên, học sinh, thầy giáo và các
tầng lớp nhân dân được tiếp nối bằng nhiều hoạt động hợp pháp, tập hợp hàng triệu người khắp cả
nước từ Nam ra Bắc qua việc tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh trong các trường học. Đặc
biệt là nhân dịp này, nhiều nơi đã phát hành và cho in những tác phẩm yêu nước nổi tiếng của cụ
để “hoán tỉnh quốc dân hồn”. Lễ truy điệu Phan Châu Trinh ở trường Thành Chung, Nam Định thu
hút hầu hết học sinh và thầy giáo tham gia. Trước bàn thờ nghi ngút trầm hương, một bức trướng
lớn tỏ lòng thương tiếc cụ với dòng chữ đầy ý nghĩa: “Truy điệu Tây Hồ nhật, Hoán tỉnh quốc dân
hồn” (Phan Tây Hồ tức Phan Châu Trinh).
Sinh thời, khi ở Pháp, Phan Châu Trinh biết khá rõ về Nguyễn ái Quốc. Cụ đặt kỳ vọng lớn lao vào
người thanh niên yêu nước xuất chúng này. Cụ viết thư cho Nguyễn: “Cảnh tôi như hoa sắp tàn,
hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng gào lên cho hả dạ, may ra có tỉnh giấc hôn mê… Anh
như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành lý thuyết tinh thông… không bao lâu nữa
chủ nghĩa anh tôn thờ sẽ thâm căn cố đế sâu rễ, bền gốc trong đám dân tình, chí sỹ nước ta…”.
Thật vậy, từ năm 1926 đến năm 1929, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là
phong trào đấu tranh của quần chúng công nông và thanh niên, học sinh đã phát triển lên một
bước mới dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Chính từ phong trào đấu
tranh đó mà Hội đã có bước phát triển mới về tổ chức, cả về số lượng và chất lượng. Hệ thống tổ
chức các cấp từ Trung ương Hội đến cơ sở đã xây dựng hoàn chỉnh. Hội có 1.700 hội viên và hàng
nghìn người có cảm tình với Hội.
Luận cương Chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương đã chỉ rõ: “Những cuộc bãi công trong năm
1928 – 1929… đã chứng tỏ rằng sự tranh đấu của giai cấp ở Đông Dương ngày càng rộng khắp.
Điều đặc biệt và quan trọng của phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự tranh đấu của quần
chúng công nông có tính chất độc lập rất rõ rệt, chứ không phải là chịu ảnh hưởng quốc gia chủ
nghĩa như lúc trước nữa”.
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã ý thức được rằng cách mạng không chỉ dừng lại ở chỗ

tuyên truyền đường lối mà phải vận động quần chúng thực hiện đường lối và lấy công nông làm
gốc cách mạng. Hội đã cố gắng đưa hội viên của mình đi vào công nông bằng cuộc vận động “Vô
sản hoá”.
Từ giữa năm 1929 trở đi, làn sóng đấu tranh của thanh niên, công nhân trong cả nước ngày một
dâng cao, là lực lượng xung kích đi đầu đấu tranh chống địch, bất chấp mọi hành động khủng bố
tàn bạo của đế quốc và phong kiến.
Cùng với phong trào đấu tranh của thanh niên công nhân, các phong trào đấu tranh của học sinh
cũng được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên quan tâm lãnh đạo. ở nông thôn, Hội vận động
thanh niên bài trừ hủ tục, chống phù thu lạm bổ, vạch mặt bọn quan lại địa phương. Đặc biệt Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã đấu tranh mạnh mẽ chống chính sách mộ phu của bọn tư bản,
thực dân.
Trước yêu cầu cấp bách của phong trào cách mạng và sau một quá trình đấu tranh, chi bộ Đảng
Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam ra đời vào tháng 3/1929 tại số nhà 5D phố Hàm Long (Hà Nội) đến
tháng 6 – 1929 thì Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời. Tiếp sau đó là An Nam Cộng sản Đảng ra
đời ở Nam Kỳ và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ra đời ở Trung Kỳ. Năm 1930, Nguyễn ái Quốc
thay mặt Quốc tế Cộng sản chủ trì cuộc họp thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Trước năm 1929 đã có một số đoàn viên, thanh niên cộng sản do các cán bộ của Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên vốn là đoàn viên, thanh niên cộng sản được kết nạp ở Quảng Châu về nước
trực tiếp tuyên truyền và tổ chức, nhưng các đồng chí đoàn viên này chưa được tổ chức vào các tổ
chức cơ sở của Đoàn mà hoạt động trong mối quan hệ trực tiếp với các cán bộ Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên. Chỉ từ sau khi các tổ chức Đảng ở nước ta hình thành, nhất là từ sau khi Đông
Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ ra đời thì các tổ chức Đoàn cơ sở mới được thành lập. Mỗi chi bộ
Đoàn phân công các đoàn viên nhiệm vụ thu hút, tập họp một số thanh niên có tinh thần yêu
nước, vận động họ hoạt động tuỳ theo từng hoàn cảnh, trình độ.
Tháng 6/1929, hai chi bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản được thành lập ở Hải Phòng trong phong trào
đấu tranh rộng lớn của quần chúng.
Chi bộ Đoàn thứ nhất ra đời ở Nhà máy Xi măng Hải Phòng. Chi bộ Đoàn nhà máy Xi măng Hải
Phòng được xây dựng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, một học viên của
trường Chính trị Quảng Châu do đồng chí Nguyễn ái Quốc đào tạo. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh

thường cùng lao động với thanh niên công nhân của nhà máy, đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh của họ,
tuyên truyền, giác ngộ họ rồi chọn lọc một số thanh niên ưu tú kết nạp vào Đoàn. Chi bộ Đoàn ra
tờ báo lấy tên Tin lửa, bí mật phân phát trong nhà máy để giáo dục và tập hợp thanh niên. Chi bộ
Đoàn đã có sáng kiến lập một số đội bóng đá và thường đứng ra tổ chức các trận đấu giao hữu ở
bãi xi măng đen. Một số nhóm đọc sách do chi bộ Đoàn đứng ra thành lập thu hút khá đông thanh
niên tham gia. Đây là những hình thức tập hợp thanh niên rất có kết quả. Ngày 7/11/1929, để kỷ
niệm Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, chi bộ Đoàn đã tổ chức rải truyền đơn và treo cờ đỏ búa
liềm trong nhà máy, ngoài ra còn tổ chức kể chuyện về Liên Xô qua những tài liệu thu thập trong
sách báo cho đoàn viên và những thanh niên cảm tình với Đoàn nghe.
Cuối năm 1929, chi bộ Đoàn đã tích cực tham gia và trở thành lực lượng xung kích thực hiện chỉ
thị của nhà máy đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống khủng bố đế quốc.
Chi bộ Đoàn thứ hai ra đời ở trường Bônan (nay là trường Ngô Quyền) là nơi có phong trào đấu
tranh mạnh mẽ của học sinh trong những năm 1925, 1926 và các năm sau. Chi bộ Đoàn có 11
đoàn viên, chia thành các tiểu tổ trong đó có một số học sinh ở trường khác. Chi bộ Đoàn trường
Bônan do anh Bùi Đức Thanh làm bí thư. Chi bộ Đoàn có tờ báo lấy tên là Thanh niên Cộng sản để
giáo dục thanh niên và tập hợp thanh niên học sinh. Các đoàn viên, thanh niên cộng sản ở trường
Bônan hoạt động rất tích cực, nhất là trong công tác tuyên truyền cách mạng, vận động thanh
niên đấu tranh. Có tháng, chi bộ Đoàn đã cho ra ba số Thanh niên Cộng sản nhằm đáp ứng
nguyện vọng muốn hiểu biết của thanh niên. Chi bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản trường Bônan làm
công tác tập hợp thanh niên bằng cách giúp anh chị em học sinh tổ chức ra “Học sinh đoàn” để thu
hút những học sinh có tinh thần yêu nước, hăng hái hoạt động cách mạng. Lớp học sinh đoàn đầu
tiên gồm có Lê Viêm, Vũ Thiện Tuấn, Nguyễn Văn Cúc (tức đồng chí Nguyễn Văn Linh - Tổng Bí
thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI). Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một học sinh yêu
nước, hoạt động rất hăng hái đã bị đế quốc Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Nhưng chính tại đây, trong
chế độ lao tù vô cùng khắc nghiệt, đồng chí đã từ một học sinh yêu nước được giác ngộ lý tưởng
của Đảng rồi được đứng trong hàng ngũ của Đảng, cùng với nhiều đảng viên Cộng sản Việt Nam
khác anh dũng biến nhà tù trở thành trường học, rèn luyện ý chí cách mạng. Đồng chí đã trở thành
người đảng viên đấu tranh kiên cường vì lý tưởng của Đảng.
Khoảng tháng 10 năm 1929, tại Hà Nội, một nhóm Đoàn viên Thanh niên Cộng sản đã được hình
thành tại ga Hàng Cỏ trong đó có đoàn viên Long 21 tuổi là thợ cơ khí. Nhóm này do Lê Văn

Nhuận (tức đồng chí Lê Duẩn, sau này trở thành Tổng Bí thư của Đảng) lúc ấy hoạt động trong Sở
Hoả xa Bắc Đông Dương giác ngộ và kết nạp.
Nhiệm vụ của nhóm đoàn viên này dưới sự hướng dẫn của đồng chí Lê Duẩn là tuyên truyền cách
mạng trong thanh niên giúp việc liên lạc cho Đảng, phát hành báo Búa liềm đi các tỉnh. Nhân kỷ
niệm Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm đó (7/11/1929) nhóm Đoàn viên Thanh
niên Cộng sản ga Hàng Cỏ đã chuyển nhiều truyền đơn của Thành uỷ lâm thời Hà Nội về các tỉnh.
Cùng thời gian trên, nhiều cơ sở “sinh hội” bí mật xuất hiện trong một số trường học ở Hà Nội như
các trường Sinh Từ, Đỗ Hữu Vị, Trần Nhật Duật, Mạc Đĩnh Chi… Tháng 9/1929, Tổng Hội Sinh viên
ra đời ở Hà Nội và xuất bản báo Người sinh viên do Đặng Xuân Khu (tức đồng chí Trường Chinh,
sau này trở thành Tổng Bí thư của Đảng) phụ trách. Nhiều bài báo hay có tác dụng cổ vũ sinh viên
đứng lên cùng nhân dân đánh đuổi đế quốc của Trường Chinh đã có tiếng vang lớn không những
trong hàng ngũ sinh viên mà còn thức tỉnh các lớp thanh niên trí thức, tiểu tư sản, tham gia vào
hàng ngũ cách mạng.
ở Nghệ An, trong những năm 1928-1929 đã có một số thanh niên ưu tú được tổ chức vào Thanh
niên Cộng sản Đoàn do Vương Thúc Oánh, Nguyễn Ngọc Ba… là những đoàn viên, thanh niên cộng
sản được dự lớp chính trị ở Quảng Châu trở về nước xây dựng cơ sở.
Năm 1929, sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ cử Nguyễn Phong Sắc, Trần Văn Cung
vào Nghệ Tĩnh xây dựng cơ sở Đảng ở Trung Kỳ thì một số nhóm Đoàn viên Thanh niên Cộng sản
ở các địa phương nói trên cũng được hình thành.
Cũng trong năm này, các đảng viên cộng sản hoạt động ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ đã tuyên
truyền, giác ngộ và tổ chức được nhiều thanh niên vào Đoàn. Riêng ở Sài Gòn, tại một số cơ sở
quan trọng đã có những nhóm đoàn viên hoạt động dưới sự chỉ đạo của các đảng viên.
Đến năm 1930, những nhóm đoàn viên này đã nhanh chóng chuyển thành các chi bộ Đoàn.
Vào thời gian nêu trên, trước yêu cầu của phong trào học sinh càng lên cao, Nguyễn Phong Sắc, Bí
thư Kỳ bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Trung Kỳ đã chủ trương thành lập Ban Chấp hành Tổng
sinh hội Nghệ An do Nguyễn Tiềm - học sinh trường Quốc học Vinh làm Bí thư, Tổng sinh hội phát
hành tờ báo “Xích sinh” (Học sinh đỏ) kịch liệt tố cáo chính sách giáo dục nô dịch của thực dân
Pháp, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản …
Như vậy, cùng với sự ra đời của các tổ chức Đảng Cộng sản từ cuối năm 1929, trên đất nước ta
hình thành những cơ sở đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản, đó là các chi bộ Đoàn và các

nhóm đoàn viên hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng do các đảng viên trực tiếp phụ trách.
Đây là mốc quan trọng trong quá trình tiến tới thành lập Đoàn.
Ngay trong Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng, công tác vận động thanh niên đã được Nguyễn ái
Quốc và các đại biểu đặc biệt quan tâm. Với việc thông qua chính cương, sách lược, điều lệ vắn tắt
của Đảng, Hội nghị đã thông qua điều lệ của Đoàn Thanh niên Cộng sản. Và trong điều lệ vắn tắt
của Đảng đã ghi rõ một điều kiện quan trọng: “Người dưới 21 tuổi phải vào Thanh niên Cộng sản
Đoàn”. Hội nghị cũng nói rõ Ban Chấp hành Trung ương của Đảng, ngoài công tác hàng ngày cần
phải tổ chức ngay “Đoàn Thanh niên Cộng sản”. Như vậy, vấn đề Đoàn Thanh niên Cộng sản đã
được khẳng định trong hai văn bản trọng yếu của Hội nghị thành lập Đảng.
Tháng 10 năm 1930 diễn ra một sự kiện hết sức quan trọng đối với phong trào cách mạng nước ta
nói chung, đối với tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên nước ta nói riêng. Đó là Hội nghị lần thứ
nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận và thông qua nhiều văn kiện lớn có ý nghĩa lịch
sử trong đó có án nghị quyết về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ của Đảng, về phần
công tác vận động thanh niên, Nghị quyết của Đảng nêu rõ: “Phải mở rộng việc tuyên truyền, cổ
động (ra sách, báo, truyền đơn, diễn thuyết…). Tài liệu huấn luyện phải viết rõ ràng và in sạch sẽ.
Lại phải biết lợi dụng các cơ hội mà hoạt động công khai, ví dụ như ở Đông Dương, pháp luật cho
lập Hội Thể dục. Đảng nên nhân cơ hội ấy mà tổ chức các Hội Thể dục để vận động thanh niên”.
Như vậy, ngay từ khi thành lập và trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930 về
công tác Đảng đã đề cập đến vấn đề tập hợp, đoàn kết thanh niên dưới nhiều hình thức. Đồng thời
cũng vào tháng 10 năm 1930, Hội nghị Trung ương đã ban hành án nghị quyết về Cộng sản Thanh
niên Vận động.
Đối với án nghị quyết về công tác thanh niên, đây là văn kiện đầu tiên của Đảng ta đặt nền móng
vững chắc về quan điểm, tư tưởng cho công tác vận động thanh niên ở Đông Dương trong phạm
trù của cuộc cách mạng vô sản.
án nghị quyết được trình bày theo 3 phần:
Phần thứ nhất nói về: “Địa vị thanh niên lao động và sự quan trọng của Thanh niên Cộng sản
Đoàn”. Mở đầu phần này, án nghị quyết đã đánh giá khái quát tình cảnh các tầng lớp thanh niên
và khả năng cách mạng to lớn của họ… “ở Đông Dương, số thanh niên lao động (thanh niên công
nhân và cu li ở các kỹ nghệ, đồn điền; thanh niên công nhân và thanh niên dân cày nghèo, thanh
niên thủ công, thanh niên ở mướn, thanh niên làm việc trong các nhà buôn…) chiếm một phần khá

đông. Đó là một hạng lao động bị bóc lột, bị đè nén hơn hết, thanh niên và trẻ con đi làm, tuy làm
một công việc như người lớn nhưng ăn ít tiền công hơn, vả lại còn bị đánh đập ngược đãi hơn
nhiều nữa…”. Sự phân tích này có ý nghĩa rất quan trọng, đã làm sáng tỏ tình trạng bị áp bức, bóc
lột nặng nề của các tầng lớp thanh niên lao động ở Đông Dương về cả 3 mặt dân tộc, giai cấp, lứa
tuổi.
Từ sự phân tích này, án nghị quyết khẳng định: “Thanh niên lại là một hạng người ít bị những cái
ảnh hưởng quốc gia, phong kiến, đế quốc chủ nghĩa nó trói buộc họ hơn người lớn, cho nên từ khi
phong trào cách mạng nổi khắp trong xứ, chúng ta thấy quần chúng thanh niên tham gia rất hăng
hái. Những cuộc công nhân bãi công và nông dân biểu tình trong năm nay tỏ rõ rằng thanh niên
lao động đã thành một lực lượng cách mạng rất quan trọng không thể kể tới được…”.
Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 ra đời trong hoàn cảnh phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân và nhân dân ta đang tiến tới cao trào: Hàng trăm cuộc bãi công của
công nhân, biểu tình của nông dân đi đầu là thanh niên đã nổ ra trên khắp mọi miền đất nước. Tác
dụng tích cực và có ý nghĩa quyết định của thanh niên với tư cách là đội quân xung kích đã được
Nghị quyết khẳng định: “Thanh niên lao động đã thành một lực lượng cách mạng rất quan trọng”.
Như vậy, đến lúc này ảnh hưởng mạnh mẽ của Đảng trong thanh niên và tác động cụ thể của các
tổ chức Đoàn trong việc tập hợp và hướng dẫn thanh niên đã dấy lên được một phong trào yêu
nước trong tuổi trẻ.
Phong trào ấy như Nghị quyết của Đảng đã nhận định là “làm cho nhiều thanh niên trong hạng
tiểu tư sản, nhất là học sinh, tham gia vào cuộc sinh hoạt chính trị ở Đông Dương”.
Chính vì nhận thức được vai trò to lớn và lực lượng quan trọng của thanh niên nên các đảng phái
chính trị đã tìm cách tranh thủ, lôi kéo thanh niên như Nghị quyết đã nêu rõ: “Hết thảy những
đảng phái ấy đều hiểu cái địa vị trọng yếu của thanh niên lao động …”. Và kết luận được rút ra
trong Nghị quyết là: “Vì những điều đã nêu trên cho nên Đảng Cộng sản phải cần kíp công tác
trong quần chúng thanh niên, phải lãnh đạo quần chúng thanh niên lao động thành phố, nhà quê
tranh đấu hàng ngày và phải kéo họ ra khỏi ảnh hưởng quốc gia, phong kiến, đế quốc. Muốn được
như vậy thì chỉ có tổ chức ra một đoàn thể của thanh niên mới được…”.
Trong phần này, Nghị quyết đặt vấn đề: “Phải hết sức tổ chức ra những đoàn thể như là các bộ
phận thanh niên trong công, nông hội, thanh niên vệ đội, Hội Phản đế, Hội Thể dục…” Quan điểm
về mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên đã được xác lập vững chắc trong Nghị quyết

tháng 10 năm 1930. Những đảng viên cộng sản ở Đông Dương lúc này là: “Phải làm cho hết thảy
đảng viên hiểu rằng công việc Thanh niên Cộng sản Đoàn là một việc cần kíp, quan trọng như là
việc Đảng vậy…”
Phần thứ hai của “án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động” nói về: “Những điều căn bản
của Thanh niên Cộng sản Đoàn”, nghĩa là đề cập đến tính chất, chức năng, nhiệm vụ và những
vấn đề về nguyên tắc tổ chức của Đoàn Thanh niên Cộng sản.
“án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động” của Hội nghị Trung ương Đảng ra đời trong
tháng 10 năm 1930 là một sự kiện hết sức quan trọng trong phong trào thanh niên nước ta. án
nghị quyết đã được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn cách mạng phong phú ở Đông Dương
trong những năm 20 kết hợp với sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác
– Lênin về xây dựng Đảng kiểu mới và tổ chức thanh niên của Đảng cũng như những lời chỉ dẫn
xác đáng của Quốc tế Thanh niên Cộng sản. án nghị quyết là văn kiện nền tảng về lý luận vận
động thanh niên đầu tiên của Đảng ta. Mặc dầu án nghị quyết ra từ những năm đầu của thế kỷ XX
nhưng nhiều vấn đề cơ bản được đề ra trong Nghị quyết vẫn còn giữ nguyên giá trị chỉ đạo cho
đến ngày nay.
án nghị quyết ra đời đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của phong trào yêu nước trong thanh niên ta
đang phát triển mạnh và đã thực sự gây nên những biến đổi với sự nghiệp xây dựng Đoàn và hình
thành một mặt trận tập hợp, đoàn kết các tầng lớp thanh niên.
Theo thư của đồng chí Nguyễn ái Quốc gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 20/4/1931
trong đó có thống kê một số cơ sở Đoàn thì đến khoảng cuối năm 1930 đầu năm 1931, số lượng
đoàn viên trong một số tỉnh ở nước ta là 942 đồng chí, mỗi cơ sở Đoàn đều tập hợp được số thanh
niên cảm tình hoặc tổ chức các Hội Thể dục, Hội Tương thân Tương ái, Hội Học sinh để thu hút
những thanh niên yêu nước.
Sau khi Đảng ra đời, các tổ chức cơ sở của Đoàn và các Hội thanh niên phát triển mạnh ở các
trung tâm kinh tế, chính trị của đất nước, phong trào đấu tranh của nhân dân ta, trước hết là của
công nhân, nông dân, học sinh, tiểu tư sản trí thức… dưới sự lãnh đạo của Đảng có sự phát triển
vượt bậc. Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1930, trong cả nước đã nổ ra 121 cuộc đấu tranh. Đây là
một hình thức đặc biệt, chính trên cơ sở này, Đảng ta đã chủ trương phát động một cao trào cách
mạng rộng lớn nhằm giành những quyền lợi thiết thân và để tập hợp giáo dục quần chúng.
Với lòng yêu nước căm thù giặc cao độ, phong trào đấu tranh của quần chúng đi đầu là thanh niên

đã bùng lên mạnh mẽ, lan đi nhanh chóng mà đỉnh cao là sự xuất hiện các Xô viết làm chức năng
chính quyền cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo ở nhiều vùng rộng lớn trong hai tỉnh Nghệ
An, Hà Tĩnh.
Bài ca Thanh niên cận vệ hùng tráng đã cổ vũ các chiến sỹ Xô viết Nghệ Tĩnh trẻ tuổi vùng lên:
…Chúng ta là thanh niên cận vệ!
Chúng ta là đội cận vệ của ngày mai
Sinh trưởng trong nơi đớn đau, khốn cùng
Một là toàn thắng, hai là hy sinh
Vì công lý ta ra tranh đấu…
Chỉ trong tháng 9 và tháng 10 năm 1930, cả nước có 362 cuộc đấu tranh: 29 cuộc ở miền Bắc,
316 cuộc ở miền Trung, 17 cuộc ở miền Nam.
Phong trào cách mạng của quần chúng công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được
đồng chí Nguyễn ái Quốc theo dõi chặt chẽ và báo cáo thường xuyên cho Quốc tế Cộng sản.
Ngày 29/9/1930, Người gửi thư cho Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản phản ánh về tình hình đấu
tranh ở Nghệ Tĩnh và yêu cầu Quốc tế Cộng sản cho ý kiến chỉ đạo.
Ngày 5 tháng 11 năm 1930, Người gửi thư cho Quốc tế Nông dân phản ánh về phong trào nông
dân trong nước, đặc biệt là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.
Ngày 19 tháng 2 năm 1931, Nguyễn ái Quốc gửi báo cáo lên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về
cuộc đấu tranh ở Nghệ Tĩnh trong đó khẳng định: “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh… đều
bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ Tĩnh”.
Xô viết Nghệ Tĩnh là kết quả phát triển của cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng. Điều
kiện cơ bản để tạo nên cao trào đó là do Nghệ Tĩnh sớm hình thành được khối liên minh công
nông, sớm xây dựng nên đội xung kích cách mạng của Đảng là Đoàn Thanh niên Cộng sản và đoàn
kết, tập hợp được đông đủ thanh niên tham gia theo những hình thức thích hợp.
Vai trò của đoàn viên và thanh niên trong Xô viết Nghệ Tĩnh được nhân dân và thanh niên cả nước
ta đánh giá rất cao. Đó là những chiến sỹ quả cảm, chiến đấu quên mình vì lý tưởng của Đảng.
Nhìn lại lực lượng đoàn viên và thanh thiếu niên có tổ chức trong phong trào Xô viết Nghệ tĩnh
chúng ta có thể nêu lên những số liệu tiêu biểu sau đây:
2356 đoàn viên, thanh niên cộng sản được tập hợp trong hàng trăm chi bộ Đoàn.
9158 đội viên tự vệ đỏ (tuyệt đại bộ phận là thanh niên) được tập hợp trong 411 đơn vị do đảng

viên hoặc cán bộ, đoàn viên, thanh niên cộng sản chỉ huy.
Khoảng 600 thanh niên hăng hái cách mạng là hội viên của các tổ chức thanh niên rộng rãi như:
Hội tương tế, Hội giúp nhau cày cấy, Hội nghề…
513 đội viên thiếu niên do các chi bộ Đoàn hoặc các đội tự vệ hướng dẫn hoạt động.
Chính trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh đã xuất hiện biết bao tấm gương anh hùng mở đầu cho
truyền thống cách mạng vẻ vang của tuổi trẻ nước ta. Một trong những tấm gương chói lọi đó là
Cao Xuân Quế, 17 tuổi, quê ở xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn (Nghệ An), anh là một thanh niên rất
hăng hái cách mạng. Trong mọi cuộc đấu tranh, Cao Xuân Quế luôn hăng hái đi đầu, bất chấp
hiểm nguy và không bao giờ từ nan một nhiệm vụ dù gian khổ, khó khăn đến đâu. Khi phong trào
bị địch khủng bố mạnh, đơn vị xích vệ phải tạm lánh vào rừng, Cao Xuân Quế vẫn sống lạc quan,
tin tưởng. Một lần, trong khi đang làm nhiệm vụ, anh bị địch bắt, địch dùng mọi cực hình tra tấn
nhưng anh không hề hé môi khai với chúng nửa lời. Trong nhà giam, anh động viên những đoàn
viên và thanh niên cùng bị bắt cất cao tiếng hát quen thuộc: “Chúng ta là thanh niên cận vệ”. Quế
hy sinh giữa tuổi 17 trong sự tiếc thương vô hạn của đồng chí, đồng bào.
Bên cạnh Cao Xuân Quế, chúng ta còn thấy nhiều tấm gương anh hùng, bất khuất khác. Đó là Lê
Cảnh Nhượng, ở xã Phong Nẫm, huyện Thanh Chương (Nghệ An). Anh còn là người chỉ huy gan dạ
của đội tự vệ xã. Sau khi bị bắt, địch đưa anh ra trước toà án của đế quốc, phong kiến để xử. Lúc
nghe bọn quan toà thoá mạ Đảng ta, anh đứng phắt dậy, chỉ vào mặt chúng: “Các người không
được nói láo, Đảng Cộng sản chúng tôi không hề cướp của, giết người, Đảng chúng tôi làm cách
mạng để đánh đổ đế quốc, phong kiến, chính các người mới là bọn cướp của, giết người…”.
Để khủng bố tinh thần nhân dân, địch đưa đồng chí Lê Cảnh Nhượng về chính quê anh để xử bắn.
Một lần nữa Nhượng lại vạch mặt quân thù trước khi ngã xuống…
Xô viết Nghệ Tĩnh là mặt trận thử lửa đầu tiên đối với lớp đoàn viên, thanh niên cộng sản thuộc
thế hệ 1925–1935 quyết một lòng theo Đảng và đã tỏ rõ khí phách anh hùng xứng đáng với lòng
tin yêu của Đảng và nhân dân.
Phối hợp với tuổi trẻ Nghệ Tĩnh, tuổi trẻ cả nước ta trong thời gian này đã đẩy mạnh mọi mặt đấu
tranh chống quân thù. Biết bao đoàn viên, thanh niên cộng sản hy sinh anh dũng với tư thế hiên
ngang trước họng súng của quân thù. Trong số đó, tên tuổi Lý Tự Trọng, người đoàn viên thanh
niên cộng sản được Nguyễn ái Quốc ân cần chăm sóc, đào tạo, giáo dục từ lúc còn tuổi thiếu niên
đã được tuổi trẻ Việt Nam cũng như tuổi trẻ nhiều nước trên thế giới biết đến như một biểu tượng

rực rỡ của tinh thần bất khuất và lạc quan cách mạng tuyệt vời. Anh về nước công tác theo sự
phân công của tổ chức nhằm góp phần xây dựng cơ sở Đoàn ở miền Nam nước ta trong phong trào
đấu tranh 1930–1931, ngoài ra anh còn làm nhiệm vụ giao liên cho Trung ương và Xứ uỷ Đảng. Lý
Tự Trọng đã tỏ rõ tinh thần gan dạ vô song đối với mọi công việc mà anh đảm nhận. Để cứu nguy
cho đồng chí mình, Lý Tự Trọng đã rút súng bắn chết tên mật thám cáo già Lơgơrăng ngay trên
đường phố Sài Gòn (chiều chủ nhật ngày 8/2/1931). Sa vào tay giặc và bị chúng dùng mọi cực
hình dã man để tra tấn song chính khí tiết của anh đã làm cho kẻ thù phải kính nể. Chúng gọi anh
là: “Ông nhỏ” và kinh ngạc mỗi lúc nghe anh ngâm Kiều trong xà lim tử hình. Tra tấn không khuất
phục được anh, kẻ địch lại dùng thủ đoạn mua chuộc hèn hạ, nhưng chúng cũng lại bị thất bại
nhục nhã.
Trước toà án của kẻ thù, Lý Tự Trọng đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi hành động có suy nghĩ, tôi hiểu
việc tôi làm. Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, chứ không thể có con đường
nào khác”.
Theo dõi chặt chẽ hành động anh hùng của Lý Tự Trọng, ngày 21/2/1931, Nguyễn ái Quốc đã gửi
thư cho Bộ Phương Đông Quốc tế Cộng sản báo tin này và đề nghị Bộ Phương Đông yêu cầu Đảng
Cộng sản Pháp tổ chức biểu tình đòi trả tự do cho Lý Tự Trọng.
Vào mùa xuân năm 1931, ở thời điểm từ ngày 20 đến ngày 26/3/1931, khi tiến hành Hội nghị lần
thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó Trung ương dành một phần quan trọng trong
chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên đã đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc
biệt như các cấp bộ Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các cấp uỷ viên của Đảng
phụ trách công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Trước sự phát triển và lớn mạnh của phong
trào thanh niên cũng như sự phát triển và lớn mạnh của Đoàn trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam, ở
nước ta đã xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng hơn 1500 đoàn viên và một số địa
phương đã hình thành hệ thống tổ chức Đoàn xã, huyện lên đến tỉnh. Đến cuối năm 1931 số lượng
đoàn viên trong cả nước lên đến khoảng hơn 2500 đồng chí và số lượng thanh niên cảm tình,
thanh niên tham gia hoạt động trong các nhóm, hội công khai, đặc biệt là hội thể dục, thể thao,
văn hoá, nghệ thuật… lên đến hàng vạn người trong cả nước, chứng tỏ tác động tích cực của
những quyết định quan trọng của Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 3 năm 1931). Bao tấm
gương đoàn viên, thanh niên đã dũng cảm chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
HẾT

CHƯƠNG I
Cơ quan chủ quản: TỈNH ĐOÀN QUẢNG TRỊ
Giấy phép xuất bản số 557/GP-BC ngày 13/12/2007 của Bộ TT&TT – Cục Báo chí
ĐT: 053. 856348 - Fax: 053. 850101
Email:
Thiết kế và Thường trực mạng: Trung tâm CNTT & VT Quảng Trị
Web Site Tìm Kiếm
18 Tháng Tư 2009 - Đăng Ký - Đăng
Nhập

Nội dung chi tiết


CHƯƠNG II
ĐẤU TRANH CHỐNG BỌN PHẢN ĐỘNG, THUỘC ĐỊA, CHỐNG KHỦNG BỐ ĐÒI TỰ DO, DÂN
CHỦ , CƠM ÁO, HÒA BÌNH
Sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, cách mạng nước ta bị đế quốc, phong kiến đàn áp, khủng bố khốc
liệt. Hàng vạn đảng viên, đoàn viên, thanh niên yêu nước bị chém giết, tù đày. Tuy nhiên, những
chiến sĩ cách mạng, thanh niên yêu nước còn lại vẫn hoạt động kiên cường bất chấp gươm súng
của kẻ thù.
Tháng 3/1935, Mặt trận Nhân dân Pháp được thành lập bao gồm Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội,
Đảng Cấp tiến, Tổng Liên đoàn Lao động Thống nhất và các đoàn thể quần chúng khác. Trong
cuộc bầu cử Quốc hội tháng 5/1936, Mặt trận Nhân dân giành được đa số phiếu và tháng 6/1936,
Chính phủ phái tả lên cầm quyền ở Pháp.
Chính phủ này thực chất vẫn là cơ quan chấp hành ý chí của giai cấp tư sản Pháp. Nhưng trước sức
mạnh đấu tranh của quần chúng đoàn kết trong Mặt trận Nhân dân, một số yêu sách về xã hội –
kinh tế trong cương lĩnh của Mặt trận đã được thực hiện.
Căn cứ vào những diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, quán triệt và vận dụng Nghị
quyết của Quốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở Việt Nam và để thực sự phối hợp giữa
cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, nhất là cách mạng Pháp. Sau Đại hội đại biểu toàn

quốc của Đảng lần thứ I (tháng 3/1935), tháng 7 năm 1936, Hội nghị Trung ương Đảng đã định ra
đường lối, phương pháp tổ chức và đấu tranh cách mạng trong thời kỳ mới.
Nhiệm vụ trước mắt của Đảng và nhân dân ta lúc này là tập trung mũi nhọn đấu tranh chống bọn
phản động thuộc địa và tay sai của chúng ở Đông Đương, đòi các quyền tự do, dân chủ, cải thiện
đời sống, chống chiến tranh phát xít, bảo vệ hoà bình. Vì vậy, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận
Nhân dân Phản đế rộng rãi (về sau đổi thành Mặt trận Thống nhất Dân chủ) bao gồm tất cả các
giai cấp, đảng phái, đoàn thể chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau để cùng đấu tranh đòi
những điều kiện dân chủ tối thiểu cho nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương.
Để phù hợp với sự chuyển hướng về nhiệm vụ, Hội nghị chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí
mật, không hợp pháp sang hình thức tổ chức công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp.
Tiếp sau đó, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 7 năm 1936 đã ra
những quyết định quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động
thanh niên. Các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương trong các kỳ họp tháng 3/1937, tháng
9/1937 và tháng 3/1938 đều có những quyết nghị về công tác vận động thanh niên, chỉ ra phương
hướng, nhiệm vụ công tác tư tưởng và tổ chức của Đoàn trong thời kỳ này.
Tháng 9/1937, Đảng nhấn mạnh phải ra sức tổ chức các hội quần chúng phổ thông của thanh niên
(Thanh niên dân chủ, tân tiến, thể thao, khuyến học…vv) để thu phục quảng đại quần chúng thành
một Mặt trận Thống nhất Thanh niên. Đến tháng 3/1938 Đảng quyết định tổ chức Thanh niên tân
tiến Hội để giúp Đảng vận động các tầng lớp thanh niên phù hợp với hoàn cảnh, trình độ, tâm lý
của họ để có khẩu hiệu và hình thức tổ chức thích hợp (phổ thông và công khai hoặc bán công
khai, như hội đá bóng, đọc báo, âm nhạc…vv). Trong thời kỳ 1936 – 1939, Đoàn Thanh niên có
nhiều tên gọi khác nhau song đều nhằm mục đích đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, vì
vậy chúng ta thường gọi tên chung là Đoàn Thanh niên Dân chủ. Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn là
vừa củng cố tổ chức vững mạnh vừa ra sức tập hợp đoàn kết các tầng lớp thanh niên vào các tổ
chức rộng rãi, hình thành nên nhiều Hội quần chúng của thanh niên theo sở thích, nghề nghiệp, lợi
ích… nhằm lôi kéo thanh niên đấu tranh cho các quyền dân chủ, dân sinh, nghĩa là phải hình thành
cho được một mặt trận thanh niên thật sự rộng rãi.
Thanh niên là lực lượng hăng hái, tích cực nhất trong các Uỷ ban Hành động, trong việc đi thu thập
nguyện vọng của nhân dân. Những yêu cầu về quyền dân sinh, dân chủ này cũng là nguyện vọng
bức bách của đông đảo thanh niên và quần chúng lao động vì rằng: “Trừ một số ít thanh niên con

nhà tư sản, thì hầu hết thanh niên lao động cho đến thanh niên tiểu tư sản đều phải sống cuộc đời
khốn quẫn về vật chất lẫn tinh thần".
Phong trào Đông Dương Đại hội phát triển nhanh chóng chỉ trong một thời gian ngắn, ở Nam Bộ
đã có 600 Uỷ ban Hành động, phần lớn là thanh niên tham gia. Một số Uỷ ban Hành động như ở
thành phố Sài Gòn bao gồm 100% là thanh niên có cảm tình với cách mạng. Các Uỷ ban Hành
động tổ chức nhiều cuộc hội nghị, mít tinh để giải thích, thảo luận về tình hình, thời cuộc, về tình
cảnh đời sống, về Mặt trận Nhân dân và những yêu cầu về quyền dân chủ, cải thiện đời sống về
luật lao động. Qua các cuộc sinh hoạt chính trị này, thanh niên càng thấy rõ, muốn có được những
quyền lợi tối thiểu thì phải đoàn kết lại và tổ chức đấu tranh.
Hoảng sợ trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, Chính phủ Pháp ra lệnh cấm Đông Dương
Đại hội, nhưng chúng không ngăn cấm được làn sóng đòi quyền dân chủ, cải thiện đời sống của
nhân dân ta.
Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân và các tầng lớp thanh niên ngày một lan rộng khắp
các thành phố và địa phương trong cả nước, thanh niên công nhân đấu tranh đòi tự do lập nghiệp
đoàn, tăng lương, giảm giờ làm; phản đối đánh đập, cúp phạt, chống đuổi thợ. Thanh niên nông
dân đòi cứu tế nạn đói, nạn lụt, đòi chia lại ruộng công, chống sưu cao, thuế nặng, cướp ruộng
đất, nữ thanh niên đòi quyền lợi ngang nam giới; việc làm như nhau, tiền lương ngang nhau, cấm
bắt chị em làm công việc nặng nề có hại đến sức khoẻ, cấm bắt bớ, bỏ tù phụ nữ khi đến kỳ sinh
đẻ… Thanh niên học sinh đòi mở thêm trường vv…
Chỉ tính 6 tháng cuối năm 1936 đã có 361 cuộc đấu tranh trong đó có 236 cuộc của công nhân. Có
những cuộc bãi công thu hút hàng nghìn thanh niên công nhân tham gia như cuộc bãi công của
5000 công nhân mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), tiêu biểu là cuộc bãi công lớn của hơn 30.000 công
nhân mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả.
Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân lao động Đông Dương, trước sức ép của Mặt
trận Nhân dân Pháp và Đảng Cộng sản Pháp, theo lệnh Chính phủ Pháp, ngày 11/10/1936, toàn
quyền Đông Dương ra Nghị định về một số quyền lợi của công nhân và lao động làm thuê như thời
gian lao động trong một ngày không quá 10 giờ kể từ ngày 1/11/1936, không quá 9 giờ kể từ
ngày 1/11/1938, được nghỉ chủ nhật, nghỉ phép hàng năm (5 ngày kể từ năm 1937 và 10 ngày kể
từ năm 1938) được hưởng lương, cấm bắt đàn bà, trẻ em làm việc ban đêm…vv
Ngày 30 tháng 12 năm 1936, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp ra Nghị định quy định thêm một số chế

độ lao động như chế độ học nghề, tiền lương tối thiểu, cấm cúp phạt bằng tiền, chế độ nghỉ đẻ,
nghỉ cho con bú trong thời gian làm việc…
Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp đã ra sắc lệnh “ân xá” tù chính trị ở Đông Dương, vào các năm
1936 và 1937. Trên 2500 tù chính trị, phần lớn là các chiến sĩ cộng sản được thoát ra khỏi các nhà
tù của bọn đế quốc.
Những thắng lợi trên đây tuy mới là bước đầu nhưng hết sức quan trọng đã nâng cao uy tín của
Đảng trong nhân dân ta.
Mặc dù bọn phản động thuộc địa ngoan cố ngăn cấm và đàn áp, nhưng phong trào đấu tranh của
quần chúng vẫn không ngừng phát triển. Trong năm 1937 có gần 400 cuộc đấu tranh của công
nhân, có những cuộc bãi công lớn có tổ chức và kéo dài như cuộc bãi công của 300 công nhân nhà
máy Tơ Hải Phòng (tháng 1/1937); của 7000 công nhân Dệt Nam Định (tháng 2/1937); của 4000
công nhân Ba Son (tháng 4/1937); công nhân mỏ Uông Bí (tháng 7/1937), tiêu biểu nhất là bãi
công của 3000 công nhân xe lửa Trường Thi (Vinh) và miền Nam Đông Dương (tháng 7/1937).
ở nông thôn, nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh thu hút hàng chục vạn nông dân tham gia đòi giảm
sưu, giảm thuế, chống cướp ruộng đất, đòi chia lại ruộng công, xoá bỏ hủ tục hương thôn, chống
bọn cường hào, lý hương tham nhũng… Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của nông dân và thanh
niên Cà Mau (tỉnh Bạc Liêu cũ) chống bọn địa chủ cướp đất và ức hiếp dân nghèo (cuối năm
1938). Cuộc đấu tranh này có tiếng vang lớn trong cả vùng đồng bằng Nam Bộ. Thanh niên các
tỉnh Mỹ Tho, Gia Định – Sài Gòn, Vĩnh Long, Bạc Liêu vv… đã tích cực hưởng ứng cuộc đấu tranh
của nông dân và thanh niên Cà Mau.
Dưới ngọn cờ của Đảng, phong trào đấu tranh ngày càng phát triển mạnh mẽ và thanh niên đã thể
hiện là một lực lượng xã hội to lớn luôn giữ vai trò đi đầu trên các trận tuyến chống quân thù.
Đoàn Thanh niên Dân chủ từng bước được củng cố và phát triển tổ chức. Thông qua đấu tranh, ý
thức giác ngộ của quần chúng thanh niên được nâng cao và ảnh hưởng của Đảng trong thanh niên
ngày càng thêm sâu rộng.
Trong thời kỳ này, Đảng ta triệt để sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh cách mạng.
Nhờ khôn khéo lợi dụng mọi khả năng hợp pháp, từ năm 1937, báo chí công khai do Đảng lãnh
đạo phát triển nhanh chóng. Hàng chục tờ báo của Đảng, của Mặt trận Dân chủ, Đoàn Thanh niên
Dân chủ ra đời.
Tại Hà Nội, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chí Lương Khánh Thiện,

đầu năm 1937 báo Bạn dân - tờ báo của thanh niên ra đời. Báo Bạn dân nhanh chóng chiếm được
tình cảm của đông đảo bạn đọc trẻ tuổi trong nước, trở thành người tuyên truyền, giáo dục tích
cực trong quần chúng thanh niên. Sau khi báo Bạn dân bị đình bản, Đoàn Thanh niên Dân chủ lại
cho xuất bản báo Thế giới ở Hà Nội và Đoàn Thanh niên Dân chủ Sài Gòn – Gia Định xuất bản báo
Mới ở Sài Gòn.
Mục tiêu đấu tranh của báo Thế Giới và báo Mới trong thời gian này là vạch trần chế độ thuộc địa
và phong kiến thối nát, phản động, phản ánh tình trạng bị áp bức, bóc lột và những nguyện vọng
của tầng lớp thanh niên, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin; hướng dẫn, động viên quần chúng
thanh niên đoàn kết, đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa, tay sai, đòi tự do, dân chủ, cải
thiện đời sống.
Đi đôi với việc xuất bản các tờ báo công khai của Đoàn, các Hội đọc sách báo của thanh niên, các
đội văn nghệ, các nhóm thanh niên nghiên cứu của nghĩa Mác – Lênin được thành lập ở nhiều nơi
thu hút đông đảo thanh niên tham gia. Nhiều tác phẩm chính trị và văn học của Mác, Ănghen,
Lênin, Goocki vv… được thanh niên truyền tay nhau đọc như: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Tư bản,
Chống Duyrinh, Nhà nước là gì? Người mẹ vv… Thanh niên còn tham gia học tập và nghiên cứu
những cuốn sách do các chiến sĩ cách mạng Việt Nam viết như cuốn Mác xít phổ thông của Hải
Triều, Vấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình vv…
Tổ chức Đoàn ở Hà Nội đã vận động hàng nghìn thanh niên tham gia lễ truy điệu và đưa tang
chiến sĩ cách mạng có uy tín như: Nguyễn Thế Rục, Phan Thanh… biến cuộc đưa tang thành cuộc
diễu hành biểu dương lực lượng với khẩu hiệu chính trị đòi thực hiện các quyền dân chủ mà các
chiến sĩ cộng sản đã kiên trì nêu gương.
Thời gian này, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài. Người dành thời gian theo
dõi chặt chẽ tình hình trong nước và bằng nhiều con đường khác nhau đã truyền đạt cho Đảng ta
những vấn đề về đường lối chỉ đạo rất quan trọng. Người vạch rõ: “Nhiệm vụ chủ yếu của cách
mạng Đông Dương lúc này là đấu tranh đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do
ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp". Vấn
đề tập hợp quần chúng, giác ngộ quần chúng là điều Người đặc biệt quan tâm.
Vượt qua mọi khó khăn, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc liên tục viết đến 9 bài báo nói về các quan điểm
chỉ đạo quần chúng đấu tranh với các bút danh khác nhau trong đó có những bài giới thiệu kinh
nghiệm đấu tranh của nhân dân Pháp, nhân dân Tây Ban Nha, nhân dân Trung Quốc vv… Những

bài báo quan trọng của Người đã được đăng trên các báo công khai của Đảng ta như Dân chúng và
Notre voix (Tiếng nói của chúng ta bằng Pháp ngữ) phát hành công khai khắp Đông Dương. Đây là
những tài liệu rất quý báu cho Đoàn và các hội quần chúng của thanh niên do Đoàn làm nòng cốt.
Đầu năm 1938, Đảng ta chủ trương thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ để nâng cao trình độ hiểu
biết cho dân lao động. Thanh niên học sinh, sinh viên là lực lượng nòng cốt của phong trào này.
Đảng còn cử nhiều đảng viên và đoàn viên Thanh niên Dân chủ tham gia công tác ở cơ quan
thường trực của Hội và cả các ban chuyên môn, nhất là các ban Dạy học và Cổ động. Thanh niên
công nhân, nông dân hăng hái đi học. Do những cố gắng của Đoàn Thanh niên Dân chủ, trong hai
năm 1938–1939, riêng ở Hà Nội đã thanh toán nạn mù chữ cho hàng nghìn người.
Một thắng lợi lớn của phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương là tổ chức kỷ niệm ngày Quốc tế
Lao động 1/5/1938 một cách công khai, biểu dương được sức mạnh của giai cấp công nhân, của
các tầng lớp thanh niên và nhân dân ta tại nhà Đấu xảo Hà Nội.
Đoàn Thanh niên Dân chủ và các Hội Thanh niên Hà Nội là thành viên tích cực trong ban tổ chức,
đã huy động đông đảo thanh niên tham gia cuộc mít tinh lớn gồm hàng vạn người này.
Nhiều đại biểu thanh niên công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, trí thức,… đã lên diễn đàn kêu
gọi tuổi trẻ siết chặt hàng ngũ chung quanh Mặt trận Dân chủ đẩy mạnh cuộc đấu tranh vì hoà
bình, cải thiện dân sinh, chống phản động thuộc địa, quan lại phong kiến thối nát. Sau đó đại biểu
thanh niên cùng các giới đồng bào tham gia mít tinh đã tổ chức diễu hành qua nhiều đường phố
Hà Nội. Hoạt động rầm rộ trong ngày 1/5/1938 đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của tuổi trẻ
Hà Nội và nhiều địa phương lân cận.
Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1938 còn được tổ chức rầm rộ ở các địa phương trong cả nước, đặc
biệt là các thành phố lớn, các tỉnh Nam Bộ…như một ngày hội của quần chúng và tuổi trẻ.
Tiêu biểu cho lớp thanh niên trong giai đoạn cách mạng này là Trần Hải Kế, Nguyễn Văn Trạch…
Trần Hải Kế sinh năm 1917, trong một gia đình công nhân hoả xa ở ngõ chợ Khâm Thiên. Anh giác
ngộ cách mạng và tham gia phong trào học sinh ở trường Thăng Long. Trần Hải Kế đi theo cách
mạng với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Anh là một thanh niên khỏe mạnh lại giỏi võ thuật nên
thường được phân công bảo vệ các cán bộ lãnh đạo trong các cuộc mít tinh, diễu hành cũng như
nhiều hoạt động lớn của Đoàn.
Sau cao trào Dân chủ, Trần Hải Kế được điều động vào Nghệ An công tác. Tại đây anh bị địch bắt
và tra tấn dã man, song anh không hề hé răng khai nửa lời.

Địch đẩy anh đến trại Đắc Tô (Tây Nguyên). Trong mọi hoàn cảnh, Trần Hải Kế luôn giữ vững khí
tiết và đã anh dũng hy sinh.
Nguyễn Văn Trạch sinh năm 1918, quê ở ứng Hoà, Hà Tây. Xuất thân từ một gia đình nho giáo yêu
nước. Cụ nội là Nguyễn Viết Bình đỗ Hoàng Giáp dưới triều đại Tự Đức. Cụ có người con là Nguyễn
Văn Vinh tham gia khởi nghĩa Yên Bái bị địch bắt đem chôn sống năm 1930. Câu chuyện này ông
thân sinh của Nguyễn Văn Trạch là Nguyễn Văn Lương, một công chức nhỏ làm việc ở Tiền Hải
(Thái Bình), đã có lần kể cho Nguyễn Văn Trạch nghe, khi anh đang theo học ở trường tiểu học của
tỉnh. Anh nuôi chí căm thù quân xâm lược từ đó. Tuy gia đình đông con (9 người), cuộc sống công
chức vất vả, nhưng ông bà Nguyễn Văn Lương thấy Trạch (con cả) thông minh, học giỏi nên cố
gắng dè xẻn trong chi tiêu để cho anh tiếp tục học bậc trung học. Không phụ công lao của cha mẹ,
Nguyễn Văn Trạch đã thi đỗ toàn phần tú tài (theo chế độ giáo dục cũ của thực dân trước Cách
mạng Tháng Tám) chỉ trong thời gian 2 năm. Chẳng những học giỏi, anh còn có năng khiếu về
nhạc, thơ, đặc biệt là có thân hình cao lớn (nặng 70 kg, cao 1m75), lại rất hăng say luyện tập võ
thuật, nhất là quyền Anh.
Năm 19 tuổi, Nguyễn Văn Trạch thi đỗ vào trường Đại học Luật Hà Nội và đầu năm 1937 anh tham
gia hoạt động cách mạng với tên mới là Hồng Quang. Anh lĩnh hội chủ nghĩa Mác – Lênin qua lớp
nghiên cứu của Đảng mở ở số nhà 14 Phạm Phú Thứ và trực tiếp đọc tác phẩm nổi tiếng của
Nguyễn ái Quốc: Bản án chế độ thực dân Pháp. Đây là tác phẩm vừa làm anh thán phục vừa nâng
cao giác ngộ cách mạng cho anh. Do có tài hùng biện, anh dám tổ chức tuyên truyền yêu nước
công khai trong các nhóm sinh viên bạn hữu, đặc biệt là dám đứng lên phản đối luận điệu thoá mạ
dân tộc ta của giáo viên người Pháp Kêrian. Việc này có tiếng vang trong giới sinh viên. Đến
trường, anh thường mang theo báo La Lutte, Notre Voix (Tranh đấu, Tiếng nói của chúng ta),
những tờ báo công khai bằng tiếng Pháp của Đảng ta.
Bọn phản động thuộc địa cho anh là “tên nổi loạn trong trường đại học”, một “phần tử nguy hiểm
cho sinh viên” nên viện mọi lý do vô lý đuổi anh khỏi trường đại học vào cuối năm thứ hai.
Để kiếm sống, Nguyễn Văn Trạch nhận dạy tư cho một số gia đình khá giả. Lúc này tổ chức giao
cho anh trực tiếp cùng một nhóm sinh viên làm chủ hiệu sách Đồng Xuân, trung tâm phát hành
báo chí cách mạng lớn của Hà Nội và các tỉnh Bắc Kỳ. Đây cũng là cơ sở liên lạc của Xứ ủy Bắc Kỳ.
Phát hiện anh là một sinh viên yêu nước có tài, có dũng khí, Đoàn ra sức bồi dưỡng anh về chính
trị và phẩm chất cách mạng, đưa anh tham gia vào Ban Chấp hành Xứ Đoàn Thanh niên Dân chủ

Bắc Kỳ và Đoàn giao cho anh trách nhiệm cùng nhiều cán bộ khác nghiên cứu xây dựng căn cứ
cho Xứ uỷ Bắc Kỳ ở Phú Thọ khi dự đoán đúng đắn tình hình có thể xấu đi, bọn phản động thuộc
địa sẽ trở lại chính sách khủng bố, đàn áp dã man. Nguyễn Văn Trạch đã bị bắt ở Hà Nội do “Hoạt
động tuyên truyền cộng sản” cùng với nhiều đồng chí như Trần Huy Liệu, Lương Khánh Thiện, Văn
Tiến Dũng… Lần đầu tiên, trong trại giam Hoả Lò, Hồng Quang được tiếp xúc với các chiến sỹ cách
mạng đàn anh nổi tiếng. Anh tìm cách gần gũi các đồng chí để học tập thêm kinh nghiệm đấu
tranh như giúp đồng chí Văn Tiến Dũng bồi dưỡng thêm tiếng Pháp qua các tác phẩm văn học
Pháp, anh còn kể lại những đoạn văn, thơ bất hủ trong các tác phẩm của V.Huygô, Pôn Véclen,
Lamáctin, Êmin Dola, Anphônxơđôđê… nên được các đồng chí càng thêm yêu mến.
Ngày địch đưa anh ra toà, gia đình thuê Luật sư Trần Văn Chương là người có thế lực bào chữa cho
anh. Anh từ chối khéo với lý do mình đã là sinh viên trường Luật, hơn thế bản thân anh không có
tội gì cả.
Phiên toà xử án Hồng Quang có rất đông người dự, nhất là sinh viên, học sinh các trường Hà Nội.
Hồng Quang dõng dạc hỏi vặn lại quan toà: "Chủ nghĩa cộng sản có gì là không tốt, biết bao công
dân Pháp đi theo chủ nghĩa cộng sản một cách công khai… nếu cần bỏ tù thì các ông hãy bỏ tù
những người đó, những người đó đã từng tham gia chính phủ của các ông kia mà!”.
Hồng Quang bước ra khỏi nhà tù Hoả Lò với bản án treo 1 năm! Anh đã thắng và đã góp phần
nâng cao uy tín của Đảng ta. Đảng bố trí cho anh thoát ly gia đình. Anh vinh dự được đứng vào
hàng ngũ của Đảng sau những năm thử thách.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Nội các do Daladier thiên hữu lên cầm quyền ở Pháp tiến
hành đàn áp, khủng bố phong trào cách mạng ở Đông Dương. Ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng
ta ra “Thông cáo gửi các cấp bộ Đảng” giải thích tình hình, đồng thời đề ra một số chủ trương quan
trọng để ứng phó với tình hình mới.
Khu căn cứ của Xứ uỷ Bắc Kỳ được hình thành ở một số huyện vùng cao tỉnh Phú Thọ. Hồng
Quang được Đảng điều đến đó làm việc cùng với các đồng chí Lương Khánh Thiện, Thành Ngọc
Quản, Đào Duy Kỳ, Trần Thị Minh Châu, Bùi Công Trừng… một thời gian sau, Hồng Quang được Xứ
uỷ điều động về miền xuôi tham gia Tỉnh uỷ Hải Dương.
Nguỵ trang dưới hình thức một công nhân vận tải đường sông, anh xây dựng được nhiều cơ sở tại
địa phương. Chùa Trại Sơn (huỵên Thuỷ Nguyên) do bà nội anh là sư cụ Huệ Trâm chủ trì trở
thành một trong những cơ sở bảo vệ cán bộ. Hang Dốc Tít bên cạnh chùa là cơ sở ấn loát của Tỉnh

uỷ. Ngoài nhiệm vụ trong Tỉnh uỷ, Hồng Quang còn là đường dây liên hệ của Xứ uỷ từ Bắc vào
Trung. Một lần anh cải trang thành thầy giáo lên tàu từ Hải Dương về Hà Nội, không may anh bị
địch phát hiện, hai tên mật thám áp sát vào bắt anh, một tên chưa kịp gí súng vào người đã bị anh
nhanh chóng cho một quả đấm nằm sóng soài ra sàn tàu, tên còn lại cũng bị quật ngã. ấy là nhờ
hồi còn là sinh viên Hồng Quang rất chăm luyện tập quyền Anh. Hồng Quang chuyển toa và chờ
lúc tàu sắp vào ga chạy chậm, anh lao xuống biến mất trong đêm.
Cuối tháng 4/1941, sau khi Hội nghị đại biểu Liên Tỉnh uỷ khu B vừa bế mạc, bọn mật thám Hải
Dương phối hợp với lính lệ huyện Khoái Châu vây bắt những người còn lại. Sự việc cũng diễn ra
trong đêm, Hồng Quang đã đánh trả quyết liệt và sắp thoát được thì chẳng may bị rơi cặp kính
cận. Anh bị bắt. Địch dễ dàng biết anh vì tri huyện Khoái Châu vốn cùng học trường Luật với anh
năm nào. Tên chánh mật thám Hải Dương (Quetsnoy) trực tiếp chỉ huy cuộc tra tấn anh trong suốt
10 ngày đầu để truy tìm cơ sở. Lúc này cả người anh đầy thương tích, răng gãy, mặt sưng húp,
người gầy rộc vì ít được ăn (mỗi ngày địch chỉ cho anh ăn một lần). Tra tấn thất bại, tên mật thám
chuyển sang mua chuộc, dụ dỗ. Hắn bày ra một bữa tiệc, mời anh dự gọi là để “xin lỗi” vì những
tên cộng sự đã xâm phạm đến thân thể của một trí thức do hắn không hề biết việc này. Hồng
Quang ngồi im nghe những lời đường mật khả ố của hắn. Bỗng anh co chân đạp mạnh hất tung cả
bàn tiệc về phía hắn. Quetsnoy hèn hạ bỏ chạy. Sau việc này Hồng Quang bị đẩy vào xà lim và
tiếp tục bị tra tấn dã man hơn.
Thấy sức khoẻ của anh quá suy kiệt do bị đánh đập tàn nhẫn hàng tháng trời, địch đưa một viên
bác sỹ già người Pháp từ Hà Nội về đến thăm sức khoẻ và dụ dỗ thêm. Hồng Quang lúc này rất
yếu, nhưng anh cố gắng giải thích cho viên bác sỹ nghe vì sao anh phải làm cách mạng chống lại
bọn Pháp ở Đông Dương mặc dầu anh rất hâm mộ nền văn hoá Pháp, hâm mộ cuộc cách mạng
1789 của nhân dân Pháp. Viên bác sỹ già không nói thêm điều gì và lặng lẽ ra về.
Song bọn đế quốc biết vai trò của anh trong tổ chức cách mạng, trong Đảng Cộng sản nên chúng
cố khai thác bằng mọi cách. Chúng đưa cả cha, mẹ anh đến xà lim để dỗ dành anh. Thấy anh quá
tiều tuỵ, quần áo rách nát, da mốc và nhăn nheo như da cau, người gầy rạc, máu me khắp nơi…,
mẹ anh oà khóc, nhưng anh cố khuyên mẹ đừng khóc “Bọn Tây nó cười cho”. Lời cuối cùng của
Hồng Quang với mẹ là: “Con có chết nhưng nước mình nhất định sẽ độc lập, thầy mẹ, đồng bào ta
và các em con sẽ được tự do, hạnh phúc”.
Trước lúc hy sinh, Nguyễn Văn Trạch (Hồng Quang), người sinh viên yêu nước nồng nàn, người

chiến sỹ cộng sản kiên trung cắn tay lấy máu viết lên tường nhà lao: “Cách mạng Việt Nam thành
công muôn năm”. Hồng Quang đã để lại nhiều bài thơ hay ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi Đảng và gửi
cho gia đình, bè bạn, nhất là người vợ yêu quý những tình cảm nồng thắm và khí phách hiên
ngang của người sinh viên cách mạng.
HẾT
CHƯƠNG II
Cơ quan chủ quản: TỈNH ĐOÀN QUẢNG TRỊ
Giấy phép xuất bản số 557/GP-BC ngày 13/12/2007 của Bộ TT&TT – Cục Báo chí
ĐT: 053. 856348 - Fax: 053. 850101
Email:
Thiết kế và Thường trực mạng: Trung tâm CNTT & VT Quảng Trị
Web Site Tìm Kiếm
18 Tháng Tư 2009 - Đăng Ký - Đăng
Nhập

Nội dung chi tiết


CHƯƠNG III
ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP, PHÁT XÍT – NHẬT TIẾN TỚI TỔNG KHỞI
NGHĨA THÀNH CÔNG TRONG CẢ NƯỚC
Ngày 1 tháng 9 năm 1939, phát-xít Đức tiến công Ba Lan. Ngày 3 tháng 9 năm 1939, Anh, Pháp
tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình mọi
mặt ở Đông Dương và Việt Nam.
Để phục vụ cho chiến tranh, thực dân Pháp ở Đông Dương ban bố lệnh tổng động viên, ra sức
cướp của, tăng giờ làm việc, giảm tiền lương của công nhân và bắt thanh niên đi lính. Chúng thẳng
tay đàn áp, khủng bố các phong trào cách mạng. Các quyền tự do, dân chủ mà thanh niên và
nhân dân ta giành được trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ đều bị xoá bỏ. Các tổ chức của công nhân
và thanh niên đều bị chúng giải tán. Chúng ra sức bắt bớ, truy lùng những chiến sỹ cộng sản.
Ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng ta ra: “Thông cáo cho các đồng chí các cấp bộ” giải thích tình

hình thế giới và tình hình trong nước, đồng thời đề ra một số chủ trương ứng phó trước mắt.
Tháng 11/1939, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) có các
đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần vv… tham dự. Nghị quyết Hội nghị
nhấn mạnh giải phóng là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương “Bước đường sinh tồn
của dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp,
chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng”. Hội nghị chủ trương lập Mặt trận
Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các giai
cấp và dân tộc ở Đông Dương để đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai của chúng.
Theo chủ trương của Đảng, Đoàn Thanh niên Phản đế tiếp nối sự nghiệp vẻ vang của các tổ chức
thanh niên cộng sản và thanh niên dân chủ trước đây. Những đoàn viên Thanh niên Dân chủ
chuyển thành đoàn viên Thanh niên Phản đế, các hội viên thanh niên trong các tổ chức thanh niên
phổ thông được giao những công tác thích hợp để thử thách, bồi dưỡng. Để nhanh chóng hình
thành đội quân xung kích và đội hậu bị của Đảng, các đồng chí lãnh đạo Đảng ta đã trực tiếp giúp
đỡ Đoàn xây dựng tổ chức. Nhiều cơ sở Đoàn đã được phát triển ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Bắc Ninh,
Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn Tây, Quảng Trị và nhiều tỉnh ở Nam Bộ. ở các thành phố, Đoàn chú
trọng công tác vận động thanh niên công nhân và học sinh.
Để mở rộng các hình thức tập hợp thanh niên sau khi phong trào dân chủ bị địch đàn áp, tại Sài
Gòn, những Câu lạc bộ Học sinh được hình thành, đầu tiên là ở trường Trung học Trương Vĩnh Ký
do Huỳnh Văn Tiểng đứng đầu. Tiếp đến là sự ra đời của tổ chức tham quan và du lịch do các anh
Trịnh Kim ảnh, Nguyễn Văn ảnh, Võ Thế Quang... phụ trách. Hoạt động tham quan, du lịch thu hút
nhiều bạn trẻ tham gia. Qua hoạt động này, anh chị em được tuyên truyền, giác ngộ cách mạng
và nhiều người đã đứng vào các tổ chức bí mật do Đảng ta lãnh đạo hăng hái đấu tranh chống
địch. ở Hà Nội, mặc dù bị địch ra sức khủng bố, cơ sở Đoàn Thanh niên Phản đế vẫn phát triển khá
nhanh, Đoàn xuất bản tờ báo Tiền phong không những chỉ lưu hành ở Hà Nội mà còn lưu hành
trong nhiều tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ. Hoạt động của Thanh niên Phản đế Hà Nội khá phong phú.
Nhiều đoàn viên và thanh niên đã tham gia rải truyền đơn kêu gọi chống chiến tranh đế quốc, bảo
vệ Liên Xô, chống đàn áp khủng bố nhân dân…
Anh Nguyễn Lam là một trong những cán bộ Thanh niên Phản đế hoạt động rất tích cực. Bị địch
bắt giam tại Hoả Lò, anh cùng hai đồng chí đoàn viên khác đã bí mật, kiên trì đào được một đường
hầm từ nơi bị giam nối liền với cống thoát nước. Trong một đêm mưa bão, anh đã cùng các đồng

chí vượt ngục thành công trở về hoạt động trong đội ngũ của Đoàn.
Tháng 6/1940, nước Pháp bị quân đội pháp xít Hitle chiếm đóng. Nhân cơ hội này, tháng 9/1940,
pháp xít Nhật xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng quân Nhật. Từ đây
nhân dân Việt Nam bị hai kẻ thù cùng thống trị là phát xít Nhật và thực dân Pháp. Nhưng nhân
dân Việt Nam bất khuất nổi dậy chống cả Nhật lẫn Pháp. Tháng 9/1940, nhân dân châu Bắc Sơn
vùng lên khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương. Tháng 11/1940 dưới sự lãnh đạo
của Xứ uỷ Nam Kỳ, nhân dân ở nhiều tỉnh Nam Bộ cũng đã vùng lên đấu tranh quyết liệt chống
quân thù. Tháng 1/1941, nổ ra cuộc nổi dậy của anh em binh lính ở đồn Chợ Rạng và đồn Đô
Lương (Nghệ An). Các cuộc khởi nghĩa này là bước đầu đấu tranh vũ trang của cả dân tộc Việt
Nam, báo hiệu một thời kỳ mới, thời kỳ chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền
trong toàn quốc.
Theo chủ trương của Đảng, lực lượng vũ trang khởi nghĩa Bắc Sơn được chuyển vào rừng hoạt
động du kích. Mùa xuân năm 1941, tại khu rừng Khuổi Nọi (xã Vũ Lê, châu Bắc Sơn) đội du kích
Bắc Sơn được thành lập. Đội gồm hơn 30 chiến sĩ mà hầu hết là đảng viên trẻ và đoàn viên, tất cả
đều đã tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn và chiến đấu chống sự đàn áp khủng bố của quân thù ngay từ
đầu. Trong buổi lễ thành lập, trước đông đảo đồng bào địa phương đến tham dự, đồng chí Hoàng
Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng giao nhiệm vụ giết giặc cứu nước cho đơn vị.
ít lâu sau, đội du kích đổi tên là Cứu quốc quân do đồng chí Phùng Chí Kiên, Uỷ viên Trung ương
Đảng làm Chỉ huy trưởng Cứu quốc quân. Tuy lực lượng còn nhỏ bé, súng đạn và lương thực thiếu
thốn, nhưng đã luôn giữ vững chí khí chiến đấu ngoan cường.
Ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ mặc dù đã có lệnh hoãn của Trung
ương Đảng nhưng không truyền đạt kịp. ở hầu khắp các tỉnh miền Nam nhất là ở Mỹ Tho, quần
chúng nổi dậy chiến đấu rất dũng cảm. Chính quyền của địch ở một số xã và quận hoang mang,
tan rã. Đội viên các đội tự vệ và du kích trong cuộc khởi nghĩa hầu hết là trẻ tuổi. Họ hăng hái
chiến đấu chống địch bằng vũ khí thô sơ. Trong trận đánh quân tiếp viện của quân địch từ Tây
Ninh đến ứng cứu cho quân lỵ Hóc Môn bị quân khởi nghĩa vây hãm, du kích đã bắn chết một tên
thực dân ác ôn cùng nhiều lích địch ở Cầu Bông. ở Mỹ Tho, các đội tự vệ cùng nhân dân phá tan bộ
máy chính quyền của địch ở 54 trong tổng số 57 xã thuộc hai huyện Châu Thành và Cai Lậy. ở
những xã này, các tổ chức Đảng và quân khởi nghĩa đã tịch thu các kho thóc của bọn địa chủ chia
cho dân nghèo. Cũng tại Mỹ Tho, lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng sau này trở thành lá cờ

của Mặt trận Việt Minh, quốc kỳ cứu nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam sau Đại thắng Mùa xuân năm 1975.
Trong ngày thành lập chính quyền đầu tiên của tỉnh, hai đội tự vệ gồm toàn đoàn viên và thanh
niên đã giơ tay xin thề dưới lá cờ đỏ sao vàng quyết chiến đấu bảo vệ chính quyền và cách mạng.
Tại Vĩnh Long, một đội du kích gồm 50 chiến sĩ rất trẻ dưới sự chỉ huy của đồng chí Hồng, một
chiến sĩ cách mạng 24 tuổi, Bí thư Quận uỷ Vũng Liêm đã đánh chiếm và làm chủ quận lỵ một số
ngày.
ở đảo Hòn Khoai, dưới sự chỉ huy của chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi Phan Ngọc Hiển, quân khởi nghĩa
hầu hết là đoàn viên, thanh niên đồng loạt tiến công tiêu diệt tên thực dân chủ đảo thu toàn bộ
điện đài, vũ khí và kéo cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm cùng tấm băng lớn mang dòng chữ: “Mặt
trận Dân tộc Thống nhất Phản đế muôn năm”. Quân khởi nghĩa dùng thuyền đã được chuẩn bị
trước thẳng tiến về đất liền.
Tuổi trẻ và nhân dân Rạch Gốc tập hợp đông đảo trên bến hân hoan đón mừng quân khởi nghĩa
chiến thắng cập bến lúc mặt trời vừa ửng đỏ.
Tuy nhiên, lúc này cuộc khởi nghĩa trên đất liền vừa bị địch dập tắt. Quân khởi nghĩa Hòn Khoai
phải đơn độc chiến đấu quyết liệt với kẻ thù đông gấp nhiều lần. Sau mười ngày cầm cự vô cùng
anh dũng, quân khởi nghĩa Hòn Khoai chẳng may lọt vào trận địa phục kích của địch.
Thực dân Pháp đã đàn áp cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ hết sức dã man. Gần 6000 người bị bắt và bị
giết, nhiều làng bị ném bom và đốt phá. Người nữ chỉ huy trẻ tuổi Nguyễn Thị Bảy đã làm cho
quân thù khiếp sợ và khâm phục. Chúng gọi chị là “Hoàng hậu đỏ”. Nhục hình, tra tấn dã man
không khuất phục được chị. Chị quát thẳng vào mặt kẻ thù: “Chúng bay chỉ có thể lấy máu của
người cộng sản chứ không thể lấy được một lời cung khai phản bội”.
Tháng 12 năm 1941, kẻ thù đã đưa các chiến sĩ trẻ tuổi tham gia khởi nghĩa ở Hòn Khoai gồm có
Phan Ngọc Hiển, Đỗ Văn Sến, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Cự, Đỗ Văn Biên, Ngô Văn Cẩn, Ngô
Kim Luân, Nguyễn Văn Đình… cùng hai đồng chí lãnh đạo của Đảng bộ Cà Mau là Quách Văn Phàn,
Lê Văn Khuyên ra hành quyết tại sân vận động thị xã.
Trước lúc hi sinh, các đồng chí đã đồng loạt hô to:
Đả đảo đế quốc Pháp!
Việt Nam độc lập muôn năm
Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!

Khởi nghĩa Nam Kỳ là một trong những trang chói lọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ
và nhân dân Việt Nam, là tiếng kèn xung trận vang vọng núi sông từ Nam ra Bắc dưới ngọn cờ
cách mạng.
Tháng 11/1940, Hội nghị lần thứ 7 Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh) có đồng chí
Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ... tham dự Hội nghị đã phân tích tình hình chiến
tranh thế giới lần thứ 2 và tác động của chiến tranh đối với Đông Dương. Hội nghị đã đi đến sự dự
đoán rất sáng suốt: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh
lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động
giành quyền tự do, độc lập”.
Bước sang năm 1941, tình hình thế giới và trong nước diễn biến ngày một khẩn trương và phức
tạp.
Từ khi quân đội Nhật vào Đông Dương, mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp ngày càng sâu sắc, tuy phải
tạm thời thoả hiệp với nhau nhưng cả hai đều tìm cách triển khai thế lực đợi thời cơ tiêu diệt nhau.
Nhân dân Đông Dương chịu cảnh “một cổ hai tròng”, dưới ách thống trị tàn bạo của Nhật – Pháp
nên ngày một bần cùng, đói khổ… do vậy, ngày càng nhanh chóng giác ngộ cách mạng.
Ngày 28/1/1941, Nguyễn ái Quốc, lãnh tụ của Đảng và dân tộc đã bí mật về nước ở vùng Pác Pó
để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.
Đây là một sự kiện hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta. Nguyễn
ái Quốc đã bắt tay vào việc xây dựng căn cứ địa, tổ chức đoàn thể Cứu quốc và chuẩn bị Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp tại Pác Bó (Cao Bằng) do đồng chí
Nguyễn ái Quốc, đại diện của Quốc tế Cộng sản triệu tập và chủ trì. Tham gia Hội nghị có các đồng
chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt…
Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc tình hình trong nước và thế giới, Hội nghị xác định: Cuộc
cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc, các lực lượng cách mạng của dân tộc cần
tập trung mũi nhọn vào bọn phát xít xâm lược Pháp – Nhật, bởi vì: “Trong lúc này, nếu không giải
quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì
chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp trâu ngựa, mà quyền lợi của bộ phận
giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại đựơc”.
Để tập hợp và động viên các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp, Hội nghị

quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt làViệt Minh) và các Hội Cứu quốc, trong
đó có Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.
Như vậy, Đoàn Thanh niên Cứu quốc (TNCQ) là một tổ chức của những thanh niên yêu nước có
nhiệm vụ tham gia vào cuộc đấu tranh của dân tộc, đánh Pháp đuổi Nhật. Đoàn TNCQ tiếp nối sự
nghiệp của các tổ chức thanh niên do Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn ái Quốc sáng lập, lãnh đạo trước
đó. Đoàn là hạt nhân đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng thanh niên vì sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc.
Từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến lúc trở về Tổ quốc, Nguyễn ái Quốc luôn quan tâm đến
việc đào tạo, bồi dưỡng những lớp thanh niên cách mạng.
Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 và tư tưởng của Người, công tác
vận động thanh niên đã có bước phát triển mới. Được các cấp uỷ Đảng quan tâm chỉ đạo, nhiều cơ
sở Đoàn và các Hội quần chúng của thanh niên được khôi phục và xây dựng. Ban Chấp hành
Huyện Đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên ở vùng núi được thành lập tại Hà Quảng do đồng chí
Đàm Minh Viễn làm Bí thư.
Cuối năm 1941, Ban Chấp hành Thành Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội được thành lập gồm 5
người trong đó có Nguyễn Lam, Nguyễn Khang… tạo ra sự chỉ đạo thống nhất trong phong trào
thanh niên. Thành Đoàn đã cho in lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc và truyền đơn của Mặt
trận Việt Minh phổ biến trong thành phố. Từ cuối năm 1942 trở đi, nhiều cơ sở Đoàn được xây
dựng ở nông thôn, nhất là ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn… Đội Nhi đồng Cứu quốc ra đời
ở Nà Mạ (Cao Bằng). Nhiều đội viên đã được già Thu tức Bác Hồ kính yêu chăm sóc, giáo dục và
một số đội viên đã giúp việc giao liên cho già Thu. Trong thời gian này, anh Kim Đồng là người đội
viên thiếu niên đầu tiên đã nêu cao tinh thần hi sinh anh dũng khi làm nhiệm vụ.
ở Nam Bộ, sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đế quốc Pháp đàn áp đẫm máu phong trào cách mạng,
nhưng cơ sở của Đoàn vẫn được duy trì. Khi có Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 8, nhiều cơ sở
mới lại được xây dựng tại các nhà máy, trường học, nhất là các vùng nông thôn. Tại một số địa
phương, hệ thống tổ chức của Đoàn Thanh niên Cứu quốc đã thống nhất đến huyện, có nơi đến
tỉnh.
Song song với công tác xây dựng và phát triển tổ chức, Đoàn đã tập hợp đông đảo các tầng lớp
thanh niên tham gia nhiều hình thức hoạt động văn hoá xã hội... động viên họ tích cực thực hiện
các nhiệm vụ của Mặt trận Việt Minh, đóng góp xứng đáng vào cao trào cứu nước.

ở Hà Nội, từ tháng 10 đến tháng 12/1941, đoàn viên và thanh niên đã có những hoạt động gây
ảnh hưởng sâu rộng theo lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc. Thành Đoàn tổ chức được một cơ
sở in bí mật đặt tại phố Hàng Nón. Theo thống kê của Sở mật thám Pháp, chỉ trong tháng 12/1941
có 13 vụ rải truyền đơn và treo cờ đỏ trong thành phố.
Hà Nội là trung tâm các trường đại học của cả Đông Dương nên công tác vận động sinh viên luôn
được chú trọng. Đoàn TNCQ tiếp nối truyền thống của Đoàn Thanh niên Phản đế với sứ mệnh lịch
sử mới là đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp thanh niên đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đoàn đã chú trọng đẩy mạnh công tác vận động giới học sinh, sinh viên bằng nhiều hình thức.
Được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, cuộc vận động hình thành Tổng Hội Sinh viên hoạt động công
khai chịu ảnh hưởng trực tiếp của Đảng được tiếp tục xúc tiến nhằm liên kết lực lượng sinh viên
yêu nước, có cảm tình với cách mạng ở các trường cao đẳng, đại học trong cả nước, đặc biệt là ở
Hà Nội. Các đồng chí lãnh đạo Đảng ta đã tiếp xúc trực tiếp với một số trí thức yêu nước có uy tín
và một số sinh viên có nhiệt tâm để hình thành nên một Ban Trị sự lâm thời của Tổng Hội do anh
Dương Đức Hiền làm Hội trưởng niên khoá 1941–1942. Anh Dương Đức Hiền đã đỗ Cử nhân luật
niên khoá trước đó. Trong Ban Trị sự còn có các sinh viên Đặng Ngọc Tốt, Phan Mỹ, Vũ Văn Cẩn,
Nguyễn Ngọc Minh vv… Ban Trị sự được sự tín nhiệm của đông đảo sinh viên, mặc dầu lúc này
ngoài sinh viên của ba miền Bắc, Trung, Nam còn có sinh viên Ai Lao, Cao Miên và cả sinh viên
Pháp.
Việc làm đầu tiên của Tổng Hội là xây dựng khối đoàn kết trong sinh viên, chống lại mọi âm mưu
chia rẽ của kẻ thù, khơi dậy lòng yêu nước, thương nòi của đông đảo sinh viên, đưa họ tham gia
vào các hoạt động hữu ích. Khẩu hiệu của Tổng Hội đưa ra là “Đoàn kết để phụng sự quốc gia, tin
tưởng vào tương lai đất nước, truyền lòng tin đến mọi người”.
Tổng Hội đã lập ra một Ban Vệ sinh và Ban Y học để giúp đồng bào hiểu biết về vệ sinh, phòng
bệnh, chữa bệnh chống lại các hiện tượng mê tín, dị đoan được bà con thôn xóm ngoại thành Hà
Nội và các tỉnh lân cận rất hoan nghênh. Ngoài ra Tổng Hội cũng lập một số ban cố vấn về luật để
giúp đồng bào mỗi khi có oan ức cần đấu tranh trong quan hệ với giai cấp thống trị… Giám đốc
Nha học chính Đông Dương đã cảm nhận thấy điều đó trong hoạt động của sinh viên nên ra lệnh
phải ghi vào bản Điều lệ của Tổng Hội câu đầu tiên là “Tổng Hội không được phép bàn cãi về chính
trị và tôn giáo”. Cuộc đấu tranh giữa những người lãnh đạo yêu nước của Tổng Hội và tên Giám
đốc (Tabule) đã diễn ra gay gắt nhưng ta kiên quyết không chịu ghi câu đó vào Điều lệ dù Tổng

Hội phải bị giải tán.
Từ năm học 1942 – 1943, anh Dương Đức Hiền được bầu làm Hội trưởng của Tổng Hội. Anh được
may mắn nhận ý kiến chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng ta, trong đó có
ý kiến của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh. Lúc này việc giáo dục tinh thần yêu nước, rèn luyện
phẩm chất, rèn luyện thân thể cho sinh viên được chú trọng. Lần đầu tiên, tại khu Đông Dương
học xá, Tổng Hội đã tổ chức trọng thể lễ giỗ Tổ Hùng Vương. Các sinh viên ở khắp ba miền Bắc,
Trung, Nam cùng nhau thắp nén hương trầm thơm ngát và uy nghiêm để hướng về với cội nguồn
của dân tộc, thề giữ tròn khí phách của giống nòi. Sau đó, cứ hàng tháng sinh viên các trường
thay nhau dùng xe đạp đi thăm các di tích Cổ Loa, Bạch Đằng, Kiếp Bạc, Đền Hùng… Nhiều cuộc
nói chuyện về “Trận Bạch Đằng” của sinh viên Đặng Ngọc Tốt, “Thanh niên và tiếng Việt” của sinh
viên Nguyễn Đình Thi vv… được tổ chức ở giảng đường đại học hoặc ở rạp Olympia Hà Nội (sau
này là nhà hát Hồng Hà) thu hút sự tham gia của đông đảo sinh viên.
Hoạt động của sinh viên còn được mở rộng bằng việc tổ chức các cuộc cắm trại dài ngày, mở đầu
là trại Bằng Trì ở Thanh Hoá (1941). Trái ngược với Sầm Sơn, nơi có nhiều nhà nghỉ của bọn thống
trị, Bằng Trì là nơi chỉ có mấy túp lều tranh giữa cỏ hoang, lau rậm… Anh chị em sinh viên chọn
nơi này để làm trại với ý thức rõ rệt nhằm rèn luyện tinh thần thể chất, do đó họ tự tay mình phát
cỏ, đắp nền… xây dựng nơi luyện tập thể dục thể thao và cùng tham gia cày cuốc với nông dân,
tìm hiểu đời sống của nông dân, cùng nhau trao đổi về cuộc sống ngày mai, tương lai của dân tộc.
Trại thứ hai được tổ chức ở Tương Mai (1942) ngoại thành Hà Nội. Lần này trại được tổ chức với
nhiều hoạt động phong phú hơn, thí dụ anh chị em góp tiền, góp sức tự tay mình xây được một
nhà đọc sách cho bà con địa phương. Tối đến lại tổ chức các buổi nói chuyện với nhà nông như
cách bón phân cho ruộng lúa, vệ sinh ở nông thôn… và tổ chức đêm diễn kịch, lửa trại.
Đặc biệt là trại Suối Lồ Ô (1943) do học sinh, sinh viên Sài Gòn học ở Hà Nội và một số tỉnh Nam
Kỳ tổ chức với quy mô lớn kéo dài hơn 1 tháng, có sự tham gia của nhiều trường trung học. Được
tin học sinh, sinh viên sẽ tổ chức trại, thực dân Pháp tìm mọi cách ngăn trở vì chúng sợ sức mạnh
bùng lên của thanh niên, học sinh và sinh viên Nam Bộ trong khí thế cách mạng chung của cả
nước đang dâng cao lúc này. Nhưng trước sự đấu tranh của ta với lời cảnh báo nếu không để sinh
viên tổ chức trại, Tổng Hội sẽ cử phái đoàn từ Hà Nội vào Sài Gòn cùng sinh viên biểu tình phản
đối. Trước sức ép đó, bọn thực dân buộc phải nhượng bộ. Tại trại Suối Lồ Ô đã diễn ra những đêm
lửa trại, những ngày họp mặt, một số vở kịch lịch sử được công diễn, đặc biệt là nhiều bài hát mới

do nhạc sĩ sinh viên Lưu Hữu Phước sáng tác như Suối Lồ Ô, Khải hoàn ca… được phổ biến rộng
rãi. Phát huy kết quả của trại Suối Lồ Ô, trong năm 1943, Tổng Hội còn có sáng kiến tổ chức một
số trại luân chuyển với phạm vi nhỏ hơn ở miền Đông Nam Kỳ và Trung Kỳ.
Có thể nói để cổ vũ lòng yêu nước trong học sinh, sinh viên vào những năm đầu của thập kỷ 40
(thế kỷ XX) Đảng ta đã chỉ đạo tổ chức Đoàn dùng nhiều hình thức hoạt động văn hoá, văn nghệ,
báo chí, coi đó là con đường tuyên truyền, giáo dục sinh động dễ đi vào tình cảm của lớp trẻ có
học thức. Nhóm Đồng vọng do nhạc sĩ Hoàng Quý (quê Hải Phòng) ra đời được học sinh, sinh viên
hưởng ứng đông đảo. Nhóm Tráng ca gồm những bài hát lịch sử nổi tiếng do Lưu Hữu Phước –
nhạc sĩ sinh viên tài năng mãi mãi ghi lại dấu ấn trong lòng học sinh, sinh viên như Bạch Đằng
Giang, Đi hội Đền Hùng, Hận sông Gianh, ải Chi Lăng, Ta cùng đi, Người xưa đâu xá, Xếp bút
nghiên, Lên đàng, Việt nữ gọi đàn, nhất là bài ca Sinh viên hành khúc (Sau này tác giả thay tên là
Tiếng gọi thanh niên)… đều là những ca khúc hùng tráng lay động lòng người, thúc giục học sinh,
sinh viên đứng lên cứu nước. Lưu Hữu Phước cùng với các sinh viên Nam Bộ khác như Đặng Ngọc
Tốt, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, TrầnVăn Khuê, Diệp Minh Châu…đã thể hiện tinh thần yêu
nước sâu sắc của mình qua nhiều hoạt động sôi nổi về nhạc, kịch, thơ. Các vở kịch Đêm Lạng Sơn,
Nửa đêm truyền hịch, đặc biệt là vở kịch Hội nghị Diên Hồng của Huỳnh Văn Tiểng có tiếng vang
lớn. Trong một lần công diễn trước đông đảo người xem là học sinh, sinh viên và đại diện các giới
đồng bào Hà Nội, khi các nhân vật trên sân khấu quay về khán giả hỏi: “Trước nhục nước nên hoà
hay nên chiến?”, liền đó là những tiếng hô rầm trời “Chiến”. Bọn thực dân và phong kiến hết sức
hoảng sợ trước khí thế này, chúng tung ra hàng trăm tên mật vụ, chỉ điểm theo dõi, đe doạ và bắt
bớ những người đứng đầu.
Cùng với sự phát triển của phong trào sinh viên, phong trào học sinh các trường trung học ngoài
Bắc, trong Nam cũng phát triển ngày càng mạnh bởi ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chung do Mặt
trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc hướng dẫn. ở trường Bưởi (Chu Văn An), nơi đã hình
thành nên lớp học sinh yêu nước đầu tiên mà tiêu biểu là Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh
Đình Cửu…, những học sinh về sau đã tham gia thành lập chi bộ Đảng, nay như đang tiếp thêm
sức mạnh mới cho lớp theo sau. Đó là thế hệ các anh Võ Duy Tường tức Vũ Oanh (sau này là Uỷ
viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng), Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Viết Triết, Lê Đức Bình, Nguyễn
Ngọc Giám, Cao Ngọc Liễn, Lê Quân, Vũ Mai tức Vũ Quang (sau này là Uỷ viên Trung ương Đảng,
Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn trong nhiều năm)… đã bắt liên lạc với cán bộ của Thành uỷ Hà

Nội lập lên một tổ chức học sinh yêu nước mang tên Đội Ngô Quyền do đồng chí Vũ Oanh làm đội
trưởng. Khi gia nhập đội, tất cả học sinh đều phải làm lễ tuyên thệ trước tổ chức, thề trung thành
với Đội, với cách mạng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, rèn luyện thân thể, sinh hoạt lành mạnh. Đội
Ngô Quyền đã rải truyền đơn của Mặt trận Việt Minh, tuyên truyền Điều lệ và Chính sách của Mặt
trận, kêu gọi những ai yêu nước thương nòi đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc. Dưới sự chỉ
đạo của Thành uỷ Hà Nội, Đội Ngô Quyền đã phát triển sang các trường khác như trường Văn
Lang, Thăng Long, Đồng Khánh…, nhiều đội viên trở thành đoàn viên TNCQ và được giác ngộ trở
thành đảng viên Đảng Cộng sản.
Vào thời điểm này, tại trường Trương Vĩnh Ký (Sài Gòn), được tác động của ta, một Câu lạc bộ Học
sinh ra đời do anh Huỳnh Văn Tiểng đứng đầu. Sau khi anh Tiểng ra Hà Nội học đại học, câu lạc bộ
này chuyển thành tổ chức tham quan du lịch mà mục đích hoạt động là tìm về cội nguồn dân tộc
do anh Trịnh Đình ánh làm đoàn trưởng và hai đoàn phó là Nguyễn Văn ảnh và Võ Thế Quang.
Hoạt động này phát triển sang nhiều trường khác ở Sài Gòn và các địa phương khác như Biên Hoà,
Mỹ Tho, Cần Thơ…
Hầu hết các tỉnh ở Nam Kỳ, dưới hình thức này hay hình thức khác, phong trào học sinh được thức
tỉnh bởi cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa đã tự đứng lên tập hợp nhau lại lập ra Đoàn học sinh mang tên
các anh hùng dân tộc, đặc biệt có Đoàn học sinh mang tên Đoàn Hùng Vương để nhớ về cội nguồn
của dân tộc. Anh chị em chuyền tay nhau những bài thơ, bản nhạc yêu nước, đặc biệt số học sinh
sau khi được dự trại Suối Lồ Ô về trở thành lực lượng nòng cốt tổ chức, tập hợp học sinh các
trường ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh. Hoạt động chính là khơi dậy lòng yêu nước bằng các cuộc
đi thăm thắng cảnh, tổ chức cắm trại, hát những bài ca yêu nước của Lưu Hữu Phước, như Việt
Nam bất diệt, Khải hoàn ca, Việt nữ gọi đàn, Thiếu sinh Lạc Hồng v.v... Từ những sinh hoạt tập
thể này về sau phát triển thành những hoạt động mang tính tổ chức rõ rệt như thành lập các ban
đại diện, ban văn hoá, ban kịch, ban du lịch… hoặc các câu lạc bộ ở từng trường mà mục tiêu là hô
hào học sinh tẩy chay các hoạt động thể dục, thể thao do tên Đuycuaroay - tay sai của bọn thống
trị đứng ra tổ chức để lôi kéo, chia rẽ học sinh, sinh viên và các tầng lớp thanh niên ta đang hướng
về cách mạng. Hắn đã cho tay chân đến liên hệ với các ban đại diện nêu trên để kêu gọi hợp tác,
nhưng anh chị em hoặc lờ đi, hoặc tẩy chay ra mặt.
Năm 1941, lớp học sinh tốt nghiệp tú tài toàn phần khá đông ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ ra Bắc
học Đại học Đông Dương. Một số anh được cử vào Ban Trị sự của Tổng Hội. Để tuyên truyền, cổ vũ

tinh thần yêu nước, tình đoàn kết chặt chẽ giữa sinh viên và các miền của đất nước, Tổng Hội lúc
này vẫn do anh Dương Đức Hiền làm Hội trưởng đã chủ trương xuất bản một tờ báo lấy tên là Khối
đoàn kết (Le Monôme). Chủ bút là anh Mai Văn Bộ, một sinh viên đầy tâm huyết từ Sài Gòn ra
(sau này là cán bộ cao cấp của Nhà nước ta). Tôn chỉ, mục đích của tờ báo là thúc đẩy sự tu
dưỡng phẩm chất của người tri thức trẻ, thúc đẩy tình đoàn kết trong lực lượng sinh viên, xây
dựng nền nếp học tập. Ruột báo và bìa do sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật trình bày khá đẹp,
trong đó có sự đóng góp hết sức tích cực của anh Diệp Minh Châu cũng là một sinh viên đầy tài
năng từ Nam ra. Tiếp theo sau sự ra đời của tờ báo là việc hình thành các nhóm chuyên ngành
trong Tổng Hội, thí dụ nhóm Văn học đứng đầu là Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Xuân
Sanh… nhóm Tân nhạc là Lưu Hữu Phước, Trần Văn Khê… ở Sài Gòn có nhóm Văn học của những
sinh viên yêu nước học ở Pháp về như nhóm Văn học Văn Lang của Phạm Ngọc Thạch, hay nhóm
Văn học Phan Thanh Giản của Ca Văn Thỉnh vv… Báo Khối đoàn kết của Tổng Hội được phát hành
ở Hà Nội và Sài Gòn. Do yêu cầu của học sinh, sinh viên ngày càng nhiều, Tổng Hội hình thành
Nhà xuất bản Hoàng Mai Lưu để có điều kiện phát hành rộng rãi cả báo và các sáng tác nhạc kịch.
Nhà xuất bản Hoàng Mai Lưu đã xuất bản các vở kịch Hội nghị Diên Hồng, Đêm Lam Sơn, Nợ Mê
Linh, Con thỏ ngọc,… của Huỳnh Văn Tiểng và gần như hầu hết các sáng tác nhạc của Lưu Hữu
Phước.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, Tổng Hội Sinh viên do anh Nguyễn Ngọc Minh tiếp tục
làm Hội trưởng, anh Dương Đức Hiền (từ năm 1944) đã đảm nhiệm nhiệm vụ quan trọng khác của
Đảng trao cho. Tổng Hội vẫn thấy cần thiết phải tiếp tục xuất bản một tờ báo của sinh viên trong
tình hình đất nước đang sôi sục. Tờ tuần báo Tự trị ra đời. Phụ trách tờ Tự trị có các anh Hà Văn
Lộc (tức Thép Mới), Nguyễn Sĩ Quốc, Lê Bá Huấn, Xuân Diệu, Huy Cận, Lê Khánh Cận, Nguyễn
Xuân Sanh. Tổng Hội cử Lê Văn Giạng làm Chủ nhiệm, Nguyễn Xuân Sanh làm chủ bút. Báo Tự trị
ghi rõ mục đích, tôn chỉ của mình ngay trên trang bìa là "Cơ quan truyền bá tư tưởng của Tổng Hội
Sinh viên Việt Nam", đồng thời đóng khung 8 chữ: “Phụng sự Tổ quốc Việt Nam độc lập”. Bài xã
luận của báo số ra ngày 24/4/1945 có đoạn chỉ rõ: “Có độc lập thì mới sinh tồn được, có độc lập
thì mới tiến hoá được. Nghĩ lại 80 năm nô lệ ta sẽ hiểu cái thảm của cảnh vong nô”. Do báo có
nhiều bài cổ vũ sinh viên vùng lên trên cơ sở quán triệt đường lối chuẩn bị tổng khởi nghĩa của
Đảng ta nên phát xít Nhật đã cho hiến binh tấn công đập phá toà soạn, lấy đi nhiều tài liệu vào
đêm 20/6/1945 tại số nhà 32 Lê Đại Hành. Từ thời điểm ấy, phát xít Nhật đã chiếm đóng luôn toà

soạn của báo Khối đoàn kết và Tự trị là hai tờ báo của Tổng Hội Sinh viên ra đời trước Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 dưới ảnh hưởng trực tiếp của Đảng Cộng sản. Tự trị là tờ báo bằng tiếng
Việt đầu tiên của Tổng Hội. Tự trị đã quảng bá bài hành khúc nổi tiếng của Lưu Hữu Phước, bài
Tiếng gọi sinh viên bằng lời Việt:
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi, ta nguyện đem hết lòng
Tiến lên, đồng tiến, vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
Tháng 2/1943, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận định tình hình cách mạng Việt Nam
có bước phát triển mới. Tổ chức của Đảng và của Mặt trận Việt Minh đã bắt rễ vào quần chúng.
Trên cơ sở nhận định đó, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã tiếp xúc với một số anh em chủ trì
trong Tổng Hội Sinh viên như Dương Đức Hiền, Đặng Ngọc Tốt, Vũ Đình Hoè, Nguyễn Xuân Sanh,
Phan Mỹ… để chỉ đạo việc phát triển phong trào sinh viên. Đồng chí hoan nghênh những hoạt động
của Tổng Hội, đánh giá cao những đóng góp của các anh Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng… và
các anh khác về những sáng tác yêu nước được truyền bá trong thanh niên, học sinh, sinh viên để
khơi dậy tinh thần quật cường của tuổi trẻ. Đồng chí Tổng Bí thư đặt ra yêu cầu phải mở rộng mặt
trận đoàn kết, chống âm mưu chia rẽ của giặc và chuẩn bị cùng toàn dân đứng lên cứu nước, cứu
nhà khi thời cơ đến. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Tổng Hội Sinh viên tiếp tục
tổ chức nhiều hoạt động để lôi kéo sinh viên như cuộc hành hương lần thứ ba lên đền Hùng, tổ
chức các trại sinh viên luân phiên, đẩy mạnh các hoạt động văn nghệ như diễn kịch, đêm nhạc
sinh viên….
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng năm 1943 “Phái người vào các đoàn
Hướng đạo mà hoạt động”, Tổng Hội Sinh viên đã vận động nhiều hướng đạo sinh tẩy chay các
hoạt động thể thao do tên thực dân Đuycuaroay lôi kéo mà hăng hái tham gia các hoạt động của
Tổng Hội.
Sau đó những cuộc vận động yêu nước được nâng lên thành phong trào đấu tranh đòi giải phóng
dân tộc theo lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh, từ cuối năm 1943 và những tháng đầu năm 1944
nổ ra cuộc vận động “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”. Đồng thời với nhiều hoạt động tuyên
truyền, phổ biến, bản Đề cương văn hoá Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo trong
sinh viên và giới trí thức đã góp phần vào việc tập trung lực lượng.

Phong trào “Xếp bút nghiên” được khởi phát từ các nhóm sinh viên Nam Kỳ ra Hà Nội học như Mai
Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, rồi lôi cuốn các sinh viên miền Trung, miền Bắc bỏ
trường về quê bí mật tìm bắt liên lạc với cán bộ Việt Minh. Họ tổ chức thành từng nhóm, dùng xe
đạp toả về các ngả đường. Các nhóm sinh viên Nam Kỳ rong đuổi trên đường số 1, dừng chân lại
nơi nào là họ tổ chức ca hát… các bài hát Xếp bút nghiên, Lên đàng, Quốc dân hành khúc… vang
lên trong cuộc hành trình gian lao nhưng đầy hăng hái, quyết tâm. Đây là phong trào rất đặc trưng
của sinh viên Việt Nam thời tiền khởi nghĩa.
Sau khi phát xít Nhật hất cẳng thực dân Pháp độc chiếm Đông Dương, phong trào yêu nước của
học sinh, sinh viên tham gia vào các đội tuyên truyền xung phong, đội danh dự làm công tác trấn
áp bọn mật thám, chỉ điểm, diệt ác ôn diễn ra ngay trên đường phố. Nhiều cuộc mít tinh lớn được
tổ chức ở ngoại thành Hà Nội thu hút nhiều học sinh, sinh viên nội thành tham gia. Anh chị em
công khai lên diễn đàn kêu gọi học sinh, sinh viên tham gia thanh niên cứu quốc, tham gia tự vệ…
sẵn sàng đứng lên đánh đổ phát xít và phong kiến giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Từ năm 1942, 1943 tình hình trong cả nước diễn biến nhanh chóng. Tổ chức Đoàn, các Hội quần
chúng của thanh niên cũng như các đoàn thể khác dưới sự lãnh đạo của Đảng được củng cố và
phát triển nhanh chóng.
Tại nhiều vùng nông thôn, các cuộc đấu tranh chống thu mua thóc tạ, chống phá lúa trồng đay,
trồng thầu dầu, đòi chia lại công điền của nông dân diễn ra quyết liệt dưới hình thức biểu tình có
tính chất nửa vũ trang đánh trả lính Nhật quấy nhiễu, diệt trừ Việt gian… ở Thái Bình, thanh niên
và quần chúng nông thôn Tiền Hải đấu tranh đòi chia lại công điền. ở Phúc Yên, thanh niên và
nông dân đấu tranh phản đối việc trưng mua lạc, thầu dầu… ở làng Cam (Gia Lâm, Hà Nội), thanh
niên cùng nông dân giữ bãi không cho Nhật phá ngô trồng đay. ở Gia Định, Hậu Giang, các đoàn
viên Thanh niên Cứu quốc đã tuyên truyền Điều lệ và Chương trình của Mặt trận Việt Minh đến tận
ấp xã…
Phong trào của công nhân đã lôi cuối và thu hút đông đảo thanh niên công nhân tham gia. Tháng
2/1942 công nhân mỏ than Hòn Gai đình công. Ngày 1/5/1942 công nhân xe lửa Gia Lâm mít tinh
chống chủ nghĩa phát xít mở rộng chiến tranh. Tháng 7/1942 thợ máy sân bay Gia Lâm vây bàn
giấy võ quan Nhật, phản đối lính Nhật đánh đập công nhân. Từ tháng 5/1942 đến tháng 6/1943 ở
Nam Bộ có 24 cuộc đấu tranh của công nhân đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi bán gạo, vải, diêm,
xà phòng theo giá quy định.

Qua cuộc đấu tranh này, tổ chức Đoàn ngày càng được củng cố và phát triển trong thanh niên.
Hoảng sợ trước phong trào đấu tranh của thanh niên và nhân dân ta, bọn Pháp – Nhật một mặt
thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào, mặt khác chúng đưa ra nhiều thủ đoạn lừa bịp để tranh
thủ và lôi kéo thanh niên.
Lúc này, phát xít Nhật tích cực rêu rao thuyết “Đại Đông á”, “Khối thịnh vượng chung”… Chúng lập
ra các tổ chức “Việt Nam Thanh niên ái quốc”, “Thanh niên Hưng quốc đoàn”… Bù nhìn Pêtanh ở
Pháp tung ra những khẩu hiệu “Cần lao – Gia đình – Tổ quốc”, “Pháp – Việt phục hưng”vv…
Bọn thống trị Pháp còn tổ chức rầm rộ phong trào thể thao “Khoẻ để phụng sự”. Chúng giao cho
tên sĩ quan tình báo Đuycuaroay tổ chức những cuộc đua xe đạp, thi bơi lội, đấu quyền Anh, thi
sắc đẹp để lôi cuốn thanh niên làm cho họ lạc hướng đấu tranh cách mạng. Thực dân Pháp còn lập
“Hội Thanh niên Công giáo”, “Tổng Hội Sinh viên Đông Dương”, xuất bản các sách xem bói, xem
tướng, sách kiếm hiệp, trinh thám, khuyến khích đồi phong bại tục, mê tín dị đoan.
Nhằm chống lại những âm mưu, thủ đoạn của địch đầu độc thanh niên về tư tưởng, phá hoại
thanh niên về tổ chức, cuối tháng 2-1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ thị cho các cấp uỷ

×