Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ cơ hội và THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN KINH tế đối NGOẠI ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (183.15 KB, 19 trang )

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT NAM

Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra rất nhiều cơ hội đối với cả Nhà nước,
Doanh nghiệp và người tiêu dùng. Điều này đang thu hút sự quan tâm ngày
càng lớn của các nhà hoạch định chính sách, các nhà phân tích kinh tế cũng
như của tất cả mọi doanh nghiệp. Đồng thời, đi cùng với cơ hội là những
thách thức- làm sao để tận dụng được những cơ hội đó? Đối với nền kinh tế
Việt Nam cũng vậy, tham gia vào tiến trình hội nhập với nền kinh tế toàn cầu
đang mở ra những cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển, đồng thời tiến
trình này cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ cần được nhận thức
rõ để từ đó đề ra các giải pháp, hướng đi đúng đắn nhằm tận dụng được đến
mức tối đa những cơ hội do hội nhập mang lại và giảm đến mức tối thiểu
những khó khăn, bất lợi có thể có trên con đường phát triển của mình.
1. Những cơ hội

Trong việc phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, những thành tựu
to lớn và rất quan trọng của 25 năm đổi mới vừa qua đã làm cho thế và lực
của nước ta lớn mạnh lên rất nhiều. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế
được tăng cường đáng kể. Đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên,
lao động. Nhân dân ta có truyền thống tốt đẹp, cần cù, thông minh và sáng
tạo trong lao động. Tình hình chính trị, xã hội ổn định. Môi trường hoà bình,
sự hợp tác liên kết, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển
tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh
thủ ngoại lực nguồn vốn công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý mở rộng thị
trường, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hơn nữa,
Việt Nam là một nước đi sau có điều kiện tiếp thu kinh nghiệm về buôn bán,
quản lý sản xuất kinh doanh và điều hành nền kinh tế.

1



Thứ nhất: Trong hoạt động thu hút vốn đầu tư và công nghệ nước
ngoài
Trong quá trình toàn cầu hoá các dòng hàng hoá được lưu thông tự do
hơn sẽ kéo theo nó sự vận động của các dòng vốn và công nghệ. Xu hướng
của sự vận động là đi từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ chỗ sinh lợi ít đến chỗ
sinh lợi nhiều hơn...Hiện nay ở các nước phát triển những nguồn vốn thừa,
bão hoà, những công nghệ mới không còn nơi sinh lợi cao, những công nghệ
cũ không có chỗ sử dụng đang xuất hiện ngày càng nhiều. Cho nên những
nguồn vốn và công nghệ này tất yếu sẽ được chảy tới những nơi sinh lợi
nhiều hơn. Trước những năm 90, do chính sách đóng cửa bảo hộ chặt chẽ
của các nước đang phát triển, nên các dòng vốn và công nghệ này chỉ giao
lưu chủ yếu giữa các nước phát triển với nhau. Từ sau năm 1990 khi chiến
tranh lạnh kết thúc, nhiều nước đang phát triển đã chuyển sang kinh tế thị
trường, mở cửa tham gia hội nhập, do vậy các dòng vốn và công nghệ này
đang ngày càng chảy vào các nước đang phát triển nhiều hơn. Đây là một
thời cơ lớn cho các nước đang phát triển, vì các nước đang phát triển là
những thị trường mở, có sức lao động, tài nguyên rẻ...nên có thể sử dụng
những nguồn vốn và công nghệ đó có hiệu quả hơn. Nửa sau những năm
1990, hàng năm đã có hàng trăm tỷ USD đổ vào các nước đang phát triển.
Có nước như Trung Quốc từ năm 1996 trở lại đây mỗi năm đã thu hút hơn
50 tỷ USD, trở thành một trong những nước hàng đầu trên thế giới trong
việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Rõ ràng là hội nhập mang lại cho các nước kém phát triển cơ hội
trong việc tiếp nhận vốn, công nghệ. Nhưng những nước nào không tạo ra
được một môi trường đầu tư có khả năng sinh lời hấp dẫn và bền vững thì
các dòng vốn và công nghệ mới sẽ không vào hoặc nếu có vào thì sau một

2



thời gian gặp chấn động chúng sẽ tự rút chạy. Sự tháo chạy của các dòng
vốn ra khỏi một số nước châu Á là một ví dụ.
Cùng với việc thu hút đầu tư nước ngoài vào nước ta là công nghệ
mới. Việc tiếp nhận công nghệ mới này góp phần quan trọng nâng cao hiệu
quả sản xuất và sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam.
Đi theo dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) vào nước ta là các công nghệ
mới. Các công nghệ này có thể là cũ và không có hiệu quả ở Mỹ, Nhật Bản
và ở các nước Tây Âu nhưng lại là mới và có hiệu quả ở Việt nam. Nếu nước
ta không hội nhập quốc tế, nước ta vẫn có thể vay vốn nhập công nghệ mới
cho sản xuất hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Tuy nhiên, do khả năng tiếp cận thị trường bên ngoài của Việt Nam
còn hạn chế, việc vay vốn và nhập khẩu công nghệ mới cũng không dễ dàng.
Đặc biệt khả năng quản lý kinh doanh của ta lại kém, nên mô hình này tuy
đã thành công ở Hàn Quốc, Đài Loan nhưng không dễ thành công ở nước ta.
Con đường thích hợp với Việt Nam trong điều kiện hiện nay vẫn là
chủ động hội nhập quốc tế để khai thông thị trường trong nước với khu vực
và thế giới, tạo ra môi trường đầu tư có hiệu quả và có sức hấp dẫn. Do vậy
các công nghệ mới có thể du nhập vào nước ta và được sử dụng một cách có
hiệu quả nhất.
Trong các dòng vốn du nhập vào nước ta, dòng vốn FDI có khả năng
đem theo các công nghệ mới vào nước ta và sử dụng chúng có hiệu quả hơn
cả. Điều này là hiển nhiên, vì không ai bỏ tiền ra lại không có mục đích sinh
lời. Đặc biệt là nó hoàn toàn đúng với những chủ đầu tư nước ngoài. Lý do
là các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam hiện đang nắm giữ
tới 90% công nghệ thế giới và có mạng lưới chi nhánh trên khắp thế giới.
Chúng có khả năng di chuyển công nghệ từ nước kém lợi thế cạnh tranh hơn

3



sang một nước khác. Nhờ đó các công nghệ được khai thác hiệu quả hơn.
Hội nhập sẽ khai thác được dòng di chuyển công nghệ này.
Thứ hai: Đối với thương mại quốc tế
Một là, mở rộng thị trường
Cùng với quá trình hội nhập quốc tế phát triển, hàng rào bảo hộ mậu
dịch ngày càng giảm, quan hệ buôn bán giữa các quốc gia ngày càng được
tăng cường, do vậy mà thị trường thế giới cũng ngày càng được mở rộng.
Các Hiệp định thương mại song phương, đa phương sẽ cho phép thị trường
của một nước được khai thông với tất cả các nước đối tác. Chẳng hạn, khi
Việt Nam thực hiện đúng các cam kết của AFTA, từ năm 2006, thị trường
các hàng công nghiệp chế biến Việt Nam đã được khai thông tới tất cả các
nước ASEAN. Khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, thì
sau khoảng 5-10 năm, thị trường của hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam sẽ
được khai thông với 150 nước thành viên WTO. Đây là một cơ hội rất lớn
với các nước tham gia hội nhập quốc tế.
Tất nhiên đây cũng là một nguy cơ đối với các nước không tham gia
hay tham gia hội nhập quốc tế một cách hạn chế. Bởi thị trường của các
nước này không có khả năng mở rộng ra bên ngoài, nên các lợi thế so sánh
này không tăng lên và bị đẩy vào những điểm kẹt của thị trường thế giới,
nghĩa là ở những điểm mà lợi thế so sánh về kinh tế của quốc gia chỉ có
giảm dần.
Một khi thị trường bên ngoài của một quốc gia ngày càng rộng mở, thì
sức ép từ thị trường bên ngoài cũng ngày càng mạnh trên nhiều phương
diện. Trước hết là cạnh tranh toàn cầu sẽ rất gay gắt, buộc tất cả các công ty
trong nước phải phấn đấu dữ dội để tồn tại và phát triển. Đây là một thách
thức, vì nếu các quốc gia tham gia hội nhập không có các chính sách đúng,
các công ty kinh doanh trong nước không chịu phấn đấu vươn lên, thì tình
4



trạng phá sản các công ty dẫn tới thất nghiệp gia tăng, gây bất ổn định xã hội
là điều khó tránh khỏi. Thứ hai, sức ép của thị trường toàn cầu sẽ tác động
đến thể chế kinh tế, xã hội của các quốc gia, buộc các thể chế này phải thích
ứng với thể chế thị trường toàn cầu. Đây cũng là một cơ hội để các quốc gia
có thể hoàn thiện thể chế thị trường của mình. Nhưng đồng thời cũng là một
thách thức vì nếu các thể chế quốc gia không hoàn thiện thích ứng với cơ
chế thị trường toàn cầu, thì môi trường kinh doanh sẽ bị giảm lợi thế so
sánh, kém hiệu quả, gây thua thiệt cho các nhà kinh doanh.
Hai là, Khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử trong thương
mại quốc tế.
+ Khắc phục được tình trạng phân biệt đối xử tạo dựng được thế và
lực trong thương mại quốc tế.
Nhìn chung, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực sẽ khắc
phục được tình trạng bị các cường quốc lớn phân biệt đối xử, nâng cao vị thế
của ta trên trường quốc tế. Đặc biệt tiến trình này sẽ tạo cơ hội cho các nước
nhỏ, nước chậm phát triển có cơ hội đối thoại chính sách với các nước phát
triển hơn, hoặc phối hợp quan điểm với các nước khác trên các diễn đàn
quốc tế nhằm giải tỏa các rào cản thương mại hạn chế tác động của chính
sách phân biệt đối xử của một số nước.
+ Được thừa hưởng những ưu đãi thương mại, mở đường cho thương
mại phát triển
Tham gia các khu vực mậu dịch tự do và thực hiện tự do hóa thương
mại trong khuôn khổ theo WTO là điều kiện cần để các nước tranh thủ
những ưu đãi về thương mại đầu tư và các lĩnh vực khác được áp dụng trong
nội bộ mỗi tổ chức, góp phần mở rộng thị trường và phát triển sản xuất trong
nước. Đặc biệt trong WTO cũng như đại đa số các tổ chức khu vực khác đều
có các chính sách ưu đãi đối với các nước đang phát triển và các nước trong
5



thời kỳ chuyển đổi, cho phép các nước này được hưởng các miễn trừ, ân hạn
trong việc thực hiện các nghĩa vụ giảm thuế, phi thuế và các nghĩa vụ khác.
Thứ ba: Đối với sản xuất
Một là, Cơ cấu lại sản xuất trong nước theo hướng có hiệu quả hơn
Hội nhập - tham gia tiến trình tự do hóa thương mại, thực hiện giảm
thuế và mở cửa thị trường sẽ tạo sự cạnh tranh trên thị trường nội địa, buộc
các ngành sản xuất phải cơ cấu lại theo hướng phù hợp nhất với xu hướng
thế giới, nâng cao hiệu quả kinh doanh và sản xuất những sản phẩm được thị
trường thế giới chấp nhận. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với những
nền kinh tế đang trong quá trình công nghiệp hóa như Việt Nam. Tự do hóa
thương mại cũng tạo điều kiện cho các ngành sản xuất có cơ hội lựa chọn
nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào phù hợp. Cuối cùng, người tiêu dùng
trong nước cũng sẽ có lợi hơn do có nhiều sự lựa chọn hơn đối với hàng hóa
trên thị trường nội địa.
Hai là, Góp phần nâng cao năng lực quản lý và sản xuất
Một trong những ưu điểm của việc tham gia hội nhập vào các tổ chức
khu vực và quốc tế đối với các nước đang phát triển là các tổ chức này
thường có các chương trình hợp tác kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực
quản lý và sản xuất cho các nước thành viên. Ví dụ ASEAN có các chương
trình hợp tác về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển cơ sở hạ tầng,
hợp tác phát triển xã hội. APEC có chương trình Hợp tác Kinh tế kỹ thuật
(ECOTECH) bao trùm 9 lĩnh vực hợp tác cụ thể với trên 350 dự án đang
triển khai. Những chương trình này đã tạo điều kiện cho các nước tham gia
phát triển bồi dưỡng nguồn nhân lực và tiếp cận với các công nghệ mới
trong các lĩnh vực sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh của nền kinh
tế.

6



Việt Nam là một nước đang phát triển, trình độ kinh tế còn rất thấp so
với nhiều nước trên thế giới và khu vực, các yếu tố của nền kinh tế chưa
phát triển, chưa được tạo lập đồng bộ, và còn nhiều khiếm khuyết. Để hội
nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia vào luật chơi chung cùng với các
nước trong phạm vi WTO với thương mại đa biên đã trải qua hơn 60 năm
phát triển mà trong đó hầu hết các nước thành viên đã có 20-30 năm kinh
nghiệm xây dựng hệ thống pháp lý, chính sách thương mại của mình cho
phù hợp với các điều luật quốc tế thì Việt Nam sẽ phải vượt qua những thách
thức vô cùng to lớn. Hội nhập sẽ đem lại những cơ hội và có kinh nghiệm để
giải quyết những vấn đề trên đây.
Ngoài ra thông qua Hội nhập quốc tế, chúng ta có điều kiện tăng
cường thu hút vốn đầu tư, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài.
Đây sẽ là cơ hội rất tốt cho các doanh nghiệp, người lao động trong nước
tiếp thu học hỏi kinh nghiệm của họ, từng bước nâng cao năng lực quản lý,
sản xuất cho chính mình.
2. Những thách thức

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khảng định, trong tình hình thế giới hiện nay đất nước ta phải đối mặt với
nhiều thời cơ và thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng nêu lên (tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII) đối với sự phát triển của đất nước là:
tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới,
chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến
hoà bình” do các thế lực thù địch gây ra. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX Đảng vẫn tiếp tục khẳng định, đến nay cả bốn nguy cơ ấy vẫn còn tồn
tại và diễn biến phức tạp, đan xen tác động lẫn nhau và không thể xem nhẹ
một nguy cơ nào. Đại hội lần thứ X của Đảng, Đảng tiếp tục chỉ ra nước ta
đang đứng trước những thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và


7


diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào. Nguy cơ tụt
hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn
tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí
trong bộ phận cán bộ đảng viên vẫn diễn ra nghiêm trọng chưa được ngăn
chặn có hiêu quả. Các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện âm mưu “diễn
biến hoà bình” 1. Bởi vậy, việc nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, khắc
phục nguy cơ để phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong thời kỳ mới đó
là nhiệm vụ trọng đại, có ý nghĩa sống còn với Đảng ta và nhân dân ta.
Như đã khẳng định, thách thức lớn nhất của nước ta là nền kinh tế
đang ở tình trạng thấp kém, khoảng cách về trình độ phát triển giữa nước ta
với nhiều nước trên thế giới còn chênh lệch rất lớn, đất nước đi lên trong
điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và quyết liệt.
Theo tính toán của IMF và các tổ chức quốc tế khác thì muốn tăng
trưởng kinh tế 1% thương mại phải tăng 2,4%. Theo tỷ lệ đó với mục tiêu
tăng trưởng kinh tế Việt Nam là 7,5 - 8%/năm thì nhịp độ tăng trưởng
thương mại phải đạt khoảng từ 18 - 19%/năm. Như vậy, tổng khối lượng
hàng hoá thị trường tiêu thụ ở cả 3 kênh (xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng
trong nước) sẽ phải tăng từ 433.000 tỷ đồng năm 1999 lên khoảng 510.000 516.000 tỷ đồng mỗi năm từ nay đến năm 2020. Đó thực sự là một nhiệm vụ
nặng nề đối với lĩnh vực thương mại vì mấy lý do sau :
Thứ nhất, theo dự báo của các tổ chức quốc tế, cùng với sự suy giảm
khá mạnh nhịp độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu vào những năm đầu của thế
kỷ XXI, thương mại thế giới còn giảm mạnh từ 10% - 12,4% xuống còn
7,9% đến 9% xuất khẩu cũng giảm từ 8,8% đến 10% xuống còn 6% đến
7,1%.

1


Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng CSVN lần thứ X, NXB CTQG, H. 2006, tr. 22.

8


Thứ hai, ở thị trường trong nước khả năng tăng trưởng là khó đạt do
những yếu tố thuận lợi thì ít mà khó khăn thì nhiều.
Chẳng hạn, về mặt thuận lợi, điều đáng kể nhất là sự nỗ lực rất lớn
của Chính phủ trong việc tăng lương tối thiểu từ 180.000 lên 210.000,
290.000, 350.000, 450.000, 650.000 rồi lên 730.000 đồng cho một đội ngũ
đông đảo những người hưởng lương và hưởng sinh hoạt phí, cán bộ hưu trí...
Việc nâng lương tối thiểu qua các đợt như vậy đã có thể tăng thêm sức mua
khoảng từ 5.000 - 10.000 tỷ đồng là tối đa, nhưng điều đó chủ yếu vẫn diễn
ra ở khu vực thành thị.
Yếu tố thuận lợi thứ hai là sự phát triển mạnh của lĩnh vực công nghệ
và sự phục hồi khá nhanh của lĩnh vực dịch vụ làm tăng thu nhập và sức
mua, nhưng yếu tố này vẫn tập trung ở khu đô thị với số dân chỉ chiếm
khoảng 1/4 dân số cả nước và đa phần là lao động công nghiệp, dịch vụ và
công chức.
Tuy vậy, ở khu vực nông thôn, nhìn chung mức sống của người dân
vẫn đang thấp, sức mua yếu, người nông dân còn phải chịu nhiều thiệt thòi
do giá cánh kéo công nghiệp, dịch vụ và nông sản cách xa nhau. Trong khi
đó dân số nước ta chủ yếu là nông dân lại chiếm tới khoảng 70% dân số như
vậy việc kích cầu sẽ rất khó. Còn 3/4 cư dân làm nông nghiệp thì lợi ích đạt
được rất ít, cho nên khó tạo ra sự phát triển mang tính đột biến trong sức
mua của xã hội.
Trong khi đó, những yếu tố cản trở là rất lớn. Trước hết, đó là việc cư
dân của khu vực nông thôn vẫn chiếm trên 3/4 dân số cả nước, chẳng những
phải gánh chịu những thua thiệt do rủi ro, thiên tai, mà bản thân ngành nông
nghiệp vẫn luôn có năng suất lao động thấp hơn các ngành nghề khác.

Khó khăn lớn nhất của Việt Nam khi bước vào hội nhập kinh tế quốc
tế là nền kinh tế đang ở trình độ thấp, chênh lệch trên không chỉ so với các
9


nước công nghiệp và ngay cả với các nước có trình độ chưa cao trong khu
vực. Tính cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu, các cơ chế của nền kinh tế thị
trường còn đang trong giai đoạn hình thành, hệ thống pháp luật chưa hoàn
chỉnh và thiếu đồng bộ, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, các
ngành sản xuất và dịch vụ còn yếu. Cơ cấu và phương thức phân bổ nguồn
lực trong các ngành có bảo hộ cao. Việt Nam hội nhập sau nhiều nước trong
khu vực nên gặp rất nhiều khó khăn, tức là phải chịu một điều kiện hội nhập
khắt khe hơn so với các nước hội nhập trước. ở tầm vĩ mô, hội nhập cũng là
một quá trình điều chỉnh và lựa chọn khó khăn đặc biệt so với các doanh
nghiệp đã từng đưọc sự bảo hộ.
Do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới từ cuối năm
2007 nên đã có những dấu hiệu của sự suy giảm đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Giờ đây sự bùng nổ đầu tư vào Việt Nam đã đi qua vấn đề đặt ra là liệu Việt
Nam có thể duy trì mức tăng trưởng cao trong tương lai hay không, điều này
phụ thuộc vào việc đối phó như thế nào với những thách thức trong phát
triển dài hạn, như việc đẩy mạnh nền công nghiệp và xây dựng các hệ thống
thể chế. Tuy nhiên, trước khi bắt đầu giải quyết những vấn đề này, Việt Nam
phải đối phó với hai thách thức từ bên ngoài. Đó là việc Việt Nam phải thực
hiện cam kết mậu dịch tự do và ảnh hưởng của các nền kinh tế Châu Á.
Thực hiện các cam kết về mậu dịch tự do, cũng có nghĩa là ta phải xoá
bỏ hàng rào thuế quan đối với những hàng hoá của các nước thành viên khác
xuất khẩu vào Việt Nam, điều này đặt ra một thách thức lớn cho nền sản
xuất trong nước phải đứng trước một nguy cơ cạnh tranh gay gắt. Trong khi
đó nền kinh tế nước ta còn lạc hậu, công nghệ sản xuất không thể sánh được
với các nước phát triển vì vậy khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước

là rất thấp ( do giá thành cao, chất lượng thấp và mẫu mã đơn điệu). Do đó,
Việt Nam buộc phải thực hiện chiến lược phát triển mà không mâu thuẫn với
10


những cam kết của họ để mở rông nội địa đồng thời tránh được các cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
Từ ngày 1/7/2003 Việt Nam đã giảm thuế suất nhập khẩu cho danh
mục trên 760 mặt hàng theo lịch trình gia nhập khu vực mậu dịch tự do
AFTA. Kết quả thực tế cho thấy giá cả thị trường trong nước không có biến
động lớn, điều đó chứng tỏ bước đi ban đầu của tiến trình hội nhập khu vực
đã thu được thành công, tạo đà cho các bước tiếp theo. Hiệp định thương
mại tự do ASEAN - Hàn Quốc có hiệu lực từ đầu tháng 6/2007. Theo đó
nước này sẽ miễn thuế cho gần 8.000 dòng thuế từ Đông Nam á. ASEAN
cũng sẽ giảm thuế còn 0-5% cho 45% danh mục hàng hóa có xuất xứ từ Hàn
Quốc. Việt Nam cũng cắt giảm thuế suất của 200 dòng hàng giao thương với
Hàn Quốc. Theo cam kết cắt giảm thuế quan AKFTA, thuế suất của không
dưới 90% tổng dòng thuế trong biểu nhập khẩu mỗi nước ASEAN sẽ phải
giảm dần và loại bỏ hoàn toàn vào 2010, một số dòng thuế linh hoạt đến
2012.
Vào năm 2015, Việt Nam sẽ cắt giảm hầu hết danh mục thuế quan
AKFTA xuống còn 0-5%. Một năm sau sẽ miễn thuế hoàn toàn, trừ vài dòng
thuế linh hoạt.
Sau những vòng đàm phán URUGOAY vào cuối thập kỷ 90 của thế
kỷ XX, việc gia nhập WTO của Việt Nam đòi hỏi phải chấp nhận những
điều kiện khắt nghiệt hơn so với các nước đang phát triển đã gia nhập trước
đây. WTO đòi hỏi các thành viên phải thi hành tất cả các hiệp định của vòng
Urugoay, không trừ một điều khoản nào. Chúng ta phải chấp nhận thi hành
mọi quy định của WTO. Tuy về lâu dài nền kinh tế nước ta sẽ từng bước
thích nghi. Nhưng trước mắt chúng ta phải tiếp tục xây dựng, điều chỉnh luật

lệ, cải cách hành chính, lề lối làm việc... để thích nghi với tất cả luật lệ của
WTO. Để có thể vượt qua thách thức nhiều mặt này, Việt Nam phải xây
11


dựng một chiến lược đàm phán và điều chỉnh cơ cấu rất khẩn trương nhằm
giảm thiểu đến mức tối đa những tác động tiêu cực và các chi phí sản xuất .
Tuy vẫn còn rất nhiều thách thức, đây là con đường duy nhất của chúng ta để
hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và từ đó mới có cơ hội để nâng
cao năng lực cạnh tranh, tồn tại và phát triển.
Việc tham gia sâu vào thương mại quốc tế chắc chắn sẽ tạo ra nhiều
cơ hội, nhưng cũng đặt ra những thách thức lớn đối với chúng ta. Đó là việc
nền kinh tế có thể phải đối phó với khả năng mất ổn định hơn, đặc biệt là
trong những trường hợp hàng xuất khẩu chỉ tập trung vào một số mặt hàng
hay một số nước. Trong trường hợp này, nền kinh tế có thể bị giảm sút mạnh
khi có suy thoái ở nước bạn hàng hoặc có sự giảm cầu đối với hàng xuất
khẩu chủ lực của nước mình; tự do hoá thương mại có thể gây khó khăn,
thậm chí có thể làm sụp đổ một ngành lâu nay vẫn được bảo hộ hoặc các
ngành đó tự thu hẹp địa bàn cạnh tranh trên chính thị trường nội địa mà vẫn
không có khả năng cạnh tranh trên thị trường nước ngoài.
Tham gia thương mại quốc tế đòi hỏi phải tuân thủ các luật lệ của các
tổ chức quốc tế như WTO, WB, IMF đều do các nước tư bản phát triển mà
đứng đầu là Mỹ chi phối do đó nó không những có thể ảnh hưởng tới chính
sách của quốc gia, đặc biệt là các chính sách phát triển kinh tế mà còn ảnh
hưởng bất lợi đến thể chế nước ta, làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa
của nền kinh tế nước ta. Vì vậy, chúng ta phải có chính sách hội nhập thích
hợp để đảm bảo vừa phát triển kinh tế, vừa giữ vững độc lập chủ quyền, tự
chủ về chính trị. Chúng ta phải biết chấp nhận thách thức, biến thách thức
thành nhân tố kích thích sáng tạo, khai thác nguồn lực và tạo ra những
nguồn lực mới, lợi thế cạnh tranh mới. Trong thương mại quốc tế ta phải chú

ý tiên lượng kỹ càng những thiệt hại do rủi ro xẩy ra trong quá trình luân

12


chuyển chuyển thương mại nhanh nhạy và năng động từ đối tượng, khu vực
này sang đối tượng khu vực khác.
Những thách thức về tiếp nhận đầu tư nước ngoài: FDI tạo ra một
luồng vốn chảy ra ngoài như lợi nhuận và các khoản thanh toán khác, điều
này ảnh hưởng đến lực lượng ngoại hối của nước nhận đầu tư. Đầu tư nước
ngoài đôi khi biệt lập với các ngành sản xuất trong nước do đó không có
hiệu ứng lan truyền có lợi về mặt phổ biến công nghệ sản xuất, quản lý và
tiếp nhận FDI nhất là các công ty xuyên quốc gia có thể đẩy các nhà sản
xuất trong nước vào cuộc cạnh tranh quá sớm, không cân sức. Tuy nhiên,
với xuất phát điểm thấp của một nền kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào nông
nghiệp, mở cửa và hội nhập vào các tổ chức thương mại và kinh tế thế giới,
khu vực, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong khi nền
kinh tế của mình còn yếu kém, khả năng cạnh tranh và hiệu quả thấp.
Thách thức về năng lực cạnh tranh
Việc giảm thuế và phi thuế, thông thoáng chính sách quản lý đối với
các lĩnh vực đầu tư, dịch vụ... trong quá trình hội nhập sẽ tạo sức ép lớn, đòi
hỏi nền kinh tế và các doanh nghiệp phải có đầy đủ năng lực cạnh tranh mới
có thể trụ vững và khai thác được lợi thế của hội nhập. Năng lực cạnh trạnh
được thể hiện trên ba cấp độ khác nhau: Năng lực cạnh tranh của nền kinh
tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản
phẩm.
Về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, chúng ta có lợi thế
về lao động và một số nguồn tài nguyên nông, lâm, khoáng sản. Song các
yếu tố khác như công nghệ, trình độ quản lý, cơ sở hạ tầng, độ ổn định về
chính sách và hệ thống tài chính ngân hàng còn nhiều hạn chế nên xét về

mặt tổng thể, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn thấp. Theo
danh sách xếp hạng năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế thế giới của
13


Diễn đàn Kinh tế thế giới, năm 1997, Việt Nam đứng thứ 39/53; năm 1998,
xếp thứ 48/53 và năm 2002 xếp thứ 65/80...., năm 2009, xếp thứ 75/133.
Bảng: Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam
Năm

2005

2006

2007

2008

2009

xếp

74/111

77/122

68/131

70/134


75/133

thứ

Nguồn: Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF). Xếp hạng năng lực cạnh
tranh hàng năm
Về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Theo đánh giá chung của
dư luận và nhiều nghiên cứu gần đây thì năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam còn tương đối thấp, thể hiện ở các điểm sau:- Năng suất
lao động chưa cao
- Chất lượng và tính độc đáo của sản phẩm còn thấp- Trình độ công
nghệ khả năng tiếp cận với công nghệ mới còn hạn chế
- Chi phí đầu vào còn cao và chưa hợp lý, dẫn đến nhiều trường hợp
giá cả hàng hóa còn chưa cạnh tranh được với hàng nhập khẩu
- Thị trường đầu ra cho sản phẩm chưa ổn định và bền vững
Thực trạng về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hiện nay đòi hỏi
Nhà nước phải có chính sách bảo hộ hợp lý trong quá trình hội nhập và mở
cửa thị trường. Tuy nhiên, yêu cầu của các tổ chức khu vực và quốc tế không
cho phép chúng ta bảo hộ vô thời hạn, bảo hộ tràn lan tất cả các ngành kinh
tế. Ngoài ra nguyên tắc tương hỗ của các tổ chức này đòi hỏi chúng ta cũng
phải có những hoạt động mở cửa thị trường nhất định mới có thể hưởng
những ưu đãi thị trường từ các nước khác.
Về năng lực cạnh tranh của sản phẩm thì những tiêu chí đánh giá
chính đó là:
- Chi phí đầu vào của sản xuất.

14


- Chất lượng.

- Thương hiệu.
- Kiểu dáng, mẫu mã, bao bì, ký mã hiệu.
- Các dịch vụ trong và sau khi bán hàng.
Nhìn chung các sản phẩm của Việt nam phần lớn cũng ở trong tình
trạng thua kém so với các sản phẩm cùng loại của các nước khác.
Thách thức về cơ chế chính sách
Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi hệ thống chính sách kinh tế, thương
mại của nước ta phải điều chỉnh phù hợp với những quy tắc và định chế
quốc tế trong khi hệ thống pháp lý và hệ thống chính sách kinh tế, thương
mại của ta chưa hoàn chỉnh đồng bộ.
Việc xây dựng chính sách còn áp đặt ý muốn chủ quan nên thường
xuyên còn phải điều chỉnh, thay đổi thất thường gây tâm lý mất lòng tin của
nhân dân và doanh nghiệp. Các biện pháp, chính sách bảo hộ mà WTO,
ASEAN, APEC... thừa nhận áp dụng thì ta lại chưa có hoặc chưa hoàn
chỉnh, trong khi các biện pháp, chính sách mà họ không cho phép thì ta lại
đang áp dụng phổ biến.
Thách thức về tiềm lực kinh tế và nguy cơ tụt hậu
Khó khăn lớn nhất đối với Việt Nam là Việt Nam là một nước nghèo
lạc hậu, thu nhập quốc nội (GNP) nhỏ bé so với nên kinh tế thế giới. So với
Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới thì GNP của nước ta nhỏ hơn hàng trăm
lần. Điều đó cho thấy khi tham gia vào kinh tế quốc tế, chúng ta khó có thể
tạo dựng được một chỗ đứng, một vị thế lớn. Điều này cũng dẫn tới khả
năng bị động và phụ thuộc vào một số nước lớn nếu chúng ta không tự kiểm
soát được mình.
Nền kinh tế Việt Nam lạc hậu được thể hiện trước hết ở chỗ năng suất
lao động thấp. Nếu nhìn ở một góc độ nhỏ hơn thì năng suất thấp là do hai
15


yếu tố: kỹ thuật lạc hậu và trình độ lao động thấp. Đây là bất lợi khá lớn đối

với chúng ta. Nước ta đi lên từ một nước nông nghiệp, lại phải chịu sự tàn
phá của hai cuộc chiến tranh kéo dài suốt một thế kỷ. Chính vì vậy, việc phát
triển khoa học kỹ thuật không được chú trọng. Trong suốt thời kỳ bao cấp,
chúng ta chủ yếu sử dụng máy móc công nghệ đã cũ của Liên Xô và các
nước Đông Âu. Đến nay, khoảng cách về trình độ khoa học kĩ thuật, công
nghệ của nước ta so với các nước phát triển là khá xa. So với các nước đang
phát triển trong khu vực như Thái Lan, Inđônêxia, Philippin chúng ta bị tụt
hậu hàng chục năm. Do vậy, khi hội nhập chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn
để có thể bắt kịp sự phát triển về kỹ thuật của thế giới. Yếu tố con người vừa
là ưu điểm, vừa là nhược điểm. Bên cạnh sự dồi dào, tinh thần cần cù và
sáng tạo, lao động nước ta chủ yếu sống ở nông thôn, chưa được đào tạo,
chưa tiếp xúc nhiều với khoa học kỹ thuật hiện đại. Chịu sự ảnh hưởng của
cơ chế bao cấp tồn tại hàng chục năm, đội ngũ cán bộ chưa phát huy được
tính sáng tạo, chưa có sự thích ứng cần thiết với cơ chế thị trường. Những lý
do này đã làm cho năng suất lao động của nước ta thuộc vào hàng thấp nhất
thế giới. Như chúng ta đã biết, năng suất lao động là một trong các yếu tố
quan trọng để đánh giá sự phát triển của một nền kinh tế.
Do nghèo và lạc hậu nên chúng ta chưa có được sự đầu tư đúng mức
đối với cơ sở hạ tầng. Chính vì vậy, cơ sở hạ tầng nước ta hiện nay đang
trong tình trạng xuống cấp, chắp vá. Đây là một yếu tố không nhỏ gây cản
trở sự phát triển kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. D.Ricardo, nhà
kinh tế lỗi lạc đã từng nhận định: nếu có hệ thống giao thông tốt thì sẽ nhanh
chóng biến vùng xa xôi hẻo lánh thành vùng ngoại ô. Hiện nay, hệ thống
đường giao thông của nước ta mới chỉ đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu
của các khu đô thị, hầu hết các tỉnh miền núi giao thông còn rất kém, không
phát huy được tiềm năng kinh tế. ở các khu đô thị, hệ thống cấp thoát nước,
16


xử lý rác thải… chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư. Bên cạnh

đó, do hoạt động chưa có hiệu quả nên giá cước điện thoại, giá điện, nước
cho sinh hoạt và sản xuất còn cao, chưa thực sự là yếu tố khuyến khích đầu
tư.
Thách thức về năng lực cán bộ
Trước mắt chúng ta còn thiếu những người có trình độ, năng lực tham
gia các nhóm làm việc, các uỷ ban, các cuộc họp định kỳ của ASEAN,
APEC, WTO. Quan trọng hơn Việt nam cũng thiếu một lực lượng có năng
lực trong việc xây dựng chính sách, đàm phán quốc tế.
Một thách thức trong lĩnh vực này nữa là nguồn nhân lực đang ở độ
tuổi lao động có chất lượng thấp cả về chuyên môn và kỹ thuật. Việc tiếp
cận với công nghệ mới trong điều kiện hội nhập đòi hỏi Việt Nam phải
chuyển hướng mạnh mẽ trong việc đào tạo nguồn nhân lực:
Thách thức đối với Hệ thống ngân hàng
Mở cửa hội nhập quốc tế về ngân hàng luôn kèm theo rủi ro cao, nhất
là rủi ro quốc tế bởi vì mở cửa hội nhập quốc tế về ngân hàng có ý nghĩa là
gia tăng sự giao dịch với bên ngoài với quy mô lớn hơn và sâu hơn do đó có
nhiều rủi ro hơn. Nền kinh tế và hệ thống ngân hàng có thể tổn thương từ
bên ngoài như khủng hoảng tài chính tiền tệ, nếu như nội tại nền kinh tế
không đủ mạnh (hệ thống doanh nghiệp, hệ thống tài chính ngân hàng,
khuôn khổ pháp luật...).
Mở cửa, hội nhập quốc tế về ngân hàng là chấp nhận cơ chế cạnh
tranh khốc liệt, chấp nhận quy luật “được mất” và “sống còn”, các ngân
hàng trong nước ngay lúc đầu có thể mất đi thị trường và khách hàng. Trong
quá trình cạnh tranh không cân sức, các ngân hàng trong nước cũng có thể
lại tiếp tục bị thu hẹp thị trường; nếu không tự khẳng định được mình và tiếp

17


tục làm ăn thua lỗ, các ngân hàng trong nước có thể rơi vào tình trạng ngày

càng tồi tệ và đi đến đóng cửa, phá sản...
Do xuất phát điểm rất thấp về chất lượng hoạt động của các NHTM
Việt Nam, nên có thể có nguy cơ sức ép cạnh tranh quá lớn từ phía các ngân
hàng nước ngoài làm cho các ngân hàng trong nước không có cơ hội phát
triển. Vì vậy không có bước hội nhập thích hợp thì các ngân hàng trong
nước sẽ gặp nhiều khó khăn, và có thể bị hẫng hụt. Hơn nữa, hệ thống ngân
hàng Việt Nam qua nhiều năm hoạt động còn chứa đựng nhiều yếu tố bao
cấp, hành chính. Sức ỳ của cơ chế hành chính, bao cấp này vẫn còn đè nặng
lên hệ thống NHTM. Để thoát ra khỏi cơ chế này, đòi hỏi một quá trình cải
cách, đổi mới kiên quyết và mạnh mẽ của toàn xã hội và sự nỗ lực của toàn
ngành ngân hàng. Rõ ràng cần một thời gian để đổi mới căn bản cơ chế, hệ
thống quản lý ngân hàng theo hướng chấp nhận cạnh tranh ngày càng cao xu
thế tất yếu của hội nhập và phát triển.
Thách thức trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa vấn đề bảo hộ thị
trường và yêu cầu của Hội nhập
Hội nhập quốc tế gắn liền với tự do hoá thương mại, mà tự do hoá
thương mại lại vấp phải yêu cầu bảo hộ sản xuất trong nước.
Chính sách tự do thương mại bị cản trở bởi yêu cầu bảo hộ từ các Bộ
chuyên ngành và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các Bộ
chuyên ngành, do sức ép của các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý với một
thực trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, khả năng cạnh tranh
của sản phẩm thấp nên ra sức kêu gọi bảo hộ nghiêm ngặt để duy trì việc sản
xuất của họ. Còn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng sự
lỏng lẻo và non kém trong việc quản lý của Việt Nam muốn giữ thế độc
quyền trong sản xuất với chi phí sản xuất cao so với sản phẩm cùng loại
nhập khẩu cũng tích cực đề nghị chính phủ Việt Nam áp dụng các biện pháp
18


bảo hộ nghiêm ngặt. Do áp dụng các biện pháp bảo hộ trong đó có thuế

quan, chi phí đầu vào của sản xuất trong nước tăng lên, giá thành sản phẩm
tăng gây thiệt hại cho người tiêu dùng và không khuyến khích xuất khẩu. Để
giải quyết được vấn đề này ta buộc phải chấp nhận việc tháo gỡ hàng rào
bảo hộ một cách hợp lý, lập quỹ hỗ trợ cho các doanh nghiệp không tồn tại
được trong quá trình cạnh tranh với hàng ngoại nhập.
Mâu thuẫn này cần được giải quyết đồng bộ với việc giải quyết hài
hoà các quan hệ giữa lợi ích cục bộ, trước mắt và lợi ích quốc gia, lâu dài
đảm bảo duy trì sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô của đất nước trong tiến
trình hội nhập quốc tế./.

19



×