Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Biện pháp nâng cao chất lượng giờ chính tả cho học sinh lớp 3

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.79 MB, 18 trang )

1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết: Đất nước ta đang trong thời kì đẩy mạnh công cuộc
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá” nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Để biến lí tưởng, mục tiêu cao cả của chủ
nghĩa xã hội thành hiện thực thì giáo dục giữ một vai trò, vị trí cực kì quan trọng
đó là tạo ra những con người phù hợp với thời đại: có đủ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
về khoa học kĩ thuật để góp phần xây dựng đất nước. Mà trong sự nghiệp giáo
dục bậc tiểu học lại chính là bậc đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách ở
học sinh. Đây là bậc học cung cấp những tri thức ban đầu về tự nhiên và xã hội,
trang bị phương pháp và kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn. Bồi dưỡng, phát huy tình cảm thói quen và đức tính tốt đẹp của con
người Việt Nam. [1]
Người xưa thường nói: “Nét chữ - Nết người” hàm ý về hai vấn đề: Thứ
nhất nét chữ thể hiện tính cách con người ; thứ hai thông qua rèn luyện chữ viết
mà giáo dục nhân cách con người. Như vậy “Viết chữ đẹp” vừa là mục đích, vừa
là phương tiện của quá trình giáo dục toàn diện nhân cách học sinh.
Chữ viết còn giúp học sinh rèn luyện được những đức tính cẩn thận, tỉ mỉ,
kiên trì…
Hiện nay ở nhiều trường, học sinh viết chữ khá đẹp. Song vẫn còn một số
ít phụ huynh phàn nàn về chất lượng chữ viết của con em mình. Trong các kì thi
số học sinh bị điểm kém do nguyên nhân chữ viết và trình bày tuỳ tiện, cẩu thả
chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Vậy làm thế nào để dạy chữ viết - rèn nết người cho
học sinh ?
Đứng trước thực trạng đó, yêu cầu đối với nhà giáo dục phải đào tạo con
người toàn diện trong đó tiếng mẹ đẻ (tiếng phổ thông) là một trong những điều
kiện kiên quyết giúp học sinh nắm bắt được tri thức một cách dễ dàng.
Từ những lí do trên, để góp phần nâng cao chất lượng chữ viết cho học
sinh tôi chọn đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng giờ chính tả cho học
sinh lớp 3” làm đề tài nghiên cứu của mình.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:


Tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm ra một số biện pháp rèn kĩ năng cho
học sinh viết đúng chính tả và phụ âm đầu, vần khó.
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận thực tiễn việc rèn chữ viết chính tả cho học
sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng nhằm củng cố và phát huy nề
nếp rèn chữ viết cho học sinh, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, năng lực và thói quen
viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen đúng Tiếng Việt. Từ đó
để nâng cao chất lượng giờ học chính tả cho học sinh lớp 3.
1


1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu những biện pháp nâng cao chất lượng giờ chính tả nhằm giúp
học sinh lớp 3 trường Tiểu học Quảng Phú viết đúng, viết đẹp.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp xây dựng cơ sở lý luận: Đọc các tài liệu, các sách bồi dưỡng
Tiếng việt, tập san giáo dục và thu thập tài liệu trên mạng intenet liên quan đến
đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng giờ chính tả”.
- Phương pháp điều tra, khảo sát , thu thập thông tin.
- Khảo sát thực tế chất lượng viết chính tả lớp 3A.
- Phương pháp dạy thực nghiệm.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích thực tiễn chương trình, phân tích
lỗi sai.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết, được thừa nhận trong
ngôn ngữ toàn dân. Mục đích của nó làm phương tiện thuận lợi cho việc giao
tiếp bằng chữ viết bảo đảm cho ngườì viết và người đọc đều hiểu thống nhất
những điều đã viết. Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội, một sự
quy định có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối, nó không cho phép vận dụng
quy tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân.

Phân môn chính tả trong nhà trường, giúp học sinh hình thành năng lực và
thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng
Tiếng Việt. Vì vậy, phân môn chính tả có vị trí đặc biệt quan trọng, nhằm thực
hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt là rèn và phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinh,
trong đó có năng lực chữ viết. Trong những năm gần đây, phòng giáo dục thành
phố luôn quan tâm đến nền nếp “Vở sạch - Chữ đẹp”, Đặc biệt là phong trào thi
đua “Viết chữ đẹp - Giữ vở sạch” giữa các lớp trong nhà trường được tổ chức
hằng năm. Đây là một hình thức để tuyên truyền sâu rộng cho toàn dân trong
việc giáo dục con em viết chữ đẹp. Viết chữ đẹp không phải chỉ đẹp về hình thức
mà còn đúng cả về luật chính tả.
Hiện nay có những phương án dạy - học Tiếng Việt khác nhau ở tiểu học.
Đó là một xu hướng lành mạnh - điều đáng nói là các phương án này đều hướng
tới một mục tiêu chung đó là giáo dục một cách toàn diện hình thành và phát
triển cho học sinh những tri thức và kĩ năng cơ sở thiết thực với cuộc sống cộng
đồng, lòng tự tin, tính hồn nhiên, sự năng động và linh hoạt. Giúp học sinh có
đầy đủ phẩm chất, ý chí và ước mơ đem sức mình đáp ứng được những nhu cầu
phù hợp với xã hội trong thời đại mới.
2


Môn Tiếng Việt ở tiểu học là một trong những môn học chiếm nhiều thời
lượng trong chương trình. Dạy học sinh viết chữ được coi là một trong những
yêu cầu cơ bản quan trọng hàng đầu. Chính vì vậy nguyên thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã khẳng định: "Nét chữ - Nết người". [2].
Chữ đẹp nào phải hoa tay
Ta chăm luyện tập hàng ngày đâu quên.
Rèn chữ viết là rèn tính cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì; rèn khả năng thẩm mỹ,
tính chính xác, khoa học, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy cô
bạn bè khi đọc bài của mình. Như vậy, việc rèn chữ viết tạo điều kiện cho học
sinh học tốt các môn học khác. Trong những năm gần đây việc rèn chữ viết cho

giáo viên và học sinh tiểu học là một việc làm quan trọng, là một trong những
mũi nhọn hàng đầu của phong trào thi đua.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC CHÍNH TẢ:
2.2.1. Thuận lợi:
Năm học 2017 – 2018 tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp
3A, tôi đã tìm hiểu kỹ về học sinh, đa số các em đều ngoan, chăm học đã có sự
tập trung chú ý trong các giờ học chính tả. Các em đã nắm được độ cao, rộng
của các nhóm chữ để vận dụng vào bài viết, phần lớn đã có đủ sách giáo khoa,
đồ dùng học tập phục vụ cho môn học.
Mặt khác được Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm, hầu hết đồ dùng
và thiết bị dạy học được trang bị khá đầy đủ. Vì vậy có sự thuận lợi cho giáo
viên dạy học.
2.2.2. Khó khăn:
Lớp 3A là lớp học phần đa gia đình làm nông nghiệp nên việc chăm lo
đến học tập của các bậc phụ huynh đối với các em còn hạn chế. Có em đi học
còn hay quên sách vở, thiếu đồ dùng học tập.
Mặt khác do cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế như: phòng học
còn hẹp do HS đông. Bàn học kê chật học sinh ngồi khó viết, bảng lớp dòng kẻ
đã mờ, sơn bảng trơn trượt viết chữ không đẹp, khó viết,... đã làm ảnh hưởng ít
nhiều tới chất lượng chữ viết của học sinh.
2.2.3. Thực trạng chữ viết của học sinh:
Nhiều năm tôi dạy lớp 3, tôi thấy đầu năm, các em còn có những hạn chế
chữ chưa đều nét, chưa đúng dòng kẻ, chưa đúng chuẩn.
VD: chữ r, s nét móc chưa lên ¼ li, chữ t kéo 2 li, các nét khuyết hơi gãy, thế
chữ chưa nhất quán câc em còn chệch choạc li.
3


Cụ thể kết quả khảo sát chữ viết của học sinh như sau:
STT

Xếp loại
SL (em)
Tỷ lệ
1
Loại A
16
38.1%
2
Loại B
18
42.8 %
3
Loại C
8
19.1 %

Ghi chú

* Nhận định nguyên nhân:
Sở dĩ học sinh có đi xuống về chất lượng chữ viết là do nhiều nguyên
nhân. Tuy nhiên cơ bản vẫn do một số nguyên nhân sau:
- Do phụ huynh HS chưa quan tâm đến việc rèn chữ viết cho con em của
mình mà chỉ chú trọng đến kiến thức của các môn Toán, Tiếng Việt.
- Do ý thức tự giác học tập, tự rèn ở nhà chưa cao.
Thực trạng đó khiến tôi luôn trăn trở trong nhiều năm dạy học “Làm thế
nào để giúp học sinh nâng cao chất lượng giờ chính tả nhằm giúp học sinh lớp 3
viết đúng, viết đẹp ? ”. Sau một thời gian tìm tòi, nghiên cứu tài liệu và cơ bản
dựa vào thực tế giảng dạy ở lớp, tôi đã giúp học sinh viết chữ đúng, đẹp và giữ
vở sạch. Sau đây tôi xin chia sẻ với đồng nghiệp một số giải pháp mà tôi đã thực
hiện.

2.3. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ CHÍNH TẢ
2.3.1. Tìm hiểu phân loại đối tượng học sinh
Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành phân loại học sinh, bởi vì: Phân loại
học sinh là điều cần thiết quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của giờ
chính tả. Nếu như không phân loại sẽ ảnh hưởng đến việc học của học sinh hoàn
thành tốt và học sinh hoàn thành. Vì vậy sau khi ổn định tổ chức lớp trong vòng
2 tuần đầu, tôi đã tiến hành điều tra học sinh. Qua bài kiểm tra đầu năm của các
em, qua thực tế bài viết trong 4 bài của 2 tuần đầu. Sau đó tôi tiến hành phân
loại học sinh theo tiêu chí chữ viết.
Những em viết đúng mẫu chữ quy định, viết đẹp được phân loại A như
các em Mai, Thúy Phương, Thảo, Vũ, Chi, Lan Anh, Trà My ,…
Những em viết đẹp hoặc chưa đẹp lắm, ít sai lỗi chính tả được phân loại B (có
18 em) như em Cường, Thanh, Hòa, An ... Những em viết còn xấu, sai nhiều lỗi,
được phân loại C gồm 8 em như em Tuấn Anh, Hiếu , Linh, Nga, Long,....
2.3.2. Rèn nề nếp, tác phong cho học sinh khi ngồi viết chính tả.
Trước hết muốn học sinh viết đẹp thì người giáo viên nên nghĩ rằng “Rèn
nề nếp tác phong cho học sinh khi viết” là cái quan trọng đầu tiên giúp cho học
sinh có nét chữ đẹp. Vì vậy, ngay từ buổi đầu bước vào lớp, tôi chú ý ngay đến
tư thế ngồi viết của từng em. Nhiều em lên lớp 3 rồi mà khi viết mắt vẫn cuối sát
4


xuống bàn hay cầm bút quá thấp nên mực hay ra tay làm bẩn vở. Để giúp những
em này biết ngồi viết đúng tư thế để giúp chữ viết đẹp hơn và có lợi cho sức
khoẻ. Ngược lại, nếu ngồi xiêu vẹo người thì sẽ bị tật vẹo cột sống suốt đời. Nếu
các em nhìn vào vở quá sát thì mắt sẽ bị cận thị ... Sau đó giáo viên làm mẫu cho
học sinh quan sát và làm theo tư thế ngồi viết: ngồi viết ngay ngắn, lưng thẳng,
không tì ngực xuống bàn. Đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 20 - 25 cm. Tay phải
cầm bút, tay trái đặt phía trước bên trái quyển vở giữ mép vở để khi viết không
bị xê dịch. Quyển vở được để hơi chếch về phía tay trái, hai chân để thẳng

vuông góc, sau đó tôi hướng dẫn các em cầm bút sao cho dễ viết, không cao quá
khó viết và cũng không được thấp quá mực sẽ dây vào tay làm bẩn bài viết. Khi
hướng dẫn tỉ mỉ tôi khuyến khích cho các em thực hiện, bạn nào ngồi đúng nhất
được cô tuyên dương trước lớp. Trong các tiết dạy chính tả tiếp theo, tôi luôn
nhắc nhở các em nhớ và ngồi đúng, tạo thói quen cho học sinh.
Ngoài ra, tôi thấy bút để rèn viết chữ đẹp cũng rất quan trọng nên tôi đã mua
cho HS cả lớp cùng một loại bút.
2.3.3. Rèn lỗi phát âm, đọc nói đúng tiếng phổ thông:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện
phát âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính,
âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất
với nhau. Nếu giáo viên chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng của cách phát âm ở
địa phương, sinh ra và lớn lên trong môi trường phát âm như vậy nên các em
cũng có thói quen phát âm sai dẫn đến hiện tượng viết sai chính tả.
Trong việc rèn lỗi phát âm, đọc nói đúng tiếng phổ thông việc đọc mẫu của
giáo viên có vai trò quan trọng. Khi đọc bài chính tả giáo viên phải phát âm
đúng, rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng chính tả.
2.3.4. Luyện viết đúng phụ âm đầu:
Để giúp học sinh viết đúng 1 số phụ âm đầu dễ lẫn lộn này, trong mỗi giờ
chính tả tôi phải kết hợp nhiều phương pháp dạy học một cách linh hoạt, trong
từng bài cụ thể đối với từng cặp phụ âm mà học sinh hay sai để cho bài dạy sinh
động, để giúp các em dễ phân biệt được cách viết đúng, sai.
Chẳng hạn, với phương pháp trực tiếp, tôi cho học sinh nghe, đọc, nhận xét
các chữ viết đúng bằng mắt, tập viết vài lần chữ khó vào bảng con cho quen tay.
Bước đầu tôi đọc toàn bài, sau đọc từng câu, từng cụm từ, chú ý nhấn mạnh
những tiếng khó để luyện tập cách nghe cho học sinh. Tiếp theo tôi đặt câu hỏi
bằng phương pháp gợi mở vấn đáp để giúp các em nhận ra những tiếng từ các
5



em hay viết sai. Sau đó tôi cho một số em nhắc lại một số luật chính tả, các em
đã được học.
Như trước e, ê và i âm cờ được viết bằng chữ k (ca).
Ví dụ: kê; kẽ....
Hoặc trước e, ê vài âm gờ viết bằng chữ gh ( gh ghép) hay ngờ viết bằng ngh
( ngờ ghép).
Ví dụ: + ghế, ghé.....
+ nghé, nghĩ....
Sau khi các em nhắc lại được 1 số luật chính tả, thì cho các em được luyện viết
nhiều lần trên bảng con để các em nhớ.
Ngay từ lớp Một, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như
các âm đầu : k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê và âm g chỉ kết hợp với : a, ă,
â, o, ô, ơ, u, ư. Giáo viên còn có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật
khác như sau:
a) Phân biệt âm đầu s/x : Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu
bằng s (sắn, sung, sầu riêng, sứ, sả, sim, sậy,su su …; sáo, sên, sâu, sán, sóc, sói,
sư tử,…).
b) Phân biệt âm đầu tr/ch : Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều
bắt đầu bằng ch (chổi, chum, chén, chảo, chai, chày, chăn, chiếu,…; chó, chuột,
châu chấu, chuồn chuồn, chào mào, chiền chiện,…).
Trong những giờ chính tả có phần luyện tập r/d/gi đa số các em khó tìm ra
quy tắc phân biệt khi nào viết, d hay gi. Vì vậy với bài tập so sánh trên tôi cho
các em phân biệt bằng nhiều cách như sau. Đầu tiên tôi cho các em dựa vào
nghĩa để phân biệt.
Bước 1: Cho học sinh đọc kỹ đoạn văn, tìm ra những tiếng từ có phụ âm
đầu r/d/gi có trong bài.
Học sinh tìm được là: dạo, rụt rè, giờ, giỏi, dành, ....
Bước 2: Cho học sinh viết bảng con (nhận xét, giảng giải cách viết) phát
âm, giải nghĩa từ, tìm từ có tiếng đó.
Chẳng hạn: với tiếng "dán".

Học sinh viết bảng con, giáo viên nhận xét và giảng cách viết.
d + an + dấu sắc - dán.
+ Phát âm (gv làm mẫu, gọi 1; 2 học sinh phát âm lại) d - an - sắc - dán.
+ Giải nghĩa (giáo viên có thể gợi ý cho học sinh giải nghĩa).
Em hãy đọc lại câu có chứa tiếng "dán" cho trong bài và cho cô biết "dán"
ở đây ý nói gì? (dùng một vật này chồng lên vật khác, giữa chúng có keo hoặc
hồ để kết dính hai vật lại với nhau).
6


+ Học sinh tìm từ có tiếng "dán"; dán giấy, cắt dán, hồ dán...
Bước 3: Cho học sinh phân biệt r/d/gi bằng cách tìm các tiếng lập bảng.
r
d
gi
- rán : rán bánh
- dán: dán giấy
- con gián
- rán mỡ, rán chín...
- cắt dán, hồ dán
- gián tiếp, gián đoạn
Gợi ý cho học sinh điền từ bằng cách dùng câu hỏi gợi ý. Em tìm từ có
tiếng "rán" "dán". Học sinh tìm đến đâu tôi ghi lên bảng đến đấy.
Dù sử dụng phương pháp nào đi nữa, tôi đều phải theo dõi, quan tâm uốn
nắn từng em. Những em viết sai s/x là do các em phát âm sai. Khi dạy tôi phải
phát âm lại cho các em nghe, phát âm s cong lưỡi, đầu lưỡi chạm phía trên. Còn
viết là x khi đọc lưỡi thẳng đầu lưỡi đưa ra phía ngoài, luồng hơi thẳng ra ngoài.
Sau đó tôi cho cả lớp phát âm lại nhiều lần cho đúng, viết bảng con theo sự phát
âm của cô như: Thi viết nhanh và đúng, cô đọc"xanh" cả lớp viết vào bảng con,
bạn nào viết sai bị đứng lên phát âm lại 10 lần hoặc một số từ có tiếng khác

( mùa xuân, sương,...). hoặc khi dạy chính tả tiết 3 tuần thứ 2 ở phần luyện tập
tôi chọn bài tập 2a ( bài lựa chọn) giúp các em làm quen với cách phân biệt s/x
qua các dạng bài tập.
Bài tập2a: Hãy chọn từ nào trong ngoặc đơn để điền vào chỗ trống?
- (xấu, sấu): cây ..., chữ ...
- (sẻ, xẻ):
san ...., .... gỗ
- (sắn, xắn) ......tay áo, củ ....
*Trước khi làm bài tôi cho 2 em đọc to nội dung yêu cầu của bài tập, cả
lớp đọc thầm.
Sau khi học sinh hiểu được nội dung yêu cầu của bài tập, tôi tiến hành tổ
chức hình thức cho học sinh chơi trò chơi tiếp sức.
- Giáo viên chọn hai đội chơi, mỗi đội chơi gồm 3 em
- Giáo viên phổ biến cách chơi, luật chơi.
- Học sinh chơi (thời gian 3 phút)
- Kết quả đội nào điền đúng, nhanh nhất, không phạm luật chơi thì đội đó
thắng cuộc.
Cả lớp và giáo viên nhận xét, giáo viên chốt lại lời giải đúng.

7


Để phân biệt s/x tôi đưa ra cho các em nhiều dạng bài tập như dạng câu đố
giúp học sinh học tập sôi nổi hơn. Từ đó các em làm quen và biết cách làm đúng
khi viết chính tả.
Dạng bài tập: điền vào chỗ trống s hay x
Một nhà ... àn đơn ... ơ vách nứa (sàn, sơ)
Bốn bên ...uối chảy, cá bơi vui
(suối)
Đêm đêm cháy hồng bên bếp lửa

Ánh đèn khuya còn ... áng lưng đồi (sáng).
(Nguyễn ĐìnhThi)
Hoặc dạng bài tập:
Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hay x có nghĩa như sau:
+ Còn lại một chút do sơ ý hay quên (sót).
+ Món ăn bằng gạo nếp chín (xôi).
+ Trái nghĩa với tối
(sáng).

8


Với những dạng bài tập như trên tôi đều tổ chức cho các em trao đổi theo
nhóm ngẫu nhiên. Sau đó đại diện nhóm lên trình bày, các nhóm khác nhận xét
bổ sung giáo viên chốt lại lời giải đúng .

Để giúp học sinh lớp tôi viết đúng chính tả, cũng như phân biệt được các
phụ âm đầu, tôi thường linh hoạt khi dạy chính tả như dạy tiết 3 tuần 5. Các bài
tập trong VBT được đưa ra phân biệt l/n hoặc en/eng. Nhưng khi dạy học sinh
lớp ở lớp 3 A không nói sai và không viết sai l/n hoặc en/eng, nên tôi chủ động
thay bài tập này bằng tập phân biệt ch/tr hoặc s/x cho các em được luyện đọc,
viết nhiều và từ việc hiểu nghĩa của từ các em dễ nhớ và viết đúng chính tả.
Với việc phân biệt ?/~ hay ch/tr các em hay nói sai và dẫn đến viết sai,
nên tôi luyện cho các em như các hình thức luyện tâp s/x nói trên. Khi dạy chính
tả, trước khi viết bài tôi luôn coi trọng việc tìm luyện viết chữ khó (chữ các em
hay viết sai) trong bài. Đối với bước luyện viết từ khó này, đối với bước nào tôi
cũng thực hiện và trước hết cho các em tìm trong đoạn bài viết những từ nào em
9



thấy khó viết, học sinh nêu ra trước lớp sau đó giáo viên cho các em được luyện
viết trên bảng con và gọi vài em lần lượt lên bảng viết học sinh và giáo viên
nhận xét đúng sai.
Song song với phân biệt phụ âm đầu, tôi luyện cho các em viết đúng các vần
khó trong các tiếng, từ.
2.3.5. Luyện viết đúng tiếng có vần khó.
Trong quá trình viết các em thường gặp phải những tiếng có vần khó, từ
có vần khó (uyu, uôn, oang, uyết....) một số tiếng có vần dễ lẫn lộn (oe /eo /uê
/oa / ao ...) một số từ khó "khuỷu tay" trong bài "Ai có lỗi", "Luống rau" trong
bài "Chị em"...., "khoát tay" trong bài "Người lính dũng cảm"...
Để rèn luyện đúng các lỗi này, trước khi viết bài tôi gọi học sinh phân biệt từng
tiếng, cho học sinh khác nhận xét và thống nhất cách viết.
kh + uyu + thanh hỏi = khuỷu
kh + oat + thanh sắc = khoát
Vần khó nên khi phân tích tôi chú ý nhấn giọng vào phần vần, sau đó cho
học sinh viết bảng con, lớp nhận xét, lớp tự sửa sai. Với những bài viết có ít
những vần khó tôi có thể lấy thêm một số tiếng có vần khó, đọc cho học sinh
viết, để khắc sâu vần cần chú ý.
Trong các tiết chính tả tôi thường chọn các dạng bài tập khác nhau cho
các em được làm nhiều, luyện viết nhiều để các em nhớ cách viết đúng.
Để nâng cao chất lượng giờ chính tả, việc nhận xét, chữa bài cũng rất
quan trọng, giúp các em biết tự sửa lỗi sai của mình, nhớ viết đúng, lần sau
không bị mắc lỗi sai đó.
Có nhiều hình thức chữa bài, những khi dạy thường sử dụng biện pháp
như sau:
Sau khi viết bài xong, cô đọc chậm cho các em tự soát bài sau đó cho các
em tự đổi vở cho nhau ( 2 em ngồi cạnh nhau) theo sự chỉ đạo của giáo viên.
Nếu phát hiện ra lỗi sai của bạn, kịp thời bảo bạn sửa lại ngay. Sau khi các em
thực hiện xong, tôi cho các em nêu kết quả mình đã được kiểm tra vở bạn. Tôi
hỏi sau khi các bạn kiểm tra bài bạn xong, em thấy có bài nào không viết sai lỗi

nào hoặc bài nào sai 2; 3 lỗi không? bài nào còn sai rất nhiều lỗi? Giáo viên kịp
thời tuyên dương những bạn không sai lỗi nào.
Từ việc học sinh tự sửa lỗi theo tôi có những đặc điểm tích cực sau đây:
- Các em được tiếp xúc (có thức) với văn bản viết một lần nữa, qua đó
góp phần củng cố những kiến thức vừa được hướng dẫn.
- Với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự phát hiện ra những lỗi
chính tả.Từ đó, các em có điều kiện để tái hiện lại quy tắc viết đúng chính tả cho
mỗi trường hợp. Nên góp phần cũng cố, khắc sâu hơn cho học sinh những khả
năng chính tả.
10


- Trường hợp, những em học sinh viết chậm, chuyên viết sai lỗi chính tả
thì không tự phát hiện được lỗi của bạn. Đối với những em này, giáo viên đi đến
từng em để hướng dẫn cách sửa lỗi. Từ đó giúp các em có thể nắm bắt được luật
chính tả một cách thuận tiện.
- Thông qua việc tự sửa lỗi của các em, tôi đã giáo dục các em tính cẩn
thận, chính xác, không để sai sót đồng thời cũng kết hợp lòng trung thành cho
các em, sai lỗi nào bảo bạn sữa lỗi ấy.
- Hình thành ý nghĩa giữ gìn đồ dùng của bạn cũng như của mình (giữ vở
sạch, viết chữ đẹp), không được làm rách, bẩn vở của bạn trong quá trình chữa
soát lỗi.
- Hình thành ở các em ý thức nhiệm vụ được giao(tính tự giác).
Để thực hiện mục tiêu này, cần phải được tiến hành thường xuyên đối với
các tiết chính tả. Tạo cho các em thói quen và giữ trật tự khi trao đổi bài. giáo
viên luôn tuyên dương và khuyến khích những em viết đúng, viết đẹp. Với biện
pháp trên, học sinh rất thích viết đúng và đẹp để cho bạn không tìm ra lỗi sai của
mình và được cô khen trước lớp. chính vì thế chỉ một thời gian không lâu tôi đã
thu được kết quả đáng khả quan.
2.3.6. Luyện viết chữ đúng, đẹp

Để nâng cao chất lượng giờ chính tả, thì việc luyện chữ viết cho các em là
rất cần thiết.Viết đẹp nó còn thể hiện được tính cách của con người "Nét chữ Nết người". Trong lớp tôi dạy có rất nhiều em viết chữ chưa đẹp vì nhiều lý do.
Đó là cách viết chưa đúng kích cỡ: Độ cao, rộng của các con chữ khoảng cách
giữa các chữ hay các con chữ chưa đều, các nét chữ chưa liền mạch... Để giúp
các em khắc phục những tình trạng trên tôi đã lập kế hoạch sử dụng các biện
pháp khác nhau áp dụng để từng đối tượng.
Tôi hướng dẫn các em cách nhớ độ cao con chữ bằng cách chia độ cao các
chữ cái thành 3 nhóm (đối với chữ viết thường).
+ Nhóm 1: nhóm chữ cao 1 đơn vị như: i, e, ê,n, m...
+ Nhóm 2: nhóm chữ cao 1,5 đơn vị như chữ t.
+ Nhóm 3: nhóm chữ cao và dài 2,5 đơn vị như chữ h, l, b, k, y, g....
Khi học sinh học thuộc các độ cao của các chữ cái trên tôi tiến hành
hướng dẫn viết trên dòng kẻ bảng lớp trong khi viết giáo viên nhắc nhở các em
viết với độ rộng của chữ, muốn viết đẹp thì các con chữ cần phải có độ cao bằng
nhau rồi, mà độ rộng của các con chữ cũng phải bằng nhau, khoảng cách của các
chữ với nhau không rộng lắm mà cũng không hẹp lắm, khoảng bằng nửa thân
con chữ o là vừa. Các nét hất trong một chữ phải được nối liền nhau, trong khi
viết một chữ hạn chế nhấc bút mà thường viết liền các con chữ với nhau, chữ
viết thẳng giáo viên viết mẫu (ngay ngắn, không ngã ngửa chữ mà không cúi rạp
chữ).
11


Không những luyện viết chữ đẹp mà còn phải viết đúng nên tôi giúp học
sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả:
a) Luật trầm - bổng (luật hỏi – ngã trong từ láy) :
Có thể cho học sinh học thuộc hai câu thơ sau:
Chị Huyền mang Nặng Ngã đau
Anh Ngang, Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào.
Nghĩa là: Thanh Huyền, Nặng, Ngã kết hợp với dấu Ngã.

Thanh Ngang, Sắc, Hỏi kết hợp với dấu Hỏi.
Ví dụ: Âm trầm
+ Huyền - Ngã: vững vàng, vẽ vời, vồn vã, lững lờ, sẵn sàng,…
+ Nặng - Ngã: đẹp đẽ, nhẹ nhõm, mạnh mẽ, lạnh lẽo, vội vã,…
+ Ngã - Ngã: dễ dãi,, nhõng nhẽo, lỗ lã, nghễnh ngãng,…
* Ví dụ: Âm bổng
+ Huyền - Hỏi: vui vẻ, nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo,…
+ Sắc - Hỏi: vắng vẻ, mát mẻ, nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vất vả,…
+ Hỏi - Hỏi: hổn hển, lỏng lẻo, thỏ thẻ, thủ thỉ, rủ rỉ,…
b)Từ có âm đầu là M, N, Nh, V, L, D, Ng thì viết là dấu ngã (Mình Nên Nhớ
Viết Là Dấu Ngã).
Ví dụ: M: mĩ mãn, mã lực, từ mẫu, cần mẫn,…
N: nỗ lực, trí não, truy nã, nữ giới,…
Nh: nhẫn nại, nhẵn bóng, quấy nhiễu, nhõng nhẽo,…
V: vĩnh viễn, vỗ về, vũ trang, võ nghệ, vũ trụ,…
L: lễ phép, lữ hành, kết liễu, thành lũy, lạnh lẽo, …
D: dã man, dã tràng, dũng cảm, dỗ dành, hướng dẫn, diễm lệ,…
Ng: ngưỡng mộ, hàng ngũ, ngữ nghĩa, ngôn ngữ, ngỡ ngàng, ngã (té),..
Ngoài 7 âm đầu trên các từ Hán Việt đều viết dấu hỏi:
* Ví dụ: ảm đạm, ẩm thực, ủy ban, quỷ quyệt, xả thân, kỉ niệm, tỉ mỉ,..
Ngoại lệ: quỹ đạo, thủ quỹ, xã hội, kĩ thuật, mĩ thuật,…
Sau khi hướng dẫn học sinh nắm được cách viết đẹp, và ghi nhớ mẹo luật
chính tả để viết đúng. Tôi cho các em được luyện chữ theo đúng các dòng kẻ cô
hướng dẫn, giáo viên kịp thời sửa lại những nét các em viết chưa đúng, tuyên
dương những em viết đúng hàng kẻ, viết đẹp.
Luyện viết vào vở, giáo viên đọc cho học sinh một hoặc hai câu thơ với
tốc độ chậm để các em tập viết đúng li trong khi học sinh viết, giáo viên đi lần
lượt từng bàn quan sát các em viết, em nào viết chưa đúng chưa đẹp cô viết mẫu
cho em đó một, hai chữ vào vở để các em bắt chước viết cho đẹp. Khi các em đã
biết viết dùng kích cỡ tôi tập cho các em viết nhanh dần đưa tốc độ viết đối với

học sinh lớp 3.
12


Ngoài những việc luyện viết chữ đẹp ở tiết chính tả , tôi còn cho các em
luyện viết vào buổi 2 và tôi luôn quan tâm nhắc nhở các em cần phải viết đúng,
nắn chữ ở những tiết học khác như tập làm văn, tập viết...và tóm lại cứ đặt bút
viết là các em phải viết cẩn thận đẹp như đang trong giờ luyện viết vậy, thì dần
dần các em mới quen tay viết chữ đẹp được. Trong các tiết dạy , cứ phát hiện
được bài viết của bạn nào đẹp, đúng cỡ chữ là cô tuyên dương trước lớp nhằm
khuyến khích các em viết đẹp hơn.
Từng tuần, từng tháng tôi tổ chức thi vở sạch, chữ đẹp, giám khảo là
những tổ trưởng, giáo viên giám sát học sinh nhận xét vở sạch, chữ đẹp của tổ
khác và nếu tổ nào có nhiều(A) thì tổ đó thắng và được ghi thành tích vào thi
đua của tổ.
Ngoài việc rèn chữ đẹp ở lớp, tôi còn gặp gỡ gia đình các em trao đổi với
phụ huynh, nhờ phụ huynh kèm cặp thêm viết ở nhà và cứ như vậy, sau một thời
gian lớp tôi có nhiều em viết chữ đẹp như em (Trà My, Hoài, Thảo , Mai, Vũ,
Minh Anh, Lan Anh, ...)và nhiều em từ loại C lên B như em (Thùy Linh, Hiếu,
Sang , ...)và từ loại B lên loại A như em( Em Chi, Hạnh, Giang, ...).
Đây là một thành công lớn của tôi và sự tiến bộ của các em là nguồn động viên,
khuyến khích tôi càng hăng say thực hiện mong muốn của mình.

Kế hoạch bài học minh họa:
CHÍNH TẢ
NGHE VIẾT : ĐỐI ĐÁP VỚI VUA
I . MỤC TIÊU:
- Nghe - viết đúng bài chính tả, trình bày đúng hình thức bài văn xuôi.
- Làm đúng BT1a, 2a.
II .ĐỒ DÙNG DẠY - HỌC:

- GV: Bảng phụ ghi BT1a
- HS: Bảng con, vở BT.
III . CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC:
HĐ1. (5 phút) Củng cố cách viết các từ có vần ut/uc
- GV đọc cho HS viết trên bảng con các từ ngữ : xúc đất, sút bóng
- GV nhận xét.
HĐ2. (22 phút) Hướng dẫn HS nghe - viết
a) Hướng dẫn HS chuẩn bị
- GV đọc đoạn văn một lượt . 2 HS đọc lại. Cả lớp theo dõi trong SGK.
- Hướng dẫn HS nhận xét,
13


GV hỏi: Hai vế đối trong đoạn chính tả viết thế nào ?
- HS đọc thầm lại đoạn chính tả, tìm ghi nhớ những chữ dễ viết sai. GV cho HS
tập viết một số từ ngữ trên bảng con : leo lẻo, chang chang, giận, cởi trói,..
b) GV đọc cho HS viết
- HS viết bài .
- GV theo dõi hướng dẫn các em viết đúng nét, đúng độ cao và khoảng cách
giữa các chữ.
c) Nhận xét, chữa bài
- HS đổi chéo vở cho nhau soát bài và chữa lỗi bằng bút chì xuống cuối bài .
- GV thu 10 bài sau đó nhận xét và chữa lỗi cho HS.
HĐ3. (8 phút) Hướng dẫn HS làm bài tập chính tả
Bài 1a : Rèn KN tìm đúng các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hoặc x theo nghĩa đã
cho.
- GV xuất hiện bảng phụ, 1HS đọc yêu cầu BT
- 1 HS làm bài trên bảng, dưới lớp HS làm và viết kết quả vào bảng con.
- HS nhận xét, chữa bài thống nhất kết quả đúng.
- Từng cặp HS 1 em nêu nghĩa của từ, 1 em nêu từ tương ứng với nghĩa đã nêu.

Kết quả: Sáo, xiếc
Bài 2a: Rèn KN tìm các từ ngữ chỉ hoạt động chứa tiếng bắt đầu bằng s , x
-1HS đọc yêu cầu BT,
- GV tổ chức cho HS chơi trò chơi thi tìm từ ngữ chỉ hoạt động chứa tiếng bắt
đầu bằng s, x:
HS lần lượt nêu, GV nhận xét ghi bảng.
Từ ngữ chỉ hoạt động chứa tiếng bắt Từ ngữ chỉ hoạt động chứa tiếng bắt
đầu bằng s
đầu bằng x:
San sẻ, xe sợi, so sánh, soi đuốc, sẻ Xé vải , xào rau, xới đất, xơi cơm,
chia,…
xúc đất,..
HĐ nối tiếp (5 phút)
- GV nhận xét tiết học.
2. 4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Sau một thời gian được rèn chữ viết chính tả cho học sinh lớp3, tôi thấy
các em đã ngồi đúng tư thế khi viết và phát âm, đọc nói đúng tiếng phổ thông.
Các em đã viết đúng các phụ âm đầu, những vần khó, tốc độ chữ viết nhanh, viết
đúng , viết đẹp. Đặc biệt hơn nữa giữa học kì II, nhà trường tổ chức kiểm tra nền
nếp “Vở sạch – Chữ đẹp” tập thể lớp 3A do tôi chủ nhiệm đã có 29 em được xếp
loại A, 13 em xếp loại B không có em nào xếp loại C. Học sinh phát huy được
tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, các em rèn chữ viết một cách tự
giác, thi đua học tập.
14


Những kết quả các em đạt được chính là sự thành công lớn của tôi và là
một động lực giúp tôi viết nên một sáng kiến "Biện pháp nâng cao chất lượng
giờ chính tả lớp 3"
Bài viết của học sinh đầu năm

STT
Xếp loại
SL(em)
Tỷ lệ
Ghi chú
1
Loại A
16
38.1
2
Loại B
18
42.8
3
Loại C
8
19.1
Bài viết của học sinh cuối học kỳI.
STT
Xếp loại
SL(em)
1
Loại A
24
2
Loại B
18
3
Loại C
0


Tỷ lệ
57.1
42.9
0

Ghi chú

Bài viết của học sinh giữa kỳ II
STT
Xếp loại
SL(em)
1
Loại A
29
2
Loại B
13
3
Loại C
0

Tỷ lệ
69%
31%
0

Ghi chú

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

3.1. Kết luận:
Qua việc dạy chính tả và "Biện pháp nâng cao chất lượng giờ chính tả lớp 3
tôi rút ra kết luận là :
- Dạy các em, đòi hỏi người giáo viên phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, tận
tuỵ, kiên trì không nóng vội, quan tâm đến học sinh bằng tình cảm của người
mẹ, người chị.
- Nghiên cứu bài dạy trước khi lên lớp.Thực hiện đầy đủ thao tác quy trình
kế hoạch bài học.
- Nắm vững phương pháp đặc trưng của phân môn Chính tả, kết hợp linh
hoạt các phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh
của lớp mình.
- Biết giúp đỡ học sinh khi cần thiết. Không quên "xem học sinh là nhân vật
trung tâm".
- Thường xuyên nhận xét bài chính tả cho các em để có kế hoạch, hình thức
giúp đỡ kịp thời, sát thực với từng đối tượng.
- Liên hệ với gia đình thường xuyên, để kết hợp giữa gia đình, nhà trường
một cách chặt chẽ.

15


- Việc xây dựng phong trào VSCĐ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Kết quả
của phong trào chính là những sản phẩm do học sinh làm ra, vì vậy các em rất tự
hào về những gì mình đã đạt được. Qua việc tổ chức thực hiện, nhiều giáo viên
đã rất thành công trong việc giáo dục tình cảm thẩm mĩ, yêu quý, trân trọng vẻ
đẹp về chữ viết của học sinh tiểu học.
- Để dạy tốt người giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, tham khảo ở
sách, báo, xem mạng internet và kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp; tự tìm
hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ tay nghề, cần phải có kiến thức về ngữ âm
học, từ vựng học, ngữ nghĩa học, tra “từ điển” các từ có liên quan đến chính tả.

- Phải dùng nhiều hình thức rèn luyện, khen thưởng và động viên học sinh
kịp thời. Hạn chế không nên trách phạt, chê các em trước lớp làm cho các em có
mặc cảm và bạn bè có ấn tượng không tốt về các em. Bên cạnh đó giáo viên còn
phải khích lệ, động viên học sinh phải kiên trì, chăm chỉ rèn luyện mới đạt được
kết quả tốt.
3.2. Kiến nghị:
Đối với gia đình học sinh: cần trang bị đủ sách vở, đồ dùng học tập theo
đúng quy định, bút viết, bìa kê tay cho học sinh ngay từ đầu năm để tạo điều
kiện tốt cho các em trong việc rèn chữ viết.
Đối với ban giám hiệu nhà trường: cần phải thường xuyên duy trì nền nếp
“Giữ vở sạch - viết chữ đẹp” cho giáo viên và học sinh. Động viên, khen thưởng
kịp thời đối với những lớp và giáo viên có phong trào rèn chữ tốt, đầu tư cơ sở
vật chất: phòng học, bàn ghế, các phương tiện dạy - học đủ, đúng quy cách.
Đối với phòng giáo dục cần thường xuyên tổ chức các chuyên đề, phổ
biến kinh nghiệm để nhân rộng phong trào điển hình về VSCĐ.
Một vài kinh nhiệm nhỏ tôi đưa ra trên đây chắc còn nhiều hạn chế. Tôi
rất mong sự nhiệt tình giúp đỡ của bạn đồng nghiệp những ý kiến quý báu, giúp
tôi đạt kết quả cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 12 tháng 4 năm2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)

Đào Thị Hiền
16



TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Mẫu chữ theo Quyết định 31/2002/QĐ - BGD & ĐT ngày 14/6/2006 của Bộ
GD & ĐT
[2]. Dạy và học chính tả ở Tiểu học - Tác giả Trần Mạnh Hưởng - Nhà xuất bản
Giáo dục.

17


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH
VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả: Đào Thị Hiền
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Quảng Phú

TT
1.

2.

Tên đề tài SKKN
Thiết kế một số trò chơi góp
phần đổi mới PPDH trong
giờ học toán lớp 2
Một số biện pháp hướng dẫn
HS lớp 2 học tập làm văn


Cấp đánh
giá xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh;
Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B, hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

Cấp huyện

Loại C

2008 - 2009

Cấp huyện

Loại C

2009 – 2010

18




×