Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

MỘT số BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG dạy học DẠNG TOÁN tìm số TRUNG BÌNH CỘNG CHO học SINH lớp 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (240.03 KB, 27 trang )

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
DẠNG TÌM SỐ TRUNG BÌNH CỘNG CHO HỌC SINH LỚP 4

Quảng Bình, tháng 5/2015
1


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CH ẤT LƯỢNG DẠY HỌC
DẠNG TÌM SỐ TRUNG BÌNH CỘNG CHO HỌC SINH LỚP 4

Họ và tên: Nguyễn Thị Hương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Mỹ Thủy

Quảng Bình, tháng 5/2015
2


MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài ....................................................................................................1
1. 2. Ph ạm vi áp dụng sáng kiến..................................................................................2
1.3. Điểm mới của đề tài ..............................................................................................2
II. PHẦN NỘI DUNG


2.1 Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết......................3
2.2 Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán dạng tìm số trung bình cộng...................5
2.2.1 Thay đổi không gian lớp học...............................................................................6
2.2.2 Vận dụng mô hình dạy học mới...........................................................................7
2.2.3 Gợi nhu cầu nhận thức cho học sinh.................................................................10
2.2.4 Tổ chức cho học sinh trải nghiệm, phân tích, khám phá và rút ra được kiến
thức mới......................................................................................................................11
2.2.5 Tìm hiểu một số sai lầm của học sinh khi giải toán........................................13
2.2.6 Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh..........................................21
2.2.7 Linh hoạt trong lựa chọn hình thức và phương pháp dạy họckiểm tra và
đánh giá học sinh......................................................................................................21
3. KẾT LUẬN.
3.1 Ý nghĩa của đề tài................................................................................................23
3.2 Kiến nghị, đề xuất.................................................................................................24

3


MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC DẠNG TOÁN
TÌM SỐ TRUNG BÌNH CỘNG CHO HỌC SINH LỚP 4

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài :
Như chúng ta đã biết bậc tiểu học được coi là “Bậc học nền tảng của hệ thống
giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm đạo đức, trí tuệ,
thẩm mỹ và thể chất của trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn
diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Luật phổ cập giáo dục tiểu
học). Điều đó cho thấy rằng giáo dục tiểu học được xác định là bậc học của cách học,
cách tạo nên những cơ sở rất cơ bản, rất bền vững cho các em.
Chương trình Toán Tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn. Toán học góp

phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Toán học rèn
luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề,
góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo. Toán
học được coi là chìa khóa mở của các ngành khoa học khác, nó còn đóng góp vào
việc hình thành các phẩm chất của người lao động như: cần cù, cẩn thận, ý chí vượt
khó, làm việc có kế hoạch, có nền nếp, khoa học.
Giải toán có lời văn là một trong bốn mạch kiến thức cơ bản của môn Toán lớp
4. Nội dung chủ yếu của mạch kiến thức này bao gồm: Tiếp tục giải các bài toán đơn,
toán hợp có dạng đã học từ lớp 1, 2, 3 và phát triển các bài toán đó đối với các phép
tính trên phân số và các số đo đại lượng mới học ở lớp 4. Đồng thời toán lớp 4 còn đề
cập đến những dạng toán mới như giải toán về: “Tìm số trung bình cộng”; “Tìm hai
số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”; “Tìm hai số khi biết tổng ( hoặc hiệu) và tỉ
số của hai số đó”; “ Tìm phân số của một số”… Trong đó dạng toán “ Tìm số trung
bình cộng” là dạng toán thường gặp, nó là một bài toán đơn hoặc nằm trong một bài
toán hợp thuộc dạng khác.

4


Các bài toán về tìm số trung bình cộng lại được chia thành các loại nhỏ mà khi
gặp phải học sinh thường lúng túng mơ hồ và sai lầm; khó tìm ra hướng giải quyết và
thường nhầm lẫn từ dạng này sang dạng khác, không phát hiện số các số hạng và cách
giải. Ngôn ngữ toán học của học sinh còn hạn chế, kĩ năng tính toán, trình bày thiếu
chính xác, thiếu khoa học, học toán và giải toán một cách máy móc nặng nề về rập
khuôn, bắt chước. Nếu không xác định cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu
vững chắc thì học sinh sẽ không giải quyết được những bài toán ở dạng cơ bản (đối
với học sinh trung bình) và nâng cao lên (đối với học sinh khá giỏi).
Chính vì những lí do đó, qua thực trạng học phần giải các bài toán về Tìm số
trung bình cộng của học sinh, tôi nhận thấy việc giúp đỡ học sinh phát hiện ra được
cái sai và tìm cách giải các bài toán là việc làm hết sức quan trọng, giúp học sinh có

khả năng phân tích, tổng hợp, tư duy nhằm nâng cao chất lượng học toán. Là một
giáo viên trực tiếp giảng dạy líp 4 nªn tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Một số biện
pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng” với mong
muốn nâng cao trình độ nghiệp vụ nhằm giúp học sinh có kĩ năng nhận dạng toán,
phân tích bài toán, biết lựa chọn phương pháp giải phù hợp cho từng bài toán thuộc
dạng toán này, tránh những sai lầm khi giải toán tạo sự hứng thú đối với môn học.
1.2 Phạm vi áp dụng sáng kiến
Đề tài được áp dụng trong công tác giảng dạy môn Toán cho học sinh lớp 4 đặc
biệt là dạng toán “Tìm số trung bình cộng” của học sinh trường Tiểu học nơi tôi công
tác.
1.3 Điểm mới của đề tài.
Khi dạy học các bài toán về trung bình cộng học sinh phải tư duy
một cách tích cực và linh hoạt huy động tích hợp các kiến thức và
khả năng đã có vào những tình huống khác nhau. Điểm mới của đề tài
này là phát hiện ra được những cái sai của học sinh thường gặp phải, phân loại được
các dạng toán trung bình cộng để tìm ra các biện pháp nhằm khắc phục những khó
khăn, sai lầm của học sinh khi giải các bài toán có liên quan đến dạng này, góp phần
5


trong việc nâng cao chất lượng học tập môn Toán của học sinh . Giải pháp này
giúp cho học sinh lập kế hoạch giải một cách dễ dàng, phát triển kỹ
năng, kỹ xảo, năng lực, tư duy và khả năng giải toán của các em.
Đề tài nghiên cứu dựa trên chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt được sau mỗi bài
học, kiến thức đại trà học sinh phải đạt được, đồng thời cũng chú trọng đến kiến thức
nâng cao để bồi dưỡng cho học sinh, vận dụng được mô hình dạy học mới vào giảng
dạy.

2. PHẦN NỘI DUNG
2.1 Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết

Dạng toán Tìm số trung bình cộng được đưa vào chương trình Toán 4 gồm 3 tiết.
Cụ thể là:
- 1 tiết cung cấp quy tắc và công thức tính Trung bình cộng của một dãy số cách
đều trang 26 - 27;
- 1 tiết Luyện tập áp dụng công thức vừa học trang 28;
- 1 tiết cuối cùng là ôn tập về tìm số trung bình cộng trang 175.
Với thời lượng ít như vậy nên giáo viên chưa đầu tư nhiều vào dạng toán này.
Vào đầu năm học 2013 - 2014, tôi đã được Nhà trường và chuyên môn phân
công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4C, lớp có 25 học sinh. Qua một thời gian dạy học,
tôi đã tiến hành làm bài kiểm tra.
Sau khi thu bài kiểm tra tôi đã thu được một số kết quả như sau:
9- 10

7- 8

5- 6

3- 4

0- 2

6 ( 24%)

7 (28%)

9(3 6%)

3(12%)

0 ( 0%)


Đề bài kiểm tra gồm cả phần tự luận và trắc nghiệm với các mạch kiến thức: đọc
viết số, chia cho số có 1 chữ số, tìm thành phần chưa biết của phép tính, giải toán
6


dạng Tìm số trung bình cộng. Tôi phân tích cụ thể các dạng bài tập của bài kiểm tra
và nhận thấy đa số các em đọc và viết số số thành thạo, biết cách chia cho số có 1 chữ
số và tìm thành phần chưa biết của phép tính. Tuy nhiên kỹ năng giải toán về Tìm số
Trung bình cộng còn rất yếu.
Qua nh×n nhËn thực tế tôi thấy rằng chất lượng bài kiểm tra chưa cao là do
nhiều nguyên nhân :
*Về phía giáo viên
- Thời lượng ít như vậy và trên thực tế giáo viên phải dạy nhiều môn, thời gian
dành để nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học
sinh trong lớp còn hạn chế. Do vậy, chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe giảng
của học sinh.
- Nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của các bài toán điển hình trong môn Toán
cũng chưa đầy đủ bởi đây là một dạng toán mới đầu tiên các em gặp khi bước vào
lớp 4. Từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải.
*Về phía học sinh:
+ Nguyên nhân khách quan:
- Học sinh chưa có hứng thú với các môn học nói chung, môn Toán nói riếng và
đặc biết là dạng Toán tìm số trung bình cộng
- Học sinh chưa chịu khó, tích cực tư duy suy nghĩ tìm tòi cho mình những
phương pháp học đúng để biến tri thức của thầy cô thành của mình. Cho nên sau khi
học xong bài, các em chưa nắm bắt được lượng kiến thức thầy cô giáo giảng, rất
nhanh quên và kĩ năng tính toán chưa nhanh, số lượng học sinh tiếp thu chậm, yếu
toán có lời văn tương đối nhiều. Học sinh chưa có kĩ năng giải toán có lời văn.
- Trình độ của học sinh không đồng đều trong một lớp: có em làm nhanh nhưng

cũng có em làm chậm. Các em bước đầu chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu
tượng cho nên việc nhận thức và tiếp thu kiến thức gặp không ít khó khăn, chưa mang
lại kết quả như chương trình đề ra.
7


- Hiện nay chương trình Toán tiểu học đã có sự đổi mới, khoa học hơn song
chương trình kiến thức lớp 1, 2, 3 rất đơn giản, đến lớp 4 học sinh phải gặp những
kiến thức khó với lượng kiến thức khá nhiều. Đây là một vấn đề khó khăn cho cả
người dạy và người học.
- Trong các dạng toán có lời văn ở lớp 4 thì dạng “ Tìm số trung bình cộng” là
dạng toán được học đầu tiên ở lớp 4 và các em có thể gặp suốt trong quá trình học
toán ở Tiểu học. Nếu các em học tốt dạng toán này thì sẽ tốt các dạng toán khác.
+ Nguyên nhân chủ quan:
- Một số học sinh đọc đề vội vàng, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng
tâm của đề toán, không chịu phân tích đề toán khi đọc đề, dẫn tới thường nhầm lẫn
giữa các dạng toán, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán.
- Một số học sinh chưa có kĩ năng phân tích và tư duy khi gặp những bài toán
phức tạp. Hầu hết, các em làm theo khuôn mẫu của những dạng bài cụ thể mà các em
thường gặp trong sách giáo khoa, khi gặp bài toán đòi hỏi tư duy, suy luận một chút
các em không biết cách phân tích dẫn đến lười suy nghĩ. Một số em tiếp thu bài một
cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán, vì
thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức.
- Học sinh chưa có một phương pháp tư duy logic để giải quyết các dạng bài tập
về tìm số Trung bình cộng. Khi giải xong bài toán, đa số học sinh bỏ qua bước kiểm
tra lại bài, dẫn đến nhiều trường hợp sai sót đáng tiếc do tính nhầm, do chủ quan.
2.2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung
bình cộng
Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó khăn và phức tạp, hình thành kỹ năng giải
toán khó hơn nhiều so với kỹ xảo tính, vì các bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều

khái niệm, nhiều quan hệ toán học. Giải toán Tìm số trung bình cộng không chỉ là
nhớ mẫu rồi áp dụng mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc ý
nghĩa các phép tính, các dạng toán, đòi hỏi khả năng độc lập, suy luận của học sinh,
đòi hỏi biết làm tính thành thạo.
8


Sau khi khảo sát chất lượng giải toán đầu năm học, bản thân tôi đã đã nắm bắt
được tình hình học sinh qua kĩ năng giải toán Tìm số trung bình cộng đồng thời tìm
hiểu những sai lầm mà các em thường mắc phải khi giải toán, tôi đã tiến hành xây
dựng các giải pháp như sau:
II.2.1 Thay đổi không gian lớp học

B

n
g

Đổi mới không gian cho lớp học tạo nên lớp học sẽ được “thay áo mới”, thú vị
và bổ ích. Trang trí lớp học thân thiện, phù hợp đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học còn
giúp các em tự hào về lớp, nâng cao ý thức gìn giữ lớp học sạch đẹp, có thêm không
gian để giao lưu, chia sẻ, nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng đổi mới phương
pháp giảng dạy, đồng thời khuyến khích học sinh sự giác học tập
Học sinh sẽ được tiếp cận với nhau trong quá trình học, giáo viên chỉ là người
hỗ trợ các em tìm ra kiến thức. Không gian lớp học sẽ được thay đổi thường xuyên để
đảm bảo em nào cũng phát huy được mọi năng lực khả năng của mình.
Cách sắp sếp ngồi học như hình minh họa trên không ảnh hưởng gì tới thể chất
của học sinh cả: việc tổ chức hoạt động nhóm thường xuyên thay đổi vị trí ngồi học,
lúc thì ngồi học chỗ này, tiết học sau lại ngồi chỗ khác. Hay nói cách khác áp dụng
hình thức dạy học theo nhóm thì chỗ ngồi của học sinh là chỗ ngồi không ổn định.

Ngày xưa ngồi học là lấy bảng làm trung tâm để tiếp thu kiến thức của thầy, và
chú ý nghe thầy giảng bài, ngày nay, ngồi học tức là ngồi làm việc, ngồi để thực hiện
một nhiệm vụ không đơn thuần chỉ nhìn về phía bảng, các em chỉ nghe phổ biến
nhiệm vụ sau đó cùng nhau thực hiện nhiệm vụ đó trên tinh thần hợp tác, chia sẻ ngay
trên bàn mình ngồi.
9


II.2.2 Vận dụng mô hình dạy học mới
Mô hình trường học mới VNEN nhằm chuyển đổi từ giáo dục truyền thống sang
mô hình giáo dục trường học mới: tập trung nâng cao phẩm chất năng lực người học,
coi trọng giáo dục toàn diện để dạy làm người như lời dạy của Bác Hồ là đào tạo lớp
người “vừa hồng vừa chuyên”. Trong quá trình dạy học giáo viên giữ vai trò là người
tổ chức quá trình hoạt động của học sinh.
Nhận thức là hoạt động trí tuệ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà hình thức thể
hiện của nó là khả năng tiếp thu. Khả năng tiếp thu lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố
môi trường. Xây dựng môi trường riêng cho mỗi cá nhân trong giờ học có vai trò
quan trọng trong việc giúp các em lĩnh hội các kiến thức bài học. Ta đã biết học là
hoạt động đơn phức của hoạt động trí óc. Do đó từ đầu năm, qua quá trình theo dõi
tôi đã chú trọng cá biệt hóa từng cá nhân, nắm thật cụ thể lực học của từng cá nhân
trong tập thể lớp để từ đó xây dựng môi trường riêng, cách hướng dẫn riêng cho cá
nhân trong hoạt động nhận thức tiếp thu bài, vận dụng mô hình dạy học nhóm để học
sinh cùng chia sẻ kết quả.
VD: Học sinh Nguyên có tầm vóc thấp bé, cần bố trí chỗ ngồi hợp lý tránh
tình trạng đứng viết hoặc viết trên ghế.
VD: Học sinh Tiến có thị lực yếu, cần bố trí vị trí ngồi hợp lý trong lớp để em
nhìn rõ thuận tiện cho quá trình học tập.
VD: Học sinh Lan( nhóm Vàng Anh) ham chơi, khả năng tiếp thu chậm thì
cần bố trí chỗ ngồi gần bảng gần bàn giáo viên ở dãy ngoài để thuận tiện cho việc học
của học sinh cũng như giáo viên sẽ thuận tiện hơn trong việc kèm cặp, giúp đỡ; mặt

khác thành lập đôi bạn cùng tiến để các bạn giúp đỡ lẫn nhau; yêu cầu các thành viên
trong nhóm giúp đỡ bạn.
Đối với những học sinh yếu thì tôi phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi phụ nhiều
hơn, chi tiết hơn để gợi ý hướng dẫn các em từng bước tìm ra cách giải bài toán.
Ví dụ 1: Một đội công nhân đào đường, ngày đầu đào được 1200m, ngày thứ hai
đào được ít hơn ngày đầu 150m. Hỏi trung bình mỗi ngày đội công nhân đào được
bao nhiêu mét đường?
Câu hỏi gợi ý:
10


- Để tìm được trung bình mỗi ngày đội công nhân đào được bao nhiêu mét
đường ta phải biết được cái gì? ( Tổng số mét đường của hai ngày đào chia cho 2)
-Tổng số m của hai ngày đào đã biết chưa ? (Chưa biết vì chưa biết số mét
đường ngày thứ hai đào được)
Ví dụ 2: Một ô tô chạy từ tỉnh A đến tỉnh B. Trong 2 giờ đầu, mỗi giờ ô tô chạy
được 46km, giờ thứ ba ô tô chạy được 52km, hai giờ sau mỗi giờ ô tô chạy được
43km thì đến tỉnh B. Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô chạy được bao nhiêu kilomet?
* Câu hỏi gợi ý ( Dành cho học sinh trung bình) “Xuất phát từ câu hỏi đến các
dữ kiện của bài toán”(Đường lối phân tích)
- Bài toán hỏi gì? (Trung bình mỗi giờ ô tô chạy được bao nhiêu km?)
- Có thể biết ngay được chưa? (chưa). Vì sao? (Vì chưa biết được tổng số km,
tổng số giờ ô tô đã đi)
- Ta có thể biết được số tổng km? (chưa). Vì sao? (Chưa biết số km ô t ô đi
trong 2 giờ đầu, 2 giờ sau).
- Có thể biết được số gi ờ mà ô tô đã đi chưa? (có thể được).
- Vậy việc đầu tiên ta sẽ tìm là gì? (Tìm số km ô tô đi trong 2 giờ đầu; số km
ô tô đi trong 2 giờ sau). Bằng cách nào? (Lấy 46 x 2, 43 x 2)
- Việc thứ hai ta tìm cái gì?(Tìm số giờ ô tô đã đi). Bằng cách nào?(2 + 1+ 2)
- Sau khi tìm được số giờ ô tô đã đi thì ta tìm gì nữa? (Tìm Tổng số km mà ô

tô đã chạy). Bằng cách nào? (Lấy kết quả của phép tính thứ nhất cộng kết quả của
phép tính thứ hai ).
- Bước cuối cùng ta làm gì? (Tìm trung bình mỗi mỗi giờ ô tô chạy )Vậy ta
đã trả lời được câu hỏi của bài toán chưa? (Rồi)
Với bài toán này giáo viên cần cho học sinh thảo luận nhóm, tiến hành chia sẻ
kết quả làm việc trước lớp để rút ra cách giải cho bài toán này, nếu nhóm nào còn
lúng túng thì giáo viên giúp đỡ, gợi ý hoặc có thể nhờ nhóm bạn (với hệ thống câu
hỏi đó)
Từ việc nắm chắc nội dung, đối tượng học sinh trong lớp, đồ dùng dạy học mình
có, tôi chọn cách chia nhóm sao cho phù hợp: mỗi nhóm từ 3 - 4 học sinh . Các chức
danh nhóm trưởng và thư kí luân phiên. Khi bắt đầu làm việc, nhóm trưởng phải phân
công các thành viên trong nhóm, mỗi người một việc, sau đó cá nhân làm việc độc
lập rồi từng em đưa ra ý kiến để thảo luận trong nhóm. Ý kiến thống nhất được ghi
11


nhận để chuẩn bị trình bày trước lớp. Người trình bày cũng luân phiên để tạo điều
kiện cho tất cả học sinh được rèn luyện kĩ năng. Trong thời gian HS làm việc, giáo
viên thường xuyên theo dõi để hướng dẫn, giúp đỡ các nhóm trao đổi thảo luận đúng
yêu cầu bài học, tránh thảo luận tùy hứng dẫn đến nguy cơ đi lệch yêu cầu hoặc giáo
viên gợi mở thêm nhằm mở rộng kiến thức và giáo dục kỹ năng sống cho các em.
*Cách chia nhóm:
+ Khi nội dung yêu cầu không khác nhau, ít có chênh lệch về độ khó nên chia
nhóm ngẫu nhiên.
+ Khi nội dung cần có sự phân hóa về độ khó, dễ nên chia nhóm cùng trình độ.
+ Khi nội dung đơn vị kiến thức cần có sự hỗ trợ lẫn nhau như các bài ôn tập thì
nên chia nhóm tương trợ…
Tôi cũng chuẩn bị đầy đủ các phương tiện như phiếu học tập, tranh ảnh, vật thật
(đưa ra hình ảnh trực quan như các cái kẹo thật làm tiền đề cho phần giới thiệu bài)
và thảo luận, bàn bạc; thời gian quy định cho mỗi hoạt động; phiếu học tập nhóm

hoặc cá nhân để học sinh ghi chép kết quả hoạt động sau khi thảo luận. Như vậy học
sinh dễ lĩnh hội kiến thức chắc chắn hơn.
Bản thân tôi đã vận dụng mô hình dạy học này vào quá trình giảng dạy đặc biệt
là trong môn Toán góp thêm cho lớp học một luồng không khí thân thiện, thoải mái,
sinh động, hăng say trong giờ học, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.
Giáo viên phải xây dựng được Hội đồng tự quản học sinh, tìm hiểu kĩ về từng
học sinh của lớp mình. Coi trọng công tác tổ chức lớp ngay từ đầu năm học. Xây
dựng được Hội đồng tự quản học sinh nhiệt tình có năng lực chỉ đạo lớp.
Đây là mô hình không những đổi mới về tổ chức lớp học, về trang trí lớp mà quá
trình dạy học cũng được đổi mới từ dạy - học cả lớp sang dạy - học theo nhóm. Nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy, tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh. Lấy học sinh làm trung tâm trong các hoạt động dạy học giúp các em tự
chiếm lĩnh kiến thức và tạo mọi điều kiện tốt nhất để mọi học sinh được tham gia vào
quá trình học tập.
12


Ngoài ra vận dụng mô hình trường Tiểu học kiểu mới giúp học sinh rèn phương
pháp tự học, tự giác, tự quản, tự trọng, tự tin, tự đánh giá, tự hợp tác, tự rèn luyện kỹ
năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng
thú học tập cho học sinh.
2.2.3 Gợi nhu cầu nhận thức cho học sinh
Nhà tâm lí học Pôlya nói: “… Con người chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu.
Hoạt động nhận thức chỉ có kết quả cao khi chủ thể ham thích, tự giác và tích cực”.
(Pôlya, Tâm lý học, Tập II, Tr 128)
Do đó trong dạy học giải toán tôi đã khéo léo sử dụng các phương pháp thích
hợp có tác dụng khêu gợi và kích thích sự chú ý, tích cực hoá hoạt động tư duy của
học sinh, làm cho học sinh nhận thức được đầy đủ ý nghĩa thực tiễn của giờ đang học.
Đồng thời xây dựng niềm tin vào khả năng cho học sinh, làm cho học sinh cảm thấy
rằng nếu mình tập trung, chịu khó học tập thì sẽ thu lượm được những kết quả tốt đẹp

có ích cho bản thân, vừa lòng thầy cô, cha mẹ. Đặc thù của việc giải toán đòi hỏi có
các đức tính cần cù, chịu khó, tỉ mỉ, nhẫn nại, thẩm mĩ, … nhưng học sinh tiểu học do
tâm lý lứa tuổi thường hay phân tán sự tập trung, chóng chán. Hoạt động gợi nhu cầu
nhận thức, gây hứng thú môn học có thể được sử dụng linh hoạt trong quá trình giảng
dạy. Không nhất thiết, đơn thuần chỉ sử dụng ngay đầu tiết dạy.
Muốn không khí lớp học vui tươi, kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của
học sinh về chủ đề sẽ học, bản thân tôi nghiên cứu kỹ tài liệu, sách giáo khoa để lựa
chọn hình thức sao cho phù hợp, có thể là: đặt câu hỏi, câu đố vui, kể chuyện, một
tình huống, tổ chức trò chơi hoặc sử dụng các hình thức khác…
Ví dụ 1: Bài : Tìm số Trung bình cộng ( tài liệu Toán lớp 4 trang 26)
Trước khi vào tiết học, GV tổ chức HS chơi trò chơi “Ai nhanh ai đúng”. Các
em sẽ cùng nhau tính nhanh 1 bài toán nhỏ gắn với thực tế các em: Bạn Lan có 4 cái
kẹo, bạn bình có 6 cái kẹo. Nếu chia đều số kẹo đó thì mỗi bạn được bao nhiêu cái ?
Thông qua trò chơi, HS sẽ cảm thấy trò chơi mà mình vừa được tham gia rất gần gũi
với bản thân, không chỉ thế trò chơi còn kích thích tính tò mò, khơi dậy hứng thú
trong học. Cũng bắt đầu từ đây giáo viên dẫn dắt vào bài mới và giới thiệu đây là
dạng toán mới trong chương trình lớp 4 mà các em được tìm hiểu, từ đó các em muốn
tiếp tục được trải nghiệm kiến thức mới.
13


2.2.4 Tổ chức cho học sinh trải nghiệm, phân tích, khám phá và rút ra được
kiến thức mới
Để hình thành khái niệm số trung bình cộng và tìm ra được quy tắc của dạng toán
tìm số trung bình cộng tôi đã sử dụng hình thức thảo luận nhóm 4, yêu cầu HS tóm tắt
bằng sơ đồ đoạn thẳng tìm ra quy tắc tìm số trung bình cộng của nhiều số hạng. Tôi
đã đưa thêm 1 ví dụ nữa, các em tiếp tục thực hành và sau đó tìm điểm chung giữa 2
ví dụ này để cùng rút ra công thức tính.
Ví dụ 2: Số học sinh của 3 lớp 5A, 5B, 5C lần lượt là 25 học sinh, 27 học sinh,
32 học sinh. Hỏi trung bình mỗi lớp có bao nhiêu học sinh ?

Muốn làm được điều đó điều đầu tiên đỏi hỏi các em phải tìm hiểu nội dung bài
toán (đề toán) thông qua việc đọc bài toán dù bài toán cho ở dạng có lời văn hoàn
chỉnh hoặc bằng dạng tóm tắt sơ đồ. Học sinh cần phải đọc kĩ, hiểu rõ đề toán cho
biết cái gì? Bài toán hỏi gì? Khi đọc bài toán phải hiểu thật kĩ một số từ, thuật ngữ
quan trọng chỉ rõ tính huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường,
chẳng hạn như “bay đi”, “làm vở”, “ăn hết”. Nếu trong bài toán nào có có thuật ngữ
học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên phải hướng dẫn để cho học sinh hiểu được nội
dung và ý nghĩa của từ đó ở trong bài toán đang làm. Khi đọc đề xong có thể gạch
chân các từ ngữ quan trọng trong đề bài. Các từ ngữ đó là sẽ là cơ sở quan trọng để
tìm ra cách giải bài toán, sau đó cho học sinh thuật lại vắn tắt bài toán mà không cần
phải đọc nguyên văn bài toán đó.
Yêu cầu các nhóm thảo luận tóm tắt bằng sơ đồ như sau:

Khi các em tóm tắt được có nghĩa là các em đã phân tích được bài toán, hiểu
được nội dung bài toán.
Nếu nhóm nào còn lúng túng trong câu hỏi thì tôi đưa ra thêm câu hỏi gợi ý
giúp nhóm đi vào tiến trình phân tích thuận lợi hơn là : Nếu chia đều sô học sinh vào
các lớp thì mỗi lớp có bao nhiêu học sinh? Như vậy các em sẽ dễ dàng nắm bắt kiến
14


thức hơn. Bản thân các em sẽ cảm thấy hứng thú hơn với giờ học bởi chính mình đã
tự tìm ra quy tắc này, tự khắc sâu kiến thức cho bản thân mình.
Học sinh rút ra được cách tìm số trung bình cộng như sau:
- Bước 1: Tính tổng của các số đó
- Bước 2: Chia tổng đó cho số các số hạng
Sau khi tìm ra được công thức của dạng toán này, học sinh sẽ thực hành để vận
dụng kiến thức mới đó thông qua các bài tập cụ thể hình thành cho học sinh kĩ năng
giải toán dạng này. Mục tiêu ở đây là hình thành năng lực khái quát hóa và kĩ năng
giải toán, rèn luyện năng lực sáng tạo trong học tập. Ta có thể tiến hành giải pháp sau

đây: cho HS giải các bài toán nâng dần mức độ phức tạp trong mối quan hệ giữa số
đã cho và số phải tìm hoặc là điều kiện trong bài toán.
Ví dụ:
Bài toán 1: Tìm số trung bình cộng của các sô 36, 42, 57
Bài toán 2: Tổ Một góp được 36 quyển vở. Tổ Hai góp được nhiều hơn tổ
Một 2 quyển nhưng lại ít hơn tổ Ba 2 quyển. Hỏi trung bình mỗi tổ góp được bao
nhiêu quyển vở?
Bài toán 3: Số trung bình cộng của hai số là 14. Biết một trong hai số là 9.
Tìm số kia.
- Giải bài toán có nhiều cách khác nhau (VD: Bài toán 2, 3)
- Tiếp xúc với các bài toán thiếu đi một số các dữ liệu đã cho (VD: Bài toán
2, 3)
- Giải các bài toán trong đó phải xét tới nhiều khả năng xảy ra để chọn được
một khả thỏa mãn với điều kiện của bài toán.
- Biết lập và biến đổi bài toán (Xây dựng bài toán ngược)
Điều quan trọng và chủ yếu của việc dạy học giải toán là giúp cho học sinh tự
mình tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của
bài toán và thiết lập được các phép tính số học tương ứng. Trước khi cùng nhau bước
vào phần thực hành, yêu cầu học sinh trong nhóm nhắc lại các bước giải 1 bài toán:
*Bước 1: Tìm hiểu nội dung của bài toán
*Bước 2: Tìm tòi cách giải của bài toán
*Bước 3: Hướng dẫn thực hiện cách giải bài toán
*Bước 4: Kiểm tra kết quả của bài toán
15


Để củng cố phần hình thành kiến thức này giáo viên đưa ra hình thức trò chơi "Ô
cửa bí mật". Mỗi ô cửa là 1 bài tập nhỏ về tìm số trung bình cộng. Trong 1 khoảng
thời gian nào đó các em làm nhanh, nếu bạn nào nhanh và đúng thì sẽ được phần
thưởng. Đó là một trong những hình thức khắc sâu kiến thức cho học sinh.

2.2.5 Tìm hiểu một số sai lầm của học sinh khi giải toán
Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học giải toán có lời văn nói riêng,
giáo viên cần theo dõi để tìm ra được những sai lầm của học sinh trong học tập cũng
như trong giải toán như: không nắm được cách giải; bài giải còn thiếu, phép tính chưa
đúng với lời giải đặt ra; lời giải chưa đầy đủ; sai tên đơn vị… Để từ đó tìm ra hướng
khắc phục những thiếu sót, sai lầm cho học sinh nhằm giúp các em ngày càng tiến bộ
hơn.
Đặc biệt ở bài toán Tìm số trung bình cộng này tôi đã phát hiện ra sai lầm của
các em là nhầm lẫn số các số hạng hoặc là xác định số các số hạng chưa đúng. Sau
đây là một số ví dụ cụ thể tương ứng với các dạng:
a. Dạng 1: Các bài toán giải trực tiếp nhờ công thức
Ví dụ : Bốn em Mai, Hoa, Hưng, Thịnh lần lượt cân nặng là 36kg, 38kg, 40kg,
34kg. Hỏi trung bình mỗi em cân nặng bao nhiêu kg?
* Nguyên nhân sai: Học sinh tính được tổng song xác định sai số các số hạng, áp
dụng công thức tìm số trung bình cộng một cách máy móc rập khuôn. (Học sinh cứ
nghĩ số các số hạng ở đây là 2)
Bài giải:
Số mét kg cân nặng của bốn em là:
36 +38+40+34 = 148(kg)
Trung bình mỗi em cân nặng số kg là
148: 4 = 37(kg)
:Đáp số: 37 kg
b. Dạng 2: Các bài toán chưa giải trực tiếp nhờ công thức
16


Ví dụ 1: Tổ Một góp được 36 quyển vở. Tổ Hai góp được nhiều hơn tổ Một 2
quyển nhưng lại ít hơn tổ Ba 2 quyển. Hỏi trung bình mỗi tổ góp được bao nhiêu
quyển vở?
Bài giải sai

Tổng số vở của 3 tổ là:
36 + 2 + 2= 40 (quyển vở)
Trung bình mỗi tổ góp được số quyển vở?
40 : 2 = 20(quyển vở)
Đáp số: 20 quyển vở
* Nguyên nhân sai: Học sinh tìm hiểu dữ kiện bài toán không kĩ nên chưa xác
định được tổng của ba số, xác định sai số các số hạng. Học sinh cứ áp dụng công thức
trực tiếp để làm.
Bài giải (đúng)
Tổ Hai góp được số quyển vở là
36 +2 = 38 (quy ển vở)
Tổ Ba góp được số quyển vở là
38 + 2 = 40 (quyển vở)
Tổng số vở của 3 tổ là:
36 + 38+ 40= 114 (quyển vở)
Trung bình mỗi tổ góp được số quyển vở là:
114 : 3 = 38(quyển vở)
Đáp số: 38 quyển vở

17


*Ví dụ 2: Một ô tô chạy từ tỉnh A đến tỉnh B. Trong 2 giờ đầu, mỗi giờ ô tô
chạy được 46km, giờ thứ ba ô tô chạy được 52km, hai giờ sau mỗi giờ ô tô chạy được
43km thì đến tỉnh B. Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô chạy được bao nhiêu kilomet?
Bài giải 2: (sai)
2 giờ đầu ô tô chạy được số km là:
46 x 2 = 92 (km )
2 giờ sau ô tô chạy được số km là:
43 x 2 = 86 ( km )

Trung bình mỗi giờ ô tô chạy được số km là:
(92 +86 +52): 3 = 76 (km)
* Nguyên nhân sai: (có 2 nguyên nhân)
- Học sinh không đọc kĩ đề, áp dụng rập khuôn công thức tìm số trung bình
cộng. Bài làm sai, đáp số sai.
- Học sinh nhầm lẫn khi tính trung bình, tính được tổng thấy tổng của ba số hạng
92, 86 và 52 nên đem chia cho 3 dẫn đến bài làm sai (mặc dù kết quả không được
tròn). Học sinh xác định sai số các số hạng
Bài giải:
2 giờ đầu ô tô chạy được số km là:
46 x 2 = 92 (km )
2 giờ sau ô tô chạy được số km là
43 x 2 = 86 ( km )
Số giờ ô tô đã chạy là
2 + 1+ 2 = 5 (giờ)
Tổng số km mà ô tô đã chạy là:
18


92 + 52 + 86 = 230 (km)
Trung bình mỗi giờ ô tô chạy được số km là:
230 : 5 = 46 (km)
Đáp số: 46km
*Ví dụ 3: Một nhà máy làm 246 sản phẩm trong 5 ngày. Hai ngày đầu, mỗi
ngày nhà máy đã làm được 54 sản phẩm. Hỏi trung bình mỗi ngày sau, nhà máy phải
làm bao nhiêu sản phẩm?
* Nguyên nhân sai: Học sinh không xác định được số các số hạng ( tức là số
ngày sau) và số sản phẩm của các ngày còn lại
Với bài toán này HS cần thảo luận nhóm để tìm ra cách giải thích hợp, giáo viên
chỉ là người gợi mở nếu như học sinh chưa hiểu với các câu hỏi gợi ý sau:

- Muốn biết trung bình mỗi ngày làm được bao nhiêu sản phẩm ta làm thế nào?
-

Số sản phẩm đã biết chưa, số ngày sau đã biết chưa? Bao nhiêu

- Muốn biết được số sản phẩm trong 3 ngày sau ta làm thế nào?
Để củng cố bài giáo viên yêu cầu học sinh có thể lập sơ đồ tư duy để cho bạn còn
non kiến thức dễ dàng hiểu bài hơn:
Số sản phẩm trong 2 ngày đầu

Số sản phẩm trong 3 ngày
sau

Số ngày còn lại

TB mỗi ngày sau làm được số sp
Bài giải:
Số sản phẩm làm trong 2 ngày đầu:
54 x 2 = 108 ( sản phẩm )
19


Số ngày còn lại:
5 – 2 = 3 ( ngày )
Số sản phẩm làm trong 3 ngày sau:
246 – 108 = 138 ( sản phẩm)
Trung bình mỗi ngày sau làm được
138 : 3 = 46 ( sản phẩm)
Đáp số: 46 sản phẩm.
Đối với học sinh khá giỏi các em có thể làm bước tính gộp ở bước tính trung

bình cộng
*Ví dụ 4: Trung bình cộng của hai số là 30. Biết một trong hai số đó bằng 18,
tìm số kia?
* Nguyên nhân sai: Đây là bài toán mà tôi thấy học sinh dễ nhầm lẫn nhiều nhất
do tính hấp tấp, đọc không kĩ để, xác đinh chưa đúng nội dung bài toán (bài toán cho
biết trung bình cộng chứ không phải tìm số trung bình cộng),học sinh vẫn áp dụng
máy móc cách tính trung bình cộng dẫn đến bài giải sai. Yêu cầu các nhóm phân tích
lại các bước giải toan tìm số trung bình cộng và phân tích ngược lại nêu biết trung
bình của các số rồi thì ta sẽ tìm được cái gì?
c. Dạng 3: Dạng toán trung bình cộng của dãy số cách đều:
Đối với những bài tập dạng này sẽ được chia thành 2 loại:
- Loại bài dành cho dãy số có số số hạng lẻ.
- Loại bài dành cho dãy số có số số hạng chẵn.
* Ví dụ 1: Tìm 5 số lẻ liên tiếp có tổng là 105.
* Phân tích: Ta biết rằng 2 số lẻ liên tiếp cách nhau 2 đơn vị. Vậy số thứ ba (là
số chính giữa dãy số) của 5 số lẻ liên tiếp bằng trung bình cộng của 5 số đó. Từ đó
tìm ra các số khác.
20


Cách 1

Bài giải:

Vì dãy có 5 số lẻ liên tiếp nên số chính giữa chính là trung bình cộng của 5 số.
Số chính giữa ( số thứ 3 ) là: 105 : 5 = 21
Số thứ hai là: 21 – 2 = 19
Số thứ nhất là: 19 – 2 = 17
Số thứ tư là: 21 + 2 = 23
Số thứ năm là: 23 + 2 = 25

Đáp số: 17; 19; 21; 23; 25
Cách 2: Phân tích: Vì hai số lẻ liên tiếp hơn kém nhau 2 đơn vị nên nếu ta xem
số tự nhiên thứ nhất là 1 đoạn thẳng thì số tự nhiên thứ hai là 1 đoạn thẳng như thế
và thêm 2 đơn vị. Cứ tiếp tục như thế ta sẽ có sơ đồ:
Số thứ nhất
2

Số thứ hai
Số thứ ba
Số thứ tư
Số thứ năm

105

2

2

2

2

2

2

2

2


5 lần số thứ nhất là:
105 – ( 2

2

+2+2+2+2+2+2+2+

2 + 2 ) = 85
Số thứ nhất là: 85:5 = 17
Số thứ hai là:

17 +2 = 19

Số thứ ba là: 19 +2 = 21
Số thứ tư là: 21 +2 = 23
Số thứ năm là: 23 +2 = 25
Đáp số: 17, 19, 21, 23, 25

21


d. Dạng 4: Dạng toán liên quan đến bản chất của số trung bình cộng trong
một dãy
Đối với dạng này, giáo viên cần cho học sinh nắm được bản chất sau: Nếu ta
xem trung bình cộng của một dãy số có n số là 1 đoạn thẳng thì tổng của n số đó
chính là có n đoạn như thế gộp lại.
* Ví dụ: Lân có 20 viên bi, Long có số bi bằng một nửa số bi của Lân, Quý có
số bi nhiều hơn trung bình cộng của 3 bạn là 6 viên. Hỏi Quý có bao nhiêu viên bi?
Cách 1
Bài giải:

Số bi của Long là:
20 : 2 = 10 ( viên bi )
Số bi của Long và Lân là:
10 + 20 = 30 ( viên bi )
Trung bình cộng số bi của 3 bạn là:
( 30 + 6 ) : 2 = 18 ( viên bi )
Số bi của Quý là:
18 + 6 = 24 ( viên bi )
Đáp số: 24 viên bi
Cách 2
Phân tích: Ta xem trung bình cộng số bi của 3 bạn là 1 đoạn thẳng thì tổng số
bi của 3 bạn là 3 đoạn như thế gộp lại. mà số bi của Lân đã biết, số bi của Long ta sẽ
tính qua Lân. Từ đó ta tính được số bi của Quý
Số bi của Long là:
20 : 2 = 10 (hòn)
22


Số bi của Long và Lân là:
10 + 20 = 30 (hòn)
Trung bình cộng số bi của 3 bạn là:
( 30 + 6 ) : 2 = 18 (hòn)
Số bi của Quý là:
18 + 6 = 24 (hòn)
Đáp số: 24 hòn
Từ việc thống kê được một số lỗi sai lầm học sinh thường mắc phải khi giải các bài
toán Tìm số trung bình cộng, tôi đã đưa ra một số biện pháp nhằm khắc phục, đó là:
- Cần suy nghĩ về tình huống bài toán để hiểu ý nghĩa các số đã nêu trong bài
toán, xác định đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm.
- Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ hoặc bằng ngôn ngữ kí hiệu ngắn gọn. Thông qua

đó để thiết lập mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm.
- Phân tích bài toán để tìm cách giải. Kết quả của bước này là xác định một trình
tự để giải toán.
- Lần lượt thực hiện các phép tính theo trình tự giải đó. Có để đi tới đáp số. Cần
thử lại sau mỗi phép tính và đáp số để tự kiểm tra xem mình đó chắc đóng chưa, sau
đó viết cẩn thận bài giải vào vở.
2.2.6 Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh
Xây dựng mối quan hệ Gia đình – Nhà trường có vai trò quan trọng trong tất cả
các môn học. Riêng phân môn Toán đặc biệt là giải toán có lời văn thì giáo viên cần
có biện pháp phối kết hợp cùng gia đình để rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh,
đó cũng chính là một trong những nội dung giá của Thông tư 30/2014/ TT-BGDĐT,
cụ thể:
- Đề nghị phụ huynh thường xuyên theo dõi dành quỹ thời gian hợp lý để kèm
các em học giải toán khi cần.
23


- Cung cấp các thông tin về tình hình học tập, sai lầm và lỗi hay gặp của học
sinh để phụ huynh phối hợp cùng uốn nắn sửa chữa.
- Cung cấp các số liệu về môi trường làm việc của trẻ để phụ huynh nắm được
như: Quy cách bàn – ghế phù hợp với trẻ, khoảng thời gian hợp lý để học.
- Phối hợp cùng gia đình học sinh động viên giúp đỡ học sinh bằng các hình
thức như điện thoại, sổ liên lạc,…
2.2.7 Linh hoạt trong lựa chọn cách kiểm tra và đánh giá học sinh theo
TT30/2014/TT-BGDĐT
Trong quá trình dạy học, giáo viên có sổ nhật kí ghi lại những vấn đề học sinh
chưa nắm được để có biện hỗ trợ hướng dẫn học sinh làm bài. Quan tâm tới mức độ
hoàn thành từng nhiệm vụ của học sinh để giúp các em vượt qua khó khăn. Hiện nay
giáo viên không được ra bài tập về nhà nhưng không vì thế mà học sinh có thể quên
kiến thức đã học. Giáo viên cần có biện pháp củng cố bài cũ trước khi vào bài mới,

bổ sung bù đắp kiến thức còn thiếu cho học sinh kịp thời để các em có thể học tốt hơn
bài học mới.
Trong quá trình dạy học, giáo viên cũng cần có sự khen ngợi động viên học sinh
kịp thời dù sự tiến bộ của các em rất nhỏ. Động viên học sinh tham gia nhận xét, góp
ý bạn trong quá trình học tập. Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp linh hoạt. Có
thể vận dụng môn hình dạy học nhóm, dạy học theo đối tượng. Giáo viên cũng cần
nghiên cứu kỹ chuẩn kiến thức kỹ năng của từng bài học để giảng dạy hợp lý, tránh
quá sức đối với học sinh.
Việc nhận xét quá trình làm việc của nhóm cũng không nên qua loa, đại khái.
Càng đưa ra nhận định cụ thể càng giúp học sinh tích lũy nhiều kinh nghiệm cho
những hoạt động sau mang tính khích lệ động viên học sinh. Những tiêu chí nhận xét
cần thiết phải có:
- Sự luân phiên trong nhóm.
- Tinh thần thái độ làm việc của các thành viên trong quá trình thảo luận.
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Kĩ năng trình bày kết quả hoặc giải thích chất vấn trước lớp.
24


Hình thức nhận xét: bằng lời nói trực tiếp với học sinh; ghi vào vở, vào phiếu
học tập của học sinh; hoặc thưởng hoa, thưởng cờ,....( nếu học sinh làm tốt).
Ví dụ một số lời nhận xét:
-Em đã tóm tắt, giải thành thạo và trình bày khoa học bài toán. (HS hoàn thành tốt)
- Em đã biết cách giải dạng toán này, nhưng em cần rèn thêm tính toán (sai kết quả)
- Em làm bài nhanh, kĩ năng tính toán tốt, trình bày sạch đẹp. Đáng khen!
- Em đã cố gắng hoàn thành bài làm, để đạt được kết quả tốt hơn em cần xác định
đúng số các số hạng và tính toán cẩn thận hơn...
* Trong quá trình dạy học tôi luôn áp dụng những biện pháp trên vào giảng dạy.
Sau đó tôi đã tiến hành khảo sát học sinh và thấy rằng các em nhận ra dạng toán, trình
bày được bài giải, chỉ có một số ít em sơ suất do tính toán, chất lượng học tập của học

sinh có chuyển biến rõ rệt, đặc biệt kĩ năng giải toán về tìm số trung bình cộng được
nâng lên đáng kể, các em sôi nổi tích cực xây dựng bài, hứng thú hơn trong giờ học.

Kết quả học lực môn Toán học kì I:
Điểm
HS
(Tỉ lệ %)

9- 10
8 ( 32%)
(Tăng 8%)

7- 8
11 (44%)
(Tăng 16%)

5- 6
6 (24%)
(Giảm 12%)

3- 4
0(0%)
(Giảm 12%)

0- 2
0 ( 0%)

3. KẾT LUẬN
3.1 Ý nghĩa của đề tài
Qua nghiên cứu lý thuyết kết hợp với việc áp dụng thực tế, đề tài “ Một số biện

pháp nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng” đã góp phần
nâng cao chất lượng dạy học dạng toán tìm số trung bình cộng. Trong phạm vi của đề
tài, đầu tiên tôi giúp học sinh nắm chắc lý thuyết về giải toán trung bình cộng một
cách đơn giản nhất, phù hợp với trình độ của học sinh tiểu học, từ đó học sinh vận
dụng vào các bài tập thực hành được trình bày từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức
tạp, hình thức bài tập đa dạng để kích thích sự tư duy của học sinh từ đó các em làm
chắc, làm đúng bài tập theo yêu cầu. Học sinh đã nắm chắc các dạng Toán, có thói
quen tóm tắt, phân tích bài toán, nắm được cách giải từng dạng toán. Phần lớn học
25


×