Tải bản đầy đủ (.doc) (174 trang)

Luận văn Quản lý di tích, danh thắng gắn với phát triển du lịch ở Quảng Bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (652.89 KB, 174 trang )

1

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Đảng và Nhà nớc ta luôn coi trọng và quan tâm
đến việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của
dân tộc. Quán triệt t tởng chỉ đạo này, ngay từ khi mới thành
lập Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 23-11-1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh bảo vệ cổ
tích. Ngày nay, Chính phủ đã quyết định lấy ngày 23-11
hàng năm là ngày Di sản Văn hóa Việt Nam.
Nh vậy, di tích, cổ tích, hay gọi đầy đủ là di sản văn
hóa, cho dù ở hoàn cảnh lịch sử nào, giai đoạn cách mạng
nào, Đảng ta luôn luôn đặc biệt quan bảo vệ vì nó là hồn
của dân tộc, là nền tảng tinh thần, động lực nội sinh của sự
phát triển bền vững, nhất là giai đoạn đất nớc ta đang trong
quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển hiện nay.
1.2. Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc miền
Trung, có diện tích khiêm tốn, song chính từ mảnh đất này
chứa đựng nhiều giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích
và danh thắng nói riêng hết sức phong phú và đa dạng. Nơi
đây là một trong những đầu mối giao thoa và tiếp biến của
các nền văn hóa: Đông Sơn - Sa Huỳnh; Đại Việt - Chiêm
Thành; Đàng Trong và Đàng Ngoài... Nơi đây còn có thể đợc
xem là mảnh đất chứa đựng nhiều di tích lịch sử cách mạng
gắn với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ xâm lợc, nơi gắn liền với các tuyến đờng Trờng Sơn
huyền thoại. Đặc biệt, Quảng Bình còn có Phong Nha - Kẻ
Bàng đợc UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới.



2

Theo thống kê đến tháng 5 năm 2009, Quảng Bình có
hơn 300 di tích và danh thắng, trong đó có 101 di tích đã
đợc xếp hạng. Tuy số lợng di tích và danh thắng không nhiều
nhng lại đầy đủ các loại hình, phân bố khá tập trung, ngoài
những giá trị về lịch sử, văn hóa và truyền thống, di tích và
danh thắng ở Quảng Bình có tiềm năng lớn trong việc phát
triển kinh tế thông qua hoạt động du lịch.
1.3. Giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích và
danh thắng nói riêng là vô cùng to lớn, song điều quan trọng
hơn cả là việc bảo tồn và phát huy những giá trị của nó nh
thế nào để phát triển mang tính bền vững trong giai đoạn
hiện nay mới chính là vấn đề cần đợc đặc biệt quan tâm
đúng mức của các ngành, các cấp, nhất là những ngời làm
công tác quản lý văn hoá hiện nay.
Điều dễ nhận ra là di tích và danh thắng gắn bó mật
thiết với hoạt động du lịch, thậm chí nó còn đợc xem là tài
nguyên của du lịch, chính vì lẽ đó nếu không nhận thức
đầy đủ mối quan hệ mang tính biện chứng, hữu cơ thì
nguồn "tài nguyên" ấy cũng đến lúc cạn kiệt; ngợc lại, nếu
không biết sử dụng một cách khoa học vốn "tài nguyên" ấy
thì nó cũng trở thành lãng quên, khô cứng, uổng phí những
gì vốn có từ giá trị của nó. Vấn đề đặt ra ở đây là làm
thế nào để di sản văn hóa nói chung, di tích và danh thắng
nói riêng phải trở thành bộ phận hợp thành nên nền tảng tinh
thần của xã hội, góp phần vào tăng trởng kinh tế mang tính
bền vững thông qua các hoạt động du lịch từ những giá trị
của di tích và danh thắng mang lại, đó chính là vấn đề cần
phải đợc giải quyết một cách khoa học, biện chứng.



3

Nhận thức tầm quan trọng cũng nh tính bức thiết của
vấn đề nêu trên ở tỉnh Quảng Bình, tôi đã chọn đề tài
"Quản lý di tích, danh thắng gắn với phát triển du
lịch ở Quảng Bình" làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học
của mình, với hy vọng góp phần vào việc nâng cao chất lợng
và hiệu quả công tác quản lý di tích và danh thắng nhằm
bảo tồn và phát huy tác dụng của nó một cách bền vững
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trên
quê hơng Quảng Bình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề bảo tồn di tích và danh thắng cũng nh khai
thác tiềm năng của di tích và danh thắng là vấn đề nhiều
quốc gia, địa phơng đã và đang triển khai thực hiện; do
vậy đây không phải là vấn đề mới, nhiều học giả, nhiều
nhà nghiên cứu văn hóa đã đề cập đến vấn đề nay. Tuy
nhiên, để nghiên cứu một cách có hệ thống giữa công tác
bảo tồn và phát triển một cách bền vững trong điều kiện
chúng ta cha có đủ các điều kiện để bảo tồn một cách
nghiêm ngặt, khoa học và đồng bộ thì cha có tác giả, nhóm
tác giả nào nghiên cứu đề tài này ở Quảng Bình.
Trong chơng trình phát triển du lịch giai đoạn 2006 2010, ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình cũng chỉ ban
hành quyết định mang tính tổng thể bao gồm nhiều loại
hình du lịch, tour du lịch, dịch vụ và phát triển kinh tế từ
du lịch là cơ bản. Đề án bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng
của di tích, danh thắng ở Quảng Bình giai đoạn 2005 2015 lại tập trung vào các giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo,
phát huy tác dụng của di tích, danh thắng thông qua giáo



4

dục truyền thống là chủ yếu, cha đi sâu tìm giải pháp phát
triển du lịch thông qua di tích, danh thắng.
Một số công trình nghiên cứu văn hóa, địa chí về
Quảng Bình cũng chỉ ghi chép, su tầm, nghiên cứu từng
mảng nội dung theo tiêu chí của công trình nghiên cứu, biên
soạn nh:
- Nguyễn Tú: Quảng Bình, nớc non và lịch sử, xuất bản
năm 1998.
- Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, Phong Nha
Kẻ Bàng - T liệu tổng quan, xuất bản năm 2002.
- Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Bình, Quảng Bình di
tích và danh thắng, Tập 1 và 2, xuất bản năm 2002.
- Nhiều tác giả: Thám hiểm du lịch Phong Nha, xuất
bản năm 1998.
...
Vì vậy, đề tài "Quản lý di tích, danh thắng gắn
với phát triển du lịch ở Quảng Bình" có thể đợc xem là
đề tài đầu tiên ở Quảng Bình đi sâu nghiên cứu về một
lĩnh vực mang lại nhiều cơ hội nhng cũng lắm thách thức
này.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài,
tác giả luận văn sẽ tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên
cứu của các tác giả đi trớc để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ
của luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích



5

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận chung về mối
quan hệ giữa văn hóa với phát triển kinh tế du lịch, luận văn
đi sâu phân tích thực trạng quản lý di tích và danh thắng
gắn với phát triển du lịch ở Quảng Bình hiện nay. Từ đó,
đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lợng và
hiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới, đáp ứng nhu
cầu đổi mới công tác quản lý văn hóa và du lịch hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đáp ứng mục đích nghiên cứu, đề tài có những
nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Một số vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa
văn hóa và phát triển kinh tế du lịch.
- Thực trạng công tác quản lý di tích, danh thắng ở
Quảng Bình.
- Quan điểm định hớng và giải pháp để nâng cao chất
lợng và hiệu quả của công tác quản lý di tích, danh thắng nhằm
phát triển du lịch một cách bền vững.
4. Đối tợng, phạm vi, thời gian nghiên cứu
4.1. Đối tợng nghiên cứu
Hệ thống di tích lịch sử, và danh thắng trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình. Trọng tâm là hệ thống di tích khảo cổ,
di tích đờng Hồ Chí Minh và danh thắng Phong Nha - Kẻ
Bàng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý di tích, danh thắng; cơ
chế quản lý, tổ chức bộ máy, quan điểm định hớng và giải



6

pháp nhằm vừa bảo tồn, tôn tạo di tích, danh thắng vừa phát
triển kinh tế du lịch bền vững từ việc khai thác có hiệu quả
những giá trị của di tích, danh thắng trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình.
4.3. Thời gian nghiên cứu
Tính từ năm thành lập Ban Quản lý Di tích - Danh
thắng tỉnh Quảng Bình (tháng 4-1995) đến nay, trong đó
trọng tâm là những số liệu để chứng minh đợc cập nhật từ
năm 2002.
5. Phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp điều tra, khảo sát, phân tích, so sánh,
thống kê và tổng hợp.
- Đặc biệt, luận văn chú trọng sử dụng phơng pháp
nghiên cứu liên ngành: khoa học quản lý văn hóa, quản lý kinh
tế, văn hóa học, giáo dục học, tâm lý học, xã hội học và
chính trị học,...
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về mối quan
hệ giữa văn hóa và sự phát triển kinh tế du lịch.
- Đánh giá công tác quản lý và phát huy giá trị của hệ
thống di tích và danh thắng trong giáo dục truyền thống,
giữ gìn bản sắc cũng nh góp phần phát triển kinh tế từ hoạt
động du lịch thông qua hệ thống di tích và danh thắng
tỉnh Quảng Bình.
- Đa ra quan điểm định hớng và đề xuất một số giải
pháp, cơ chế chính sách nhằm nâng cao chất lợng và hiệu

quả của công tác quản lý di tích, danh thắng, đồng thời khai


7

thác và phát triển du lịch mang tính bền vững nhằm góp
phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình trong thời
gian tới.
- Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo
cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và quản lý văn hóa của
giảng viên, sinh viên đại học văn hóa và cán bộ quản lý văn
hóa.
Nếu có thể, đề nghị ủy ban nhân dân tỉnh Quảng
Bình nâng thành một đề án trong Chơng trình phát triển
kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2020.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, Nội dung của luận văn gồm 3 chơng.
Chơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về quản lý di
tích, danh thắng gắn với phát triển du lịch.
Chơng 2: Thực trạng công tác quản lý di tích, danh
thắng gắn với phát triển du lịch ở Quảng Bình thời gian
qua.
Chơng 3: Quan điểm định hớng và giải pháp để
nâng cao chất lợng và hiệu quả của công tác quản lý di tích,
danh thắng nhằm phát triển du lịch bền vững ở Quảng
Bình.


8



9

Chơng 1
Một số vấn đề lý luận chung về quản lý di tích,
danh thắng gắn với phát triển du lịch

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Di sản văn hóa
Di sản văn hóa là tài sản do các thế hệ đi trớc để lại,
có vai trò vô cùng quan trọng trong diễn trình văn hóa của
một dân tộc nói riêng, và hiểu theo nghĩa rộng là của cả
nhân loại nói chung. Phần mở đầu của Luật Di sản Văn hóa
của Việt Nam đã viết: "Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản
quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ
phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự
nghiệp dựng nớc và giữ nớc của nhân dân ta" [24, tr. 5].
Để tìm hiểu khái niệm di sản văn hóa trớc hết cần phải
hiểu thế nào là văn hóa. Đa số học giả hiện nay cho rằng, văn
hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con
ngời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Thống nhất với quan
điểm ấy, có thể hiểu di sản văn hóa cũng chính là những
sản phẩm sáng tạo đó. Tuy nhiên, không phải bất cứ sản
phẩm nào do con ngời sáng tạo ra trong quá trình phát triển
của mình cũng đợc xem là di sản văn hóa. Từ điển tiếng
Việt định nghĩa một trong những khái niệm của di sản là
"Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một
quốc gia một dân tộc để lại: di sản văn hóa" [52, tr. 254]; tuy

nhiên phải những gì có giá trị mới đợc công nhận là di sản.


10

Luật số 214 ngày 1/7/1975 của Nhật Bản về bảo vệ di
sản văn hóa là một minh chứng. Khái niệm di sản văn hóa ở
đây đợc hiểu là:
Những nhà cửa, các tác phẩm nghệ thuật, điêu
khắc, những tác phẩm nghệ thuật thực dụng, những
công trình có khắc chữ, các pho sách cổ điển,
những tài liệu cổ và những sản phẩm văn hóa vật
thể khác, đều có một giá trị lịch sử và nghệ thuật
cao của đất nớc: bao gồm những khu vực đất đai và
những vật liệu khác, gắn bó với nhau chặt chẽ và đợc đóng góp một giá trị tơng đơng, những mẫu vật
khảo cổ và những hiện vật lịch sử khác có giá trị
khoa học đợc gọi là di sản văn hóa vật chất. Nghệ
thuật và kỹ thuật sử dụng trong sân khấu, âm nhạc,
nghệ thuật ứng dụng và những sản phẩm văn hóa
phi vật chất khác, đều cho đất nớc một giá trị lịch
sử, nghệ thuật đợc gọi là di sản văn hóa phi vật chất.
Những phong tục tập quán về ăn, mặc, ở, sinh
hoạt, những tín ngỡng, lòng tin tôn giáo, hội hè...,
những cuộc trình diễn dân gian, cùng y phục, dụng
cụ, nhà ở và những đồ dùng khác, trong phạm vi này
đều cần thiết cho việc tìm hiểu những thay đổi
về đời sống của nhân dân Nhật, gọi là các di sản
văn hóa dân gian.
Những đồi mộ cổ vỏ sò, vỏ hến, những mộ
cổ, những phong cảnh cung điện, những pháo đài,

lâu đài, những ngôi nhà lớn và những cảnh quan
khác, đều có một giá trị lịch sử khoa học lớn. Những


11

vờn, cầu, cống, bãi biển, đồi núi và các cảnh quan
đẹp khác; những động vật, những cây cỏ và
những nguồn địa chất và mỏ đều có một giá trị
cao về khoa học đợc gọi là những công trình lu
niệm [49, tr. 14].
Hay Công ớc về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên
thế giới (Conservation Concerning the protection of the World
Cultural and Natural Heritage) của UNESCO năm 1972, những
loại hình đợc coi nh là "di sản văn hóa" và "di sản thiên nhiên"
đều có đặc điểm chung là "có giá trị nổi tiếng toàn cầu"
("...which are of outstanding universal value") [62].
Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam tại Điều 1 đã nêu rõ di
sản văn hóa "bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn
hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử,
văn hóa, khoa học, đợc lu truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác ở nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [23, tr. 6].
Đây có thể xem là khái niệm về di sản văn hóa đợc sử
dụng chung nhất ở nớc ta hiện nay, hoàn toàn tơng tự nh khái
niệm về di sản văn hóa đợc sử dụng trên thế giới. Điều đó
cũng có nghĩa di sản văn hóa cũng là của cải, là tài sản quốc
gia và mọi công dân phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn.
Nh vậy, di sản văn hóa tồn tại dới hai dạng: di sản văn hóa
vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Theo Điều 4 chơng I Luật
Di sản Văn hóa Việt Nam:

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá
trị lịch sử, văn hóa khoa học, đợc lu giữ bằng trí nhớ, chữ
viết, đợc lu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình
diễn và các hình thức lu giữ, lu truyền khác, bao gồm tiếng


12

nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ
văn truyền miệng, diễn xớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ
hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y,
dợc học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục
truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị
lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa,
danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Tuy nhiên, sự phân định này thực ra cũng chỉ mang
tính tơng đối, nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêng
của từng di sản, còn trong thực tế yếu tố vật thể và phi vật
thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị
của một di sản. Khi đó, di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn,
là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của di sản văn hóa vật thể;
còn cái hiện hữu, cái làm nên di sản văn hóa vật thể thì tồn
tại nh là biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể ấy.
Cũng vì thế, ngời ta còn có cách phân loại thứ hai là
căn cứ trên giá trị của di sản để phân chúng thành những
nhóm di sản có giá trị đặc biệt quan trọng hay các di sản có
mức độ quan trọng cấp quốc tế; nhóm di sản có tầm quan
trọng cấp quốc gia và nhóm di sản có tầm quan trọng cấp
địa phơng:

Những di sản có tầm quan trọng cấp quốc tế là những
di sản văn hóa thế giới hoặc là những di sản đợc Nhà nớc lập
hồ sơ gửi UNESCO xem xét công nhận là di sản văn hóa thế
giới;
Nhóm các di sản thuộc cấp quốc gia bao gồm những di
sản đợc xếp hạng di tích quốc gia quan trọng, một số làng


13

nghề truyền thống nổi tiếng, những lễ hội lớn mà tầm ảnh
hởng của nó vợt khỏi phạm vi một tỉnh, hay một vùng;
Nhóm các di sản thuộc cấp địa phơng bao gồm những
di tích văn hóa lịch sử đợc xếp hạng cấp địa phơng mà tầm
ảnh hởng và thu hút của chúng không vợt ra khỏi giới hạn tỉnh
hoặc huyện, thị xã.
Dù phân loại thế nào chăng nữa, các di sản văn hóa vẫn
có những đặc điểm chung, đó là:
- Tính biểu trng đại diện cho mỗi nền văn hóa của một
quốc gia, một dân tộc;
- Tính lịch sử với những đặc trng của thời đại và đại
diện cho thời đại sinh ra chúng, nền văn minh và kỹ thuật tái
tạo chúng;
- Tính truyền thống lu truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác, không chỉ bản thân di sản mà cả những giá trị phi
vật thể đi cùng với chúng cũng đợc truyền sang thế hệ sau
bằng mô phỏng, phát triển và sáng tạo mới trên nền của di sản
cũ;
- Tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hởng dới các tác động khác
nhau, dễ dàng bị h hỏng, bị phá hủy và bị mai một đi do

những tác động khác nhau của con ngời, của điều kiện thời
tiết, các phản ứng hóa học Trong quá trình đấu tranh dựng
nớc và giữ nớc, cha ông ta đã sáng tạo và để lại hàng nghìn di
tích có giá trị. Tuy nhiên, nhiều di tích đang bị xuống cấp
nghiêm trọng và có nguy cơ mai một vì nhiều nguyên nhân
nh: sự tàn phá của chiến tranh, thiên tai, nhận thức cha đầy
đủ về giá trị của di tích... Vì vậy, vấn đề cấp thiết đang
đặt ra là phải hoạch định chiến lợc, nhanh chóng xây dựng


14

các chính sách và giải pháp để bảo tồn, tôn tạo và phát huy
tác dụng của di tích ở Việt Nam nói chung, Quảng Bình nói
riêng trong giai đoạn phát triển mới của đất nớc một cách hợp
lý, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phơng, trong đó có
hoạt động của ngành du lịch.
1.1.2. Khái niệm về di tích, danh thắng
Di tích, danh thắng là một bộ phận quan trọng của di
sản văn hóa.
- Về di tích:
Đại hội Quốc tế lần thứ hai các Kiến trúc s và các Kỹ
thuật gia chuyên về các di tích lịch sử, họp ở Venice từ ngày
25 -31/5/1964 đã thông qua Hiến chơng Venice. Theo đó di
tích "không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà
cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của
một nền văn minh riêng, một sự tiến hóa có ý nghĩa hoặc
một sự kiện lịch sử" [60].
Theo Công ớc về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên

thế giới, những loại hình đợc coi nh "di sản văn hóa" là:
Di tích kiến trúc: các công trình kiến trúc, các
công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ
phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi
ký, các hang động c trú và những bộ phận kết hợp,
mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc
khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;
Nhóm công trình xây dựng: các nhóm công
trình riêng lẻ hoặc liên kết mà, do tính chất kiến


15

trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng
trong cảnh quan xét theo quan điểm lịch sử, nghệ
thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu
Các di chỉ: các công trình của con ngời hoặc
công trình kết hợp giữa con ngời và thiên nhiên, cũng
nh các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét
theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học
hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu [62].
Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trờng
Đại học Văn hóa đa ra một khái niệm khoa học về di tích nh
sau: "Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan,
trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập
thể hoặc cá nhân con ngời hoạt động sáng tạo ra trong lịch
sử để lại" [49, tr. 17].
Theo Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, di tích lịch sử
- văn hóa đợc qui định: "Là công trình xây dựng, địa
điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công

trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học"
[24, tr. 7]. Trong đó, Di vật đợc hiểu là hiện vật đợc lu truyền
lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật đợc hiểu là
hiện vật đợc lu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn
hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia
đợc hiểu là hiện vật đợc lu truyền lại, có giá trị đặc biệt
quí hiếm tiêu biểu của đất nớc về lịch sử, văn hóa, khoa
học.
- Về di sản thiên nhiên (danh thắng):


16

Theo Công ớc về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên
thế giới của UNESCO năm 1972, những loại hình đợc xem là
di sản thiên nhiên (danh thắng) đó là:
Các cấu tạo tự nhiên: bao gồm các thành tạo vật
lý hoặc sinh học hoặc các nhóm có thành tạo thuộc
loại đó mà, xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc
khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;
Các thành tạo địa chất và địa văn và các khu
vực đợc khoanh vùng chính xác làm nơi c trú cho các
loài động vật và thảo mộc bị đe dọa mà, xét theo
quan điểm khoa học hoặc bảo tồn là có giá trị nổi
tiếng toàn cầu;
Các di chỉ tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên
đã đợc khoanh vùng cụ thể mà, xét theo quan điểm
khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên là có giá
trị nổi tiếng toàn cầu [62].
Theo Luật Di sản Văn hóa của nớc ta: Danh lam thắng

cảnh đợc hiểu "là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc
có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học" [24, tr. 7].
Từ nhận thức trên, có thể đa ra khái niệm về di tích,
danh thắng nh sau: Di tích, danh thắng là một không gian
vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể, khách quan; nó không
những là sự kết tinh giữa cảnh quan thiên nhiên và những
giá trị lao động do con ngời trong lịch sử sáng tạo ra mà còn
chứa đựng những giá trị điển hình về lịch sử, văn hoá,
khoa học.


17

Để làm rõ khái niệm này, cần nhấn mạnh một số điểm
sau:
- Trớc hết, di tích, danh thắng là một không gian vật
chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể, khách quan nh các công
trình, địa điểm, các di vật, bảo vật quốc gia thuộc công
trình, địa điểm đó và cảnh quan thiên nhiên có sự kết hợp
với các công trình kiến trúc hoặc địa điểm ghi dấu hoạt
động của con ngời nằm trong khu vực cảnh quan thiên nhiên
đó. Di tích, danh thắng tồn tại cụ thể trong một không gian
và thời gian; các di tích, danh thắng có quy mô, phân bố,
kiến trúc... khác nhau. Chúng tồn tại khách quan ngoài ý muốn
chủ quan của con ngời;
- Di tích, danh thắng không chỉ kết tinh những giá trị
lao động xã hội của con ngời trong lịch sử sáng tạo ra mà còn
kết tinh những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoa
học. Điều này hết sức quan trọng, khẳng định trớc hết nó

thuộc về sở hữu của ngời lao động sáng tạo ra nó, bảo tồn nó
và chính nó lại là tài sản của quốc gia, của con ngời vì bản
thân nó đã chứa đựng những giá trị điển hình của xã hội;
bản thân di tích, danh thắng vừa chứa đựng những giá trị
vật chất vừa chứa đựng giá trị tinh thần.
- Di tích, danh thắng bao gồm những bộ phận cấu
thành: Môi trờng, cảnh quan thiên; những công trình, địa
điểm có liên quan tới các sự kiện lịch sử; hoặc nhân vật lịch
sử, địa danh lịch sử, danh nhân văn hóa... và những giá trị
văn hóa tinh thần, hay còn gọi là văn hóa phi vật thể gắn với
công trình, địa điểm đó.


18

Phân định di tích và danh thắng thực chất cũng để
có thể dễ nhận diện các loại hình di tích và danh thắng mà
thôi, còn theo quan niệm của Luật Di sản văn hóa đều thống
nhất xếp nó cùng chung một thuật ngữ là Di tích.
Theo Luật Di sản văn hóa, di tích đợc phân loại nh sau:
Thứ nhất, nếu căn cứ vào giá trị tiêu biểu nhất mà di
tích chứa đựng thì di tích đợc phân thành 4 loại:
- Loại hình di tích lịch sử;
- Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật;
- Loại hình di tích khảo cổ học;
- Loại hình di tích danh lam thắng cảnh.
Trong đó:
* Loại hình di tích lịch sử bao gồm: những công trình,
địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình
dựng nớc và giữ nớc; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh

hùng dân tộc, danh nhân đất nớc; gắn với sự kiện lịch sử
tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến nh di tích
Thành cổ Quảng Trị, di tích Phủ Chủ tịch, di tích Nhà tù Côn
đảo, di tích Đờng mòn Hồ Chí Minh
* Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: quần
thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn
lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc
nhiều giai đoạn lịch sử nh di tích Đình làng, di tích Chùa
Tháp, di tích Văn miếu, di tích đạo quán, di tích đền, nghè,
miếu, phủ, di tích thành lũy, di tích lăng tẩm, di tích cầu, di
tích kiến trúc dân gian, di tích văn hóa Chăm Pa


19

* Loại hình di tích khảo cổ học là: những địa điểm,
ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kỳ lịch sử xã
hội loài ngời cha có văn tự và thời gian nào đó trong thời kỳ
lịch sử cổ đại nh di tích Ba Đồn I, II; Cồn Nền; Hang Tiến hóa,
Hóa Hợp; Hang Thoóc loóc; Hang Minh Cầm; Hang Trăn; Bàu
tró
* Loại hình di tích danh lam thắng cảnh là: cảnh quan
thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan
thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu
biểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con ngời trong
lịch sử để lại có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học.
Thứ hai, theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích,
danh thắng thì di tích danh thắng đợc chia thành 3 loại:
- Di tích quốc gia đặc biệt;
- Di tích quốc gia;

- Di tích cấp tỉnh.
Trong đó:
* Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc
biệt tiêu biểu của quốc gia.
Các di tích này đợc địa phơng lập hồ sơ xếp hạng và
trên cơ sở đề nghị của Bộ trởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch, Thủ tớng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc
gia đặc biệt và quyết định đề nghị các tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESO) xem xét đa
di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới
nh: Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Thánh
địa Mỹ Sơn.


20

* Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của
quốc gia.
Các di tích này đợc địa phơng lập hồ sơ, trên cơ sở
đề nghị của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ trởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định xếp hạng di
tích quốc gia.
* Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của
địa phơng.
Địa phơng lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Giám
đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng xếp hạng di tích
cấp tỉnh.
Bên cạnh phân loại nh trên, theo chúng tôi cần thiết
phải dựa vào hình thức quản lý và điều kiện khai thác của

di tích để phân loại sâu hơn về bản chất của hệ thống di
tích hiện có làm căn cứ cho việc xây dựng các chính sách và
giải pháp.
Thứ ba, dựa vào hình thức quản lý, di tích đợc chia
thành 3 loại:
- Di tích do nhà nớc trực tiếp quản lý;
- Di tích do cộng đồng dân c (dới hình thức tập thể)
trực tiếp quản lý;
- Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý.
Trong đó:
* Di tích do Nhà nớc quản lý: Đó là các di tích quốc gia
đặc biệt và di tích quốc gia do các ban quản lý di tích đợc


21

Nhà nớc thành lập trực tiếp quản lý. Nhà nớc cấp lơng, chi phí
cho hoạt động thờng xuyên, các chi phí sửa chữa... trực tiếp
cho Ban quản lý di tích.
* Di tích do cộng đồng dân c (hình thức tập thể quản
lý) trực tiếp quản lý: Đó là các di tích quốc gia, di tích địa
phơng cấp tỉnh đợc giao cho tổ chức nhân dân trực tiếp
quản lý nh đình làng, các chùa, đền thờ...
* Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý nh:
nhà thờ dòng họ, nhà ở dân c trong các khu phố cổ, sắc
phong, bảo vật của dòng họ...
Thứ t, Theo điều kiện khai thác của di tích thì di tích
đợc phân thành 2 loại:
- Di tích có khả năng khai thác;
- Di tích cha có khả năng khai thác.

Trong đó:
* Di tích có khả năng khai thác là: các di tích hấp dẫn
khách tham quan, có giá trị khoa học có khả năng huy động
các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nớc do nguồn thu từ di
tích, đáp ứng cho hoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá
trị của di tích nh di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích gắn
tín ngỡng, tôn giáo của nhân dân, những di tích có giá trị
toàn cầu, di tích nằm ở những khu vực có điều kiện giao
thông đi lại thuận lợi, thuộc các tuyến tham quan du lịch.
* Di tích cha có khả năng khai thác là: các di tích cha
có điều kiện thuận lợi khách quan về hấp dẫn khách tham
quan, không có nguồn thu tại di tích và rất khó huy động các
nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nớc cho hoạt động bảo tồn,


22

tôn tạo và khai thác nh các di tích cách mạng, di tích khảo cổ
học, di tích lu niệm danh nhân nằm ở những khu vực không
có điều kiện giao thông đi lại thuận lợi, không thuộc các
tuyến tham quan du lịch.
Điều kiện thuận lợi khách quan ở đây là do đặc
điểm của từng loại di tích quy định không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan của con ngời.
1.1.3. Khái niệm về du lịch
Nhà nớc Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh
tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có
tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dỡng của
nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao

dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế, xã hội của đất nớc.
Theo Pháp lệnh Du lịch (2/1999), "Du lịch là hoạt động
của con ngời ngoài nơi c trú thờng xuyên của mình nhằm
thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dỡng trong một
khoảng thời gian nhất định" [32, tr. 8]. Các hoạt động du
lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trờng (bao gồm cả
môi trờng tự nhiên và môi trờng nhân văn).
"Các nhân tố về tự nhiên" bao gồm tài nguyên du lịch
tự nhiên và chất lợng môi trờng tự nhiên; còn "các nhân tố về
kinh tế - xã hội và nhân văn" bao gồm các giá trị văn hóa và
các điều kiện về kinh tế - xã hội mà dựa vào đó du lịch tồn
tại và phát triển.


23

Hoạt động du lịch chủ yếu thông qua tài nguyên du
lịch, tài nguyên ấy chính là di sản văn hóa trong đó di tích
và danh thắng là nhân tố cơ bản.
Theo Luật Du lịch: "Tài nguyên du lịch là cảnh quan
thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân
văn, công trình lao động sáng tạo của con ngời có thể đợc
sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản
để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra
sự hấp dẫn du lịch" [46, tr. 7]. Nh vậy có thể thấy du lịch là
một trong những ngành kinh tế có định hớng tài nguyên rõ
rệt, đồng thời cũng rất nhạy cảm với sự biển đổi của môi trờng. Tài nguyên du lịch ảnh hởng trực tiếp đến tổ chức lãnh
thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành, chuyên môn
hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch
vụ, còn môi trờng sẽ ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng các sản

phẩm du lịch, đến sức hấp dẫn của du lịch. Điều đó có
nghĩa là hoạt động phát triển du lịch luôn gắn liền với việc
khai thác các tiềm năng tài nguyên môi trờng tự nhiên cũng
nh các giá trị văn hóa, nhân văn; sự xuống cấp của môi trờng
đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch.
Ngợc lại, hoạt động phát triển du lịch có những ảnh hởng lớn đến chất lợng môi trờng nh hình thành các đặc tính
nhân tạo hoặc nhân tác của môi trờng, làm biến đổi đặc
điểm tự nhiên, dẫn đến việc tổ chức lại sản xuất, tổ chức
lại kinh tế - xã hội khu vực, tạo công ăn, việc làm, hoặc tác
động đến chất lợng sống dân c, cũng nh góp phần bảo tồn,
phát huy các giá trị văn hóa, tạo khả năng giao lu văn hóa, góp


24

phần nâng cao dân trí, văn minh xã hội, hội nhập cộng
đồng...
Việc khai thác hợp lý, phục hồi, cải tạo và tái tạo các tài
nguyên du lịch sẽ làm tốt lên chất lợng môi trờng du lịch, làm
tăng sức hấp dẫn du lịch tại các điểm du lịch, khu du lịch.
Nếu việc khai thác không đồng bộ, không có các biện pháp
phục hồi, tái tạo tài nguyên du lịch sẽ dẫn đến việc phá vỡ
cân bằng sinh thái của khu vực, làm suy giảm các giá trị văn
hóa, gây nên sự giảm sút chất lợng môi trờng du lịch dẫn
đến sự suy giảm sức hút du lịch.
Vì thế, ngày nay vấn đề phát triển du lịch bền vững,
hay nói cách khác quản lý di tích, danh thắng gắn với phát
triển du lịch một cách bền vững đang đợc đặt ra ngày
càng cấp bách và ngày càng có nhiều quan điểm đa ra về
vấn đề này.

Lý thuyết về phát triển bền vững xuất hiện khoảng
giữa những năm 80 và chính thức đợc đa ra tại Hội nghị của
ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trờng (WCED) nổi tiếng
với tên gọi ủy ban Brundtlant, năm 1987.
Trong định nghĩa Brudtlant thì "phát triển bền vững đợc hiểu là hoạt động phát triển kinh tế nhằm đáp ứng các nhu
cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng
đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau" [26, tr. 3]. Tuy
nhiên, nội dung chủ yếu đề cập đến trong định nghĩa này
xoay quanh vấn đề về phát triển kinh tế.
Một định nghĩa khác về phát triển bền vững đợc các
nhà khoa học trên thế giới đề cập đến một cách tổng quát


25

hơn: "Phát triển bền vững là các hoạt động phát triển của
con ngời nhằm phát triển và duy trì trách nhiệm của cộng
đồng đối với lịch sử hình thành và hoàn thiện các sự sống
trên Trái đất" [26, tr. 3].
Theo quan điểm của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế
giới (IUCN) đa ra năm 1980, "phát triển bền vững phải cân
nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo
và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng nh khó
khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn
và dài hạn đan xen nhau" [26, tr. 3]. Điều này khẳng định
rằng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của hầu hết các nớc
trên thế giới phải đợc xác định trong mối quan hệ bền vững.
Tại Hội nghị về Môi trờng toàn cầu RIO-92 và RIO92+5, quan niệm về phát triển bền vững đợc các nhà khoa
học bổ sung, theo đó "phát triển bền vững đợc hình thành
trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp của ba hệ thống tơng tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hóa - xã hội" [26,

tr. 3].
ở Việt Nam, lý luận về phát triển bền vững cũng đã đợc các nhà khoa học, quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần
đây trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu lý luận và
kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững, đối chiếu với
những hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam.
Chỉ thị số 36/CT của Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ơng Đảng ngày 25/6/1998 đã xác định mục tiêu và các
quan điểm cơ bản cho phát triển bền vững dựa chủ yếu
vào hoạt động bảo vệ môi trờng. Đồng thời, trong Báo cáo
chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) cũng


×