Tải bản đầy đủ (.doc) (99 trang)

KHÓA LUẬN TN SƯ PHẠM LÝ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.38 MB, 99 trang )

UBND TỈNH QUẢNG NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
KHOA LÝ – HÓA – SINH
---------------

ĐOÀN HOÀNG PHƯỢNG

THIẾT KẾ, CHẾ TẠO VÀ SỬ DỤNG THÍ
NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ THPT THEO
HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ SÁNG
TẠO CỦA HỌC SINH.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Tam Kỳ, tháng 04 năm 2015

1


2


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách,
phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc”[6]. Thực tế cũng đã cho thấy sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước
ta trong việc đổi mới GD một cách toàn diện cả về nội dung, phương pháp,
phương tiện dạy học… Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII, Ban Chấp hành Trung


ương khoá XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối
truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách
nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức,
kỹ năng, phát triển năng lực.”[5]
Vật lý chính là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng, sự phát triển
của khoa học VL gắn bó chặt chẽ và tác động trực tiếp đến sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật. Vì vậy, những hiểu biết và nhận thức VL có giá trị lớn trong đời
sống và trong sản xuất, đặc biệt trong công cuộc CNH - HĐH đất nước. Do đó
việc nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn này ở trường THPT là rất quan
trọng.
Bên cạnh đó, VL lại là môn khoa học thực nghiệm, trong đó có sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt được sự
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Vì vậy, việc rèn kỹ năng, kỹ xảo thực hành
TN sẽ hỗ trợ rất tốt cho việc phát hiện những đặc tính, quy luật của tự nhiên cũng
như kiểm tra tính đúng đắn của các kiến thức lý thuyết. Chính vì lẽ đó mà việc sử
dụng TNVL là rất cần thiết để nâng cao chất lượng dạy học, góp phần phát huy
tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ
quan và khách quan, vấn đề sử dụng TNVL trong dạy và học còn nhiều hạn chế
mặc dù hầu hết các trường phổ thông hiện nay đã được trang bị các thiết bị TN

3


cần thiết. Do bài học nhiều kiến thức, thiếu thời gian nên GV ngại TN; số lượng
thiết bị không đủ nên HS chỉ được quan sát trong khi sĩ số HS quá đông làm khả
năng quan sát bị hạn chế. Cũng có thể do thiết bị TN được cung cấp nhiều nhưng
không đồng bộ, các thiết kém chất lượng dễ bị hư hỏng trong vận chuyển, bảo
quản mà không có các thiết bị dự trữ để thay thế nên khi tiến hành TN thường

cho kết quả không chính xác. Để khắc phục thực trạng đó nhiều GV đã tự thiết kế
và chế tạo một số thiết bị TNVL nhằm phục vụ tiết dạy, khiến giờ học trở nên
sinh động, quan trọng hơn đó là giúp HS có thể kiểm nghiệm lại và khắc sâu
những kiến thức đã học. Đó có thể là những TN rất đơn giản từ những vật liệu
gần gũi trong cuộc sống hằng ngày và được vận dụng rất nhiều thực tế nhưng
cũng không kém phần thuyết phục. Không những vậy, GV có thể đưa ra yêu cầu
về thí nghiệm tự tạo như một bài tập về nhà cho các nhóm hay cá nhân từng HS,
bắt buộc hoàn thành và sẽ giới thiệu thành phẩm vào một tiết học sau đó, điều
này là một tín hiệu rất tốt đối với việc phát triển tư duy, tính tích cực và sáng tạo,
đặc biệt hơn là rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp của HS…
Chính những ưu điểm của việc sử dụng TN nói chung và thí nghiệm tự tạo
trong dạy học VL nói riêng mà trong quá trình học tập và rèn luyện ở mái trường
Đại học Quảng Nam, những sinh viên sư phạm chuyên ngành VL như tôi đã tìm
tòi, nghiên cứu, thiết kế và chế tạo những dụng cụ TN đơn giản, rẻ tiền để sử
dụng trong quá trình dạy học VL ở trường THPT nhằm rèn luyện và trao dồi kiến
thức, kỹ năng sử dụng TN trong dạy học VL của bản thân.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài "Thiết kế, chế
tạo và sử dụng một số thí nghiệm trong dạy học Vật lý THPT theo hướng
phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS" làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu của đề tài
Làm rõ cơ sở lý luận và vai trò của việc sử dụng TN trong dạy học VL.
Đề xuất được phương án thiết kế và chế tạo một số TNTT trong dạy học
VL ở THPT.
Thiết kế giáo án một số bài học cụ thể có sử dụng các TNTT được vào
trong giảng dạy để đánh giá hiệu quả của các sản phẩm tự tạo.

4


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng TN nói chung và TNTT nói
riêng trong dạy học VL.
Quy trình thiết kế và chế tạo một số TN đơn giản trong chương trình VL
phổ thông.
Quá trình dạy học có sử dụng TNTT tại trường THPT Trần Cao Vân, TP
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu văn kiện của Đảng, Luật GD, các chỉ thị của Bộ Giáo Dục
và Đào Tạo về đổi mới giáo dục phổ thông.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng TNTT vào việc
dạy học VL ở trường THPT.
- Nghiên cứu nội dung, chương trình VL phổ thông.
4.2. Phương pháp thí nghiệm
- Tiến hành nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và sử dụng TN
4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành triển khai giảng dạy có sử dụng TNTT tại trường THPT để
kiểm định đánh giá kết quả.
- Điều tra, quan sát.
4.4. Phương pháp thống kê toán học
Dựa vào số liệu thu thập được sử dụng phương pháp thống kê thông dụng
để phân tích, xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm cả về mặt định tính và định
lượng.
5. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề chế tạo và sử dụng TNTT trong dạy học VL phổ
thông đã có rất nhiều đề tài, bài báo và công trình nghiên cứu như đề tài “Thiết
kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy học vật lý ở
trường THPT” của tác giả Nguyễn Ngọc Hưng đăng trên tạp chí thông báo khoa
học của các trường ĐH xuất bản năm 1998; đề tài “ Nghiên cứu xây dựng và sử


5


dụng thí nghiệm theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong
dạy học Vật lý ở trường trung học cơ sở”, của tác giả Huỳnh Trọng Dương - luận
văn tiến sĩ giáo dục học, ĐH Huế năm 2007; đề tài “Đề xuất phương án và xây
dựng thí nghiệm tự tạo hỗ trợ dạy học Vật lý”, của tác giả Nguyễn Văn Quang luận văn thạc sĩ giáo dục học ĐH Huế năm 2010. Tuy nhiên chưa có đề tài “Thiết
kế, chế tạo và sử dụng thí nghiệm trong dạy học Vật lý THPT theo hướng phát
huy tính tích cực và sáng tạo của HS".
6. Đóng góp của đề tài
Nếu việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo một số TNTT sử dụng trong quá
trình dạy học VL ở trường THPT đạt hiệu quả sẽ cung cấp thêm được một số đồ
dùng dạy học bộ môn Vật lý góp phần tăng cường hứng thú, khả năng sáng tạo,
tạo dựng niềm tin vào khoa học từ đó sẽ nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn
khoa học này.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo khoá luận gồm
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy VL
theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS.
Chương 2: Thiết kế, chế tạo và sử dụng một số thí nghiệm tự tạo trong dạy học
VL phổ thông.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

6


PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ
DỤNG THÍ NGHIỆM VẬT LÝ THEO HƯỚNG TÍCH PHÁT

HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
1.1. Phát huy tính tích cực của HS trong học tập
1.1.1. Khái niệm tính tích cực và tích cực trong học tập
1.1.1.1. Khái niệm tính tích cực
Khái niệm TTC rất quan trọng trong dạy học và đã được rất nhiều tác giả
đề cập:
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, TTC là một phẩm chất vốn có của con
người trong đời sống xã hội, là một thuộc tính của nhân cách, nó phụ thuộc vào
các thuộc tính khá đặc biệt như thái độ, nhu cầu và động cơ của chủ thể. Nó luôn
gắn với hoạt động của chủ thể nào đó và nằm trong hoạt động, biểu hiện qua
hành động và ảnh hướng lớn đến kết quả hoạt động.
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê – chủ biên), tích cực chính là có ý
nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển; tỏ ra chủ động, có những
hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển; hăng hái, nhiệt tình đối
với nhiệm vụ, với công việc.
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu rằng, TTC là một phẩm
chất vốn có của con người trong đời sống xã hội. TTC biểu hiện ở sự nỗ lực của
mỗi cá nhân (bằng thái độ, tình cảm, ý chí...), biến nhu cầu thành hiện thực. Nó
làm cho quá trình học tập, lao động, tìm tòi, sáng tạo có định hướng, từ đó con
người dễ làm chủ và điều khiển các hoạt động của mình nhằm thu được kết quả
cao trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn. Có thể xem TTC như là điều
kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trẻ trong quá trình GD.
1.1.1.2. Tích cực trong học tập
TCC của con người biểu hiện trong tất cả các hoạt động xã hội. Đặc biệt
đối với lứa tuổi đi học thì sự biểu hiện này chủ yếu ở hoạt động học tập. TTC
trong học tập chính là TTC trong nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố
gắng và nghị lực trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Nói cách khác, đó là thái độ
7



cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các
chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập- nhận thức.
Còn theo I.F.Kharlamop: TTC trong học tập có nghĩa là hoàn thành một
cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có mục đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào
hứng, những hành động trí óc và tay chân nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ
xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn của HS là trạng thái hoạt động của
HS đặc trưng bởi khát vọng học tập – huy động trí tuệ và nghị lực trong quá trình
nắm kiến thức.
Vậy ta có thể hiểu TTC trong học tập là sự tự giác, ý thức trong việc học
được thể hiện qua khát vọng hăng say học tập và khả năng độc lập trong tư duy,
trong hoạt động. Kết quả học tập của HS phụ thuộc nhiều vào TTC của hoạt động
nhận thức. Vì vậy để phát huy tính tích cực của HS, GV cần phải có PPDH học
phù hợp, giúp các em tìm thấy sự say mê, hứng thú trong học tập.
1.1.2. Biểu hiện của tính tích cực trong học tập
TTC trong học tập là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng cho khát vọng
học tập, trí tuệ và nghị lực cao trên hành trình chiếm lĩnh tri thức. TTC của HS có
cả mặt tự giác và tự phát. Mặt tự giác của TTC thể hiện trạng thái tâm lí có mục
đích, đối tượng rõ ràng, do đó các hoạt động nảy sinh đều nhằm chiếm lĩnh đối
tượng đó. Còn đối với những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh bên trong thì đôi khi TTC
được tự phát từ tính tò mò, hiếu kì và sôi nổi ở từng mức độ khác nhau.
Không những vậy, TTC còn được thể hiện trong các hoạt động trí tuệ và
kết quả học tập: HS có nhớ tốt những điều đã học không? Có hiểu bài học không?
Có thể trình bày lại nội dung bài học theo cách riêng không? Có vận dụng được
các kiến thức đã học vào thực tiễn không? Tốc độ học tập có nhanh không?
Có nhiều trường hợp TTC trong học tập biểu hiện ở những hoạt động cơ
bắp nhưng quan trọng hơn hết là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, hai hình
thức biểu hiện này thường đi liền với nhau.
Ngoài những biểu hiện nói trên mà GV dễ nhận thấy còn có những biểu
hiện về mặt cảm xúc, khó nhận thấy, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc
nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi


8


tìm ra lời giải cho một bài tập. Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng
cá thể HS, bộc lộ rõ ở các lớp học sinh bé, kín đáo ở học sinh lớp trên.
Bên cạnh đó kết quả học tập cũng là một dấu hiệu quan trọng và có tính
chất khái quát của TTC nhận thức. Chỉ có TTC nhận thức một cách thường
xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả nhận thức tốt .
1.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực
TTC trong học tập của HS tuy nảy sinh trong quá trình học tập nhưng nó
lại là kết quả của nhiều nguyên nhân. Có những nguyên nhân chỉ tự phát trong
quá trình học tập, nhưng cũng có những nguyên nhân đã được hình thành lâu dài
trong nhân cách. Nhìn chung TTC phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:
- Bản thân HS:
+ Đặc điểm hoạt động trí tuệ (tái hiện, sáng tạo...)
+ Năng lực (hệ thống tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, sự
trải nghiệm cuộc sống...)
+ Tình trạng sức khỏe
+ Trạng thái tâm lí (hứng thú, xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí...)
+ Điều kiện vật chất, tinh thần (thời gian, tiền của, không khí đạo đức)
+ Môi trường tự nhiên, xã hội
- Nhà trường:
+ Chất lượng quá trình dạy học, GD (nội dung, phương pháp, phương
tiện, hình thức kiểm tra đánh giá...).
+ Quan hệ thầy trò
+ Không khí đạo đức nhà trường
- Gia đình
- Xã hội
Từ đó, việc phát huy TTC của HS đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn

diện khi phối hợp hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội.
1.1.4. Những biện pháp huy tính tích cực của HS trong học tập
Muốn cho HS cố gắng, đem hết sức mình để học tập, cần tạo ra ở họ hứng
thú và động cơ học tập. Những yếu tố này có thể xuất phát từ những nguyên nhân
bên ngoài của quá trình học tập như: nhu cầu xã hội đòi hỏi phải hoạt động có
hiệu quả trong lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội, quyền lợi của xã hội dành
cho người có trình độ học vấn cao, khả năng có được một công việc ổn định cao

9


hơn nếu học giỏi, sự ngưỡng mộ của mọi người, vinh dự cho gia đình... Có
những nguyên nhân bên trong xuất hiện trong quá trình học tập, tác động thường
xuyên đến HS đó là mâu thẫu nhận thức, là khó khăn, trở ngại của HS cần có một
sự cố gắng vươn lên, tự hoàn thiện bản thân mình. Những yếu tố đó kích thích
tình tò mò vốn có ở lứa tuổi HS, muốn đáp ứng nhu cầu hoạt động của lứa tuổi,
đem lại niềm vinh dự, tự hào nếu giải quyết thành công những trở ngại. Hoạt
động càng có kết quả thì động cơ càng được củng cố.
Thông qua nghiên cứu, các biện pháp nhằm nâng cao tính tích cực nhận
thức của HS trong giờ lên lớp được phản ánh và tổng hợp, có thể tóm tắt như sau:
- Nội dung dạy học phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS. Cái mới
phải liên hệ, phát triển từ cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai. Kiến
thức phải có tính thực tiễn, gần gũi, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận
thức của HS.
- GV nên sử dụng các PPDH đa dạng: nêu vấn đề, TN, tổ chức thảo luận
và phối hợp chúng với nhau. Trong quá trình dạy học để kích thích được sự hứng
thú của HS, phát huy TTC của HS, GV cần phải lựa chọn, tìm tòi những PPDH
phù hợp với nội dung bài học, đặc điểm của đối tượng, điều kiện vật chất.
- Chế biến mỗi bài học, mỗi sự kiện thành một tình huống để HS tham gia
giải quyết, không biến bài học lý thuyết thành một chuỗi câu thuyết giảng, trừu

tượng. Đặc biệt cần phải chú ý đến việc tạo tình huống có vần đề để khởi động tư
duy, tạo hứng thú học tập cho HS.
- GV cần sử dụng các phương tiện dạy học: mô hình, sơ đồ, thí nghiệm,
multimedia… Việc sử dụng các thiết bị DH, phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học, tạo trực quan sinh động cho HS,
kích thích hứng thú của HS, phát huy TTC của HS trong học tập.
- GV sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân, dạy học
theo nhóm, tập thể, tổ chức tham quan, làm TN, thực hành trong phòng thí
nghiệm… tránh sự nhàm chán cho người học.
- GV cần tổ chức cho HS luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
trong các tình huống mới hoặc trong thực tế cuộc sống. Không những vậy mà GV
cũng cần phải thường xuyên tổ chức cho HS luyện tập dưới nhiều hình thức khác
10


nhau, góp phần củng cố kiến thức cho HS, tăng cường vận dụng các kiến thức đã
học vào các tình huống nhận thức mới.
- GV thường xuyên biểu dương những HS có thành tích học tập tốt, động
viên khen thưởng kịp thời những HS có thành tích học tập tốt, khuyến khích sự
tham gia các hoạt động học tập của HS và kỉ luật đúng lúc, đúng mức đối với
từng HS vi phạm.
- GV tăng cường kiểm tra, đánh giá và từng bước đổi mới phương pháp
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.
- GV có thể kích thích TTC của HS thông qua thái độ, cách ứng xử giữa
GV và HS.
- GV nên phát triển kinh nghiệm sống cho HS trong học tập qua các
phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội.
- GV cần tạo và duy trì không khí lớp học cởi mở giữa thầy và trò, giữa
các HS , trong trường, cần có thái độ thân thiện với HS.
Trong công tác nghiên cứu và chỉ đạo vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận

thức của HS còn đề ra một số hướng cơ bản sau:
- Nghiên cứu phương pháp nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức sáng
tạo chứ không dừng lại mức độ tái hiện như hiện nay.
- Phát huy sức mạnh bản chất của người học, mà theo K.Mark đó là: trí
tuệ, tâm hồn và ý chí. Đặc biệt là sức mạnh tâm hồn (hứng thú, xúc cảm...) là
điều lâu nay chưa được chú ý đúng mức.
- Phối hợp chặt chẽ và khoa học hơn nữa giữa các thầy giáo, các nhà quản
lí, phụ huynh HS để động viên, khích lệ các em HS.
1.2. Phát triển năng lực sáng tạo của HS trong học tập
1.2.1. Khái niệm sáng tạo và năng lực sáng tạo
1.2.1.1. Khái niệm sáng tạo
Khái niệm ST đã được định nghĩa ở những cấp độ, mức độ và góc độ khác
nhau bởi các nhà chuyên môn của nhân loại.
Theo Phan Dũng: “sáng tạo nghĩa là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới,
không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có sẵn.”[1]
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: “sáng tạo là nghĩ ra và làm ra
những giá trị vật chất hoặc tinh thần.”

11


Mặc dù, có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất, nguồn gốc của ST nhưng
vì nó rất cần cho cuộc sống nên các nhà tâm lí học đã tìm cách đo lường, đánh
giá khả năng ST của mỗi cá nhân. Người ta đưa ra một tình huống với một số
điều kiện, xuất phát từ yêu cầu đó đề xuất càng nhiều phương pháp càng tốt,
trong thời gian càng ngắn càng hay. Việc đánh giá được căn cứ vào số lượng, tính
mới mẻ, tính độc đáo, tính hữu ích của các đề xuất. Những nghiên cứu theo
hướng như vậy cùng với thực nghiệm khác đã cho biết:
- ST là một tiềm năng vốn có trong mỗi con người, khi gặp một trường
hợp nào đó thì sẽ bộc lộ.

- Mỗi người thường có thói quen ST trong một vài lĩnh vực nào đó và có
thể luyện tập để có thể phát huy khả năng của mình.
Như vậy, ST trước hết là kết quả của sự lao động bền bỉ, có cảm hứng.
Không có lao động, không có quá trình nhận thức để tích lũy các dữ kiện thì
không thể có ST và nó cần cho bất cứ lĩnh vực nào trong hoạt động xã hội loài
người và cho mọi người. Bởi vì trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường gặp
rất nhiều tính huống nảy sinh cần phải giải quyết, nhưng giải quyết như thế nào
để nhanh nhất và đạt kết quả tốt nhất mới là quan trọng. Từ thực tế cuộc sống
chúng ta cũng đã nhìn thấy rõ rằng: ST đem lại cho mỗi người cũng như cộng
đồng lợi ích khá to lớn. Cũng chính vì vậy mà tài liệu khoa học quốc tế cho biết:
“Tương lai của cả thế giới phần lớn tùy thuộc vào chất lượng của tư tưởng và cả
ý tưởng sáng tạo do nhân loại khám phá và đề nghị trong tất cả với mọi lĩnh vực
cuộc sống”.
1.2.1.2. Năng lực sáng tạo
NLST là khả năng tạo ra cái mới đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi của cuộc
sống mà bằng những kinh nghiệm, những cái đã biết không thể giải quyết được.
Nói cách khác, NLST thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề mà thực tiễn đặt ra.
NLST thường biểu hiện qua những đặc trưng sau:
- Tự nhận thấy vấn đề nảy sinh trong những điều kiện quen biết, “đúng
cách” .

12


- Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng nghiên cứu như các bộ phận, các yếu tố
và các mối quan hệ giữa chúng.
- Biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình huống. Khả
năng huy động các kiến thức cần thiết đưa ra giả thuyết hay các dự đoán khác
nhau khi phải lí giải một hiện tượng.
- Xác nhận bằng lý thuyết và thực hành các giả thuyết hoặc phủ nhận nó;

đồng thời biết đề xuất các phương án kiểm tra giả thuyết.
- Có cách nhìn nhận một vấn đề dưới những góc độ khác nhau, xem xét
đối tượng ở những khía cạnh khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau.
- Kỹ năng biết phối hợp các phương thức giải quyết vấn đề đã biết thành
một phương thức mới.
- Tâm lí chấp nhận những lời giải khác nhau, những cách giải quyết khác
nhau, xem xét đối tượng ở những khía cạnh khác nhau.
- Biết kiểm tra, đánh giá hiệu quả cách giải quyết vấn đề của bản thân và
của người khác.
- Biết điều chỉnh các phương án giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng
cho phù hợp với điều kiện thực tiễn
- Tự chủ, tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề của bản thân, không
nản chí trước một vấn đề khó.
1.2.2. Biểu hiện của năng lực sáng tạo trong học tập
Trong quá trình học tập của HS, ST là cấp độ cao nhất trong bốn cấp độ
nhận thức: biết, hiểu, vận dụng và sáng tạo. Tuy nhiên ngay từ buổi đầu đến lớp
mỗi HS đã có thể có những biểu hiện NLST của mình. Những biểu hiện đó cụ thể
như:
- Biết trả lời nhanh, chính xác câu hỏi của GV, biết phát hiện vấn đề mấu
chốt, tìm ra ẩn ý trong những câu hỏi, bài tập.
- Biết tự tìm ra vấn đề, tự phân tích, giải quyết đúng với những bài tập
mới.
- Biết kết hợp các thao tác tư duy và các phương pháp phán đoán, đưa ra
kết luận chính xác, ngắn gọn nhất.

13


- Biết trình bày linh hoạt một vấn đề, dự kiến nhiều phương án giải quyết.
- Biết học thầy, học bạn, biết kết hợp với các phương tiện thông tin khoa

học kĩ thuật hiện đại trong khi tự học, vận dụng được và cải tiến những điều đã
được học.
- Có năng lực liên tưởng - tưởng tượng.
Những biểu hiện trên có điểm chung là không thể lĩnh hội sáng tạo nhờ
thu nhận thông tin truyền miệng hay xem biểu diễn phương thức hành động. Đối
với quy trình ST không thể lập được thuật toán, không thể xây dựng hệ thống
hành động để HS xem và để sáng tạo HS bắt buộc phải hoạt động. Tuy nhiên,
những biểu hiện này có được thể hiện hay không, nhiều hay ít còn tùy thuộc vào
các kiểm tra- đánh giá của GV.
1.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo
Theo tác giả Đức Uy, động lực ST là khuynh hướng con người muốn thể
hiện chính mình muốn trở thành tiềm năng của mình.
+ Những điều kiện nội tâm cho sự sáng tạo là:
- Sự cởi mở đón nhận kinh nghiệm (có nghĩa là sự uyển chuyển và dễ
dàng qua lại giữa những quan điểm, niềm tin, nhận định, giả thuyết)
- Khả năng lượng giá từ bên trong (giá trị của sản phẩm sáng tạo không
chỉ vì sự khen ngợi của những người bên ngoài mà bởi chính người sáng tạo)
- Khả năng đùa giỡn với những yếu tố và những quan điểm (tung ném
những yếu tố vào những vị trí xem như không thể có được, hình thành những giả
thiết hoang dại)
+ Những điều kiện về mặt tâm lí nuôi dưỡng sự sáng tạo là:
- Có kiến thức vững chắc
- Hứng thú nảy sinh sáng tạo, sáng tạo lại thúc đẩy hứng thú
- Chấp nhận cá nhân như một giá trị vô điều kiện
- Tạo ra bầu không khí vắng mặt sự đánh giá từ bên ngoài
- Sự cảm thông và hiểu biết triệt để cá nhân sáng tạo, tạo sự tự do tâm lí
cho cá nhân sáng tạo.

14



- Có tính “nghi ngờ khoa học”: cách làm này hay phương án này có tối ưu
chưa ? Có cách giải quyết nào khác hay không ?
- Khả năng tư duy độc lập, tự xác định phương hướng hoạt động của mình
trong tình huống mới, tự phát hiện, tự tìm ra con đường giải quyết vấn đề
Vai trò của trực giác và tưởng tượng trong sáng tạo là rất quan trọng. Theo
Lui do Broile: “Nhờ có bước nhảy vọt phi lí, ta có thể bẻ gãy cái vòng cứng nhắc
mà trong đó lối suy luận diễn dịch vẫn giam hãm chúng ta, phép quy nạp dựa trên
tưởng tượng và trực giác cho phép ta thực hiện những chinh phục vĩ đại của tư
duy, nó là cơ sở của những thành tựu thực sự của khoa học”
1.2.4. Các biện pháp hình thành và phát triển NLST của HS trong học tập
Sáng tạo không phải là sản phẩm đồng đều, đại trà của hoạt động DH.
Mức độ ST quy định bởi nhiều phẩm chất, đặc điểm tâm sinh lí của cá nhân. Một
số biện pháp chính trong DHVL nhằm phát triển tư duy sáng tạo của HS:
- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức
mới.
- Cho HS luyện tập sáng tạo trong những giai đoạn của tiến trình xây dựng
kiến thức Vật lý.
- Tạo điều kiện thuận lợi để HS hoạt động nhiều hơn
- Làm cho HS hứng thú, yêu thích môn học
1.3. Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo
Muốn phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS thì người GV phải có PPDH
phù hợp. Không thể dạy theo cách thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”,
GV làm trung tâm mà phải lấy HS làm trung tâm. Chúng ta cần chú ý đến đặc
điểm tâm sinh lí lứa tuổi, trình độ tư duy của của người học. Trong dạy học
không nên ép buộc, gò bó lối suy nghĩ chung cho mọi HS.
Trong quá trình dạy học, người học được cuốn hút tham gia vào các hoạt
động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá, tìm tòi
kiến thức không thụ động trông chờ vào việc truyền thụ của GV. Người học được
hoạt động, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề,

vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống theo khả năng nhận thức, khả năng ST

15


của mỗi cá nhân. Để làm được như vậy, người GV cần thực hiện một số biện
pháp như sau:
- Biện pháp 1: Bồi dưỡng cho HS hứng thú và nhu cầu học tập, giúp HS
thấy đó như là một trong các nhu cầu cần thiết của bản thân.
- Biện pháp 2: Hướng dẫn và tập luyện cho HS khả năng vận dụng các
kiến thức, kỹ năng vào giải quyết tình huống, đặc biệt là những tình huống mới.
- Biện pháp 3: Hướng dẫn và tập luyện cho HS phân tích nội dung, cách
giải để từ đó tìm ra các cách giải quyết khác nhau và biết nhận xét, đánh giá để
chỉ ra được cách giải quyết hay nhất.
- Biện pháp 4: Hướng dẫn và tập cho HS cách nhìn nhận tình huống học
tập dưới các khía cạnh khác nhau để từ đó lựa chọn cách giải quyết thích hợp.
- Biện pháp 5: Hướng dẫn và tập luyện cho HS phân tích, phát hiện, đề
xuất tình huống mới từ tình huống đã cho.
- Biện pháp 6: Hướng dẫn HS phân tích các yếu tố của tình huống để chỉ
ra cách giải quyết độc đáo, sáng tạo đối với tình huống đề ra.
Như vậy, giữa tích cực và sáng tạo trong học tập có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Tích cực học tập được biểu hiện ở sự hăng hái, chủ động, tự giác tham gia
các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên
những cái đã biết. Tích cực gắn liền với chủ động, với hứng thú và phương thức
tự phát triển để làm biến đổi nhận thức. Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc
lập và đó chính là mầm mống của sáng tạo và ngược lại.
1.4. Thí nghiệm Vật lý
1.4.1. Khái niệm TNVL
“Thí nghiệm Vật lý là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người
vào các đối tượng của hiện thực khách quan. Thông qua sự phân tích các điều

kiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động, ta có thể thu được tri thức mới.”[3]
1.4.2. Đặc điểm của TNVL
- Các điều kiện của TN phải được lựa chọn và thiết lập có chủ định sao
cho thông qua TN có thể trả lời được các yêu cầu đặt ra, đồng thời cũng có thể
kiểm tra được các giả thuyết hoặc hệ quả được suy ra từ lý thuyết. Bên cạnh đó,

16


các điều kiện của TN có thể kiểm soát, biến đổi được để có thể nghiên cứu sự
phụ thuộc giữa các đại lượng.
- Đặc điểm quan trọng nhất là tính có thể quan sát được các biến đổi của
đại lượng nào đó, do sự biến đổi của đại lượng khác. Điều này đạt được nhờ các
giác quan của con người và sự hỗ trợ của phương tiện quan sát, đo đạc.
- Có thể lặp lại được TN. Điều này có nghĩa là: với các thiết bị TN, các
điều kiện TN như nhau thì khi bố trí lại TN, tiến hành lại TN, hiện tượng, quá
trình VL phải diễn ra trong TN giống như các TN trước đó.
1.4.3. Vai trò của TNVL trong dạy học Vật lý
1.4.3.1. Vai trò của TN theo quan điểm lý luận nhận thức
- TN là phương tiện thu nhận tri thức, thông qua TN con người có thể thu
nhận được những tri thức khoa học cần thiết nhằm nâng cao năng lực của bản
thân để có thể tác động và cải tạo thực tiễn.
- TN là phương tiện kiểm tra tính đúng đắn của những tri thức đã thu nhận.
- TN là phương tiện để vận dụng tri thức vào thực tiễn.
- TN là một bộ phận của các phương pháp nhận thức. TN luôn đóng một vai
trò rất quan trọng trong các phương pháp nhận thức khoa học.
1.4.3.2. Vai trò của thí nghiệm theo quan điểm lý luận dạy học
Trong DH Vật lý, TN đóng vai trò cực kì quan trọng, dưới quan điểm lý
luận DH vai trò đó được thể hiện như sau:
- TN là phương tiện kích thích hứng thú học tập, tổ chức quá trình học tập

tích cực và sáng tạo của HS.
- TN là phương tiện góp phần quan trọng vào việc GD kĩ thuật tổng hợp
cho HS.
- TN là phương tiện tổ chức các hình thức hoạt động và bồi dưỡng các
phẩm chất đạo đức của HS.
- TN góp phần làm đơn giản hóa các hiện tượng và các quá trình.
- TN làm bộc lộ quan niệm sai lệch của HS, kiểm chứng kiến thức đã được
học đồng thời có thể tiếp thu nhiều kiến thức mới.
1.5. Phân loại thí nghiệm

17
Hình 1.1 : Sơ đồ phân loại thí


1.5.1. Thí nghiệm biểu diễn
- Khái niệm: TN biểu diễn là TN do GV tiến hành trên lớp, trong các giờ
học nghiên cứu kiến thức mới và các giờ ôn tập, củng cố kiến thức, kỹ năng của
HS. [3]
- Thí nghiệm biểu diễn có thể phân ra thành 3 loại.
+ Thí nghiệm mở đầu: TN nhằm tạo tình huống có vấn đề, gây hứng thú
học tập cho HS. TN mở đầu đòi hỏi phải hết sức ngắn gọn và cho kết quả ngay.
+ Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng: nhằm mục đích xây dựng hoặc kiểm
chứng kiến thức mới, nên được sử dụng khi nghiên cứu kiến thức mới. Thí
nghiệm nghiên cứu hiện tượng bao gồm:
 TN khảo sát: TN nhằm thu thập số liệu thực nghiệm, trên cơ sở đó khái
quát hóa, quy nạp nhằm rút ra kiến thức mới.
 TN minh họa: TN kiểm chứng lại kiến thức đã được xây dựng bằng con
đường lý thuyết dựa trên những phép suy luận logic chặt chẽ.
+ Thí nghiệm cũng cố: những TN dùng để củng cố bài học. Cũng như TN
mở đầu, TN củng cố cũng phải hết sức ngắn gọn và cho kết quả ngay.

- Yêu cầu khi sử dụng thí nghiệm biểu diễn:
+ TN phải xuất hiện đúng lúc trong tiến trình DH và cho kết quả hợp lí,
phù hợp với mục đích dạy học, không gượng ép.
+ TN biểu diễn phải ngắn gọn.
+ TN phải đủ sức thuyết phục.
18


+ TN phải được bố trí hợp lí sao cho cả lớp đều quan sát được, tập trung
tối đa sự chú ý của HS.
+ TN phải đảm bảo tính an toàn.
1.5.2. Thí nghiệm học sinh
- Khái niệm: TN HS là TN do HS tiến hành trên lớp, trong phòng TN hay ở
nhà, nhằm khảo sát hoặc kiểm chứng một hiện tượng, một định luật, ... với các
mức độ tự lực khác nhau.[3]
- Phân loại TN HS: bao gồm TN trực diện, TN thực hành VL, TN VL ở nhà
+ TN trực diện: những TN được HS tiến hành trên lớp, chủ yếu nghiên cứu
kiến thức mới nhưng cũng có khi được sử dụng để củng cố. TN này giúp cho HS
hoàn thiện kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng và thói quen khi sử dụng các
dụng cụ.
+ TN thực hành VL: TN này chủ yếu do HS thực hiện trên lớp hoặc trong
phòng TN sau khi học xong một phần kiến thức nào đó của chương trình VL,
nhằm củng cố kiến thức đã học và rèn luyện kỹ năng thí nghiệm. Mức độ tự lực
của học sinh ở đây cao hơn so với thí nghiệm trực diện.
+ TN và quan sát VL ở nhà: là một loại bài thực hành mà GV giao cho HS
hoặc từng nhóm HS thực hiện ở nhà với những dụng cụ thông thường, dễ tìm
thấy trong cuộc sống; nhằm tìm hiểu một hiện tượng, xác định một đại lượng,
kiểm chứng một định luật hay quy tắc VL nào đó. Có tác dụng rèn luyện kỹ năng,
kỹ xảo, phát huy tinh thần tự học, tự lực cho HS.
1.6. Thí nghiệm tự tạo

1.6.1. Khái niệm thí nghiệm tự tạo
- Khái niệm: TNTT là thí nghiệm được GV và HS làm ra theo mẫu trong
SGK, hoặc là TN được cải tiến từ các thiết bị máy móc, hoặc là TNTT theo ý
tưởng, sáng kiến mới bằng những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm trong đời sống hằng
ngày .[4]
1.6.2. Ưu và nhược điểm của thí nghiệm tự tạo
1.6.2.1. Ưu điểm
- Dụng cụ cần cho TN là những dụng cụ đơn giản, dễ tìm kiếm trong đời
sống hằng ngày.

19


- Hình thức TN gọn nhẹ, đơn giản, dễ lắp ráp, dễ sử dụng, nên có thể dùng
mọi lúc, mọi nơi.
- TN dễ thành công, cho kết quả rõ ràng, thuyết phục mà lại ít tốn kém
thời gian.
- TN đa phần là đơn giản không đòi hỏi người sử dụng phải có những kĩ
năng thực hành đặc biệt.
- Không đòi hỏi khắt khe về cơ sở vật chất như: phòng bộ môn, mạng
điện, thiết bị...
- Hiện tượng và kết quả TN có sức lôi cuốn, hấp dẫn HS cao.
1.6.2.2. Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm nổi bật thì TNTT cũng tồn tại một số hạn chế
nhất định như:
- TNTT không những là TN đơn giản mà bên cạnh đó còn có nhiều TN
đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian, sức lực và trí tuệ để chế tạo những TN có sức
thuyết phục cao.
- Dụng cụ TN thường có tuổi thọ không cao.
- Đa số những TNTT đơn giản đều mang tính chất định tính, ít có thí

nghiệm định lượng.
- Tính thẫm mỹ của TN thường không cao.
1.6.3. Vai trò của thí nghiệm tự tạo trong quá trình dạy học
1.6.3.1. Vai trò của thí nghiệm tự tạo trong quá trình dạy học đối với GV
Với những ưu điểm nổi bật mà TNTT đem lại thì có thể xem những sản
phẩm TN chế tạo được chính là những đồ dùng dạy học hỗ trợ một cách hữu hiệu
bên cạnh những thiết bị TN hiện đại, khắc phục những khó khăn về cơ sở vật
chất, hạn chế việc dạy chay, học chay.
GV có thể cá thể hoá quá trình học tập của HS bằng cách giao cho các loại
đối tượng HS khác nhau các nhiệm vụ chế tạo dụng cụ TN và tiến hành TN với
mức độ khó dễ khác nhau, nông sâu khác nhau và với mức độ hướng dẫn khác
nhau, góp phần giúp các em phát triển tinh thần tự học, tự sáng tạo, phát triển tư
duy của mình.

20


Không những vậy, GV còn có thể đa dạng hóa việc tổ chức giờ học Vật lý
bằng nhiều phương pháp khác nhau, chủ động tìm và lựa chọn các phương pháp
thích hợp.
1.6.3.2. Vai trò của thí nghiệm tự tạo trong quá trình dạy học đối với HS
Việc chế tạo và sử dụng các TNTT, giúp HS nắm vững kiến thức, việc tiến
hành TN, giải thích và tiên đoán kết quả TN giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng
và hệ thống hoá các kiến thức VL mà HS đã lĩnh hội được .
Do đặc điểm của TNTT liên quan đến hiện tượng, quá trình VL rất gần gũi
với HS nên sau một quá trình học tập với TNTT, các em sẽ quan tâm hơn đến các
hiện tượng VL xung quanh. Giúp HS thay đổi phương pháp suy nghĩ, phương
pháp học tập, HS bắt đầu rèn luyện thói quen thảo luận khoa học, bàn bạc, chấp
nhận hay phản đối ý kiến…
Đặc biệt, do những ưu điểm nổi trội của TNTT nên GV có thể tổ chức cho

HS tự tiến hành TN qua đó các em được quan sát trực tiếp các hiện tượng và các
quá trình VL được đề cập trong bài, giúp các em tự nhận thấy sự vô lí về những
quan niệm sai lệch của mình một cách thuyết phục.
Giúp HS giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày,
tăng cường mối quan hệ giữa lí thuyết và thực hành, rèn luyện cho HS tính tích
cực, ham học hỏi, thích ứng với hoàn cảnh, tính sáng tạo….
Đồng thời GV có thể tạo ra tình huống có vấn đề trong lớp học, tạo điều
kiện cho HS tiến hành TN từ đó HS sẽ có cơ hội, tình huống phải suy nghĩ những
vấn đề cần giải quyết, kích thích hứng thú cho HS.
1.6.4. Những yêu cầu khi chế tạo và sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học
Thí nghiệm được tiến hành với những dụng cụ đơn giản, dễ tìm kiếm nên
ngoài những yêu cầu chung , khi khai thác và sử dụng cần chú ý các yêu cầu sau:
- Tính thẫm mỹ: Do đa số các dụng cụ TNTT là những đơn giản, dễ tìm
kiếm nên yếu tố thẫm mỹ phải đặc biệt được coi trọng; cần phải lựa chọn những
dụng cụ TN phù hợp để kích thích sự chú ý của HS; gia công chu đáo, cẩn thận
để là tăng tính thẩm mỹ của nó.

21


- Tính sư phạm: Khích thước lớn, để hở tạo điều kiện thuận lợi cho HS
quan sát được những chi tiết cơ bản. Các TN không được phản GD, chẳng hạn
không nên làm những dụng cụ TN có liên quan đến súng đạn, cung nỏ…
- Tính khoa học: Các TN phải được bố trí hợp lý, khoa học, các dụng cụ
TN không được che lấp lẫn nhau. TN phải ngắn gọn, kết quả phải rõ ràng, chính
xác và thuyết phục.
- Tính khả thi: Các TN được sử dụng phải là những TN dễ thao tác, dễ tiến
hành và cho kết quả thuyết phục.
1.7. Thực trạng sử dụng thí nghiệm trong dạy học ở trường THPT
1.7.1. Thực trạng sử dụng TN nói chung và TNTT nói riêng trong dạy học

Vật lý
Mặc dù có tác dụng to lớn trong quá trình nhận thức của người học nhưng
việc sử dụng các thiết bị TN trong dạy học môn VL ở trường phổ thông trong
nhiều năm qua chưa chiếm được vị trí xứng đáng trong dạy học VL, vẫn tồn tại
nhiều bất cập, những bất cập đó được thể hiện như sau:
- GV vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, rất ít khi tiến hành TN
khi dạy học, việc sử dụng TN còn rất nhiều lúng túng, thụ động, chưa thực hiện
nghiêm túc chủ trương "học đi đôi với hành".
- Đa số các trường phổ thông đều được trang bị các thiết bị TN cơ bản
nhưng chỉ được GV sử dụng trong các tiết dạy có GV dự giờ hoặc sử dụng trong
giờ thi dạy giỏi các cấp, GV ít sử dụng TN trong các giờ học bình thường .
- Phần lớn GV ngại thiết kế, chế tạo TN vì công việc này đòi hỏi nhiều thời
gian, công sức, trong khi không có chế độ nào cho GV thực hiện công việc này.
- Các tiết dạy thực hành vẫn chưa thực sự được GV chú trọng, các giờ dạy
thực hành đáng lẽ ra phải được thực hiện theo đúng chương trình thì lại được tổ
chức thực hành qua loa hoặc chuyển thành giờ ôn tập, ôn thi…
- Các GV chưa thực sự được trang bị về việc sử dụng TN trong dạy học, sự
hiểu biết, khả năng sử dụng và sửa chữa TN của GV còn nhiều bất cập.
- Các trường phổ thông hiện nay, các cán bộ quản lí chưa thực sự quan tâm
đến việc khai thác sử dụng thiết bị TN của GV, các cuộc thi tự làm đồ dùng học
tập cho GV ít được chú trọng. Phần lớn các GV phổ thông đều không để tâm đến
việc thiết kế, chế tạo TN để phục vụ trong quá trình dạy học của mình.

22


- Bên cạnh đó, do việc đánh giá thi cử hiện nay chưa coi trọng đúng mức
TN VL, hay nói cách khác nội dung TN chưa được đưa nhiều vào trong các kiểm
tra, đánh giá kết quả HS. Điều đó ảnh hưởng khá nhiều đến thái độ của người dạy
và người học đối với TN VL .

1.7.2. Nguyên nhân các thực trạng
Qua việc tìm hiểu và phân tích thực trạng nói trên, ta thấy việc sử dụng TN
nói chung và TNTT nói riêng trong dạy học VL ở các trường THPT hiện nay còn
rất nhiều hạn chế, xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau:
- GV ngại tiến hành TN trong giờ học vì sợ tốn nhiều thời gian, gây ảnh
hưởng đến các hoạt động dạy học khác; sợ TN không thành công sẽ gây phản tác
dụng đối với HS.
- Nội dung bài dạy còn khá nặng, không có nhiều thời gian để GV có thể sử
dụng TN nói chung và TN tự tạo nói riêng trong quá trình dạy học.
- Khả năng sử dụng thiết bị TN của GV nhìn chung còn hạn chế, GV lại
chưa được bồi dưỡng, thiếu chuyên môn nghiệp vụ nên không có khả năng sửa
chữa, tái tạo.
- Sự thiếu thốn về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trường
cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng TN trong dạy học. Thiết bị TN được
cung cấp nhiều nhưng không đồng bộ, các thiết bị TN chất lượng kém, bị hư
hỏng, độ chính xác không cao. Số lượng phòng thí nghiệm, phòng thực hành ở
các trường cũng bị hạn chế gây khó khăn cho các tiết dạy thực hành của GV.
- Ở các trường THPT không có nhiều các cuộc thi chế tạo dụng cụ TN tự
tạo sử dụng trong dạy học vì việc đầu tư kinh phí ở các trường THPT cho việc
thiết kế, chế tạo dụng cụ TN tự tạo rất hạn chế, các GV lại ngại thiết kế, chế tạo
TN vì công việc này chiếm khá nhiều thời gian, trong khi không có chính sách,
chế độ nào cho những GV thiết kế, chế tạo TNTT sử dụng trong dạy học ở các
trường THPT.
- Thực tế hiện nay vẫn chỉ dạy và học thật kỹ các vấn đề liên quan đến thi
Đại học chứ không nhằm rèn luyện các năng lực, kỹ năng cho HS.
- Các cán bộ quản lí chưa thực sự quan tâm đến việc khai thác sử dụng TN
của GV, không có nhiều các buổi hội thảo, toạ đàm, trao đổi những kinh nghiệm,
kỹ năng thiết kế chế tạo các TNTT giữa các GV, giữa các trường THPT với nhau.

23



1.8. Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sử dụng TN nói chung và
TNTT nói riêng trong dạy học ở phổ thông
1.8.1. Đối với giáo viên
- Làm cho HS thấy hứng thú với TN thông qua các TN biểu diễn trong giờ
học trên lớp có sự tham gia của HS.
- Cho HS làm quen, tiếp xúc với các dụng cụ TN nhiều lần để không bị bỡ
ngỡ khi làm TN thực hành, đồng thời trang bị cho HS các thao tác sử dụng các
dụng cụ TN.
- Phân chia công việc cho nhóm và cho mỗi HS, bố trí số lượng nhóm và
thời gian thực hành tương thích.
- Khuyến khích HS học tốt TNTH bằng cách cho điểm cộng, điểm thưởng
vào bài kiểm tra và trừ điểm nếu học không nghiêm túc.
- Tăng cường sử dụng TNTT để tạo ra tình huống có vấn đề.
- Tăng cường sử dụng TNTT nhằm tích cực hóa hoạt động tìm kiếm kiến
thức của HS.
- Hướng dẫn HS thiết kế, chế tạo và sử dụng TN ở nhà.
1.8.2. Đối với Nhà trường
- Cần đầu tư thêm kinh phí, thời gian cho việc khai thác và sử dụng thiết bị
TN trong dạy học VL, khuyến khích hội thảo các tổ bộ môn về việc bảo quản, sử
dụng và sữa chữa các thiết bị TN.
- Đôn đốc các cán bộ làm công tác quản lí ở các trường thực hiện đầy đủ
các chức năng của mình.
- Thường xuyên tổ chức các cuộc thi tự làm đồ dùng dạy học, các hội thảo
nghiên cứu khoa học để tạo điều kiện cho tất cả các GV tham gia.
- Tăng cường các đợt tập huấn về kỹ năng tiến hành, sử dụng và tổ chức
dạy học với TN trong dạy học VL, giới thiệu các thiết bị TN mới do GV.
- Mỗi trường nên có GV chuyên trách phòng TN trong giờ thực hành để hỗ
trợ GV khi cần thiết.


Tổng kết chương I
Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lí luận cũng như thực tiễn của vấn đề sử
dụng TN nói chung và TNTT trong dạy học VL nói riêng, đề tài bước đầu đã làm
sáng tỏ một số nội dung sau đây:
24


- Một số khái niệm: thí nghiệm, thí nghiệm tự tạo, tính tích cực, năng lực
sáng tạo...
- Nêu được ưu và nhược điểm, yêu cầu và vai trò của TNTT trong việc
phát triển tính tích cực và sáng tạo của HS.
- Trình bày thực trạng của việc sử dụng TN nói chung và TNTT nói riêng
trong dạy học VL, phân tích các nguyên nhân của thực trạng. Trên cơ sở đó cũng
đã đề xuất được một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sử dụng TNTT
trong dạy học.
Để vận dụng vào trong thực tiễn thành công cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng
của GV cũng như HS trong việc lựa chọn nội dung phù hợp, các mức độ phù
hợp, từng đối tượng HS vạch ra kế hoạch dạy học hợp lí, đảm bảo mọi HS có khả
năng thu nhận kiến thức tốt nhất nhằm giúp cho HS nắm vững kiến thức, rèn
luyện kỹ năng, phát triển năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách, kỹ năng, kỹ
xảo cho HS. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu thiết kế, chế tạo TN và sử dụng TN trong
dạy học VL là thật sự cần thiết để nâng cao chất lượng trong dạy học VL, góp
phần thay đổi phương pháp giảng dạy đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giai
đoạn hiện nay.

25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×