Tải bản đầy đủ (.docx) (9 trang)

Hình tượng người trần thuật trong truyện ngắn của haruki murakami

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (38.74 KB, 9 trang )

Hình tượng người trần thuật trong truyện ngắn của Haruki Murakami – nhìn từ lý
thuyết tự sự học
HÀ VĂN LƯỠNG

Trong thể loại tự sự, người trần thuật giữ một vai trò quan trọng, góp phần làm nên
giá trị nghệ thuật tự sự của tác phẩm văn học.

Ở thể loại truyện ngắn của Haruki Murakami, cùng với các yếu tố khác của trần
thuật như điểm nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật, hình tượng người trần
thuật thể hiện một cách khá rõ và linh hoạt tài năng của nhà văn. Qua các tập
truyện ngắn của H. Murakami đã được dịch ở Việt Nam, chúng tôi khảo sát hình
tượng người trần thuật trên hai bình diện: trần thuật ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba.

Trong nền văn học Nhật Bản đương đại vài chục thập niên trở lại đây, Haruki
Murakami nổi lên như một hiện tượng văn học đặc sắc, mới lạ được đông đảo bạn
đọc trong nước và nhiều nước trên thế giới đón nhận với sự ngưỡng mộ, thán phục.
Tài năng văn chương của ông không chỉ thể hiện trong các tiểu thuyết, mà còn ở
thể loại truyện ngắn. Trong truyện ngắn của H. Murakami, bên cạnh các yếu tố
khác làm nên giá trị tác phẩm như kết cấu, cốt truyện, không gian và thời gian nghệ
thuật…, thì nghệ thuật trần thuật giữ một vị trí quan trọng. Bởi vì: “Trần thuật là
phương diện cấu trúc của tác phẩm tự sự thể hiện mối quan hệ chủ thể – khách thể
trong loại hình nghệ thuật này. Nó đánh dấu sự đổi thay điểm chú ý của ý thức văn
học từ hệ thống sự kiện “thắt nút”, “mở nút”, sang chủ thể thẩm mỹ của tác phẩm
tự sự.”(1)

Trên cơ sở khảo sát truyện ngắn của H. Murakami trong các tuyển tập ngắn (Sau
cơn động đất, Đom đóm, Ngày đẹp trời để xem Kangaroo, Bóng ma ở Lexingtơn,
Người tivi), chúng tôi chỉ ra hình tượng người trần thuật và khẳng định tài năng
nghệ thuật của nhà văn.



Trong thể loại tự sự, người trần thuật (hay người kể chuyện) là một khái niệm trung
tâm của lý thuyết tự sự học. Người trần thuật trong tác phẩm là một người hư cấu
hoặc có thật mà văn bản tự sự thể hiện thông qua hành vi và ngôn ngữ của anh ta
tạo thành. Nhìn chung, người trần thuật thực hiện nhiệm vụ trần thuật, truyền đạt,
chỉ dẫn, bình luận… những vấn đề được mô tả hoặc được kể trong tác phẩm.
Thông thường, người ta chia người trần thuật trong tác phẩm tự sự thành hai dạng
chủ yếu: người trần thuật lộ diện (ngôi thứ nhất) và người trần thuật ẩn tàng (ngôi
thứ ba).

Ở các truyện ngắn của H. Murakami, hầu hết người trần thuật được đặt ở ngôi thứ
nhất và ngôi thứ ba. Mỗi truyện được kể ở một ngôi nhất định, nhưng cũng có
truyện, tác giả đan xen giữa hai ngôi kể chuyện. Điều đó một mặt, khai thác sâu sắc
hơn thế giới nội tâm nhân vật, mặt khác chính sự kết hợp nhiều ngôi kể chuyện góp
phần làm phong phú thêm sự đa dạng của tác phẩm, khẳng định phong cách của H.
Murakami.

Theo thống kê của chúng tôi, trong 63 truyện ngắn của H. Murakami được dịch ở
Việt Nam và in trong 5 tuyển tập, thì có 43 truyện kể ở ngôi thứ nhất, 11 truyện kể
ở ngôi thứ ba và 9 truyện được kể xen kẽ ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Như vậy, kể
chuyện ở ngôi thứ nhất chiếm số lượng nhiều hơn cả (trên 70%) so với các ngôi kể
khác. Điều đó hoàn toàn đúng với phong cách nghệ thuật tự sự của truyện ngắn H.
Murakami. Nhưng sự thay đổi người trần thuật trong các truyện của nhà văn không
phải là một sự tùy tiện mà chính là do chủ ý của tác giả khi sáng tác và không hề
làm mất đi tính khách quan, giá trị chân thực của tác phẩm.

Bảng thống kê các ngôi kể chuyện trong 5 tập truyện ngắn của H. Murakami

STT Các tuyển tập



truyện ngắn

Số lượng
truyện

Kể ngôi
thứ nhất

Kể ngôi thứ
ba

Xen kẽ các
ngôi

1

Ngày đẹp trời để

xem Kangaroo

18

15

0

2

Bóng ma ở


03

Lexingtơn

14

10

01

03

3

Người tivi 14

07

05

02


4

Đom đóm

11

11


0

0

5

Sau cơn động đất 06

0

05

Tổng cộng 63

11

09

43

01

Mặt khác, trong các tập truyện, người trần thuật ở các ngôi cũng có số lượng khác
nhau. Trên bảng thống kê cho chúng ta thấy, ở tập truyện ngắn Ngày đẹp trời để
xem Kangaroo, Haruki Murakami sử dụng chủ yếu là kể chuyện ở ngôi thứ nhất
(15 truyện/18 truyện), không kể ở ngôi thứ ba mà có sự xen kẻ giữa hai ngôi trên,
nhưng số lượng rất ít (3 truyện/18 truyện). Các tập truyện ngắn khác, tỷ lệ kể ở
ngôi thứ nhất chiếm đa số, thậm chí tất cả đều kể ở ngôi thứ nhất (Đom đóm).
Nhưng ở tập truyện Sau cơn động đất, thì chỉ kể ở ngôi thứ ba (5 truyện) hoặc xen

kẽ ngôi thứ nhất và thứ ba (01 truyện). Sự thay đổi vị trí người trần thuật có số
lượng khác nhau như trên trong các truyện, các tập truyện của Haruki Murakami là
nhằm hướng đến thể hiện những vấn đề cụ thể mà nhà văn quan tâm và nằm trong
hệ thống thủ pháp của tác giả. Qua khảo sát các tập truyện, chúng tôi sẽ chỉ ra hình
tượng người kể truyện ở ngôi thứ nhất, thứ ba và các ngôi xen kẽ trong truyện ngắn
H. Murakami.

1. Người trần thuật ngôi thứ nhất

Truyện kể ở ngôi thứ nhất là câu chuyện được kể lại do một người kể chuyện hiện
diện (lộ diện) như một nhân vật trong truyện. Với hình thức này, người kể chuyện
trực tiếp tham gia vào câu chuyện và hiện hữu trong thế giới mà nhân vật hoạt
động. Chính ngôi kể chuyện này tạo cảm giác cho người đọc có độ tin cậy cao về
những sự việc và con người được nói đến trong truyện. Mặt khác, việc nhân vật
xưng “tôi” ở ngôi thứ nhất giúp người kể đi sâu khám phá thế giới nội tâm, những
mối quan hệ, những diễn biến phức tạp của tâm lý nhân vật. Khi đề cập vấn đề
người trần thuật trong truyện, trong một lần trả lời phóng vấn, H. Murakami nói
rằng: “Khi viết ở ngôi thứ ba, tôi có cảm giác mình như Chúa trời. Mà tôi không
thích làm Chúa trời. Tôi không thể biết tuốt, không thể viết về tất cả mọi thứ. Tôi
chỉ là chính mình thôi. Tôi viết cái gì đó từ chính bản thân mình. Tôi không có ý
nói tôi là nhân vật chính, nhưng tôi phải mường tượng được những gì nhân vật


chính của mình chứng kiến và trải nghiệm. Viết giúp tôi khám phá tiềm thức của
bản thân. Đó cũng chính là quá trình tôi kể chuyện. Đó cũng là điều hấp dẫn nhất
mà tôi từng làm. Với tôi, kể một câu chuyện cũng giống như là những gì xẩy ra khi
xuống phố. Tôi yêu đường phố nên mỗi khi xuống đường, tôi quan sát, nghe và
cảm nhận mọi thứ. Khi làm như vậy, bạn sẽ cảm nhận sự thay đổi của thế giới theo
một cách riêng”(2). Sự biến hóa, “nhập vai” của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất
xưng “tôi” trong các truyện ngắn của H. Murakami rất đa dạng. Trong truyệnNgày

đẹp trời để xem Kangaroo, nhân vật “tôi” trong vai vợ chồng đi đến sở thú để xem
một chú Kangaroon mới ra đời: “Tất nhiên là vợ chồng tôi nhắm đến chuyện xem
bé Kangaroo mới sinh. Ngoài ra, không nghĩ ra được con vật nào khác cần xem cả.
Vợ chồng tôi từ một tháng trước đã đọc trên báo mà biết có bé Kangaroo mới
sinh… Sáng 6 giờ, vợ chồng tôi thức giấc, mở màn cửa sổ ra thì xác định được tức
thì hôm ấy là ngày đẹp trời, để đi xem Kangaroo…”(3). Nhân vật “tôi” kể lại câu
chuyện mà vợ chồng anh ta đã trải qua, đó là ngày đẹp trời đi xem con Kangaroo
bé nhỏ mới ra đời. Vì thế, những sự kiện và nhân vật được kể trong truyện đều
được nhà văn đặt trong dấu ngoặc kép (tức câu chuyện đã xảy ra). Ở đây, lời dẫn
của nhân vật “tôi” hiện diện trong truyện vừa là người dẫn dắt, giới thiệu diễn biến
của truyện và cũng là người trực tiếp tham gia vào nội dung chuyện kể. Sự kết hợp
linh hoạt việc kể chuyện này là sự đan xen giữa thời gian hiện tại và thời gian quá
khứ cùng đồng hiện trong hiện tại.Đom đóm là câu chuyện về mối quan hệ chằng
chịt, không phân định chập chờn như đom đóm của ba nhân vật “tôi, hắn và em”.
Nhưng nhân vật “tôi” vẫn giữ vai trò chủ yếu. Những day dứt, niềm vui nỗi buồn
đan xen tuổi yêu đương thời sinh viên đưa nhân vật “tôi” rơi vào cảm giác cô đơn,
lạc lỏng trước những cảnh xa hoa, tráng lệ, những cảnh sa đọa của đời thường để
rồi cố tìm về với những gì xưa cũ, thân quen, những giá trị truyền thống ngày xưa.
Nhân vật tôi trong Đom đóm đã rất hối tiếc về những gì tươi đẹp đã qua: “Đom
đóm đã bay mất rồi, nhưng quỹ tích ánh sáng của đom đóm vẫn còn lưu lại trong
tôi rất lâu. Trong bóng tối dày đặc của mắt tôi đang nhắm lại, đom đóm nhỏ nhoi
ấy lạc lỏng hoài như một mảnh linh hồn lạc mất lối về. Tôi vài lần thử rón rén
vươn tay vào khoảng tối ấy, nhưng nhón tay tôi không chạm được gì. Đốm sáng
nhỏ nhoi ấy lúc nào cũng cách một khoảng vô cùng ngắn trước đầu ngón tay
tôi.”(4)


Như trên chúng tôi đã thống kê, tất cả 11 truyện trong tập Đom đóm đều được kể ở
ngôi thứ nhất. Nhân vật “tôi” xuất hiện trong tất cả các truyện với vai trò chủ thể,
người chứng kiến, người kể lại câu chuyện dưới các “vai” khác nhau. Đó là chuyện

của “tôi và nàng” do tôi kể lại (Đốt nhà kho), nhân vật tôi và người lùn (Người lùn
nhảy múa), nhân vật tôi và người em họ (Cây liễu mù và cô gái ngủ), chuyện nhân
vật tôi đột nhập vào tiệm bánh mỳ (Tái tập kính tiệm bánh mỳ), chuyện của nhân
vật tôi và cô em góa (Chuyện trong nhà)… Mở đầu truyện Chuyện trong nhà, nhà
văn viết: “Không hiểu có phải là chuyện thường tình trên đời không, ngay từ buổi
đầu, tôi đã không thể nào ưa được anh chàng vị hôn phu của em tôi. Rồi về sau, ít
nhất tôi lại còn ôm thêm nghi vấn về việc em tôi quyết tâm kết hôn với chàng ta.
Thật tình tôi đã thất vọng về việc ấy”(5). Và toàn bộ diễn biến của truyện được kể
lại ở ngôi thứ nhất (nhân vật người anh).

Trong tập Bóng ma ở Lexingtơn, có 10/14 truyện được kể ở ngôi thứ nhất (Chuyện
bà cô nghèo, Thông báo Kangaroo, Vườn cỏ buổi chiều cuối cùng, Con chó nhỏ
của nàng trong lòng đất, Bóng ma ở Lexingtơn…). Sau khi kể hết câu chuyện mà
mình đã từng chứng kiến, nhân vật “tôi” trong truyện nói: “Thỉnh thoảng, tôi lại
nhớ đến những bóng ma ở Lexingtơn. Lũ ma bí hiểm đã mở tiệc huyên náo giữa
khuya trong phòng khách của ngôi nhà xưa cũ của Casey… Tôi chưa hề kể chuyện
này cho ai nghe. Nghĩ cho cùng thì hẳn là chuyện kỳ dị thiệt đấy, thế nhưng có lẽ
vì cảm giác xa xôi vời vợi ấy mà tôi chẳng thấy gì là kỳ dị cả.”(6)

Ở tập truyện Người tivi, trong 14 truyện thì có 7 truyện kể ngôi thứ nhất, số còn lại
ngôi thứ ba và xen kẻ hai ngôi. Nếu trong truyện Người tivi, người kể chuyện nhân
danh “tôi” kể về người tivi, nhân vật tôi – tác giả trong Truyền thuyết dân gian của
thời đại chúng tôi, nói về thời đại đất nước Nhật Bản những thập niên 60 của thế
kỷ XX, người kể chuyện xưng “tôi” trong Giấc ngủ nói về chứng mất ngủ và mơ
màng của anh ta thì truyện Quần cộc kiểu Đức, Người đàn ông đi tắcxi, Cho nữ
hoàng đã mất, nhân vật từ kể về những kỷ niệm hoặc những chuyện, những việc
liên quan đến mình trong quá khứ. Dường như đó là những hồi tưởng của nhân vật
được kể lại ở ngôi thứ nhất. Trong truyện Giấc ngủ, mở đầu tác phẩm, tác giả viết:
“Tôi không ngủ được đã đến ngày thứ 17 rồi… Trong một tháng ấy, không một lần



nào tôi ngủ cho ra ngủ. Đêm đến, vào giường nằm, nghỉ là ngủ đi thôi. Và thế là,
cứ như phản xạ mà tỉnh như sáo ngay. Cố gắng mấy cũng không ngủ được… Đầu
óc tôi lúc nào cũng mơ hồ mù sương. Không phán định chính xác được sự ly, chất
lượng hay cảm xúc của sự vật…”(7). Trong truyện Đốt nhà kho, nhân vật “tôi” đã
được nhân vật “chàng” kể lại câu chuyện đốt nhà kho táo bạo và rất mạo hiểm.
Hành động đó ám ảnh nhân vật “tôi” và anh ta tỏ ra hoài nghi: “Quả thật, có đôi lúc
tôi nghĩ thay vì kiên trì chờ đợi chàng ta đốt nhà kho, chi bằng tự mình quẹt diêm
đốt quách đi thì đỡ thấp thỏm hơn… Vấn đề thực tế là tôi không bao giờ đốt nhà
kho. Đốt nhà kho là chàng ta kia mà. Có lẽ chàng đã đổi ý, định đốt nhà kho ở khu
vực nào khác rồi. Hay có lẽ là bận bịu quá chưa tìm ra thì giờ để đi đốt nhà
kho”(8). Ở Người lùn nhảy múa, nhân vật “tôi” kể về một giấc mộng kỳ bí vừa
thực vừa hư về người lùn nhảy múa trong rừng: “Tôi đắm mình vào điệu nhảy ấy
cảm thấy được rõ ràng chuyển động của tinh tú, những đợt lên xuống của thủy
triều, những còn bay của gió… Trong túi tôi, quả cầu ánh sáng màu bàu bạc trắng
lại bắn tung ra những tia sáng rực rỡ theo mỗi vòng xoay ấy”(9).

Như vậy, dù có sự “biến ảo” và linh hoạt trong ngôi kể thứ nhất, được phủ dưới
một hình thức trực tiếp, hiện thực, hay dưới những yếu tố kỳ ảo, trong giấc mơ ly
kỳ…, nhưng nhìn chung, sự việc và con người trong truyện ngắn của H. Murakami
phần lớn đều được kể với nhân vật “tôi” hoặc vai “tôi”.

2. Người trần thuật ngôi thứ ba

Trong văn học cổ và văn học trung đại, chủ yếu là người trần thuật ở ngôi thứ ba.
Nhưng đến thế kỷ XIX bắt đầu ở châu Âu và về sau lan rộng ra trong văn học thế
giới cho đến nay, hình thức kể chuyện ngôi thứ nhất mới thịnh hành. Tuy thế, trong
văn xuôi tự sự, bên cạnh trần thuật ngôi thứ nhất vẫn còn không ít nhà văn để cho
nhân vật trần thuật ở ngôi thứ ba. Ngôi thứ ba cho phép người kể có thể kể về
nhiều chuyện, nhiều người, cả những bí mật trong tâm hồn con người. Ngôi kể này

mang tính khách quan và tự do nhất. Loại người trần thuật ẩn tàng (hay còn gọi
theo ngôi thứ ba) cho phép nhà văn có cơ hội quan sát toàn diện cuộc sống cũng


như số phận con người và phản ánh nó vào tác phẩm một cách cụ thể, khách quan.
Với ngôi thứ ba, người thuật chuyện dường như là người “toàn thông” sắm vai
“thực tế” để “phán xét” về mọi điều.

Trong truyện ngắn của H. Murakami, người trần thuật ở ngôi thứ ba chiếm số
lượng không nhiều. Theo thống kê trên của chúng tôi thì trong số 63 truyện ở 5
tuyển tập truyện ngắn của nhà văn thì chỉ có 11 truyện được kể ở ngôi thứ ba,
chiếm tỷ lệ khoảng 1/6. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan niệm của H.
Murakami về viết truyện ngắn. Trong hai tập truyện ngắn Sau cơn động đất và
Người tivi, đặc biệt làSau cơn động đất, H. Murakami chủ yếu để người trần thuật
ở ngôi thứ ba. Nếu ở Người tivi chỉ có 5/14 truyện kể ở ngôi thứ ba, thì trong Sau
cơn động đất có đến 5/6 truyện được trần thuật theo ngôi này. Ở các truyện trên,
ngôi kể thứ ba rất linh hoạt, góp phần vào việc khai thác, mổ xẻ tâm lý nhân vật
một cách sâu sắc, cụ thể. Người trần thuật dường như đứng độc lập, khách quan kể
và miêu tả về mọi việc trong tác phẩm. Mô tả một anh nhân viên bán hàng và cuộc
sống của anh ta, trong truyện Đĩa bay đáp xuống Kushiro, H. Murakami viết:
“Người dong dỏng cao, rành ăn mặc và giỏi cư xử. Hồi còn độc thân, Komura có
rất nhiều bạn gái… trong 5 năm nay sau ngày kết hôn, anh không ngủ với người
đàn bà nào ngoài vợ. Không phải vì không có cơ hội; anh hoàn toàn không còn
thấy hứng thú gì trong quan hệ trai gái qua đường nữa. Thay vào đó, anh muốn
mau sớm về nhà cùng vợ thong thả dùng bữa, rồi chuyện trò trên ghế dài phòng
khách, xong vào giường nghỉ ngơi, ân ái”(10). Với ngôi kể chuyện này, nhân vật
được thể hiện không chỉ qua chân dung, cử chỉ mà cả cuộc sống nội tâm và sở
thích của anh ta. Ở truyện Phong cảnh có bàn ủi, khi nói về cuộc gặp gỡ vào đêm
khuya tại bờ biển, nhà văn tái hiện cảnh đốt lửa, uống rượu với một giọng văn
khách quan, từ sự quan sát bên ngoài: “Junko tiếp lấy bình rượu, rót vào nắp bình,

rồi nhắm rượu từng chút một. Cô nghiêm mặt dõi theo cảm giác đặc thù của giòng
chất lỏng ấm ấp chảy từ thực quản xuống dạ dày… Đến phiên ông Miyake nhẹ
nhàng uống một ngụm rồi Keisuke lại tu một ngụm lớn. Bình rượu sang tay từ
người này sang người kia. Lửa nhóm không hấp tấp mà từ từ bốc lên thành ngọn
lửa đỏ rực… Lửa ấy như chỉ để sưởi ấm lòng người”(11). Với ngôi kể thứ ba, H.
Murakami thể hiện sự tinh tế trong cách mô tả các chi tiết và hành động của các
nhân vật. Từ cách uống rượu đến ngọn lửa được thắp sáng trong đêm, thể hiện sự
gắn bó giữa ba nhân vật và nói lên cuộc sống bình dị, chân chất của con người


thấm đẫm tình đời, tình người. Ở một số truyện trong tập Sau cơn động đất (Thái
Lan, Các con của thượng đế đầu nhảy múa, Bánh mật ong…), và tậpNgười tivi
(Sân bóng chày, Buồn nôn 1979, Bên hồ bơi, Xác ướp…), nhà văn cũng tường
thuật chủ yếu ở ngôi thứ ba.

Bên cạnh người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, H. Murakami đồng thời
xen kẻ các ngôi kể một cách khá nhuần nhuyễn và linh hoạt. Trong các tập truyện
ngắn của nhà văn, mặc dù chỉ có 9/63 truyện được tác giả kết hợp xen kẽ ngôi kể
chuyện, nhưng cũng phần nào phản ánh tính chất đa dạng, phong phú trong nghệ
thuật trần thuật. Hầu hết các truyện kết hợp nhiều ngôi kể (thứ nhất và thứ ba) đều
tập trung chủ yếu trong hai tập Ngày đẹp trời để xem Kangaroo và Bóng ma ở
Lexingtơn.

Là một phương diện của nghệ thuật tự sự, hình tượng người trần thuật trong truyện
ngắn H. Murakami đóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần tạo nên phong
cách tự sự đặc sắc của nhà văn.

H.V.L
(SH294/08-13)




×