Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo luật xử lý vi phạm hành chính 2012 từ thực tiễn tỉnh bình dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (561.27 KB, 89 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ TRÂM ANH

BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
THEO LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2012
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ TRÂM ANH

BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
THEO LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2012
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. VŨ VĂN NHIÊM

Hà Nội, năm 2019



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!
Tác giả

Võ Thị Trâm Anh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ
HÀNH CHÍNH ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC ........... 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc ............................................................................................. 8
1.2. Mục đích, vai trò của biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc ........................................................................................... 17
1.3. Đối tượng, thời hiệu, thẩm quyền và nguyên tắc áp dụng biện pháp xử
lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ....................................... 19
1.4. Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc ........................................................................................... 25
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc .............................................................. 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG ....................................................... 35
2.1. Thực trạng các quy phạm pháp luật hiện hành về biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc .................................................... 36

2.2. Khái quát chung về tình hình người nghiện ma túy và việc đưa người
nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Bình Dương ....................... 43
2.3. Thực tiễn thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc từ năm 2015 đến nay ........................................................ 45
2.4. Đánh giá chung về thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc ..................................................................................... 54
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ VIỆC THỰC HIỆN
BIỆN PHÁP VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC ........................ 64
3.1. Quan điểm về việc thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở


cai nghiện bắt buộc ..................................................................................... 64
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về biện pháp xử lý
hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ........................................... 66
KẾT LUẬN ................................................................................................ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TAND

: Tòa án nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân

XLHC


: Xử lý hành chính

XLVPHC

: Xử lý vi phạm hành chính


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới đất nước là xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho
Nhân dân. Những thành tựu của quá trình đổi mới là sự tổng hợp của các mặt
độc lập chủ quyền của dân tộc, tốc độ phát triển kinh tế, sự ổn định của đời
sống xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia, những thành tựu về văn hóa, xã hội,
giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ…
Đồng hành cùng những thành tựu của đất nước, dưới tác động của toàn
cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế thì vẫn xuất hiện những mặt trái, những tác
động tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, gây nguy hại đến phong
tục tập quán, đạo đức, phẩm chất của con người Việt Nam chúng ta. Một trong
những tác hại đó có thể nói đến tệ nạn ma túy là vấn đề nóng, phá vỡ hạnh
phúc gia đình, đe dọa tương lai thế hệ trẻ của đất nước. Trước tình hình đó,
việc đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy đang trở thành một trong những
nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của nước ta.
Tỉnh Bình Dương thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp
tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh
Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh, với diện
tích 2.694,4 km2, gồm 09 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố, 04 thị
xã và 04 huyện) với 41 phường, 04 thị trấn và 46 xã. Tính đến ngày
01/6/2018, dân số toàn tỉnh là 343.131 hộ, 2.247.811 nhân khẩu, thường trú:
272.034 hộ, 1.104.984 nhân khẩu; tạm trú: 71.097 hộ, 1.142.827 nhân khẩu.

Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí địa lý
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 29
khu công nghiệp, 12 cụm công nghiệp, thu hút 33.355 doanh nghiệp trong
nước đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 264.725 tỷ đồng; 3.406
1


doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký trên 31,08 tỷ
đô la Mỹ. Với điều kiện đó, đã thu hút số lượng lớn dân nhập cư đến sinh
sống và làm việc. Đây là nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế, xã
hội của tỉnh đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, gây áp lực lớn cho
công tác đảm bảo an ninh trật tự nói chung và công tác phòng, chống tội
phạm nói riêng. Đã xuất hiện nhiều băng, nhóm tội phạm hoạt động liên tỉnh,
tập trung ở các khu vực giáp ranh để sau khi gây án hoặc bị phát hiện, truy
đuổi sẽ chạy sang ẩn nấp ở các địa bàn khác, gây khó khăn cho quá trình truy
bắt, điều tra tội phạm. Các loại tội phạm về hình sự, ma túy, người nghiện ma
túy đã di chuyển đến và chọn các địa bàn trọng điểm, phức tạp, khu vực giáp
ranh, các địa bàn tập trung nhiều dân nhập cư như: Dĩ An, Thuận An, Thủ
Dầu Một, Bến Cát, Tân Uyên của tỉnh Bình Dương làm nơi ẩn náu và hoạt
động phạm tội [22, tr.1].
Để giải quyết tốt công tác cai nghiện trên địa bàn tỉnh, nhất là việc đưa
người nghiện đi cai nghiện bắt buộc, tỉnh Bình Dương đã thực hiện nhiều giải
pháp như: Mở các cơ sở điều trị bằng Methadone (tại thành phố Thủ Dầu Một
và thị xã Dĩ An) để hướng dẫn, tạo điều kiện cho người nghiện tiếp cận với
các dịch vụ điều trị thích hợp tại cộng đồng; đẩy mạnh việc hỗ trợ vốn, cho
vay vốn tạo việc làm, dạy nghề và tái hòa nhập cộng đồng đối với người
nghiện ma túy; tăng cường tuyên tuyền, vận động để người nghiện đi cai
nghiện tự nguyện tại Trung tâm…. Tuy nhiên, công tác cai nghiện tại gia
đình, cộng đồng hiện vẫn còn nhiều hạn chế, chưa hiệu quả; việc đưa đi cai
nghiện bắt buộc còn nhiều vướng mắc do các quy định của pháp luật chưa cụ

thể, đồng bộ và thiếu khả thi so với thực tế… từ đó dẫn đến số người nghiện ở
cộng đồng, số tội phạm liên quan đến ma túy ngày càng cao.
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật những năm gần đây
đặc biệt nhấn mạnh việc bảo đảm quyền con người, quyền tự do và dân chủ
2


của mỗi người dân; qua đó, các quan điểm về tệ nạn xã hội và các biện pháp
phòng, chống tệ nạn xã hội đã có những thay đổi nhất định, trong đó quy định
về các biện pháp XLHC nói chung và quy định về biện pháp đưa người vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc nói riêng cần được sửa đổi theo hướng bảo đảm tính
công khai, minh bạch và bảo đảm dân chủ, công bằng. Xuất phát từ đòi hỏi
của thực tiễn về mục tiêu cải cách bộ máy nhà nước nhằm nâng cao năng lực
hoạt động của bộ máy nhà nước, cũng như hiệu quả của hoạt động XLVPHC,
thì việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của biện pháp XLHC
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hiện nay là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, học viên chọn đề tài “Biện pháp
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật xử lý vi phạm hành chính
2012 từ thực tiễn tỉnh Bình Dương” làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xác định rõ tầm quan trọng và sự cần thiết của việc nghiên cứu những
vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc theo Luật XLVPHC 2012. Yêu cầu đặt ra khi nghiên cứu cần đặt nó
trong tổng thể các quy định pháp luật về XLVPHC.
* Liên quan đến lĩnh vực này, đã có một số công trình nghiên cứu phải
kể đến như:
Luận văn thạc sĩ “Biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” (năm 2017) của Lê Thị Lan Phương –
Học viện Khoa học xã hội. Luận văn này đã đưa ra một số vấn đề lý luận
cũng như thực tiễn của biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ở

Thành phố Đà Nẵng.
Luận văn thạc sĩ “Từ biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa
bệnh đến biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” (năm 2014) của Phạm
Tiến Thành - Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn này đã chỉ ra được những
3


biện pháp XLHC dựa trên quy định của pháp luật. Tuy nhiên, phần lý luận còn
mang tính pháp lý, chưa nêu được điểm nổi trội và áp dụng vào thực tiễn.
Luận văn thạc sĩ “Đảm bảo quyền con người trong cơ sở cai nghiện bắt
buộc qua thực tiễn thành phố Hải Phòng” (năm 2016) của Nguyễn Quốc Hiệu
- Đại học quốc gia Hà Nội. Đây là đề tài nêu cao tinh thần bảo vệ quyền con
người khi bị áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà
trước đó chưa có một công trình nghiện cứu nào đề cập đến.
Các công trình nghiên cứu trên đây, đã đưa ra một số vấn đề lý luận
cũng như thực tiễn của việc áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc.
Ngoài ra, trực tiếp đề cập nội dung về các biện pháp XLHC khác có thể
kể đến một số bài viết, chuyên đề và công trình nghiên cứu của một số tác giả
như:
Bài viết “Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong dự thảo luật xử lý
vi phạm hành chính” của tác giả Đào Thị Thu An trong Tạp chí nghiên cứu
lập pháp số 20/2011.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp “Các biện pháp
XLHC khác và việc bảo đảm quyền con người” do Thạc sĩ Đặng Thanh Sơn
làm chủ nhiệm đề tài cùng nhóm nghiên cứu. Đây là công trình có tính quy
mô và khá chi tiết về các biện pháp XLHC khác.
“Kế hoạch tổng thể cai nghiện phục hồi giai đoạn 2001-2010”, Uỷ ban
quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tế nạn ma túy, mại dâm, Hà Nội,
2002.

Báo cáo “sơ kết 3 năm thực hiện quyết định 151 của Thủ tướng Chính
phủ về cai nghiện-phục hồi”, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Hà Nội,
2004.
Tài liệu “Giới thiệu và hướng dẫn áp dụng mô hình cai nghiện có hiệu
4


quả, Cục phòng chống tệ nạn xã hội”, Hà Nội 2007.
Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp một lượng kiến thức, thông
tin lớn về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đây là những nguồn
tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả khi thực hiện đề tài này.
Với đề tài này, tác giả nghiên cứu và thực hiện có tính khoa học nghiên
cứu một cách có hệ thống trên cả phương diện lý luận và thực tiễn nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện các biện pháp đưa người nghiện vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Bình Dương góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tệ
nạn ma túy và hạn chế thấp nhất số người nghiện còn tồn tại ở ngoài cộng
đồng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chỉ ra thực trạng pháp luật về biện pháp đưa người
nghiện đi cai nghiện bắt buộc từ thực tiễn tại tỉnh Bình Dương. Từ đó, tác giả
đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện
các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Bình
Dương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về biện pháp đưa người nghiện vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc: Quan niệm, đặc điểm, thẩm quyền, trình tự, thủ tục,
các các biện pháp bảo đảm thực hiện ….
Đánh giá thực trạng pháp luật và việc thực hiện các quy định của pháp
luật về các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh

Bình Dương.
Đề xuất, kiến nghị những giải pháp khoa học có tính khả thi cho việc
hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả việc tổ chức thực hiện

5


pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh
Bình Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật và
thực tiễn thực hiện biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng biện pháp đưa
người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Bình Dương,
không mở rộng đến những địa phương khác.
Thời gian: Từ năm 2015 đến nay
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của
Chủ nghĩa Mac – Lênin kết hợp với Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và
pháp luật; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam
đối với vấn đề đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Dựa trên góc độ tiếp
cận lý luận và thực tiễn để từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật trong việc áp
dụng đối với các đối tượng bị nghiện ma túy hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, tác giả sử dụng linh
hoạt, kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh
đối chiếu, suy luận logic.

Phương pháp thống kê, phương pháp tổng kết thực tiễn cũng được sử
dụng có hiệu quả để từ những số liệu, tình hình thực tế cụ thể thống kê được
có thể phân tích, tổng kết thấy được bức tranh toàn diện về thực trạng pháp
luật và thực tiễn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đó là
6


cơ sở chính xác nhất cho việc đề xuất các giải pháp hợp lý và khả thi.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Hiểu rõ khái niệm, cách thức thực hiện biện pháp đưa người nghiện vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Qua đó
viện dẫn đến các văn bản quy phạm pháp luật quy định về vấn đề này.
Hệ thống hóa các quy định pháp luật về việc thực hiện biện pháp đưa
người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Từ đó, có cơ sở khoa học để
đánh giá cụ thể, chi tiết góp phần hoàn thiện khung pháp lý chuyên ngành,
cũng như sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở khoa học để điều chỉnh, bổ sung hoàn
thiện chính sách, pháp luật góp phần thực hiện có hiệu quả biện pháp đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói
riêng trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn bao gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về biện pháp xử lý hành chính đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện biện pháp đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ thực tiễn tỉnh Bình Dương.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp về việc thực hiện biện pháp xử lý

hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
1.1. Khái niệm, đặc điểm biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc
Ma túy và tác hại của ma túy là mầm mống gây ra những hậu quả nguy
hại nghiêm trọng cho xã hội nói chung, bản thân người nghiện ma túy và gia
đình họ nói riêng. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều
chủ trương, chính sách, đưa ra nhiều biện pháp nhằm ngăn ngừa, phòng,
chống ma túy. Một trong những biện pháp đó là XLHC đưa người nghiện vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp XLHC áp
dụng đối với người nghiện ma túy để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học
nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc; Áp dụng biện pháp
XLHC đối với người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định cụ
thể tại Luật XLVPHC năm 2012, Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày
30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp XLVPHC đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐCP.
1.1.1. Khái niệm về ma túy và người nghiện ma túy
1.1.1.1. Khái niệm về ma túy
Ma túy là tên gọi chung của các chất kích thích mà sử dụng nhiều lần
có thể gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo. Không có một định
nghĩa chung thống nhất nào về khái niệm này. Ở mỗi góc độ tiếp cận, ma túy
lại được hiểu theo những cách khác nhau.

Theo định nghĩa của Tổ chức Liên Hợp Quốc, ma tuý được hiểu là
8


“Các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ
làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng”.
Tổ chức Y tế thế định nghĩa: “Ma túy là các chất độc, khi xâm nhập
vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng”.
Theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều 2 Luật Phòng,
Chống ma tuý năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2008 định nghĩa về chất ma
túy như sau [17, Điều 2]:
- Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định
trong các danh mục do Chính phủ ban hành.
- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,
nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Điều 1 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy
định các danh mục chất ma túy và tiền chất bao gồm 515 chất ma túy và 44
tiền chất. Cụ thể:
- Danh Mục I: Các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và
đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm,
nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có
thẩm quyền (46 chất).
- Danh Mục II: Các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích,
kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế
theo quy định của cơ quan có thẩm quyền (398 chất).
- Danh Mục III: Các chất ma túy được dùng trong phân tích, kiểm
nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú
y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền (71 chất).


9


- Danh Mục IV: Các tiền chất sử dụng vì Mục đích quốc phòng, an ninh
do Bộ Công an quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu. Các tiền chất sử
dụng trong lĩnh vực thú y do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý
và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu.
Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017
quy định về ma tuý theo hướng liệt kê như sau: Ma tuý bao gồm nhựa thuốc
phiện, nhựa cần sa, cao coca, Heroine, Cocaine, Methamphetamine,
Amphetamine, MDMA, XLR-11, các chất ma túy khác ở thể rắn hoặc thể
lỏng.
Từ những khái niệm trên, có thể thấy ma túy có đặc tính làm thay đổi
trạng thái, ý thức, trí tuệ và tâm trạng của người sử dụng khiến cho họ có cảm
giác giảm đau, dễ chịu, lâng lâng và không tự chủ được hành vi của bản thân,
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng. Tùy vào loại ma túy cũng như số
lượng và sự điều độ trong việc sử dụng là những tác nhân có thể dẫn đến
việc nghiện của người sử dụng. Thông thường, số lớn chất ma túy tổng hợp có
khả năng gây nghiện cao đồng thời có sức tàn phá cơ thể của người dùng hơn
chất tinh khiết tự nhiên. Nếu sử dụng nhiều lần sẽ dẫn đến tình trạng bị lệ
thuộc về cơ thể, tâm thần hoặc cả hai. Người sử dụng ma túy do không kiểm
soát được bản thân sẽ có những hành vi gây hậu quả nặng nề cho chính mình,
gia đình và xã hội.
1.1.1.2. Khái niệm người nghiện ma túy
Người nghiện ma túy là những đối tượng tiềm ẩn gây nguy hiểm cho xã
hội thông qua những hành vi mà một khi lên cơn sẽ không kiểm soát được.
Những đối tượng này thường tập trung theo nhóm và tụ tập hút hít ở những
nơi vắng, ít người qua lại…Tùy theo từng mức độ nghiện mà người nghiện sẽ
có những biểu hiện bên ngoài khác nhau.

Tại Khoản 11 Điều 2 Luật Phòng, Chống ma tuý năm 2000, sửa đổi bổ
10


sung năm 2008 định nghĩa [17, Điều 2]: “Người nghiện ma túy là người sử
dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các
chất này”.
Người nghiện ma túy thường có những biểu hiện: Cảm thấy cần phải sử
dụng thuốc thường xuyên hơn, có thể là 1 ngày 1 lần hoặc thậm chí vài lần
một ngày; Có sự ham muốn mãnh liệt với thuốc; Trong bất cứ khoảng thời
gian nào, cần thêm thuốc để duy trì những hoạt động hằng ngày; Không đáp
ứng được các nghĩa vụ và trách nhiệm với công việc, hoặc cắt giảm các hoạt
động xã hội, giải trí để dành thời gian sử dụng ma túy. Làm bất cứ điều gì kể
cả những điều trước kia họ nghĩ rằng sẽ chẳng bao giờ có thể làm để có được
thuốc thỏa mãn cơn nghiện; Tập trung nhiều thời gian và năng lượng vào việc
sử dụng thuốc; Thất bại trong nỗ lực ngừng sử dụng thuốc. Họ có thói quen tụ
tập, đi lại đàn đúm với người có đời sống sinh hoạt buông thả như không lao
động, không học hành… hoặc chơi thân với người sử dụng heroin, thích ở
một mình, ít hoặc ngại tiếp xúc với mọi người (kể cả người thân trong gia
đình).
Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy [8, Điều 5]
* Đối với nghiện ma túy nhóm Opiats: Người được xác định là nghiện
ma túy nhóm Opiats thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị áp dụng biện
pháp XLHC về nghiện ma túy;
- Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị xử phạt hành
chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên;
- Kết quả áp dụng nghiệm pháp Naloxone dương tính (+);
- Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và có ít nhất 3 trong
12 triệu chứng của trạng thái cai (theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông

tư liên tịch này).
11


* Đối với nghiện ma túy nhóm Amphetamine: Người được xác định là
nghiện ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine khi có ít nhất 3 trong 6 triệu
chứng sau trong 12 tháng vừa qua:
- Có sự thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm giác bắt buộc phải sử dụng chất
dạng Amphetamine;
- Khó khăn trong việc kiểm soát các hành vi sử dụng chất dạng
Amphetamine như bắt đầu, chấm dứt hoặc mức độ sử dụng;
- Có trạng thái cai khi ngừng hoặc giảm sử dụng chất dạng
Amphetamine;
- Có hiện tượng tăng dung nạp với chất dạng Amphetamine;
- Ngày càng trở nên thờ ơ với các thú vui hoặc sở thích khác;
- Tiếp tục sử dụng chất dạng Amphetamine mặc dù biết rõ về các hậu
quả có hại.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm cơ sở cai nghiện bắt buộc
1.1.2.1. Khái niệm cơ sở cai nghiện bắt buộc
Cơ sở cai nghiện bắt buộc là nơi cách ly có thời hạn từ 12 đến 24 tháng
cho những người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp
giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện
pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định nhằm tách ra khỏi cộng đồng
theo quy định của pháp luật để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề và
cải tạo thành người bình thường.
Cơ sở cai nghiện bắt buộc thành lập theo quy định tại Nghị định
số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 06 năm 2012 của Chính phủ quy định về
thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập. Căn cứ vào tình hình
thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định việc thành lập,
giải thể cơ sở cai nghiện bắt buộc phù hợp quy hoạch được Thủ tướng Chính

phủ phê duyệt. Địa phương có ít người nghiện ma túy có thể gửi đối tượng
12


đến cơ sở cai nghiện bắt buộc của địa phương khác trên cơ sở thống nhất giữa
hai địa phương [12, Điều 33].
Cơ sở cai nghiện ma túy công lập là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, có tư cách pháp nhân, trụ sở, con dấu,
tài khoản riêng theo quy định của pháp luật. Cơ sở cai nghiện ma túy công lập
chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp về chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chức, nhân sự,
tài chính và cơ sở vật chất của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Cơ sở
cai nghiện ma túy công lập có các chức năng gồm: tổ chức cai nghiện ma túy
bắt buộc; tổ chức cai nghiện ma túy tự nguyện; tổ chức tiếp nhận người sử
dụng, người nghiện ma tuý không có nơi cư trú ổn định; tổ chức điều trị thay
thế [4, Điều 2].
Do các đối tượng nghiện ngày càng nhiều đã dẫn đến tình trạng quá tải
tại các cơ sở công lập. Để khắc phục tình trạng trên, một số địa phương đã
xây dựng nên cơ sở cai nghiện ngoài công lập và hoạt động dựa trên nguồn
ngân sách của địa phương đó. Dù là cai nghiện ở các cơ sở công lập hay ngoài
công lập thì người nghiện vẫn được khám chữa bệnh với các phương pháp
như cắt cơn và sử dụng thuốc để cai nghiện.
1.1.2.2. Đặc điểm của cơ sở cai nghiện bắt buộc
Xuất phát từ khái niệm trên, cơ sở cai nghiện bắt buộc có các đặc điểm
như sau:
Một là, cơ sở cai nghiện bắt buộc là tổ chức được hình thành căn cứ
vào tình hình thực tế của địa phương và hoạt động dựa trên nguồn ngân sách
của nhà nước.
Hai là, đây là nơi cách ly của những người bị nghiện nhằm mục đích
khám, chữa bệnh, điều trị cắt cơn, tư vấn dạy nghề và hỗ trợ tái hòa nhập
cộng đồng theo quy định của pháp luật.

Ba là, các cơ sở cai nghiện ma túy công lập có các chức năng gồm: tổ
13


chức cai nghiện ma túy bắt buộc; tổ chức cai nghiện ma túy tự nguyện; tổ
chức tiếp nhận người sử dụng, người nghiện ma tuý không có nơi cư trú ổn
định; tổ chức điều trị thay thế.
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc
1.1.3.1. Khái niệm về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một trong bốn biện pháp
XLHC được quy định tại Luật XLVPHC năm 2012. Đây là biện pháp do
TAND cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng đối với người nghiện ma túy
từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi
cư trú ổn định nhằm mục đích cách ly người nghiện ma túy khỏi cộng động,
buộc họ chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề tại cơ sở cai nghiện bắt
buộc.
Trước ngày 01 tháng 01 năm 2014, việc áp dụng biện pháp đưa người
nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Pháp lệnh XLVPHC
năm 2002. Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là biện pháp XLHC được áp
dụng đối với người nghiện ma túy và người bán dâm với mục đích là bắt buộc
cai nghiện, chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của
các cơ sở chữa bệnh. Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh nói riêng và các
biện pháp XLHC khác nói chung là những biện pháp hạn chế quyền tự do của
công dân, do người đứng đầu cơ quan hành chính ở địa phương quyết định.
Việc trao thẩm quyền cho những người đứng đầu cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương để đưa phán quyết ảnh hưởng đến các quyền hiến định về
bất khả xâm phạm về thân thể, được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, tự do đi
lại, tự do cư trú của công dân… là chưa phù hợp với Hiến pháp năm 2013

“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh
14


theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật”. Bên cạnh đó, Báo cáo quốc gia về thực hiện nhân quyền của Việt Nam
đã khẳng định các ưu tiên quốc gia và cam kết đối với vấn đề bảo đảm quyền
con người. Đồng thời, tiếp tục thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 và
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Các văn bản này nhấn mạnh đến
những giải pháp xây dựng cơ chế pháp lý để thực hiện quyền yêu cầu xem
xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp đối với mọi vi phạm nghiêm trọng được phát
hiện trong quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật và xây dựng hệ thống
tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con
người tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự
bình đẳng của công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án; hoàn thiện các
thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch,
tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
Mặt khác, thực tiễn áp dụng biện pháp này trong thời gian qua đã bộc
lộ một số điểm hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung, như: quy trình
xem xét áp dụng biện pháp này chưa thật sự đảm bảo minh bạch, là những
biện pháp hạn chế quyền tự do của công dân nhưng quá trình xem xét áp dụng
lại không có sự tham gia của người bị áp dụng cũng như luật sư, người bảo
vệ quyền và lợi ích của họ. Trong bối cảnh định hướng của Đảng và Nhà
nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt nhấn mạnh đến
việc bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; quan
điểm về tệ nạn xã hội và các biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội đã có
những thay đổi nhất định; cũng như yêu cầu thực hiện các công ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên.
Chính vì vậy, việc chuyển đổi từ biện pháp XLHC đưa vào cơ sở chữa

bệnh sang biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Luật XLVPHC
15


2012 sẽ bảo đảm tính công khai, minh bạch và dân chủ, công bằng.
Về cơ bản, quy định về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại
Luật XLVPHC 2012 được xây dựng theo hướng kế thừa các quy định của
biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh XLVPHC 2002. Mục đích
của biện pháp này vẫn được quy định như Pháp lệnh là đưa người vi phạm
vào cơ sở để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của
cơ sở. Thời hạn áp dụng biện pháp này được quy định là từ một năm đến hai
năm. Về hình thức, cơ cấu các điều luật được thể hiện giống như Pháp lệnh
XLVPHC năm 2002. Về nội dung, có hai điểm sửa đổi lớn là (1) hạn chế đối
tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh chỉ bao gồm người
nghiện ma túy; (2) sửa đổi trình tự, thủ tục áp dụng theo hướng công khai,
minh bạch hơn nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của công dân. [21, tr.64]
1.1.3.2. Đặc điểm của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Từ quan điểm trên mà việc áp dụng các biện pháp đưa người nghiện
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có những đặc điểm sau:
Một là, biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cơ
quan có thẩm quyền thi hành bằng biện pháp cưỡng chế hành chính nhà nước.
Nó có tính pháp lý, bởi vì biện pháp này được quy định cụ thể trong các văn
bản quy phạm pháp luật của nhà nước, Luật, Nghị định của Chính phủ… Biện
pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng do các cơ quan có
thẩm quyền áp dụng theo quy định của pháp luật.
Hai là, biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là
biện pháp xử lý chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam, được xác định là bị
nghiện và có những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội. Đối với trường hợp
người nước ngoài có hành vi nghiện ma túy mà bị cơ quan chức năng phát
hiện tại lãnh thổ Việt Nam thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình

thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
16


Ba là, việc áp dụng biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc được áp dụng theo những trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định và
đối tượng bị áp dụng phải chịu sự quản lý và hạn chế một số quyền tự do cá
nhân nhất định: với nội dung là hạn chế một số quyền tự do của con người khi
áp dụng các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên
các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định tương đối chặt chẽ trình tự, thủ
tục áp dụng biện pháp này.
1.2. Mục đích, vai trò của biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc
Việc xác định mục đích của một loại biện pháp cưỡng chế cần xuất
phát từ chính vai trò của nó đối với xã hội, đồng thời căn cứ vào đối tượng áp
dụng của biện pháp đó. Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có vai
trò to lớn trong việc giáo dục, cảm hóa, chữa bệnh và tạo điều kiện cho người
nghiện trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, góp phần ổn định an
ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững trật tự quản lý hành chính nhà
nước.
Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được ban hành và áp dụng
nhằm hướng đến các mục đích sau:
Thứ nhất, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có mục đích
trước hết là để nhằm cai nghiện cho người nghiện ma túy. Như tên gọi của biện
pháp này là đưa vào cơ sở cai nghiện vì vậy, mục đích đầu tiên của biện pháp
này là việc cai nghiện cho những đối tượng được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc. Như chúng ta đã biết, khoa học đã chứng minh nghiện ma túy là một
bệnh lý thần kinh về não bộ và y học đã tìm ra các phương pháp cai nghiện để
khắc phục tình trạng nghiện của người nghiện ma túy, vì vậy, việc áp dụng biện
pháp cai nghiện bắt buộc đối với những đối tượng này là cần thiết.

Thứ hai, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có mục đích giáo
17


dục, chú ý đến cải tạo tư tưởng, coi trọng các mối quan hệ của người bị áp
dụng với cộng đồng, gia đình và xã hội. Giáo dục là mục đích quan trọng của
biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bắt nguồn từ bản chất nhân đạo
sâu sắc của xã hội ta luôn tạo điều kiện hoàn thiện nhân cách con người, biết
tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Mục đích giáo dục ở đây không chỉ là giáo dục
ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng vi phạm mà còn cảm hóa, giáo dục
cả về đạo đức, lối sống, cũng như phục hồi sức khỏe tạo điều kiện cho người
nghiện trở thành người công dân có ích cho xã hội, sớm hòa nhập cộng đồng.
Thứ ba, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được áp dụng
nhằm mục đích trừng phạt người có hành vi vi phạm hành chính. Tính trừng
phạt được coi là một thuộc tính vốn có của các biện pháp cưỡng chế, không
chỉ có trong cưỡng chế hành chính mà còn trong cả cưỡng chế hình sự, cưỡng
chế dân sự… Trong luật hình sự thì một trong các mục đích của hình phạt đó
là tính trừng trị của hình phạt. Tương tự như vậy, các biện pháp cưỡng chế
hành chính có tính trừng phạt tương đối cao, chỉ sau cưỡng chế hình sự. Đặc
biệt là các biện pháp XLHC khác, trong đó có biện pháp đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc. Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một biện
pháp tính cưỡng chế tương đối cao khi nội dung của nó là tước bỏ một số
quyền nhân thân của người bị áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
Chính vì tính chất này nên người bị áp dụng chúng sẽ phải sinh sống, học tập,
cai nghiện và chịu sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ sở này.
Tính trừng phạt của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hết
sức cần thiết. Bởi vì, đối tượng bị áp dụng biện pháp này là những đối tượng
nghiện ma túy, đã bị áp dụng các biện pháp XLHC khác ở cấp độ nhẹ hơn
nhưng vẫn tái phạm hoặc các đối tượng này không có nơi cư trú ổn định. Các
đối tượng này thường có những hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng

xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, tính trừng phạt của biện pháp
18


đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hết sức cần thiết, thể hiện tính nghiêm
minh của pháp luật, buộc họ phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi là hạn
chế một phần quyền tự do và chịu sự quản lý giám sát của cơ sở cai nghiện
bắt buộc.
Thứ tư, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được áp dụng
nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn khả năng tái phạm của người bị áp
dụng. Như chúng ta đã biết, đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc là những đối tượng nghiện ma túy, đã bị xử lý bằng các biện
pháp khác nhưng vẫn tái phạm hoặc không có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, việc
áp dụng đối biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với những đối
tượng này là cần thiết để ngăn chặn họ tái phạm và tiếp tục đi vào con
đường lầm lạc.
Mục đích phòng ngừa ở đây bao gồm cả phòng ngừa chung và phòng
ngừa riêng, chú ý loại trừ những nguyên nhân thực hiện hành vi trái pháp luật
và tạo điều kiện cho người bị áp dụng tái hòa nhập cộng đồng. Khả năng
phòng ngừa chung của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có mục
đích nhằm răn đe, cảnh báo và ngăn ngừa sự vi phạm của các đối tượng khác
trong xã hội, khi đang có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc còn
có vai trò to lớn trong việc đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, khôi phục trật tự quản lý hành chính nhà nước, trật
tự pháp luật.
1.3. Đối tượng, thời hiệu, thẩm quyền và nguyên tắc áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc


19


×