Tải bản đầy đủ (.pdf) (84 trang)

Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác từ thực tiễn huyện chư sê, tỉnh gia lai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (765.86 KB, 84 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN DŨNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI
KHÁC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯ SÊ,
TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN DŨNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI
KHÁC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯ SÊ,
TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành : Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số

: 8 38 01 04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


TS. MAI ĐẮC BIÊN

HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm
phạm sức khỏe của người khác từ thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai là
công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, trích dẫn trong luận
văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học
của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Dũng


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM
PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC ................................................ 7
1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác: ....................................................................................... 7
1.2. Đặc điểm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác: ..................................................................................... 13
1.3. Phạm vi thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác: ..................................................................................... 14
1.4. Nội dung thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác: ..................................................................................... 15

1.5. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra trong thực hành
quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người
khác: ................................................................................................................ 30
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI
......................................................................................................................... 33
2.1. Tình hình, đặc điểm có liên quan đến thực hành quyền công tố trong điều
tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát nhân dân
huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. ............................................................................ 33
2.2. Những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của thực hành quyền công tố
trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai: ............................................................ 36


CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC
KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI.................................................... 59
3.1. Quan điểm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong điều tra
các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát nhân dân huyện
Chư Sê, tỉnh Gia Lai:....................................................................................... 59
3.2. Những giải pháp: ...................................................................................... 60
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BLHS


: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

ĐTV

: Điều tra viên

KSV

: Kiểm sát viên

QCT

: Quyền công tố

THQCT

: Thực hành quyền công tố

VKS

: Viện kiểm sát

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao
VKSND


: Viện kiểm sát nhân dân

CQCSĐT

: Cơ quan cảnh sát điều tra

CQTHTT

: Cơ quan tiến hành tố tụng

NTHTT

: Người tiến hành tố tụng

NQ

: Nghị quyết

TW

: Trung ương


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Viện kiểm sát nhân dân là một cơ quan trong hệ thống tổ chức bộ máy
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoạt động thực hành quyền
công tố trong điều tra các vụ án hình sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
nhằm thực hiện chức năng của ngành kiểm sát nhân dân được quy định tại Điều
107 của Hiến pháp năm 2013: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công

tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”; tại Điều 2 của Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân năm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành
quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp của Nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam”. Điều 20 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc
buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người
phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý
kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp
nhân phạm tội, không làm oan người vô tội”.
Đây là hoạt động thể hiện quyền lực Nhà nước, một trong những biện
pháp hữu hiệu của Nhà nước dùng để đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn
trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng
thời thể hiện quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước ta trong việc đảm bảo
điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, nâng cao
chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
TTHS của Viện kiểm sát là một đòi hỏi cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai
đoạn hiện nay. Trong những năm vừa qua, ngành Kiểm sát đã phối hợp với các
cơ quan tiến hành tố tụng tấn công mạnh mẽ và có hiệu quả vào các loại tội
phạm hình sự nói chung và tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng
đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần to lớn trong việc bảo vệ pháp

1


chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền con người, tính
mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của công dân…giữ gìn và bảo đảm tình
hình trật tự trị an, ổn định tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội được
Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận.
Tuy nhiên, thực tiễn thực hành quyền công tố của VKS còn cho thấy có nhiều

hạn chế trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án mà do nhiều nguyên nhân khác
nhau, trong đó nguyên nhân cơ bản là nhận thức về thực hành quyền công tố còn
thiếu đầy đủ toàn diện; nhận thức về hoạt động thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự chưa được nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ toàn
diện; thực tiễn công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án
hình sự nói chung và các tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng
chưa được tổng kết rút kinh nghiệm thường xuyên; tình hình vi phạm, tội phạm xâm
phạm sức khỏe của người khác trên địa bàn cả nước, địa bàn tỉnh Gia Lai nói chung
và địa bàn huyện Chư Sê nói riêng đang diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia
tăng, tính chất mức độ ngày càng nguy hiểm và gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn.
Vì vậy, để góp phần thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố thì việc tiếp
tục nghiên cứu, làm rõ cả về mặt lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố trong
tố tụng hình sự là vấn đề cần thiết hiện nay nên em đã lựa chọn đề tài: “Thực hành
quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác từ
thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu:
Thực hành quyền công tố là một trong những chức năng quan trọng của Viện
kiểm sát nên trong nhiều năm qua đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, có
nhiều bài viết liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát
trong điều tra các vụ án hình sự, cụ thể như:
Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt
Nam từ những năm 1945 đến nay, của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (năm 1999).
Một số vấn đề về quyền công tố của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Độ, đăng

2


trên Tạp chí Luật học số 03/2001.
Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố của Tiến sĩ Lê Cảm, đăng

trên Tạp chí chuyên ngành, Hà Nội, 2001.
Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp của Hà Mạnh Trí, đăng trên Tạp chí nghiên
cứu lập pháp, số 1/2003.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn
điều tra của Tiến sĩ Lê Hữu Thể chủ biên và đồng tác giả; Nhà xuất bản tư pháp Hà
Nội năm 2008.
Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần tập trung làm tốt việc tăng cường trách
nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra của Tiến
sĩ Trần Công Phàn, đăng trên Tạp chí kiểm sát, số 8/2012.
Thẩm quyền của Kiểm sát viên theo quy định của luật tố tụng hình sự Việt
Nam và Liên Bang Nga, luận án tiến sỹ luật học của Tiễn sĩ Mai Đắc Biên, Liên
bang Nga, 2012.
Bàn về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố
với hoạt động điều tra của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Sơn; đăng trên Tạp chí kiểm sát, số
9/2013.
Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo tinh thần
Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, của Tiến sĩ Lê Hữu Thể. Viện Kiểm sát
nhân dân Tối cao (năm 2014).
Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp
luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân Tối cao ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008-VTC ngày 02/01/2008.
Tại tỉnh Gia Lai đã có một số luận văn Thạc sĩ liên quan đến hoạt động
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân nhưng chưa có luận
văn nào nghiên cứu đề tài thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các
tội xâm phạm sức khỏe của người khác; trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tập

3



trung làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và thực
tiễn thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong điều tra các tội xâm
phạm sức khỏe của người khác tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Trên cơ sở thực
tiễn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong 05 năm, từ
năm 2014 - 2018; luận văn tiến hành phân tích, đánh giá việc thực hiện hoạt
động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh
Gia Lai để tìm ra những hạn chế, thiếu sót từ đó đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong thời gian tới nhằm góp
phần nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố trong điều tra các
vụ án hình sự đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm và người
phạm tội, không để xảy ra oan sai; với cách tiếp cận và thể hiện như vậy, nội
dung của luận văn không trùng với bất cứ luận văn nào đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của luận văn là nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn
diện công tác thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác tại VKSND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trên cả hai
phương diện lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở thống nhất về mặt nhận thức, kết
quả nghiên cứu của luận văn nhằm tìm ra những khó khăn vướng mắc, tồn tại,
bất cập và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của công tác này.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện cả lý
luận và thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền
công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại VKSND
huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, góp phần cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật
khác đấu tranh phòng, chống hiệu quả hơn với loại tội phạm này trong thời gian
tới.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ cụ
thể sau đây:
Nghiên cứu làm sáng tỏ lý luận về chức năng thực hành quyền công tố


4


trong điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân.
Tổng kết, phân tích, đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố trong
điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại VKSND huyện Chư Sê,
tỉnh Gia Lai trong 05 năm, từ năm 2014 - 2018.
Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng, xây dựng các giải pháp nâng cao
chất lượng thực hành quyền công tố trong thời gian tới đồng thời khẳng định vị
trí, vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động bảo vệ pháp luật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy
định của pháp luật và thực tiễn thực hành quyền công tố trong điều tra các tội
xâm phạm sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê,
tỉnh Gia Lai
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề thực hành quyền công
tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo quy định của
BLTTHS năm 2015 và thực tiễn THQCT của VKSND huyện Chư sê, tỉnh Gia
Lai trong 05 năm qua, từ năm 2014 đến năm 2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói
chung và đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn được sử dụng bao gồm phương
pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và trao đổi khoa học; khảo cứu các
văn bản, tài liệu có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống loại tội
phạm này…

6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn:
Ý nghĩa về lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận
chuyên ngành Luật tố tụng hình sự về chức năng thực hành quyền công tố của

5


VKSND.
Ý nghĩa về thực tiễn: Luận văn nâng cao hiệu quả công tác thực hành
quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong
giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng và của
VKS cấp huyện trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói chung; từ đó học viên thấy việc
nghiên cứu làm sáng tỏ các lý luận về thực hành quyền công tố của Viện kiểm
sát trong điều tra vụ án hình sự là cần thiết, phù hợp với tiến trình cải cách tư
pháp của Đảng và Nhà nước ta. Trên cơ sở thực tiễn áp dụng pháp luật để tìm
ra những hạn chế, vi phạm để từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác. Thông qua đó giúp Viện kiểm sát ngày một nâng cao hơn vị thế
của mình trong hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật.
7. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố
trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác.
Chương 2: Thực tiễn thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm
phạm sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh
Gia Lai.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công
tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát
nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.


6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA
NGƯỜI KHÁC
1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác:
1.1.1. Khái niệm quyền công tố:
Cho đến nay, trong các nghiên cứu có nhiều quan điểm về quyền công tố trong
tố tụng hình sự. Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền công tố là quyền lực công, gắn
liền với sự phát triển của khoa học pháp lý, khi mà các khái niệm dân chủ và quyền
con người được đề cao, đòi hỏi cần phải có một cơ quan thay mặt Nhà Nước đứng
ra bảo vệ quyền của người bị xét xử bởi các cơ quan tư pháp.
Quan điểm thứ hai, coi công tố là một quyền độc lập, chỉ có trong xã hội dân
chủ, nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia quá trình tố
tụng tại phiên tòa và thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật (có thể nằm
trong cơ cấu của Tối cao pháp viện).
Quan điểm thứ ba cho rằng, với việc tách các cơ quan Tòa án ra khỏi hệ thống
các cơ quan hành pháp, cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật thì công tố
mới xuất hiện. Không đồng ý với các quan điểm nêu trên, quan niệm thứ tư cho
rằng, quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nước
và xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Tiến sĩ Lê Hữu Thể khi đưa ra định nghĩa
về quyền công tố: “Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về nhà nước,
được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là Viện kiểm sát) để phát
hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được

điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo
đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội.

7


Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó
trước phiên toà”.
Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng: “quyền công tố là quyền lực Nhà
Nước, do cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền tiến hành trong tố tụng hình sự để truy
cứu trách nhiệm hình sự, truy tố và buộc tội người phạm tội”.
1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố:
Trong thời gian gần đây có một số công trình khoa học nghiên cứu về thực
hành quyền công tố hoặc nghiên cứu về các vấn đề pháp lý khác trong đó có một số
vấn đề liên quan đến thực hành quyền công tố mới chỉ dừng lại ở mức đưa ra được
một số biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát như kiểm sát
điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát giam, giữ và cải tạo, kiểm sát thi hành án.
Các công trình này vận dụng những nguyên lý của V.I. Lênin về pháp chế xã hội
chủ nghĩa và vai trò của VKS, về vai trò và bộ phận của ủy viên công tố làm cơ sở
lý luận và lấy các quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
từ năm 1960 đến nay làm cơ sở pháp lý. Bởi vậy trong nhận thức của không ít
những người làm công tác nghiên cứu và thực tiễn trong cũng như ngoài ngành
kiểm sát đã nhầm lẫn quyền công tố với thực hành quyền công tố trên nhiều phương
diện như đối tượng, nội dung, phạm vi. Đồng thời các công trình này luôn gắn
quyền công tố chỉ với VKS, coi đó là quyền của VKS. Do đó đã không lý giải được
một số vấn đề là khi một số cơ quan khác (CQĐT, Tòa án...) sử dụng một số biện
pháp như khởi tố vụ án, khởi tố bị can... thì có phải các cơ quan này cũng thực hành
quyền công tố hay không.
Để thực hiện quyền lực nhà nước trên một lĩnh vực cụ thể thì nhà nước tổ chức
ra một hệ thống cơ quan nhất định để thực hiện quyền lực đó. Hệ thống cơ quan này

đóng vai trò chính trong sự phối hợp cùng với cơ quan nhà nước khác để thực hiện
quyền lực nhà nước đã được xác định. Ở các nước, đa phần họ thành lập cơ quan
công tố để thực hành quyền công tố với các quyền hạn, trách nhiệm tố tụng trong
suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử của TTHS.
- Sách chuyên khảo “Luật tố tụng hình sự” của Se-Men Sốp V. A xác định,

8


chế định THQCT ở Liên bang Nga được quy định đầy đủ trong BLTTHS. Theo đó,
Viện kiểm sát/Kiểm sát viên có hai chức năng, nhiệm vụ cơ bản:
1) Đại diện Nhà nước truy tố hình sự theo quy định của luật tố tụng hình sự;
2) Kiểm sát hoạt động tố tụng của các cơ quan điều tra và cơ quan điều tra
dự thẩm.
- Cuốn sách “Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự Liên bang Nga” của Tu
Sốp A.A xác định, Viện kiểm sát/Kiểm sát viên khi THQCT có các chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn sau:
1) Đấu tranh chống tội phạm;
2) Kiểm sát hoạt động tư pháp;
3) Bảo vệ pháp luật;
4) Truy tố hình sự;
5) Chỉ đạo hoạt động điều tra của ĐTV, ĐTV dự thẩm, của các cơ quan điều
tra về khởi tố vụ án hình sự và điều tra tội phạm;
6) Xác định sự thật của vụ án.
- Luận án Tiến sỹ “Quyền hạn của Kiểm sát viên theo quy định của luật tố
tụng hình sự Việt Nam và Liên bang Nga”, Mai Đắc Biên đưa ra các kết luận sau:
1) Theo BLTTHS Liên bang Nga, KSV trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án
hình sự có những hoạt động hướng tới việc bảo vệ quyền và tự do của con người,
công dân, bảo đảm tính pháp chế, tính toàn diện, đầy đủ và khách quan trong điều
tra tội phạm, làm rõ các tình tiết, phương thức thực hiện tội phạm, áp dụng các biện

pháp luật định để ngăn chặn chúng;
2) Chức năng, nhiệm vụ của VKS/KSV Việt Nam trong giai đoạn điều tra,
truy tố vụ án hình sự bao gồm: kiểm sát việc tuân theo pháp luật, truy tố hình sự,
phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm, định hướng và đưa ra yêu cầu điều tra cho
CQĐT. Hai chức năng, nhiệm vụ đầu tiên là cơ bản, hai chức năng tiếp theo có tính
chất bổ sung;
3) Đánh giá về sự đặc biệt trong chế định THQCT của VKS/KSV theo quy
định của BLTTHS Việt Nam trong sự so sánh với chế định THQCT của VKS/KSV

9


Liên bang Nga, thấy rằng: VKS/KSV Việt Nam có sự linh hoạt trong thực hiện các
hoạt động tố tụng và ban hành các quyết định, có quyền hạn lớn để tác động vào
hoạt động tố tụng của CQĐT/ĐTV nhằm bảo đảm việc điều tra đúng quy định của
pháp luật.
Ở nước ta, VKS là cơ quan duy nhất được giao thực hành quyền công tố;
không có cơ quan nào có thể thay Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, bởi lẽ:
Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất về mặt pháp lý có quyền độc lập phát động
quyền công tố như: ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu
CQĐT; các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi
tố, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
VKS có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế; gia hạn các biện pháp trên; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn, hủy bỏ
các quyết định tố tụng của CQĐT.
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, VKS có trách nhiệm đảm bảo đủ các
chứng cứ để truy tố, buộc tội bị can; khi có đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm
tội thì VKS quyết định truy tố người phạm tội ra xét xử trước Tòa án.
Tại phiên tòa, VKS có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố, buộc tội bị cáo là có
căn cứ, đúng pháp luật; bản án kết tội của Tòa án chính là việc chấp nhận lời buộc

tội của VKS đối với người phạm tội.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố
trong tố tụng hình sự như sau: Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự là
việc cơ quan công tố (Viện kiểm sát) sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định
để truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội đối với người phạm tội; truy tố người
phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.
1.1.3. Khái niệm điều tra vụ án hình sự đối với các vụ án xâm phạm sức
khỏe của người khác
Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó cơ
quan Điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của
Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng

10


cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội
phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách
nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội
phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là
chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều
tra và đề nghị truy tố bị can.
Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra
vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện
pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm
tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các
cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng
ngừa tội phạm; Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan (người)
tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết
thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề nghị
Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng.

Những hoạt động điều tra đối với nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác
gồm: lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng, người
tham gia tố tụng khác; hỏi cung bị can; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử
thi (trong trường hợp hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến nạn nhân chết); giám
định tỷ lệ tổn thương của người bị hại; giám định tuổi của người phạm tội, của
người bị hại; đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra; khám xét; thu giữ tài liệu,
đồ vật và một số hoạt động điều tra khác. Những hoạt động điều tra này cần nhanh
chóng, đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn.
Những hoạt động điều tra này nhằm thu thập một cách toàn diện, đầy đủ chứng cứ
buộc tội và gỡ tội đối với người phạm tội, các tình tiết khác có liên quan để giải
quyết đúng đắn vụ án hình sự. CQĐT, Điều tra viên có trách nhiệm đánh giá các
chứng. Trên cơ sở đánh giá chứng cứ đó, CQĐT sẽ quyết định: Đình chỉ điều tra vụ
án hình sự, đình chỉ điều tra đối với bị can hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của
vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị

11


can.
Như vậy, điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người
khác là một giai đoạn tố tụng, trong đó cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp
điều tra theo quy định của pháp luật để xác định tội phạm và người phạm tội xâm
phạm sức khỏe của người khác, làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình
sự.
1.1.4. Khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác:
Theo tác giả luận văn thì khi nghiên cứu thực hành quyền công tố trong điều
tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác thì không thể không nghiên cứu đến
khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác. Theo đó, thực thành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức

khỏe của người khác là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự
để thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự, việc buộc tội của Nhà nước đối với
người phạm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác. Trong giai đoạn này, VKS
thực hành quyền công tố bằng các hoạt động: phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy
bỏ các quyết định của CQĐT, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can,
tiến hành hoạt động điều tra hoặc trực tiếp ra các quyết định tố tụng, trực tiếp tiến
hành một số hoạt động điều tra để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự về các tội xâm
phạm sức khỏe của người khác. Trong giai đoạn điều tra này, mọi quyết định của
CQĐT đều phải được gửi cho VKS để VKS xem xét, đánh giá tính có căn cứ và
tính hợp pháp của các quyết định, từ đó thực hiện quyền hạn thực hành quyền công
tố của mình. Nếu quyết định của CQĐT có căn cứ và hợp pháp thì VKS sẽ đồng ý
hoặc phê chuẩn quyết định đó. Nếu quyết định của CQĐT không có căn cứ hoặc
không hợp pháp thì VKS tùy từng trường hợp theo quy định của pháp luật mà
không phê chuẩn hoặc hủy bỏ. Đồng thời, căn cứ kết quả kiểm sát hoạt động điều
tra, VKS có thể yêu cầu CQĐT tiến hành những hoạt động điều tra cụ thể, yêu cầu
cung cấp hồ sơ tài liệu có liên quan, yêu cầu thay đổi ĐTV. Ngoài ra, VKS có thể
trực tiếp ban hành các quyết định hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra

12


để giải quyết đúng đắn vụ án. Tuy nhiên, những hoạt động này của VKS chỉ được
thực hiện trong những trường hợp pháp luật quy định. Khi thực hành quyền công tố
đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, VKS chú trọng đến những yêu
cầu CQĐT tiến hành một số hoạt động đặc thù chỉ có trong nhóm tội này, như yêu
cầu CQĐT tiến hành giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe của người bị hại; yêu cầu bị
hại có đơn yêu cầu khởi tố; yêu cầu làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của người phạm tội
khi phạm tội.
Phạm vi thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe
của người khác được thực hiện từ thời điểm CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án về

các tội xâm phạm sức khỏe của người khác và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận
điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc quyết định đình chỉ
vụ án hình sự. Đối tượng của thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác là tội phạm và người phạm tội xâm phạm sức khỏe của
người khác. Để làm rõ đối tượng của tội phạm, VKS phải yêu cầu CQĐT làm rõ
mọi tình tiết của vụ án, như thời gian, địa điểm tội phạm xảy ra, hành vi phạm tội,
công cụ, phương tiện người phạm tội sử dụng; lỗi, động cơ, mục đích của người
phạm tội; nhiệm vụ, quyền hạn của người phạm tội (Tội gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137); hậu quả
của tội phạm, như thương tật của người bị hại, chi phí cho việc chữa trị thương tích;
nhân thân, tiền án, tiền sự của người phạm tội những tình tiết khác có liên quan đến
việc buộc tội, gỡ tội đối với người phạm tội.
Như vậy, thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác là việc cơ quan công tố/ Viện kiểm sát sử dụng các biện pháp do pháp
luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội, truy tố người phạm các tội
xâm phạm sức khỏe của người khác ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.
1.2. Đặc điểm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác:
Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác là hoạt động áp dụng pháp luật vào thực tế nhằm truy cứu trách nhiệm

13


hình sự đối với người có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Thực
hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác bắt
đầu từ thời điểm CQĐT khởi tố vụ án hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe của
người khác. Tuy nhiên, cần phải xem xét cả các tố giác, tin báo về các tội liên quan
như: Hủy hoại tài sản; cố ý làm hư hỏng tài sản; bắt, giữ người trái pháp luật…
Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của

người khác luôn đặt trong sự so sánh, ly lai với các tội phạm khác khi mà hành vi
phạm tội ở mức chưa cấu thành như: giữa tội giết người chưa đạt với tội cố ý gây
thương tích, giữa tội cố ý gây thương tích với tội cố ý gây thương tích trong trạng
thái tinh thần bị kích động mạnh…
Hậu quả gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác là một trong
các yếu tố định tội quan trọng đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác
nên VKS phải bảo đảm cho việc xác định đúng đắn tỷ lệ thương tích của người bị
hại. Đồng thời, đối với nhóm tội này, có những tình tiết định tội hoặc địnhkhung
tăng nặng nhưng mang tính định tính (như tính chất côn đồ, dùng hung khí nguy
hiểm) nên hoạt động thực hành quyền công tố cần đánh giá đúng đắn để bảo đảm
cho việc khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp.
Chủ thể thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sức
khỏe của người khác chỉ có thể là Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên và
Kiểm tra viên. Hoạt động này gắn chặt với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra
và đòi hỏi sự phối hợp cũng như chế ước đối với hoạt động của Cơ quan điều tra.
Hoạt động này đòi hỏi phải áp dụng mọi quy định của pháp luật tố tụng hình sự để
thực hiện tổng thể quyền năng của Viện kiểm sát, bảo đảm việc điều tra đúng quy
định của pháp luật, nhanh chóng phát hiện và làm rõ tội phạm, xử lý đúng quy định
của pháp luật.
1.3. Phạm vi thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác:
Khi xác định phạm vi thực hành quyền công tố của VKS trong điều tra các tội
xâm phạm sức khỏe của người khác tức là xác định khoảng thời gian nhất định,

14


trong đó VKS thực hành quyền công tố của mình. Căn cứ theo Chương X của
BLTTHS: “Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự”, tác giả luận văn xác
định phạm vi thực hành quyền công tố của VKS trong điều tra các tội xâm phạm

sức khỏe của người khác được bắt đầu từ khi CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án
hình sự và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra quyết
định đình chỉ vụ án. Trước khi ra quyết định khởi tố vụ án, CQĐT đã phải thực hiện
các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
bằng các hoạt động kiểm tra, xác minh để xác định có tội phạm hay không. Nếu qua
quá trình kiểm tra, xác minh, CQĐT xác định có tội phạm xâm phạm sức khỏe của
người khác thì sẽ ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra. Quyết định khởi tố cùng
toàn bộ hồ sơ vụ án được chuyển cho VKS để thực hành quyền công tố.
1.4. Nội dung thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm
sức khỏe của người khác:
Viện kiểm sát các cấp thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự về
các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trên cơ sở các quy định tại Điều 134,
Điều 135, Điều 136, Điều 137, Điều 138, Điều 139 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017 (trước đây là Điều 104, Điều 105, Điều 106, Điều 107, Điều 108, Điều 109
BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009); Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm
2014; Điều 165 Bộ luật TTHS năm 2015; Thông tư liên tịch số: 05/TTLTVKSNDTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 giữa VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng về quan hệ phối hợp giữa VKSND tối cao và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng
“Trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật TTHS năm 2003”, (Nay là Thông
tư liên tịch số: 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 giữa
VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa VKSND tối
cao và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng “Trong việc thực hiện một số quy định của Bộ
luật TTHS năm 2015” (TTLT số 04.); Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Ban hành kèm theo Quyết định số
03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
sau đây gọi tắt là Quy chế số 03/2017). Theo các quy định trên thì công tác thực

15


hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác

gồm những nội dung sau:
1.4.1. Thực hành quyền công tố trong việc yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay
đổi, bổ sung quyết đinh khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can:
Một là, thực hành quyền công tố trong việc yêu cầu Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc
thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự:
Theo các quy định của pháp luật, sau khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm về xâm phạm sức khỏe của người khác và kiến nghị khởi tố thì
CQĐT phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết khi chưa xác định được
căn cứ để khởi tố hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án. Nếu có đủ căn cứ để ra
quyết định khởi tố vụ án thì CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự,
CQĐT phải gửi cho VKS cùng cấp.
Trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được quyết định không khởi tố hoặc
quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, lãnh đạo đơn
vị, lãnh đạo Viện (sau đây gọi chung là lãnh đạo Viện) phân công KSV kiểm tra
tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự để xem xét, xử lý
như sau:
Nếu thấy chưa đủ căn cứ thì có văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định
không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ; nếu thấy không có
căn cứ để ra quyết định không khởi tố thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không
khởi tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự;
nếu cơ quan đó không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự và ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 153, khoản
6 Điều 159 Bộ luật Tố tụng hình sự và gửi cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để
tiến hành điều tra; nếu thấy đủ căn cứ thì thông báo bằng văn bản cho CQĐT đã ra

16



quyết định không khởi tố vụ án hình sự biết về sự đồng ý của VKS.
Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp thì gửi quyết
định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều
tra và truy tố cho cơ quan ra quyết định; nếu thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án
thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng
cứ để làm rõ; nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì báo
cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết
định khởi tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó; nếu cơ quan đã ra quyết định
không nhất trí thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định
khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
của Cơ quan có thẩm quyền điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên thụ lý giải
quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra
hủy bỏ quyết định đó. Nếu cơ quan đã ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố vụ án hình sự không hủy bỏ thì lãnh đạo Viện trực tiếp ra quyết định
hủy bỏ.
Hai là, thực hành quyền công tố trong việc yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay
đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can:
Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội về
các tội xâm phạm sức khỏe của người khác thì CQĐT ra quyết định quyết
khởi tố bị can. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can,
CQĐT phải gửi ngay quyết định khởi tố và các tài liệu liên quan đến việc khởi
tố bị can cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi
nhận được quyết định khởi tố bị can của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm
sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của
quyết định khởi tố bị can để xử lý như sau: Nếu thấy quyết định khởi tố bị can có
căn cứ và hợp pháp thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo

Viện quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho cơ quan

17


đã ra quyết định;nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát
viên yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm
rõ căn cứ khởi tố. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được tài liệu, chứng
cứ bổ sung, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra
quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
Kiểm sát viên có thể phối hợp với Điều tra viên thụ lý vụ án để lấy lời khai
người bị khởi tố, người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can
trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê
chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can. Đối với những trường hợp người bị
bắt, người bị tạm giữ, người bị khởi tố lúc nhận tội, lúc không nhận tội, tài liệu,
chứng cứ có mâu thuẫn hoặc chưa rõ, thì trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can,
Kiểm sát viên phải trực tiếp lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị
khởi tố. Biên bản ghi lời khai những người này được chuyển cho cơ quan đã ra
quyết định khởi tố để đưa vào hồ sơ vụ án; nếu thấy ngoài bị can đã bị khởi tố còn
có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Kiểm
sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra
văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố bị can. Nếu
Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện
thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện trực tiếp ra quyết
định khởi tố bị can đối với người đó. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định
khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến
hành điều tra.
Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, nếu phát hiện còn có người
khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Kiểm sát viên

báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để xem xét, quyết định việc khởi tố
bị can và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung theo quy định tại khoản
4 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự; nếu hết thời hạn tạm giữ mà không đủ căn cứ
phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì Kiểm sát viên

18


thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định
khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bị can trả tự do ngay cho
người bị tạm giữ.
Trường hợp Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ thì Viện
kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và quyết định trả tự do ngay
cho người bị tạm giữ.
Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, nếu thấy quyết định
khởi tố bị can ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can, hành vi phạm tội
của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố mà phạm vào tội khác hoặc còn có hành
vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo
cáo, đề xuất lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra
không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra
trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi
tố bị can theo quy định tại khoản 3 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung
quyết định khởi tố bị can của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên thụ lý
giải quyết vụ án phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn
vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định bổ sung hoặc
thay đổi quyết định khởi tố bị can; trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung tài
liệu, chứng cứ thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được tài liệu, chứng cứ bổ

sung, Viện kiểm sát xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
Nếu quá trình điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào tội được
quy định tại khoản khác với khoản trong cùng một điều luật về cùng một tội danh
đã khởi tố đối với bị can thì không phải thay đổi quyết định khởi tố bị can. Nếu thấy
cần tạm giam bị can theo thời hạn của tội phạm quy định tại khoản của điều luật có
khung hình phạt nặng hơn hoặc chuyển vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền

19


×